I.
Những
tiếng nổ từ phía sân bay Cù Hanh đã dứt từ lâu mà tất cả thị xã Pleiku hầu như
vẫn chưa được hoàn toàn yên tĩnh.
Đêm
nay, đại bác từ phía “bên kia” vẫn bắn cầm canh vào chung quanh sân bay. Đường
phố im lìm trong ánh đèn “phòng thủ” lờ mờ. Các vũ trường, nơi giải trí của sĩ
quan quân đoàn 2, được lệnh đóng cửa từ ba hôm nay. Bộ tư lệnh vùng II chiến
thuật ban bố “lệnh khẩn cấp”. Binh lính bị cấm trại. Khi màn đêm buông xuống
thì đường phố đã vắng tanh, chỉ còn những chiếc xe nhà binh đi tuần tiễu rú ga
hoảng hốt.
Diễm Hương kéo tấm chăn len trùm kín đầu mà không sao ngủ được. Ngọn đèn ngủ tỏa ánh sáng xanh lạnh lẽo. Nếu không có tiếng giày của tên vệ sĩ đi lạo xạo ngoài sân trải đá cuội thì sự vắng lặng đến ghê người.
Cũng
đã ba đêm nay, Diễm Hương nằm ngủ một mình. Cô càng cảm thấy cô quạnh. Trung
tướng Phạm Văn Phú - tư lệnh vùng 2 chiến thuật - bận việc cơ mật chi đó, không
đến quấy rầy cô nữa. Viên tướng “già nhân ngãi, non vợ chồng” này chẳng phải là
đã quên mất Diễm Hương mà hắn còn phải bay ra Nha Trang để dự cuộc hội đàm
thượng khẩn, tối mật do tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập họp ở Cam Ranh.
Nghe đâu, tham dự cuộc họp này còn có cả Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm nữa.
Diễm
Hương thường chẳng quan tâm đến công việc nhà binh của Phú. Ngoài những bữa ăn,
có chỉ thích nghe nhạc và nằm dài đọc những thiên tình sử Đông - Tây và trang
điểm cho đẹp, cho tươi để làm vừa lòng Phú.
-
Trời! Hương phải vui lên! Hương đừng buồn nữa, mặc dù em đang buồn, em lại càng
đẹp. Vẻ đẹp của... “chính cung hoàng hậu”!
Sau
câu nói nịnh như thế, bao giờ Phú cũng ôm hôn Diễm Hương thắm thiết. Và sau đó
là sự giày vò về thể xác của kẻ võ biền thô lỗ.
Có
lần Diễm Hương đã nói thẳng cho ngài trung tướng rõ:
- Dạ, trình trung tướng: em đây dù sao cũng
chỉ là một chiêu đãi viên mà thôi. Ngôi chính cung hoàng hậu phải là lệnh bà
Lâm Đệ chứ ạ!
Nghe
nói đến Lâm Đệ - tên bà vợ Hoa kiều Chợ Lớn của mình - Phú thường phân trần:
- Bà
Lâm Đệ là... bà Lâm Đệ! Diễm Hương vẫn là Diễm Hương tuyệt sắc của anh! Lâm Đệ
là con nhà phú thương Chợ Lớn, song lại cách xa Pleiku nửa ngàn cây số! Còn
Diễm Hương thì ở liền kề ngay bên “tổng hành dinh” của anh! Cưng đừng có buồn!
Cả quân khu 2 này ai cũng biết em là vợ anh rồi mà!
Hương
mỉa mai:
- Một
cô vợ lẽ! Mà không, một cô “bồ nhí”, phải không, thưa trung tướng?
Phú
hôn vào má Hương:
-
“Trung tướng” là danh từ ở đại bản doanh, còn ở đây, ở trong phòng kín này, thì
Phạm Văn Phú chỉ là anh của em thôi! Em hãy đổi lại cách xưng hô đi, em!
- Dạ,
một ngày nào đó, anh về Sài Gòn, về Bộ Tổng tham mưu chẳng hạn, hoặc về Biệt
khu Thủ đô thì em ở đây một mình sao? Hoặc có lúc nào đó, chuyện vỡ lở ra, bà
Lâm Đệ nổi máu ghen tuông, cho mấy đứa đâm thuê chém mướn lên đây... tạt a-xít
vào mặt em để giết em luôn!
- Câu
nói vừa buồn tủi, vừa giận hờn của Diễm Hương làm cho Phú phải chạnh lòng. Hắn
mím môi, dằn giọng:
-
Không khi nào! Không khi nào! Anh thà bị lột lon trung tướng, không bao giờ anh
lại xa em! Hoặc nỡ để cho vợ anh tạt axít vào mặt em! Cưng phải tin ở anh, nghe
cưng!
Diễm
Hương thở dài:
- Bà
Lâm Đệ là hoa khôi của Sài Gòn - Chợ Lớn, lại là gái Tàu lai, đẹp tuyệt trần,
em là phụ nữ, nhìn bà ta, em còn phải ghen thầm vì nhan sắc, chưa kể vàng bạc
đầy người. Anh bỏ người ta sao được? Còn em? Một đứa con gái nhà nghèo, may mà
có chút nhan sắc, được anh để ý và chọn vào đây làm chiêu đãi viên rồi chiếm
đoạt em làm vợ lẽ... nửa vời như thế này. Thú thật với anh, em chẳng hy vọng gì
hết!
Phú
đành an ủi:
- Bà
Tuyết Mai vợ ông Nguyễn Cao Kỳ cũng là chiêu đãi viên đó thôi! So với em, thì
Tuyết Mai đã ăn nhằm gì!
- Thế
nhưng ông Kỳ chỉ có một Tuyết Mai. Còn anh? Anh có cả bà mệnh phụ Lâm Đệ rồi!
Em đâu dám bén mảng về Sài Gòn hoặc ở đây cũng là ở lén với anh mà thôi!
-
Không! Lâm Đệ rất đẹp, mà Diễm Hương lại cũng rất đẹp! Ai dám cấm anh yêu hai
người đẹp? Anh là tư lệnh vùng II chiến thuật, đồng thời anh cũng là “tư lệnh
của hai tuyệt thế giai nhân” đó, em! Em đừng nghĩ vẩn vơ cho đau đầu! Anh đã
mua cho má em một nếp nhà hàng ở Pleiku này, anh đã cho em vàng bạc, châu báu
và yêu em như yêu Lâm Đệ! Thử hỏi trong hàng chiêu đãi viên ở đây, đã có ai
được như em? Em buồn làm chi?
Thực
ra, Hương chẳng những buồn phiền mà bao đêm cô đã khóc ròng! Nếu không vì còn
có má thì Hương đã bỏ đi hoặc quyên sinh cho rồi! Có bao giờ cô quên được những
ngày “tố cộng” ở quê nhà? Ở miền đất đỏ miền Đông, vùng ven Thủ Dầu Một, vùng
đất gốm cổ truyền... Năm 1954, ba đi tập kết ra Bắc, bằn bặt không một lá thư,
má lần hồi nuôi con, khi Hương khôn lớn, má biết không thể nào ở yên với lũ quỷ
sa tăng ấy được, má bán cửa nhà, bỏ quê hương tìm đến vùng rừng núi cao nguyên
này, bán trà, bán bánh ở một nhà hàng nhỏ bé. Má có ngờ đâu, con gái của má
càng lớn càng xinh đẹp. Ở ngoài sẽ chẳng thể yên, má đành nghe lời khuyên nhủ
của bà con cô bác, xin cho Hương vào làm chiêu đãi viên ở Sở chỉ huy quân đoàn
2. Cái tên Nguyễn Thị Hương được đổi thành Diễm Hương, khi ngài trung tướng
nhìn chòng chọc vào cô chiêu đãi viên và tủm tỉm cười. Các sĩ quan cấp tá hiểu
ngay vị tư lệnh muốn gì. Ba ngày sau Hương được gọi lên Sở chỉ huy:
- Ở
Thủ Dầu Một, gia đình cô là gia đình Việt cộng, song lên đây gia đình cô lại
được bảo lãnh đàng hoàng, nếu không có trung tướng thì cô và má cô khó bề yên
ổn. Vậy cô phải hết lòng phục tùng trung tướng, nghe!
Một
sĩ quan mang lon đại tá đã nói với Hương như vậy và cô được đưa sang tòa nhà
dành riêng cho tướng Phú lộng lẫy, khang trang, kín đáo, lúc nào cũng có lính
cận vệ dưới thềm.
Tướng
Phú nói với Hương:
- Tôi
phải đưa em sang đây để tránh những con mắt cú vọ của mấy ông cố vấn Mỹ. Em đã
là “của riêng” tôi rồi thì bất cứ ai cũng phải kính nể!
Một đêm,
hai đêm, rồi ba đêm, việc phải xảy ra đã xảy ra với Hương: tướng Phú đã rót cho
cô một ly rượu ngọt có pha một viên thuốc kích thích, cô đã mê man trong vòng
tay con quỷ dữ và hắn đã chiếm đoạt cô từ đêm ấy.
Khi
tỉnh dậy, biết mình đã bị hãm hại, cô chỉ khóc ròng.
Hơn
một năm đã trôi qua. Cho đến hôm nay, về phần vật chất, đúng là Hương đã sung
sướng như một bà hoàng, song về tinh thần thì muôn phần cay đắng: viên tư lệnh
“chồng hờ” của cô hơn cô tròn 20 tuổi, hắn phương phi, phì nộn, kềnh càng như tên
đồ tể.
Có
lần y đang ngồi bên cô thì có chuông điện thoại reo vang. Y cầm ống nghe, từ
đầu dây nói bên kia, cấp dưới báo cáo:
- Trình trung tướng, chúng tôi đã bắt được hai
thằng lính người Thượng trốn trại hôm qua.
Phú
lạnh lùng ra lệnh:
- Anh
tập hợp toàn lũ lính tiểu đoàn ra bãi tập và cho chúng xem hành quyết hai thằng
đào ngũ! Bắn bỏ! Phải bắn bỏ ngay cho nghiêm quân lệnh!
Thấy
nét mặt Diễm Hương rầu rầu khi nghe cái lệnh bắn bỏ của Phú, Phú hiểu ngay cái
bệnh đa sầu, đa cảm của người con gái:
- Em
buồn lắm sao? Lũ người Thượng này, ta không thể nhẹ tay được! Phải róc xương,
róc thịt chúng ra, chúng mới sợ! Du kích ư? Trinh sát ư? Việt cộng ư? Cứ bén
mảng đến cái giang sơn này của ta, ta cho treo cổ tuốt.
Diễm
Hương thấm nước mắt:
- Em thấy mấy người Thượng họ hiền khô mà anh!
Tội nghiệp quá, họ ở trong rừng sâu, trên núi cao, mình trần, đóng khố, gùi
hàng xuống chợ bán, lam lũ quá chừng.
Phú
nhếch mép cười:
- Đã
vào lính, dù Kinh, dù Thượng, đã đào ngũ là anh cho bắn bỏ. Đứa nào nói láo còn
bị cắt lưỡi, chặt đầu! Mấy thằng chỉ huy dưới quyền anh có quyền tống giam, bỏ
đói hoặc phơi nắng tất cả những thằng lính nào dám trái lệnh, hoặc rượu chè, cờ
bạc bê tha.
Diễm
Hương không nói gì thêm nữa. Cô ấn nút cát-sét, tiếng nhạc phát ra buồn buồn.
Phú vuốt tóc cô gái, khen một câu:
-
Quận chúa của anh càng có nét buồn, càng đẹp. Song đừng có buồn nhiều, nghe
cưng!
Diễm
Hương vẫn ngồi bất động. Nỗi buồn càng sâu lắng khi cô nghĩ đến mạng sống của
những kẻ bất hạnh khi bị lùa vào “quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Còn cô và các
bạn chiêu đãi viên, thâu đêm, suốt sáng làm việc “mua vui” cho mấy ông tướng tá
dưới ánh đèn màu. Nếu ai dại dột làm trái ý thượng cấp chắc cũng sẽ khó toàn
tính mạng, hoặc xoàng ra cũng phải tống xuống trại con gái! Ở đó mọi thứ đều
tồi tệ hơn nhiều.
***
Trời
vừa hửng sáng, con nhỏ hầu phòng đã nhón gót bước vào phòng khi nó biết Diễm
Hương cũng trằn trọc thâu đêm.
Diễm
Hương gọi:
- Lại đây em Ly!
Lý Ly
xúng xính trong bộ đồ ngủ màu hồng đến bên giường “bà chủ”. Nó còn ở tuổi 15,
được ông trung tướng tuyển vào hầu phòng riêng cho Diễm Hương. Nó nghe ông dặn:
- Con
phải luôn luôn vui vẻ và làm việc chăm chỉ hết mình nghe con! Ta sẽ trọng
thưởng cho con. Khi nào con đủ 18 tuổi, ta sẽ cho con làm chiêu đãi viên.
Diễm
Hương hỏi Lý Ly:
- Em
có nghe tình hình thiết quân luật ở ngoài ra sao không?
- Dạ,
em nghe tối hôm qua, quân cảnh đi tuần bắt được hai anh lính dù từ Buôn Mê
Thuột chạy về đây đã bị đại úy chỉ huy tiểu đoàn đặc nhiệm tống giam.
- Vì
sao vậy, em?
- Hai
anh lính dù này từ Sài Gòn được máy bay thả xuống tăng viện để tái chiếm Buôn Mê
Thuột nhưng cả tiểu đoàn dù đều bị Việt cộng đánh tan. Một số thoát chết, chạy
vào rừng. Hai anh lính này chạy thục mạng về đây, làm cho binh lính ở đây hoảng
sợ, thế là ông đại úy túm gáy, bạt tai và tống giam luôn. Ông đại úy đe:
- Chúng
bay đã thua chạy lại còn loan truyền tin thất thiệt. Đợi trung tướng về, tao sẽ
trình trung tướng ra lệnh bắn bỏ!
- Hai
anh này có kêu xin gì không?
- Họ
im lặng. Họ bị cùm chân, giam riêng vào một xà lim ở trại số 3.
Diễm
Hương buông thõng một câu:
- Tội
nghiệp cho mấy anh quá!
Bỗng
có tiếng máy bay trực thăng vọng lại mỗi lúc một gần.
Hai
chị em đều ngước nhìn ra cửa. Lý Ly thốt kêu lên:
- Có thể, trung tướng đã bay từ Nha Trang về
đấy, chị ơi!
Diễm
Hương đã nhìn thấy chiếc máy bay trực thăng lượn một vòng và hạ thấp dần dần
trên bầu trời phía sân bay Cù Hanh. Cô gật đầu:
-
Phải rồi, trung tướng tư lệnh đã về đó, em!
Hai
chị em lại nhộn nhịp chuẩn bị như thường lệ mỗi khi tướng Phú đi công cán từ xa
về.
Tám
giờ, Diễm Hương đã gọn gàng trong bộ đồ mới: quần chẽn, áo bay màu xanh cô-ban,
màu mà tướng Phú từng khen ngợi “Cưng mặc bộ đồ này trẻ và đẹp lắm”. Diễm Hương
tin chắc rằng hôm nay, Phú về sẽ hài lòng hơn sau hai ngày xa cách.
Lý Ly
chạy ra, lại chạy vào. Khi hỏi dò tên lính cận vệ, cô bé mới hay rằng chiếc
trực thăng vừa tới không phải của tướng Phú mà là chiếc trực thăng chở đại tá
Lê Khắc Lý, tham mưu trưởng quân khu 2 đi thị sát mặt trận trở về.
Cho
mãi tới lúc bốn giờ chiều, trực thăng chở tướng Phú mới hạ cánh xuống sân bay
Cù Hanh.
Khác
với mọi lần, rời sân bay chiều nay, Phú đi thẳng về Sở chỉ huy với dáng đi hấp
tấp, vội vàng. Phú chưa có thì giờ ghé về tư dinh, nơi Diễm Hương đang nóng
lòng chờ đợi.
***
Trong
phòng làm việc riêng của Phú, một tấm bản đồ tác chiến được trải rộng trên bàn.
Đối diện với Phú là ba người thân tín: chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh
quân khu 2, đại tá Lê Khắc Lý tham mưu trưởng và đại tá Phạm Duy Tất chỉ huy
trưởng biệt động quân vừa được vinh thăng chuẩn tướng.
Bằng
giọng trang nghiêm, Phú nói:
- Tôi
vừa ở Cam Ranh về đây, mời các ông đến để truyền đạt mệnh lệnh của Tổng thống
và Bộ Tổng và tham mưu. Một mệnh lệnh tối
mật, tôi nhắc lại là tuyệt mật,
nó quyết định vấn đề sinh tử của cả quân khu chúng ta.
Nhìn
nét mặt đăm chiêu của Phú, ba người đối diện im lặng chờ đợi. Phú nói tiếp:
-
Buôn Mê Thuột đã thất thủ hoàn toàn, trước mắt ta chưa có cách gì cứu vãn. Lực
lượng tái chiếm đã bị đánh tả tơi. Có hai thằng lính chạy ngược về đây đã bị
quân cảnh tống giam để chúng nó khỏi loan truyền tin tức từ mặt trận. Một thằng
phóng viên hãng AFP của Pháp đưa tin Buôn Mê Thuột thất thủ đã bị Tổng Nha cảnh
sát gọi lên chất vấn và bắn bỏ để cảnh cáo bọn nhà báo đang săn tin ở Sài Gòn.
Tôi nói vậy để các ông thấy rõ tình hình cao nguyên này đã rất nghiêm trọng.
Sau Buôn Mê Thuột, sẽ lần lượt đến Pleiku, Kontum. Cộng sản sẽ gia tăng hoạt
động và thôn tính nốt. Vì vậy, để bảo toàn lực lượng cho quân lực Việt Nam Cộng
hòa, tổng thống và Bộ Tổng tham mưu quyết định: tạm thời rút bỏ Tây Nguyên, đưa
chủ lực về phối hợp với vùng I chiến thuật giữ vùng đồng bằng ven biển Trung
phần.
Trần
Văn Cẩm ngắt lời tướng Phú:
- Còn
địa phương quân?
- Địa
phương quân ta để lại, lính Thượng trả cho người Thượng. Sau khi chủ lực rút
đi, bọn chúng sẽ biết, chúng sẽ tự rã ngũ về với vợ con chúng. Kể cả bộ máy
hành chính cũng vậy. Nếu ta nói ra thì sẽ làm náo động, dân chúng đổ ra đường,
bám theo ta, xe cộ đâu mà chở? Vì thế, các ông phải giữ bí mật tuyệt đối. Chỉ
truyền lệnh đến các đơn vị chủ lực, coi như một cuộc hành quân lớn. Quân xa, vũ
khí đem theo.
Cẩm
lại hỏi:
- Đi
đường nào? Ngày giờ nào?
Phú
chỉ tay xuống bản đồ:
- Đi
đường 7B. Con đường này lâu nay bỏ ngỏ. Cầu bị hư hỏng nhiều. Đi đến đâu bắc
cầu đến đấy. Vì vậy, ông Cẩm phải cho công binh đi trước rồi mới đến xe pháo
tiền hô, hậu ủng đi sau. Phải đi đường 7B để tránh bị cộng sản pháo kích hoặc
truy kích. Đi đường 7B nhằm đạt yếu tố bất ngờ để bảo toàn lực lượng cho chủ
lực của ta!
Phú
đã đọc được nỗi lo âu trên ba khuôn mặt tướng tá. Phú an ủi và động viên;
- Kế
lui binh này do Tổng thống đề xuất. Khi giữ được Trung phần, ta củng cố lại lực
lượng, sau đó sẽ trở về tái chiếm Tây Nguyên!
Ba
người ngồi nghe đều cảm thấy “ngày trở về” còn xa lắc, song chưa ai dám tranh
cãi. Họ còn đang nghĩ đến việc bồng bế vợ con đi theo.
Phú
nói tiếp:
- Bốn
chúng ta sẽ cho gia đình về Nha Trang trước để mấy bà ấy yên tâm, cứ coi như đi
du lịch vậy thôi!
Còn
ngày rút thì lệnh trên quy định là ngày 16, nghĩa là ta chỉ còn có một ngày 15
để chuẩn bị. Phải bảo đảm bí mật và
an toàn, các ông nhớ cho hai điều ấy! Kế hoạch rút quân tôi ấn định là: tôi và
ông Lý, ông Tất bay ra Nha Trang chiều mai để chuẩn bị đón chủ lực ở Tuy Hòa.
Ông Cẩm thay tôi đốc xuất cuộc hành quân này qua đường 7B với toàn quyền định
đoạt, bí mật, bất ngờ. Kẻ nào bất tuân thượng lệnh hoặc có hành vi đào ngũ, ông
Cẩm được phép bắn bỏ để giữ nghiêm kỷ luật chiến trường! Nào, các ông còn có ý
kiến gì không?
Cử
tọa im lặng. Phú chốt thêm một câu:
-
Trong đời làm tướng, tôi chưa hề chịu rút quân bao giờ. Ra Nha Trang, Cam Ranh
trước mặt tổng thống và các ông Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, tôi một mực xin
“tử thủ Tây Nguyên”, cùng các ông và binh sĩ sẵn sàng chết ở đất này, song tổng
thống không chịu, cứ lệnh cho tôi phải rút quân. Cho nên, tôi rất buồn khi miễn
cưỡng phải chấp hành lệnh lui binh. Thôi nhé, nếu các ông không có ý kiến gì
khác thì ta chấm dứt cuộc họp cơ mật này ở đây và trở về chuẩn bị để đúng 7 giờ
sáng ngày 16 ông Cẩm lên đường. Còn ông Lý, ông Tất chuẩn bị chiều mai cùng tôi
bay ra Nha Trang.
Bốn
người chia tay, tạm biệt. Mỗi người có một tâm tư riêng, song lại cùng chung
một nỗi buồn ngao ngán với nỗi lo âu hằn trên nét mặt gượng nói, gượng cười.
Phú
lên xe, lệnh cho lái xe đưa thẳng về tư thất, nơi Diễm Hương đang ngóng đợi.
***
Phú
nhìn Diễm Hương nằm thiêm thiếp ngủ. Vóc dáng nhỏ bé của Hương làm cho cô càng
thêm mảnh mai, yếu ớt, lúc nào cũng như cần một sự che chở của người đàn ông.
Nếu
chiến cuộc không ngày càng ác liệt thì cuộc tình của Phú và Hương cứ êm đềm
trôi chảy như một dòng suối trong xanh, lặng lờ.
Thế
nhưng... Trời chẳng chiều lòng, đêm qua, sân bay Cù Hanh lại bị pháo kích dữ
dội, từng đợt, lại từng đợt đại bác từ phía bên kia bắn phá sân bay.
Đối
phương đang muốn làm tê liệt sân bay để xe tăng, thiết giáp và bộ binh tràn vào
nay mai chăng?
Sau
một đêm chung chăn, chung gối với cô bồ nhí này, Phú càng thêm bải hoải, rã rời
cả về thể xác lẫn tâm hồn.
Phú
nghĩ âm thầm mà chưa dám hé răng nói với Hương điều bí ẩn còn giữ kín: đây có
thể là đêm ân ái cuối cùng. Rồi ngày mai Hương sẽ thế nào? Hương về với má rồi
hai mẹ con sẽ ở lại đây hay lưu lạc về đâu khi Việt cộng tràn vào Pleiku? Gái
thời loạn mà! Ba giờ chiều nay, ta sẽ bay ra Nha Trang - Phú nghĩ vậy - còn
Hương và các cô chiêu đãi viên khác nữa, có tới cả trung đội đêm đêm không còn
mua vui cho cố vấn Mỹ và các tướng tá ở câu lạc bộ Phượng Hoàng! Phượng Hoàng,
cái casino được dựng lên từ thời tướng Nguyễn Văn Toàn còn trị vì ở cái “vương
quốc cao nguyên” này. Tướng Toàn nổi tiếng hung dữ như hùm beo và dâm ác như Lê
Ngọa Triều. Bây giờ Toàn đã được trở về làm tư lệnh vùng III chiến thuật tạm
thời còn yên ổn. Còn Phú? Phú phải ở đây, nơi đầu sóng, ngọn gió để chuốc lấy
cái vạ Buôn Mê Thuột và còn phải chống đỡ với từng đợt tấn công của đối phương!
Thảm kịch đã xảy ra ở Buôn Mê Thuột, còn sẽ xảy ra ở Pleiku, ở Kontum! Vì thể
diện quốc gia, Phú cứ nói bừa rằng: tôi xin tử thủ, tôi sẵn sàng chết ở Pleiku.
Song dĩ vãng 20 năm xưa còn đó, chưa phai mờ trong ký ức của Phú: năm 1954, Phú
còn là trung úy ngụy, bị Pháp ném xuống lòng chảo Điện Biên Phủ để cứu nguy cho
quân đội Liên hiệp Pháp đang bị sa lầy trong tập đoàn cứ điểm này. Thế rồi Việt
Minh đã tổng công kích và giành được toàn thắng. Tù binh Pháp da trắng, da đen
lũ lượt kéo cờ trắng ra hàng, lính ngụy lôi thôi, lếch thếch đi theo lính Pháp
vào trại tù. Hiệp định đình chiến được ký kết ở Genève. Hòa bình được lập lại ở
Đông Dương. Trong buổi trao trả tù binh cho phía Pháp, Phạm Văn Phú được đưa
xuống “tàu há mồm” rời cảng Hải Phòng vào Nam với hàng ngàn lính ngụy. Ít lâu
sau, đám lính này được Pháp “bàn giao” cho Ngô Đình Diệm. Phạm Văn Phú được coi
là một trong số nhiều sĩ quan trẻ được đưa vào quân lực Việt Nam Cộng hòa, phục
vụ cho triều đình họ Ngô. Khi Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh rồi Nguyễn Văn
Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ lần lượt làm đảo chính, Phú càng được tin dùng và ngày nay
được vinh thăng tới trung tướng, trấn giữ cả vùng Tây Nguyên rộng lớn đầy hiểm
họa. Bây giờ, nếu không triệt thoái cho nhanh, cộng sản tràn vào, có thể Phú
lại rơi vào tay cộng sản lần thứ hai. Lúc ấy thì còn nhục nhã nào hơn? Cho nên,
suy nghĩ tới cùng thì trong tình hình chiến sự đang diễn ra tồi tệ như thế này,
ba mươi sáu chước, có lẽ... chước chuồn là thượng sách! Cứ để chuẩn tướng Trần
Văn Cẩm ở lại rút quân theo đường 7B.
Phú
đặt tay lên ngực Diễm Hương. Cô gái giật mình tỉnh dậy. Phú ôm cô gái vào lòng
như nuối tiếc một cuộc tình đang đổ vỡ.
Phú
không thể mang cô ra Nha Trang được, mà để cô ở lại Pleiku thì biết đến bao giờ
mới gặp lại. Quân đoàn 2 rút đi thì Việt cộng sẽ tràn vào, chưa kể trong lúc
giao thời, tranh tối, tranh sáng, binh sĩ sẽ tràn ra đường phố cướp bóc, hãm
hiếp trong 24 giờ “vô kỷ luật”, nếu họ biết được triệt thoái khỏi Tây Nguyên là
để “ra đi mãi mãi”. Trong tình hình cực kỳ hỗn loạn ấy, Diễm Hương và bà mẹ già
nua sẽ lẩn tránh vào đâu cho thoát nạn?
Từ
lòng xót thương cho thân phận người con gái mà những ngày qua Phú đã coi cô như
một người tình bất hợp pháp, Phú rên lên se sẽ:
- Làm
thế nào bây giờ, em?
Diễm
Hương vẫn im lặng. Cô đã hiểu mơ hồ rằng có một cái gì đây thật ghê gớm sẽ xảy
ra. Cô lắc đầu, nói một câu “muôn thuở”?
- Em
vẫn yêu anh hết mình! Anh thương em thì em được nhờ, mà nếu anh còn phải nghĩ
đến Lâm Đệ và các con anh thì em đành cam chịu phận hèn, em đâu dám ngăn cản
anh?
Phú
nhìn vào đôi mắt buồn rười rượi của Diễm Hương, lại nhìn vào mớ tóc rối bù của
cô gái, đột nhiên hắn buông cô gái và bật nắp chiếc cặp Mỹ xách tay thường chỉ
có những tài liệu tối mật. Hắn moi ra một xấp giấy bạc, toàn là đôla Mỹ, đặt
vào tay Hương và nói:
- Anh
cho em và biếu má em năm ngàn đôla, em mang về cất giấu cẩn thận. Đôla bao giờ
cũng có giá trị. Đồng tiền của ông Thiệu còn bị mất giá, em chỉ giữ mấy ngàn
tiêu vật thôi! Những chỉ vàng, đây trang chuyển, nhẫn anh cho em, hãy gói cả
lại. Trong lúc loạn lạc như thế này, đeo trên người nhiều đồ trang sức là bất
lợi và rất nguy hiểm!
Rồi
như chợt nhớ ra rằng mình đã lỡ lời nói với Hương những câu có thể làm lộ bí
mật của chuyến đi Nha Trang chiếu nay, Phú lại an ủi cô bé:
- Anh
phòng ngừa xa thế thôi. Một vài tuần anh sẽ lại quay về đây gặp em mà!
Hắn
ôm hôn cô gái.
Diễm
Hương vẫn không thể vui hơn được. Phú biết rằng hắn đã nói dối người tình,
những lời dối trá đối với một cô gái đang run rẩy trước một ngày mai đẩy bóng
tối. Ba giờ chiều, chiếc máy bay trực tháng chở trung tướng Phạm Văn Phú, chuẩn
tướng Phạm Duy Tất và đại tá Lê Khắc Lý cất cánh rời sân bay Cù Hanh đi Nha
Trang.
Diễm
Hương và cô hầu phòng Lý Ly ngước mắt nhìn theo, yên lặng thở dài.
Khi
chiếc máy bay đã mất hút trên bầu trời, Lý Ly sửa soạn tư trang bỏ đầy hai va
li, cùng Diễm Hương xách hành lý đi qua khu gia binh ra đường quốc lộ. Hương
vẫy một chiếc xe xích lô đi về phía chợ.
***
Má
Bảy hôm nay nghỉ bán hàng. Quầy hàng của má đóng cửa im ỉm cùng với tất cả bà
con cùng dãy phố chợ. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, chẳng hiểu tình thế ra sao
mà ba hôm nay, mật vụ, quân cảnh, cảnh sát đi tuần tra rầm rập ngoài đường. Ban
ngày thì lác đác còn có người qua lại. Ban đêm từ 7 giờ tối đến 6 giờ sáng là
những giờ giới nghiêm. Lệnh của đại tá tỉnh trưởng là: ai vi phạm lệnh giới
nghiêm thì lính tuần tra được quyền bắn bỏ hoặc còng tay tống lên xe đưa về
bót.
Dân
chúng đã quen với những lệnh giới nghiêm khi chánh quyền ban bố, nên chẳng ai
dại gì mà đi ra đường vào giờ này.
Từ
lúc xế chiều, khi Diễm Hương và Lý Ly xách va li về, má Bảy càng cảm thấy lo
sợ. Hình như có một biến cố gì sắp xảy ra. Má chỉ nghe Diễm Hương nói:
- Từ
hôm Buôn Mê Thuột thất thủ, sĩ quan, binh lính bàn tán dữ lắm. Họ bảo: Việt
cộng đánh Pleiku và Kontum tới nơi rồi. Mấy nhà giàu đã lặng lẽ cho ông bà già
và trẻ nhỏ về Sài Gòn, đi Đà Lạt. Đa số dân nghèo và vợ con binh lính thì hoang
mang chờ đợi.
Sáng
nay binh lính vẫn bị cấm trại, xe cộ chạy rầm rập, xuôi ngược. Một số xe cỡ lớn
bị tập trung tại bãi đá banh, hình như sắp có cuộc hành quân nống ra phía ngoài
thị xã hoặc sẵn sàng đánh nhau với Việt cộng tràn vào.
Má
Bảy hỏi con gái đến lần thứ ba:
- Ông
trung tướng nói thế nào hở con?
Diễm
Hương vẫn trả lời có một câu:
- Vì có lệnh giới nghiêm nên câu lạc bộ Phượng
Hoàng đóng cửa, Chiêu đãi viên cũng nghỉ. Ai có gia đình ở gần như con thì được
về thăm nhà. Lý Ly không có gia đình thì cũng về đây với con...
Má
lại hỏi Lý Ly:
- Con
có nghe mấy ông tiểu đoàn nói gì nữa không?
- Dạ,
ông đại úy Hàm nói rằng: đánh nhau to đến nơi rồi! Quân đoàn 2 quyết tâm tử
thủ, trung tướng Phú nói như ông Ngô Quang Trưởng: “Việt cộng muốn vào đây thì
phải bước qua xác tôi!”. Nhưng chiều nay, mấy ông đã bay ra Nha Trang rồi. Ở
lại đây chỉ còn có ông phó tư lệnh, chuẩn tướng Trần Văn Cẩm. Ông ta luôn đập
bàn, đập ghế, chửi mắng lính ẩm ầm...
Má
Bảy thở dài não nuột:
- Má
con mình hãy gắng ở lại đây một đêm nay, sớm mai nghe ngóng nếu tình hình gay
go hơn thì ta sẽ chạy về Đà Lạt hoặc Nha Trang với bà con hàng phố.
Ngọn
đèn điện hắt ánh sáng xanh xao trên ba khuôn mặt rầu rầu.
***
Ngày
16, mới sáng tinh mơ, má Bảy đã giật mình tỉnh dậy vì tiếng xe ôtô, xe máy chạy
rầm rầm trước cửa. Ngược chiều xe chạy là dòng người chạy tán loạn, mỗi lúc một
đông, ùn ùn đổ về phía sân bay.
Má
Bảy đánh thức Diễm Hương và Lý Ly:
-
Dậy! Dậy các con ơi! Đường phố đang náo động ngoài kia rồi. Dậy mà ra xem sao
nào?
Hai
cô gái dụi mắt, tung chăn nhỏm dậy. Phía ngoài đường có tiếng la hét:
- Đồ
chó đẻ! Mấy thằng Mỹ bỏ rơi ông Thiệu. Ông Thiệu lại bỏ rơi chúng tao. Tụi bay
là người Kinh được theo xe chạy về đường 7. Tụi tao là người Thượng lại phải
lên rừng, lên núi. Ở đó Việt cộng đang bắn phá ầm ầm. Tử thủ cái gì mà lại làm
ăn như thế hả?
Có
tiếng người hét to hơn:
- Ông
Phú bay rồi! Tao cũng bay thôi! Bay không có chỉ, có đô, mấy thằng phi công nó
gạt phát ra! Đểu cáng, mất dạy đến thế là cùng!
Một
loạt súng nổ thật đanh. Má Bảy nhìn qua khe cửa: ngoài đường, một sĩ quan mang
quân hàm đại úy đang bán chỉ thiên, chừng như anh ta muốn cảnh cáo lũ lính đang
gào thét, chửi thế.
Dòng
người vẫn cuồn cuộn đổ về sân bay.
Diễm
Hương và Lý Ly cũng vừa thay bộ đồ cũ, chạy ra đứng sau lưng má nghe ngóng.
Bỗng cánh cửa bị xô bật tung một bên: một người trẻ tuổi quần áo lính bị rách
tướp, lách mình qua cánh cửa vào nhà:
- Chào
má! Chào hai cô! Má ơi, má cứu con với! Chúng nó đang rượt theo con đó!
Hương
và Ly lùi lại phía sau, ngỡ ngàng nhìn anh thanh niên, chưa hiểu chuyện gì đã
xảy ra. Má Bảy nắm một cánh tay người vừa lọt vào nhà mình, hỏi dồn dập:
- Bay
là ai mà dám nhảy vô đây?
Anh
thanh niên ngồi sụp xuống ghế
- Dạ,
dạ, thưa má, con là lính Sài Gòn bị ném xuống để giải vây cho Buôn Mê Thuột,
nhưng cả tiểu đoàn tăng viện bị Việt cộng đánh tan, chết và bị thương gần hết.
Con thoát chết chạy về đây hai hôm nay rồi. Con bị đại úy Hàm tống giam. Đêm
qua nghe tin “tùy nghi di tản”, lính gác bỏ trốn, chúng con trốn trại, chạy lẫn
vào đám đông của bà con mới thoát ra đây được. Có thể giờ này đại úy Hàm sẽ
truy nã chúng con. Con xin má cho con tạm qua khỏi được bước hiểm nghèo, sau
này khi đất nước yên hàn, con về được với gia đình ở Sài Gòn, con không bao giờ
dám quên ơn má.
Hương
và Ly nghe tiếng nói dễ thương của anh lính trẻ, cũng hết sợ hãi, đã cùng bước
tới. Hương nói nhỏ:
- Xin
lỗi, em muốn hỏi: anh vô đây, có đứa nào trông thấy không?
Anh
lính lắc đầu:
-
Không có ai đâu! Vì dân chúng còn đang nhốn nháo, lo chạy lấy thân mình, có ai
để ý đến tôi đâu.
Má
Bảy trông bộ mặt hốc hác của anh lính trẻ, Má ái ngại hơn:
- Con
đã ăn gì chưa? Con có đói, có mệt lắm không?
- Dạ
thưa má, con chỉ khát, vì từ lúc thoát khỏi trại giam, con chưa được một ly
nước nào. Con cũng xin thưa với má: con không còn một đồng nào trong túi, con
chỉ còn lại một bộ đồ đang mặc này thôi.
Quả
thật, bộ đồ rắn ri của anh lính thất trận đã nhầu nát và bám đầy bụi bặm. Khổ
đau, phẫn uất, tủi nhục đã làm cho anh ta già đi mấy tuổi.
Mới
chỉ nghe anh lính nói như thế, Lý Ly đã nhanh tay rót một ly nước mát bưng đến
đưa tận tay anh ta:
- Em
mời anh uống tạm ly nước này. Nếu quả là thật như lời anh nói, xin anh đừng ra
đường nữa. Chúng nó bắt lại anh và nguy hiểm lắm!
Má
Bảy cũng nói:
-
Phải rồi! Ông đại úy Hàm hung dữ khét tiếng, được quyền tự do bắn bỏ, rồi tâu
lên với tư lệnh là “Việt cộng nằm vùng, về quấy rối nên tôi phải bắn bỏ ngay
mà!”
Anh
lính uống xong ly nước mát, đã tỉnh táo hơn mặc dù vẫn chưa hết mệt.
Diễm
Hương hỏi má
- Má
ơi! Con coi bộ anh đây còn mệt, nếu anh thấy đói, em mời anh ở đây ăn điểm tâm
với gia đình.
Anh
lính trẻ bậm môi, chừng như để nén xúc động, đôi mắt anh chớp chớp như để ngăn
những giọt nước mắt khỏi trào ra. Anh nói:
- Dạ,
xin cám ơn má, cám ơn hai cô.
Má
Bảy nói với Hương:
-
Phải đó! Các con vào sửa soạn bữa ăn để cả nhà ta cùng ăn sáng.
Má
lại nói với anh lính:
-
Được rồi, lúc loạn lạc như thế này, một miếng khi đói bằng một gói khi no, con
cứ ở đây rồi cùng đi với má. Má sống thì con sống! À mà má hỏi: tên con là gì
và được mấy anh chị em? Ba má con làm gì ở Sài Gòn? Nhà ở đường phố nào?
Anh
lính trẻ tự cảm thấy như anh đang ngồi ở gia đình mình, bên cạnh những người
thân. Anh nói:
- Dạ, thưa má, con tên là Lê Hoàng, ba của con
là giáo sư Lê Vỹ ở Sài Gòn. Ba má con sinh được có mình con là con trai độc
nhất. Ba con tưởng rằng ông Thiệu, ông Kỳ miễn quân dịch cho con, nào ngờ trong
chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ”, mấy ông ấy vẫn lùa hàng vạn thanh niên
vào lính. Con bị bắt lính và bị đưa vào quân trường Quang Trung, sau đó bị ném
xuống gần Buôn Mê Thuột. Giờ này ba má con làm sao biết được con còn sống hay
đã chết? Khi con bị bắt lính thì ba con chỉ im lặng, ngậm ngùi, còn má con thì
khóc ròng. Bà chẳng thiết buôn bán gì nữa, cả ngày chỉ cầu trời, khấn phật cho
con được tai qua, nạn khỏi.
Má
Bảy đã nhìn thấy hai mắt anh lính trẻ đỏ hoe và có ngấn nước mắt, má hỏi thêm:
- Má
con buôn hàng gì đó?
- Dạ,
thưa má, má con có tiệm buôn đồ gốm, sứ ở đường Tự Do.
Má
Bảy ngậm ngùi:
-
Thôi được, như vậy là má đã tin con, con cứ ở đây, má chạy được thì con chạy
được, má sống thì con sống.
Những
câu nói bình dị của má Bảy làm cho Lê Hoàng cảm động đến sững sờ, anh nghĩ rằng
mình ở hiền nên lại gặp lành. Được má Bảy che chở, đùm bọc thì may ra anh có
thể về được với gia đình khi cuộc chiến này chấm dứt, hòa bình được vãn hồi.
Vừa
lúc Diễm Hương đã uyển chuyển bước ra đứng bên cạnh má Bảy.
- Con xin mời má, mời anh vào ăn cơm.
Bữa
cơm thanh đạm, chỉ có bốn đĩa cơm chiên nóng mà làm anh lính trẻ ấm lòng, ấm
dạ, xúc động tưởng chừng muốn rơi nước mắt. Đã hơn một ngày bị bỏ đói ở trại
giam, lại qua một đêm chạy trốn, bây giờ Lê Hoàng mới được ăn uống. Anh đã ăn hết
đĩa cơm chiên và tỉnh táo hẳn ra. Anh đưa tay áo gạt mồ hôi trên trán :
- Má ơi! Nếu mai đây, con được trở về Sài Gòn,
con sẽ kể lại cho ba má con biết chuyện hôm nay con đã được má cưu mang như thế
nào.
Hoàng
lại đưa mắt nhìn Diễm Hương và Lý Ly. Anh nói tiếp:
- ...
và cả tấm lòng của cô Hương, cô Ly nữa.
Câu
nói thốt lên từ đáy lòng người trai trẻ làm cho hai cô gái càng chăm chú lắng
nghe. Diễm Hương chớp chớp hàng mi:
- Anh
Hai cứ tin ở má em và cả chúng em nữa. Người là vàng, của là ngãi, lúc loạn
lạc, giúp đỡ nhau là chuyện bình thường.
- Dạ,
xin cám ơn cô Hương, cô Ly.
Sau
bữa ăn, Hương và Ly cùng má sửa soạn khăn gói, sẵn sàng di tản. Hoàng được má
cho phép nằm nghỉ để lấy lại sức khỏe, “con cứ nằm cho khỏe”, má nói vậy và
Hoàng đã nằm nghỉ tạm trên đi văng.
Mới
nghỉ được chừng nửa giờ thì ngoài đường lại có tiếng la hét om sòm: “Đồ chó đẻ!
Đồ chó đẻ!” và lại có tiếng súng nổ “đoàng!”.
Sau
đó, má Bảy nghe có tiếng đập cửa và tiếng hét:
- Mở
cửa mau! Mở cửa mau!
Má
Bảy bước ra, mở cửa. Một khuôn mặt ác ôn hiện ra:
- Có
phải nhà cô Diễm Hương đây không?
- Dạ,
phải. Xin chào ông đại úy!
Tên
đại úy Hàm bước vào:
- Bà
già biết tôi rồi chứ hả?
- Dạ
thưa có, tôi có nghe cháu Hương nói về ông đại úy chỉ huy tiểu đoàn, xin mời
ông ngồi.
Tên
đại úy ngồi phịch xuống ghế, rút khẩu súng côn đặt lên bàn:
- Bà
biết không? Ông Phú, ông Lý bay cả ra Nha Trang rồi. Lệnh “tùy nghi di tản” đã
phát ra rồi. Quân tướng đang chạy nhốn nháo cả lên. Cô Hương chạy về đây để đưa
bà già đi di tản có phải không?
- Dạ
...
- Đi
đâu? Bà già định đi về đâu?
- Dạ,
thưa ông đại úy bảo tôi nên chạy về đâu bây giờ?
- Sân
bay đóng cửa rồi, vì dân chúng tràn vào dữ quá! Mỗi vé máy bay về Sài Gòn phải
trả bằng một lượng vàng mà cũng không có vé mà mua! Chạy bộ thôi, hoặc có cái
xe đò nào thì năn nỉ với tài xế rồi leo lên mà đi thôi!
- Dạ
...
- Này
bà già, bà gọi giùm tôi cô Hương ra đây tôi bảo.
- Dạ,
thưa ông bảo cháu điều gì ạ?
-
Điều gì à? Hôm qua ông Phú cho cô Hương nhiều tiền, nhiều vàng lắm, tôi muốn cô
Hương cho tôi vay mấy lượng để có tiền về Sài Gòn!
Máy
Bảy nghe tên ác ôn nói trắng trợn như vậy thì giật mình, sợ hãi và chắc rằng
tai họa sắp xảy ra tới nơi rồi. Má nói giọng run run:
- Tôi
thấy cháu về đây với con Ly, tôi có thấy vàng bạc chi đâu?
Tên
Hàm cười hềnh hệch:
- Bà
lại còn giấu cả tôi sao? Có thể bà không biết thật. Vậy cảm phiền bà cho tôi
gặp cô Hương!
Từ
phía trong, Hương đã nghe được tất cả mấy câu hạch xách của tên Hàm, cô thong
thả đi ra:
- Em
xin chào ông đại úy!
Hàm
ngửng lên và vẫn giữ nguyên nụ cười nham hiểm:
-
Chào cô Hương! Cô biết đó, tình thế của ta ở đất Pleiku này nguy ngập lắm rồi.
Việt cộng đánh tới nơi rồi. Họ sẽ tràn vào đây chưa biết sớm tối lúc nào, nên
đã có lệnh tùy nghi di tản. Mà chỉ có lính dưới xuôi được hành quân về đường
7B. Còn bọn lính người Thượng thì bị gạt lại cho về nguyên quán. Chúng nó đang
cướp bóc, hãm hiếp, chụp giựt ngoài kia. Tôi sẽ chạy về lộ 7B. Nhưng chưa biết
có thoát được không, tốt nhất là tụt lại phía sau, hoặc là tạt sang lối khác,
nên “quân tử phải phòng thân”, cảm phiền cô cho tôi vay tạm ít lượng vàng để lỡ
lạc đường thì còn có cái mà ăn!
Lo
lắng hiện trên nét mặt cô gái:
- Dạ,
thưa ông đại úy, em đâu có vàng!
Tên
Hàm cười nhạt:
- Hừ!
Lại “em đâu có vàng!”. Cô đừng giấu tôi. Ông Phú cưng cô lắm mà! Trong bước
đường chạy loạn này, ông Phú vẫn phải cưu mang cô. Rồi nếu mai đây, Việt cộng
bị đẩy lui, quân đội quốc gia trở lại cao nguyên, tái chiếm Pleiku thì cô lại
về hầu trung tướng chứ gì! Cô nên suy nghĩ và quyết định cho nhanh, ít là 3
lượng, nhiều là 5 lượng, cô cho tôi vay, tôi sẽ trả cô tại Sài Gòn hoặc ở Tuy
Hòa. Cô không sợ mất trắng đâu! Tôi chưa hề giựt dọc của ai bao giờ!
Hương
vẫn khăng khăng nói:
- Em
không có vàng thật mà!
Tên
ác ôn thấy cần phải ra tay, hắn nổi nóng, đập mạnh tay xuống bàn:
-
Không có! Vậy, nhân danh chỉ huy tiểu đoàn đặc nhiệm, tôi ra lệnh cho cô và tất
cả mọi người trong nhà này phải theo tôi về Sở chỉ huy!
Má
Bảy nói đỡ lời con gái:
- Dạ,
thưa ông...
Tên
Hàm quát lớn:
-
Không lôi thôi dài dòng. Tôi yêu cầu các người phải đi ngay, xe bịt bùng chờ
sẵn ngoài kia!
Tên
Hàm cẩm khẩu súng lên chĩa vào từng người để đe dọa, rồi hắn lại đặt súng xuống
bàn, đứng dậy nói tiếp:
- Cô
Hương! Cô nên nhớ rằng: hôm qua cô còn là “Tư lệnh phu nhân”, hôm nay thời thế
đã đổi thay rồi, ông Phú đã tếch lên trực thăng bay về Nha Trang và sẽ về Sài
Gòn với bà Lâm Đệ. Vì vậy từ giờ phút này cô Hương đã thuộc về tôi! Cả con
người cô và cả tài sản vốn liếng mà cô đang có trong tay. Thân gái dặm trường,
cô chạy đâu cho thoát khỏi 24 giờ vô kỷ luật của quân lính dưới quyền tôi? Cho
nên, tôi nói cho cô biết, nếu cô muốn di tản an toàn thì phải có tôi yểm trợ,
hoặc là cô muốn được tự do thì phải nộp ngay đủ 5 lượng vàng cho tôi! Cô biết
tính tôi rồi đó, tôi chưa hề đe dọa ai bao giờ. Tôi không nói suông. Tôi nói là
tôi làm. Ai trái lệnh tôi thì lập tức tôi ra lệnh bắn bỏ!
Rồi
như không có bà má trước mặt, tên ác ôn đưa bàn tay gân guốc ra vuốt nhẹ lên má
cô gái. Diễm Hương ghê tởm tên Hàm, cô lùi lại một bước nghiêng đầu để tránh
bàn tay đen xạm của con thú dữ. Tên Hàm giậm chân
-
Hừm! Không chịu hả?
Hắn
định cầm lại khẩu súng, song đã muộn mất rồi, từ phía phòng bên trong, Lê Hoàng
đã nhanh như một làn chớp lao ra cướp khẩu súng côn, nhảy lùi lại một bước,
thét lớn:
-
Thằng khốn kiếp, giơ tay lên!
Tên
ác ôn bị bất ngờ, bàng hoàng, khiếp sợ. Nó cũng lùi lại một bước và khi nhận ra
người đang chĩa súng vào ngực hắn lại là một anh lính biệt động, nó lắp bắp:
- Mày...
mày là ai?
Lập
tức, Lê Hoàng quát:
- Giơ
tay lên, không thì tao bắn bỏ! Mày muốn biết tạo là ai à? Tao là lính biệt động
Sài Gòn bị ném xuống giải vây cho Buôn Mê Thuột, bị Việt cộng đánh tan tác,
chạy về đây lại bị mày bắt cầm tù. Đêm qua tao vượt trại về đây, không ngờ lại
gặp mày đi cướp bóc dân chúng. Giơ tay lên!
Tên
Hàm miễn cưỡng phải tuân lệnh của người đang cầm súng chĩa thẳng vào mặt nó.
Má
Bảy, rồi Diễm Hương vô cùng kinh ngạc trước hành động táo bạo của Lê Hoàng,
nhìn anh như van xin đừng nổ súng. Đọc được ý nghĩ của cả hai người, Lê Hoàng
lại quát vào mặt tên Hàm:
- Đằng
sau quay! Muốn bảo toàn tính mạng, hãy cút ngay khỏi nhà này!
Tên
Hàm sợ hãi bước ra cửa, nó rảo bước đi ra giữa đường như muốn cầu cứu một chiếc
xe nào đó để thoát thân.
Lê
Hoàng lăm lăm khẩu súng trên tay đưa mắt nhìn ra đường, không có chiếc xe nào
đón tên đại úy. Hắn lấm lét quay lại nhìn Lê Hoàng rồi co cẳng chạy. Hoàng thấy
vậy đã kịp thời nổ một phát súng. Viên đạn của anh đã bắn trúng chân phải của
tên Hàm. Nó chỉ kịp kêu lên một tiếng “ối” rồi ngã lăn trên vũng máu bên đường,
cách nhà má Bảy gần trăm mét.
Lê
Hoàng nhét vội khẩu súng ngắn vào cạp quần, quay vào nói với má Bảy và Diễm
Hương:
- Ta
phải thu xếp đi khỏi đây ngay! Má, con phải mau lẹ cứu nguy cho má và cô Hương,
cô Ly. Nếu để chậm một phút thôi thì cả nhà sẽ không thoát khỏi tay chúng nó!
Lý Ly
cũng từ trong phòng chạy ra nói với Hoàng
-
Anh! Anh đã cứu sống má và chúng em - Và cô quay sang má Bảy:
- Má
ơi! Ta đi gấp thôi! Anh Hoàng nói phải đó.
Má
Bảy đóng chặt hai cánh cửa và nói:
-
Thôi má con ta đi, đi lẫn vào đám người đang chạy về phía chợ kia kìa. Đi ra
cổng phía sau. Anh Hoàng xách giùm má mấy cái giỏ đồ này, còn con Hương, con Ly
mỗi đứa mang một giỏ giỏ, lẹ lẹ lên nào!
Năm
phút sau, cả bốn người đã hòa nhập vào dòng người đang ồn ào di tản về phía
chợ.
Còn
cách chợ chừng ba trăm mét, má Bảy bỗng nghe tiếng gọi giật giọng:
- Bà
Bảy! Bà chạy đi đâu đấy
Má
Bảy nhìn ra: từ bên kia đường là má Năm, một bạn hàng thân thiết đang giơ tay
vẫy gọi. Má Bảy liền kéo cả Hương, Ly và Lê Hoàng cùng chạy qua đường sang chỗ
má Năm:
- Bà
Năm! Bà chạy đi đâu bây giờ? Cho tôi theo với!
Má
Năm nói thật nhanh:
-
Chúng nó đang cướp ở trong chợ đó! Có cả tiếng súng nổ nữa. Có thể là có người
bị chết chứ chẳng phải chơi đâu! Hãy về nhà tôi đã nào! Lúc nãy tôi có nghe
súng nổ rầm rầm ở khu nhà bà có phải không?
-
Phải! Thằng đại úy Hàm đi cướp phá bị người ta bắn đó.
Má
Năm kéo cả bốn người vào con hẻm sâu thăm thẳm và rẽ về nhà mình.
Khi
mọi người đã ngồi yên ổn cả, má Bảy mới nói:
- Bà Năm này! Bây giờ tôi mới nói thật cho bà
nghe hai con nhỏ Hương và Ly thì bà biết rồi. Còn thằng Hai đây là lính Sài Gòn
phản chiến đấy. Nó giạt vào nhà tôi vừa lúc thẳng đại úy Hàm đập cửa nhà tôi
rồi vào tống tiền, đòi nộp 5 lượng vàng! Tôi đâu có vàng, thế là nó rút súng
dọa bắn bỏ, nó lại đòi bắt cả mấy mẹ con tôi về Sở chỉ huy nữa chứ! Thế là từ
trong phỏng phía trong, thẳng Hai này nhảy bổ ra cướp khẩu súng côn của nó,
chĩa vào ngực nó, buộc nó phải cút khỏi nhà tôi. Khi nó chạy ra đường thì thằng
Hai bắn nó gãy cẳng để nó khỏi gọi lính đến phá nhà tôi. À mà Hai ơi! Sao con
không bắn nó chết cho rồi?
Lê
Hoàng ôn tồn đáp:
- Dạ, thưa má: nếu con bắn chết nó thì đồng
bọn của nó bỏ mặc xác chết của chủ mà lao vào phá nhà ta. Con bắn bị thương để
đồng bọn nó còn phải khiêng nó về sở chỉ huy, phá được nhà mình cũng còn lâu.
Má
Năm lắc đầu:
- Gớm
ghiếc quá! Hỗn quân, hỗn quan, dân chúng đến chết hết với chúng nó thôi. Phố
phường đang đóng cửa rầm rầm, để tôi gọi thằng Ba bảo nó kiếm cho một cái xe
mới mong thoát khỏi nơi này.
Má Năm ở có một mình. Một đứa con trai đi quân
dịch đã chết mất xác ở Quảng Trị. Một cô gái lấy chồng Sài Gòn. Má chưa bán
được ngôi nhà này nên còn phải ở lại. Nào ngờ bây giờ lại loạn, lại tùy nghi di
tản. Má đã gói gọn hành lý trong một chiếc vali nhỏ.
Má
Năm rót mấy ly nước mát:
-
Uống nước đi bà! Các cháu uống nước đi! Tôi qua bên này, gọi thằng tài xế nhờ
nó kiếm cho một cái xe có lẽ ta phải chạy lên Đà Lạt thôi, bà ạ.
Má
Năm tất tả chạy sang hàng xóm tìm anh tài xế.
Nửa
giờ sau, chiếc xe màu đen bóng đã chở má Năm, má Bảy, Hương, Ly và Lê Hoàng về
phía cuối thị xã rồi rẽ sang trái ngược lên Đà Lạt. Phía trước chiếc xe là cả
một đoàn dài ôtô, hon đa, xe lam chạy tới tấp. Mọi người cùng chung một ý nghĩ:
phải mau chóng thoát khỏi tai họa.
Thì
ra lệnh di tản của tướng Phú truyền đạt bí mật như vậy, tưởng chừng chỉ có
chuẩn tướng, đại tá biết, ngờ đâu cả sĩ quan cấp dưới cũng biết, họ thu xếp cho
vợ con đi trước bằng máy bay và xe quân sự, thế là ồn ào hẳn lên, khu gia binh
náo động và dân chúng càng lo tái mặt.
-
Phải chạy đi thôi! Cộng sản sắp về rồi! Tắm máu đấy!
Cộng
sản chưa thấy đâu mà đường phố đã tràn ngập lính Thượng, lính Kinh. Vừa chụp
giựt, vừa la hét, vừa nổ súng.
Khi
xe chở má Bảy, má Năm đã rời khỏi Pleicu được hơn hai cây số thì mọi người nghe
một tiếng nổ long trời như một tiếng bom lớn. Ngoảnh lại nhìn: một cột khói,
rồi lửa bốc lên cuồn cuộn, kho xăng dự trữ của Pleicu nổ tung và bốc cháy dữ
dội. Lũ bại binh đã thiêu hủy kho tàng trước khi tháo chạy hoảng loạn về Cheo
Reo...
Má
Bảy không khỏi bồn chồn khi nghĩ đến những ngôi nhà ở dãy phố chợ, và ngôi nhà
của má với những tiện nghi sinh hoạt không thể mang theo. Diễm Hương, Lý Ly và
cả Lê Hoàng cũng cùng một nỗi lo âu như má. Diễm Hương chỉ mong có một điều:
đừng ai phá phách ngôi nhà của má, đừng có bao giờ ngôi nhà bị lửa khói thiêu
cháy rụi. Lê Hoàng còn lo mấy thằng ác ôn trả đũa vì tên chỉ huy của nó vừa bị
bắn hạ.
Đường
lên Đà Lạt lại còn xa, xa lắm. Chiếc xe chưa thể một lúc rút ngắn được những
dặm đường dài.
Bỗng
từ phía trước, một chiếc xe honda đang chầm chậm đi ngược chiều. Một chiếc mũ
tai bèo nhấp nhô, nhấp nhô. Rồi một bóng áo xanh màu lá cây rừng mỗi lúc một rõ
thêm. Chiếc xe gắn máy đã tới gần. Ngồi trên xe là một chiến sĩ quân giải
phóng. Một “Việt cộng” hẳn hoi.
- Má!
Tiếng
kêu rõ ràng là tiếng con gái!
Má
Bảy giật mình, bảo anh tài xế:
- Đi
chậm lại một chút, con!
Chiếc
xe honđa đã vượt qua trước mắt mọi người và bất chấp hiểm nguy đã quay ngoắt
lại, vọt lên, bám theo chiếc xe.
Má
Bảy đã nhìn rõ mặt cô gái và đến lượt má kêu lên:
- Con
Chín! Con Chín!
. Cô
gái đội mũ tai bèo nở một nụ cười rạng rỡ:
- Con đây mà, má ơi!
Má
Bảy bảo anh tài xế:
- Con
dừng xe ngay! Con Chín đây rồi!
Chiếc
xe nghiêng về bên phải và dừng bánh đậu lại bên đường. Chiếc xe hon đa cũng
thắng gấp. Cô gái xuống xe và reo lên:
- Má!
Đúng là má của con đây rồi! Má chạy đi đâu hở má?
Má
Bảy cũng bàng hoàng:
- Má
chạy loạn mà!
Má
bảo tất cả mọi người ngồi trong xe:
-
Xuống! Xuống xe đi các con! Bà Năm nữa!
Cánh
cửa xe bật mở. Mọi người bước cả xuống đường. Cô gái đội mũ tai bèo đã ôm chầm
lấy má:
- Con
ở căn cứ về đây! Tụi nó bỏ chạy hết cả về đường 7B. Lệnh trên là phải gấp rút
tiến vào giải phóng Pleiku, diệt tàn binh, bắt tù binh, thu vũ khí, giúp đỡ
đồng bào lập lại trật tự...
Má
Bảy nghẹn ngào:
- Chứ
từ hồi nào tụi bay đi đâu?
Cô
gái có tên là Chín vẫn giữ chặt vai má:
- Tụi
con lên rừng mà! Thôi quay về đi má! Anh tài xế, anh chở má và mấy anh, mấy chị
về đi thôi. Nó không dám khủng bố nữa đâu. Bộ đội giải phóng đang rầm rập tiến
vào rồi. Má có nghe tiếng xe tăng, tiếng súng đang nổ rền rền đó không?
-
Khoan đã chứ, con! Về bây giờ bom rơi, đạn lạc thì sao?
Chừng
như thấy má nói có lý, cô gái gật đầu:
- Dạ, dạ. Vậy thì hai má và mấy anh, mấy chị
hãy quẹo qua phía lùm cây kia, đợi khi yên tĩnh rồi hãy về. Còn con, con phải
về gấp. Mấy anh chỉ huy đã lệnh cho con phải về mà! Con sẽ về qua khu phố chợ
và sẽ qua nom nhà ta, má cứ yên lòng. Con đi đây, má! Em đi đây, mấy anh, mấy
chị về sau, nghe.
Chiếc
xe honđa lại đưa cô gái quay lại, nhằm hướng Pleiku vút lên phía trước còn đang
mịt mù khói lửa.
Nhìn
theo chiếc xe honđa, má Bảy nói với mọi người:
- Nó là con Chín, biệt động Pleiku đó! Hồi
trước, má nuôi nó cả tháng trời khi thằng Hàm còn đang ruồng bố. Con nhỏ dễ
thương quá! Nó quê ở Bình Định lên đây hoạt động trong vai thương lái ở chợ.
Nào ngờ nó lại là Việt cộng nằm vùng mới ghê chứ!
Việc
gặp lại Chín bất ngờ đã làm cho má Bảy thay đổi ý kiến, không di tản về hướng
Đà Lạt nữa và má quyết định quay trở lại Pleiku ngay buổi chiều nay, chiếc xe
tắc xi tắt máy hẳn. Diễm Hương và Lý Ly trải ngay một mảnh vải nhựa trên thảm
cỏ ven đường và lôi từ túi đồ ăn dự phòng ra nào nước ngọt, nào bánh mì patê,
xúc xích bày trên mảnh vải.
Má
Bảy nói với anh tài xế, với Lê Hoàng và má Năm:
- Ta
ngồi xuống, ăn đi, uống đi, rồi ta sẽ tính đến đường về thị xã chiều nay.
Nhìn
bộ đồ lính trên người Hoàng, Diễm Hương mỉm cười:
- Anh
Hoàng! Em mời anh uống ly nước này. Không có anh hôm nay, có lẽ thằng đại úy
Hàm nó đã hại cả gia đình em rồi và nó có thể bắt tất cả về trại giam của tiểu
đoàn đặc nhiệm. Em cám ơn anh nhiều.
Lê
Hoàng nói nhỏ nhẹ:
-
Không có gì đâu, cô Hương! Tôi phải hành động mau lẹ để diệt trừ một tai họa
không cho riêng gia đình ta.
Má
Bảy nói:
-
Hoàng nói có lý đó! Thằng ác ôn bị bắn hạ, gãy cẳng, chưa biết có sống nổi
không? Lũ lính khiêng nó đi rồi thì cả lũ chúng nó phải hết hồn!
Quả
thật như má Bảy nói, cái tin thằng đại úy ác ôn bị bắn hạ đã loan truyền khắp
Pleiku. Lũ lính biệt động quân, lính Thượng, lính Kinh vứt súng, cởi quần áo,
bỏ chạy tán loạn. Tên Hàm được lũ đàn em bằng bó qua loa, vứt lên một xe ca
cam-nhông chạy theo sau đoàn xe thiết giáp rút vội về phía đường 7B.
Đến
năm giờ chiều thì thị xã đã sạch bóng lính rằn ri. Lác đác có nhà đã mở cửa,
nghe ngóng, hồi hộp đón chờ quân giải phóng.
Một
anh bộ đội đặc công phóng xe honda qua các phố đọc lời kêu gọi của Ủy ban Mặt
trận Dân tộc Giải phóng yêu cầu đồng bào hăng hái cùng lực lượng vũ trang truy
quét bọn ác ôn còn lẩn trốn, kêu gọi quân lính địch ra hàng, nộp vũ khí cho
chính quyền cách mạng. Lời kêu gọi nhấn mạnh:
“Thị xã Buôn Mê Thuột đã được hoàn toàn
giải phóng. Chính quyền ngụy Sài Gòn đã ra lệnh rút bỏ Tây Nguyên, co cụm lại
để phòng thủ các tỉnh ven biển miền Trung. Chúng đang rút chạy về đường 7B và
đang bị bộ đội giải phóng truy kích, chặn đánh ráo riết. Đồng bào Pleiku hãy mở
cửa, treo cờ, đón chào quân giải phóng đang áp thị xã, chuẩn bị tiếp quản
Pleiku...”
Cô
Chín dừng xe trước ngôi nhà má Bảy, mừng thầm vì ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn.
Cô rút một lá cờ Mặt trận bằng giấy trong bó cờ cô đã chuẩn bị sẵn để tặng đồng
bào sớm mai cắm ở trước nhà đón bộ đội về tiếp quản.
Chín
cắm lá cờ nhỏ vào khe cửa, cô lùi lại ba bước, ngắm lá cờ một lát, trên môi cô,
một nụ cười tươi rói. Cô yên lòng ngồi lên xe máy. Chiếc xe nổ máy giòn giã,
đưa cô quay lại con đường rẽ phải để đón gia đình má Bảy trở về ngay buổi chiều
tối hôm nay.
***
Sáng
ngày 18, cả thị xã Pleiku thức dậy trong tiếng nhạc mở đầu buổi phát thanh đặc
biệt của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Những
lá cờ Mặt trận đã được cắm lên trang trọng trước cửa mỗi nhà, mỗi công sở và
doanh trại của quân khu 2 (ngụy) vừa được giải phóng.
Má
Bảy quét dọn nhà cửa và thắp một bó nhang cắm lên bàn thờ. Ánh nến lung linh
soi rõ tấm hình ông Ba - chồng má Bảy - tập kết ra Bắc, trở lại chiến đấu ở
miền Đông Nam bộ và đã hy sinh anh dũng. Tấm hình Bác Hồ cũng được má Bảy lồng
vào khung kính và treo ở chính giữa phòng khách.
Diễm
Hương và Lý Ly cũng trang điểm đẹp hơn mọi ngày, vì hai cô đoán biết sáng nay
sẽ có mít tinh đón chào quân giải phóng. Lê Hoàng mua đã mua được bộ đồ mới để mặc, thay cho bộ đồ rằn
ri anh đã trút bỏ, giặt sạch và gấp lại làm một kỷ niệm buồn đau của thời “quân
dịch".
Khi mặt
trời le lói sau dãy cây thông bên kia đường, má Bảy đã nghe tiếng loa vang vang
ngoài phố:
“Phòng thông tin thị xã vui mừng
loan báo tin chiến thắng mới: hàng vạn tên địch thuộc quân khu 2 tháo chạy về
đường 7B đã bị chặn đánh tan tác ở Cheo Reo. Hàng ngàn xe bị đốt cháy, ta bắt sống
tên chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh quân khu 2 của địch. Ta đang truy
quét tàn quân địch, bắt tù binh, thu vũ khí...”.
Diễm
Hương cũng lắng nghe tin chiến thắng, cô chạy tới ôm chầm lấy má Bảy:
- Cao
nguyên hoàn toàn giải phóng rồi má ơi!
Lê Hoàng cũng âu yếm nhìn Diễm Hương. Anh muốn
chia vui với người bạn trẻ từ nay đã thoát khỏi bùn nhơ. Anh thầm nghĩ: “Thế là
mặt trận Cao nguyên đã vỡ, “tường đồng, vách sắt” của chế độ Sài Gòn đã sụp đổ,
vùng II chiến thuật còn gì nửa đâu?
II.
Pleiki
giải phóng bước sang ngày thứ ba. Chợ thị xã lại tấp nập, đông vui. Phố phường
rực rỡ cờ, hoa. Lệnh giới nghiêm tạm thời được ban bố từ 21 giờ đêm cho đến 6
giờ sáng? Ai đã đi Sài Gòn, Nha Trang, Đà Lạt? Ai còn ở lại...
Lòng
dạ bồn chồn vẫn là anh lính trẻ Lê Hoàng.
Sau
khi ra trình diện với Ủy ban quân quản, 3, Hoàng được phép về thăm gia đình ở
Sài Gòn.
Hoàng
nói với má Bảy:
- Má
ơi! Con xin phép má về thăm ba con ít bữa ở Sài Gòn, nay mai Sài Gòn được giải
phóng thì con lại lên thăm má.
Má
Bảy băn khoăn:
- Sài
Gòn và các tỉnh lân cận còn đang nhộn nhạo lắm. Con về lỡ gặp chuyện chẳng lành
thì sao? Con cứ ở lại đây ít ngày nữa có được không? Má sẽ nhờ người nhắn tin
cho ba má con biết con còn sống và đang ở đây có được không?
- Con
cám ơn má nhiều, song con muốn đi vào dòng người di tản lên Đà Lạt, xuôi Bảo
Lộc và về Sài Gòn. Đi lại dễ dàng và an toàn lắm, má khỏi lo cho con!
Diễm
Hương lo lắng thực sự. Một tình cảm đẹp đẽ đã này nở giữa hai người, kể từ phút
hiểm nguy và Hoàng đã dũng cảm cứu sống cả gia đình cô. Cô cứ đinh ninh trong
dạ: “Ơn này em biết lấy chi báo đền?”. Lê Hoàng cũng cảm nhận được ân tình của
Hương. Song, anh không muốn Hương phải lưu tâm nhiều về điều đó. Nỗi lo canh
cánh bên lòng anh lúc này là làm sao về được gia đình với ba má ở Sài Gòn. Tin
tức chiến sự mới nhất anh nghe được là quân khu I của Ngô Quang Trưởng đang bị uy
hiếp mạnh. Tàn quân ở vùng II chiến thuật đổ về Tuy Hòa, Nha Trang đang làm náo
động cả Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn. Cuộc chiến sẽ diễn ra ác liệt như thế nào, anh
chưa hình dung nổi. Sài Gòn có còn nguyên vẹn được không? Hay sẽ tan tành trong
lửa khói? Ba má sẽ chạy đi đâu khi lệnh tùy nghi di tản đang lan tràn khắp cả
miền Nam? Anh muốn có ngay đôi cánh bay về Sài Gòn để chia sẻ nỗi lo âu cùng ba
má.
Diễm
Hương muốn được đi cùng với Hoàng về Sài Gòn, song chẳng lẽ cô lại nói ra điều
đó, và nói thì... mắc cỡ lắm, cô đành năn nỉ:
- Anh
Hoàng! Anh chờ Hương chút xíu.
Hương
đã gói ghém cho Hoàng một bịch bánh kẹo. Má mua thêm cho Hoàng hai bộ quần áo
mới “để lỡ có kẹt lại dọc đường thì con còn có bộ đồ thay đổi”. Má cũng chưa
yên tâm, má còn đưa cho Hoàng năm chục ngàn đồng và một cái nhẫn hai chỉ vàng.
Hoàng cảm động đến sững sờ. Anh bùi ngùi nói:
- Má
cho con nhiều quá!
- Con
đừng nói thế. Má không thể để con về tay không được. Con về đến Sài Gòn gặp má
con thì ở đây má mới yên tâm.
Diễm
Hương lại tìm đến nhà má Năm, nhờ má Năm nói với bác tài xế dành cho Hoàng một
vé xe về Sài Gòn. Hương đưa cho bác tài xế một chỉ vàng và nói:
- Anh
Hoàng là ân nhân của gia đình cháu. Bác gắng đưa anh về đến được Sài Gòn nhé!
Cháu cám ơn bác nhiều.
Lý Ly
còn sửa soạn một bữa cơm thân mật để mời Hoàng ăn trước lúc tạm chia tay. Diễm
Hương không quên ghi lại đầy đủ chi tiết địa chỉ của Hoàng ở Sài Gòn, kể cả địa
chỉ bên ngoại của Hoàng ở Cần Thơ để đề phòng khi Sài Gòn có biến động, gia
đình Hoàng chạy về Cần Thơ thì Hương cũng không sợ mất liên lạc với người cô đã
mang ơn.
Khi
chiếc xe tắc xi ghé qua cửa đón Hoàng về Sài Gòn, cả gia đình má Bảy đã tiễn
anh lên xe, Hương và Ly đã rưng rưng nước mắt. Má Bảy nắm mãi bàn tay của
Hoàng. Hoàng cố trấn tĩnh:
- Má
yên tâm, con còn trở lại đây mà!
Diễm
Hương nhét vội vào túi áo ngực của Hoàng một bì thư dày cộm, sực nức mùi nước
hoa.
Chiếc
xe từ từ lăn bánh.
Khi
xe đi khuất ở đầu đường, Lê Hoàng mới mở phong thư mà Hương vừa bỏ vào túi áo
anh: anh thấy có một chiếc khăn tay hơi cũ cũ, có lẽ là chiếc khăn mà Hương
thường dùng, lại có cả một bức ảnh chân dung của Hương với nét mặt mơ mộng của
nữ sinh. Hoàng chợt hiểu ra: Diễm Hương đã quá thương anh mà chưa dám thổ lộ
tâm tình!
Hoàng
bâng khuâng nhìn ra phía trước xe: núi đồi đang lùi lại phía sau. Phía trước anh
là Sài Gòn còn xa thăm thẳm. Chiều nay, chỉ chiều nay thôi, anh sẽ về đến Sài
Gòn, nơi ba má đang đỏ mắt chờ mong.
***
Giáo
sư Lê Vỹ nhìn ra khoảng trời ngoài khung cửa sổ. Bầu trời Sài Gòn không một gợn
mây. Tiếng xe cộ, tiếng ồn ào ngoài đường phố cứ dội vào không ngớt mà có lúc
còn gia tăng. Bên cạnh ông là ba chiếc va li nhỏ đã sắp sẵn hành trang cho một
cuộc di tản khi tình thế bắt buộc ông phải ra đi.
Chính
quyền Sài Gòn mấy bữa nay đã phải thú nhận Buôn Mê Thuột thất thủ, Pleiku,
Kontum “bỏ ngỏ" khác hẳn hôm anh phóng viên hãng AFP loan tin Việt cộng
đánh chiếm Buôn Mê Thuột, bị cảnh sát Đô thành gọi lên chất vấn và bắn chết
ngay. Bây giờ thì tướng Phú đã chạy về Tuy Hòa, Nha Trang, “tử thủ” ở Trung
phần. Cả quân đoàn 2 gửi xác ở Cheo Reo, phó tư lệnh chuẩn tướng Trần Văn Cẩm
bị bắt sống làm tù binh.
Lại
có tin Việt cộng đang áp sát ngoại vi thành phố Huế. Lính của Ngô Quang Trưởng
đào ngũ chạy về Đà Nẵng như vịt. Tướng Nguyễn Văn Toàn đem quân ra Xuân Lộc,
sẵn sàng “tử thử” để bảo vệ Sài Gòn.
Mấy
ông Ba Tàu cỡ bự đã bay sang Hồng Kông. Mấy thương gia Việt Nam hốt hoảng chạy
sang Xanh-ga-po, Băng-cốc, có người bay thẳng sang Paris làm một chuyến du lịch
“bất đắc dĩ”. Ông Thiệu lên truyền hình kêu gọi đồng bào bình tĩnh chờ quân lực
Việt Nam Cộng hòa phản công tái chiếm Tây Nguyên, đẩy lùi Việt cộng về bên kia
sông Bến Hải...
Giáo
sư Lê Vỹ hiểu rằng, đó là tiếng kêu tuyệt vọng của kẻ cùng đường. Ở các quán cà
phê đang xôn xao về “giải pháp chính trị” của Dương Văn Minh, lại có tin Nguyễn
Cao Kỳ sắp làm đảo chính.
Giáo
sư Lê Vỹ bảo vợ:
- Cứ
sẵn sàng, nếu tình hình căng thẳng thêm thì ta làm một chuyến xe lánh về Cần
Thơ là êm!
Cửa
hàng bán đồ gốm sứ của bà cũng vắng khách từ nửa tháng nay. Điều may mắn nhất
cho giáo sư Lê Vỹ là đứa con trai độc nhất của ông đã thoát chết từ Pleiku và
về được Sài Gòn từ mấy bữa nay.
- Ba
ơi! Thật là một cơn ác mộng. Chính con cũng không ngờ rằng con còn sống được mà
về đến đây với ba má.
Mấy
ngày liền, nó chỉ ăn, chỉ uống rồi lăn ra ngủ. Trên đầu giường nó có tấm hình
một cô gái mơ mộng, mà theo nó kể, đó là cô gái con một bà má tên là má Bảy đã
ngỏ cửa đón nó vào nhà khi nó trốn trại ở Pleiku. Rồi nó lại nổ súng bắn chết
thằng ác ôn để tự cứu mình và cứu luôn cả gia đình cô gái ấy.
Bà vợ
giáo sư đã thắp luôn mấy tuần nhang trên bàn thờ đức Phật Quan Âm, tạ lễ trời,
phật đã phù hộ độ trì cho con trai bà.
Mấy
bà láng giếng lại nghe bà nói “ở hiền gặp lành đó, nếu không có phúc, có phận
thì mẹ con tôi làm sao mà gặp lại nhau được.”.
Trong
nhà, ngoài đường, cả ngày, cả đêm cứ ồn ào lên như thế, làm cho giáo sư Lê Vỹ
đứng ngồi không yên. Ngoài mấy tờ báo thời sự hàng ngày và tin tức qua radio,
ông không sao đọc nổi một trang sách như thói quen thường ngày. Trong hai mươi
năm qua, ông đã được chứng kiến bao nhiêu cuộc xáo trộn, đổi thay trên trường
chính trị Sài Gòn, từ gia đình Ngô Đình Diệm bị lật đổ đến Dương Văn Minh,
Nguyễn Khánh, rồi Thiệu - Kỳ, cũng trải qua mấy đời tổng thống Mỹ, đại sứ Mỹ;
thay thầy đổi chủ mấy phen mà cuộc đổ máu chưa chấm dứt được. Đến bây giờ thì
thế cờ đã rõ, có thể dẫn tới một cuộc đổi đời, một sự sụp đổ hoàn toàn của chế
độ ngụy quyền tay sai khi người lính Mỹ cuối cùng đã ra đi.
Lá cờ
vàng ba sọc đỏ còn ngẩn ngơ bay, có khi lại ủ rũ trên cột cờ, trên nóc một vài
dinh thự.
Nhiều
bà phu nhân, mệnh phụ cùng các cậu ấm cô chiêu cũng đã “rút êm” để các ông
tướng, ông tá rảnh tay “tử thử”. Báo chí của phe đối lập được dịp khua môi, múa
mép chê bai, chửi rủa ông Thiệu, ông Kỳ và quan thầy Mỹ.
Nhiều
nhà báo xuống đường, hưởng ứng lời kêu gọi của Nghiệp đoàn Ký giả mở chiến dịch
“ký giả đi ăn mày” và đả đảo bọn tham nhũng trong bộ máy ngụy quyền. Không khí
chính trị mỗi ngày thêm nóng bỏng, thêm sôi sục.
Giáo
sư Lê Vỹ mỉm cười, ông rất tự hào vì mình là người ngoài cuộc không tham gia
một đảng phái nào, mặc dù từ chối lời mời của nhà chức trách có lúc là điều bất
lợi cho ông, cho bà trong việc buôn bán, làm ăn, kể cả việc con trai ông bị lùa
vào quân dịch.
Vấn
đề còn lại đối với ông là đưa vợ con về Cần Thơ, tạm lánh đi ít ngày để tránh
bom rơi, đạn lạc khi Sài Gòn bị vây hãm hoặc xảy ra những trận đánh lớn trên
đường phố. Ngôi nhà của ông có thể bị tàn phá, song còn người thì còn của.
Ngoài
vốn liếng, tư trang gói gọn trong ba chiếc va li, ông còn lại cả một tủ sách
quý sưu tầm mấy chục năm trời, lại cả mấy trăm trang bản thảo cuốn sách “Việt Nam, thế kỷ 20”, một công trình
biên soạn của ông về đất nước, về dân tộc từ sau khi thực dân Pháp xâm lược đến
hai cuộc chiến tranh giải phóng (chống Pháp và chống Mỹ). Ngoài việc giảng dạy
ở nhà trường, ông còn muốn đóng góp vào kho tàng lịch sử nước nhà những ghi
chép, những tiếng nói trung thực và khách quan của sử gia mà theo ông, ở bất cứ
thời đại nào cũng không thể bị lệ thuộc vào áp lực của những thế lực đương thời
để đến nỗi bóp méo và xuyên tạc lịch sử.
Tình
hình này - giáo sư nghĩ - đã buộc mình phải tạm biệt Sài Gòn đến một nơi yên ổn
hơn, song quyết không phải là chuyện bỏ nước mà đi, đi ra nước ngoài. Ông quyết
định về quê ngoại ở Cần Thơ.
***
Lê
Hoàng vươn vai, ngồi dậy. Giấc ngủ ngon lành của anh như một liều thuốc bổ làm
cho anh tỉnh táo hẳn lên.
Những
ngày qua, anh đã tìm gặp lại bạn bè thân thuộc ở Sài Gòn. Cả cái thằng Vinh,
tên tù binh trốn trại cùng với anh ở Pleiku đêm 15 rạng ngày 16 tháng 3. Nó
chạy tuốt vào rừng, rồi sáng ra, nó nhập vào đoàn người di tản, len lỏi chạy
được về Sài Gòn. Hai đứa ôm nhau cười ha hả, kéo nhau đi nhậu một bữa ăn mừng
thoát chết. Nó đã đưa gia đình chạy về Gò Công. Lê Hoàng dự định sau khi theo
ba má về Cần Thơ, sẽ có dịp tìm đến gặp lại “Vinh xả láng” ở Gò Công.
Lê
Hoàng tắm rửa xong, mặc một bộ quần áo mới như thời sinh viên anh thường mặc để
đi chơi với bạn bè, song hôm nay, anh chưa biết đi đâu, thôi đành ở nhà nghe
nhạc vậy. Anh ấn nút cassette, tiếng hát Lệ Thu vang lên, ấm áp, dịu dàng. Bất
giác, Hoàng lại nhìn lên tấm hình của Diễm Hương. Anh hình dung thấy một Diễm
Hương thơ mộng, đẹp và ngây thơ, hiền hậu như một nữ sinh Sài Gòn, mặc dù Hương
mới chỉ học xong tiểu học ở Thủ Dầu Một bởi cô nhà nghèo, phải làm nghề gốm để
nuôi sống gia đình. Giờ này, Hương và Ly đang sống yên ổn ở Pleiku. Chắc chắn
là Hương sẽ nhớ mình mãi mãi. Việc bắn hạ tên đại úy Hàm xảy ra thật bất ngờ,
làm cho Hương cảm động và vì vậy cô đã thương mình chăng? Thương mà chưa nói,
chỉ gói ghém cho mình một tấm hình và một chiếc khăn tay. Cuộc tình này nếu có,
xin hãy tạm dừng ở đây, vì Sài Gòn còn đang nằm trong tay ông Thiệu ông Kỳ và
nhất là đã nằm trong tầm pháo kích của quân giải phóng, có nghĩa là “trong tầm
tay của Việt cộng” như những người dân Sài Gòn đều nói. Mình là “trai thời
loạn”, Diễm Hương là "gái thời loạn”. Ngày mai sẽ ra sao, chưa biết sẽ ra
sao, dám đâu nghĩ đến chuyện yêu đương? Có chăng chỉ là những kỷ niệm đẹp của
những ngày tạm gọi là “phiêu lưu, mạo hiểm”, trong đó cái sống, cái chết đã gần
kề trong gang tấc.
Tuy
đã trở về với mái ấm gia đình, song Lê Hoàng vẫn xốn xang vì chiến cuộc đang
thay đổi từng ngày, tin chiến sự dồn dập bay về cùng với người di tản từ miền
Trung ùn ùn đổ về Sài Gòn: ngày 26 tháng 3, tướng Ngô Quang Trưởng rút khỏi
Huế, ngày 29 tháng 3 đã lại rút khỏi Đà Nẵng. Quân giải phóng đang tiến như vũ
bão về Khánh Hòa, Phan Rang, Phan Thiết.
Dư
luận Sài Gòn xôn xao bàn tán:
-
Liệu Mỹ có đổ quân vào lần thứ hai không?
- Khó
lắm!
- Vậy
thì viện trợ thêm đôla, vũ khí mạnh?
-
Quốc hội đang tranh cãi về việc tổng thống Mỹ xin viện trợ cho Thiệu 300 triệu
nữa, cũng không xong!
- Thế
thì lập phòng tuyến Xuân Lộc, tử thủ để bảo vệ Sài Gòn ra sao?
- Tan
nát hết! Tan nát cả thôi!
Giáo
sư Lê Vỹ vẫn chờ đến phút chót mới chạy về Cần Thơ.
Lê
Hoàng biết rằng phút chót ấy đang tới gần, chỉ chờ ba giục:
- Xách vaili đi con!
Cho đến một buổi sáng đầu tháng 4, mới mười
giờ, Hoàng đã nghe tiếng má gọi:
-
Hoàng ơi! Có khách của con này!
Từ
lầu một, Hoàng tất tưới xuống nhà, ra cửa và thốt kêu lên:
- Kìa Hương! Kìa Ly! Về đây hồi nào thế?
Diễm
Hương cười thật tươi:
- Em
vừa về tới đây.
- Hai
cô này nói rằng ở Pleiku về đây thăm con đó. Có phải là...
Hoàng
nói ngay:
- Dạ,
thưa má, đây chính là Diễm Hương và Lý Ly, con của má Bảy, người đã cưu mang,
che chở cho con mấy ngày ở Pleiku đó.
Má
vốn vã hơn.
- Thế
thì má mời hai cô vào chơi! Con đưa hai cô lên lầu chào ba đi con!
Hoàng
đưa tay:
- Mời
Hương, mời Ly vào!
Hai
cô gái e lệ, cúi đầu vào nhà và theo Hoàng lên lầu một.
Khi
cả ba người đã ngồi vào salông, Diễm Hương mới nói:
- Anh Hoàng hôm nay trông khác lắm rồi?
-
Sao?
- Béo
tốt, khỏe mạnh, đẹp trai nữa!
-
Hương đừng làm tôi mắc cỡ! Tôi vẫn là một anh lính cộng hòa!
- Hết
rồi! Anh lại là sinh viên Văn khoa thì đúng hơn!
-
Bạch diện thư sinh phải không?
Hoàng
đặt ba ly nước mát trước hai người bạn gái:
- Xin mời hai bạn. Thế nào? Các bạn kể cho tôi
nghe: sao lại về Sài Gòn lúc này? Cảnh sát có làm phiền gì không? Dọc đường đi
có vất vả lắm không?
- Chúng em lại đi nhờ xe chú Tư tài xế đó,
anh! Dọc đường và cả ở đây nữa, mạnh ai người ấy chạy. Có ai làm phiền chi đâu!
Hương
và Ly rút từ trong hai chiếc giỏ xách tay ra và bày lên bàn đủ thứ kẹo bánh đặc
sản của Pleiku.
- Má
em bảo về thăm anh và hai bác, có chút quà biểu hai bác và biếu anh.
Hoàng
kêu lên:
- Má
cho nhiều quà thế!
-
Không nhiều đâu, anh!
Hoàng
nhìn vào đôi mắt thật đẹp, thật hiền của Diễm Hương.
-
Hương sẽ về Thủ Dầu Một chứ?
- Dạ,
em sẽ về, song có một điều rất quan trọng nữa cơ!
-
Điều chỉ vậy?
- Anh
thử đoán xem?
- Xin
chịu!
Lý Ly
nhìn hai người lớn tuổi hơn mình và cười hóm hỉnh:
- Chị
Hương bí mật lắm đó, anh!
Lê Hoàng lửng lơ:
- Tôi
chắc là cô Hương nói giỡn.
Diễm
Hương không chịu:
- Em
nói thiệt mà! Bí mật và quan trọng lắm! Mà không phải là em chỉ nói với anh mà
em xin nói cả với hai bác nữa kia. Nhờ anh Hoàng mời hai bác lên đây, em sẽ nói
luôn điều quan trọng đó.
Hoàng
trố mắt nhìn cô bạn gái.
-
Được. Tôi xin tuân lệnh!
Anh
đã chạy vội lên lầu ba mời ba, rồi lại xuống quầy hàng mời má lên.
Khi
ba má đã ngồi vào đi văng. Diễm Hương mới nói dịu dàng:
-
Thưa hai bác, chúng cháu ở Pleiku xuống kính thăm hai bác và má cháu gửi lời
cháu về cám ơn hai bác và anh Hoàng. Anh Hoàng đã cứu thoát cả gia đình cháu
khỏi bàn tay thằng ác ôn. Chắc là anh Hoàng đã kể chuyện để hai bác nghe từ hôm
anh mới về.
Giáo
sư Lê Vỹ cười thân mật:
- Có, Hoàng có kể lại. Trên đó bây giờ đã yên
ổn hẳn chưa?
- Dạ, thưa bác yên lắm rồi ạ. Ban ngày thì cả
thị xã đều mở cửa bán hàng. Chợ lại họp đông. Chỉ còn ban đêm là phải giới
nghiêm theo lệnh của Ủy ban quân quản.
- Có
ai sợ bị ném bom trở lại không?
- Dạ,
thưa không ạ. Suốt ngày chẳng có bóng một chiếc máy bay nào!
Giáo
sư gật đầu:
- Thế
là rất tốt!
- Dạ,
thưa hai bác, chính vì vậy mà má cháu cho cháu về đây mời hai bác và anh Hoàng
lên thăm Pleiku và tạm lánh ở trên đó ít bữa, vì Sài Gòn sẽ bị bao vây. Hai bác
ở lại thì khó an toàn lắm ạ.
Giáo
sư nói:
- Bác
sẽ về Cần Thơ nay mai...
-
Thưa bác, sau Sài Gòn lại sẽ đến Cần Thơ, ở đâu cũng có chiến sự, yên ổn làm
sao bằng ở Pleiku được?
Bà vợ
giáo sư nói chen vào:
- Lên
cao nguyên thì xa quá, đèo dốc nguy hiểm, lại còn lo tàn quân của chúng nó mò
về quấy rối. Ở rừng thiếu gì biệt kích hoặc Phun-rô? Bác ngại lắm.
Giáo
sư ôn tồn:
- Má
cháu và hai cháu có nhã ý như vậy, bác cám ơn. Về Cần Thơ nếu không ổn thì bác
về một miệt vườn nào đó, về một cái ấp nào đó cũng được. Cháu khỏi lo!
Bà vợ
giáo sư cũng nói thêm:
- Bác
cảm ơn cháu nhiều. Bác gửi lời cháu về cảm ơn má cháu nữa. Trong lúc loạn lạc
thế này, cưu mang nhau là rất quý. Hôm nay má cháu lại còn gửi cho quà thế
này... Thôi thì hai cháu đã về đến đây, hãy ở lại đây chơi ít bữa, vừa mừng cho
hai bác, lại vừa mừng cho Hoàng nữa!
Diễm
Hương e lệ cúi đầu rồi lại đưa mắt nhìn Hoàng như thầm nói với anh: “Má tâm lý
lắm đó, anh! Má hiểu hết chuyện của hai đứa chúng mình rồi!”.
Lý Ly
lại cười hóm hỉnh:
-
Thưa bác, hôm nay thì anh Hoàng cứ hiền khô! Hôm trước, khi anh cướp súng của
thằng đại úy ác ôn thì cháu trông anh ấy dữ dằn lắm bác à!
Giáo
sư Lê Vỹ cười:
- Thì
phải tùy cơ ứng biến chứ! Lúc ấy mình không nổ súng tự vệ và uy hiếp nó thì nó
giết mình ấy chứ. Hoàng của bác vốn là chân tay học trò, ấy thế mà lại biết
dụng võ, bác cũng không ngờ đó!
Lời
khen của ba càng làm cho Hoàng mắc cỡ. Anh nói nhỏ nhẹ:
- Lúc
ấy tình thế nguy ngập lắm nên con cũng đành liều. Ai ngờ con và gia đình má Bảy
đã thoát nạn!
Buổi
trò chuyện mỗi lúc mỗi vui hơn. Bữa cơm trưa trở thành một bữa tiệc liên hoan
nho nhỏ, ấm cúng, không còn phân biệt ai là chủ, ai là khách.
Đến
ba giờ chiều, Diễm Hương và Lý Ly mới xin phép giáo sư để về Thủ Dầu Một thăm
lại bà con cô bác sau nhiều năm xa cách. Lê Hoàng tiễn hai bạn gái ra đến bến
xe.
Trước
khi bước chân lên xe, Diêm Hương đã nói nhỏ với Hoàng:
- Anh
có hiểu vì sao em lại về Sài Gòn lúc này không?
- Vì
em phải về Thủ Dầu Một nữa chứ gì!
- Đâu
phải vậy, anh! Em cứ nói thật điều em nghĩ. Anh đừng cười em nhé: em phải về
đây vì em... em... nhớ anh Hoàng quá mà!
Hoàng
chớp chớp mắt và nói nhỏ hơn:
- Xin
cám ơn Hương!
Khi
xe đò lăn bánh, Hương và Ly còn ngó qua cửa xe vẫy hai bàn tay nhỏ. Hoàng vẫy
tay tạm biệt. Anh tần ngần, bâng khuâng, không nỡ quay về và tự hỏi “Hương
thương mình rồi sao?”
***
Khi
về đến nhà, Hoàng lại sững sờ vì Kiều Thu đang đứng chờ anh ở cửa. Kiều Thu là
bạn cùng lớp với Hoàng. Cô bạn sinh viên văn khoa rất mơ mộng. Khi Hoàng bị
động viên quân dịch, Thu đã khóc ròng. Ngày ấy, Hoàng hiểu đó là tình bạn và là
điểm yếu ớt của người bạn gái lúc biệt ly. Hôm anh mới bỏ ngũ từ Pleiku về,
Kiều Thu đã đến thăm anh cùng các bạn cũ. Họ lại nhắc chuyện “đêm không ngủ”
của sinh viên, phật tử đấu tranh hồi trước với chủ đề hội thảo “thanh niên
trước hiện tình đất nước” ... Hôm nay Kiều Thu lại đến với nụ cười thật đằm
thắm:
- Anh
Hoàng đi tiễn hai cô bạn cao nguyên rồi phải không?
- Sao
Thu biết?
- Má
nói chuyện mà!
- Mời
Thu lên lầu, mình nói lại cho nghe!
Khi
hai người đã ngồi trong phòng khách, Thu mới mỉm cười tinh nghịch:
- Em
trông anh Hoàng cứ như là...
- Là
sao?
- Là
chàng Kim Trọng vừa chia tay với nàng Kiều!
Hoàng
lúng túng đáp:
- Thu
lầm rồi! Mình với Hương chỉ là bạn thôi mà.
Kiều
Thu vẫn cười và không nói gì thêm. Một lúc sau, cô mới nói:
-
Thôi, em nói chuyện này nhé: tình hình chiến sự gay lắm rồi. Bà con di tản ra
khỏi thành phố nhiều rồi. Em muốn theo anh và ba má anh về Cần Thơ có được
không?
- Còn
ba má Thu thì sao?
-
Cũng đi luôn mà! Em đã nói với ba má anh rồi. Ba má anh ưng rồi đó. Chỉ còn hỏi
ý kiến anh thôi.
- Mọi việc đều do ba má anh quyết định. Anh
trái lời ba má anh sao được! Về Cần Thơ thì nhà cửa rộng rãi lắm, song chẳng
biết có yên ổn không? Hay là lại phải chạy nữa?
Kiều
Thu quả quyết:
-
Chạy nữa cũng được chứ sao! Bà con sống thì mình sống, ngại gì! Ngày mai đi
chưa anh?
Hoàng
lắc đầu:
- Ba
má anh gan lắm. Có khi nước đến chân rồi mới nhảy. Rời thành phố là điều bất
đắc dĩ! Nhưng bên em, ba má định đi như thế nào?
- Bên
em một xe, bên này anh một xe. Ba em là bác sĩ nên mang theo đủ thuốc phòng
ngừa, khỏi lo!
- Ba
má em chu đáo quá!
Hoàng
thấy vui hẳn lên:
- Thế
là hai gia đình làm một cuộc hành hương chứ phải đâu là chạy loạn?
Kiều
Thu rất mơ mộng:
-
Thích quá đấy anh nhỉ! Em sẽ về thăm lại bến Ninh Kiều của Tây Đô! ...
-…Để
em làm thơ phải không?
- Em
sẽ làm một bài thơ về bến Ninh Kiều để tặng anh Hoàng đấy. Đừng có chê thơ em.
Mắc cỡ lắm!
Câu
nói của Kiều Thu làm cho Lê Hoàng có cảm giác như ngày nào anh còn ngồi trên
ghế nhà trường, chép tặng Thu mấy câu thơ tiền chiến của nhà thơ Lưu Trọng Lư.
Hoàng đọc lại:
“... Em là gái bên song cửa,
Anh là mây bốn phương trời.
Anh theo cánh gió chơi vơi,
Em vẫn nằm trong nhung lụa”.
Thu
vẫn hồn nhiên:
- Bây
giờ loạn rồi, em có còn được “nằm trong nhung lụa” nữa đâu!
-
Thì... Thu cũng sẽ là “mây bốn phương trời” như ai chứ sao!
Câu
chuyện tản mạn làm cho hai người quên hết cảnh ồn ào di tản đang diễn ra bên
ngoài.
Hai
ngày sau, Hoàng và Thu đã di tản về Cần Thơ cùng với hai gia đình.
Nhà
hàng “Tinh Hoa” chuyên bán đồ gốm, sứ
đường Tự Do cũng đóng cửa từ 10 giờ sáng.
Đến 2
giờ chiều, một chiếc xích lô từ phía nhà thờ Đức Bà rẽ vào đường Tự Do và ngược
lên phía nhà hàng Tinh Hoa. Khi xe đỗ lại, hai cô gái xuống trước căn nhà đã
khóa trái cửa. Đó là Diễm Hương và Lý.
Diễm Hương buồn ngao ngán:
- Anh
Hoàng và gia đình đi Cần Thơ rồi! Thôi ta quay về Thủ Dầu Một thôi.
Lý Ly
vội kêu lên:
-
Khoan đã chị! Em muốn chị em mình rẽ qua Chợ Lớn, về thăm lại chú Coóng...
Diễm
Hương ngần ngại:
- Lỡ
lại đụng với gia đình bà Lâm Đệ thì phiền, vì chị tin chắc là ông Phú đã bỏ Nha
Trang chạy về đấy rồi!
Mấy
bữa nay báo “Trắng Đen” đưa tin ầm ĩ về việc hai ông tướng Ngô Quang Trưởng và
Phạm Văn Phú đã bỏ cao nguyên, lại bỏ Huế, Đà Nẵng chạy “rống Bái Công” về Sài
Gòn, quân đoàn II tan vỡ, quân đoàn I tả tơi. Quân lính cởi bỏ áo quần nhà binh
chạy lẫn với dân chúng, vừa chạy vừa cướp bóc, hãm hiếp dọc đường. Quân giải
phóng đã tràn qua Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết và đang pháo kích dữ dội
Xuân Lộc.
“Quân
lực Việt Nam Cộng hòa” đổ ra “tử thủ” ở Xuân Lộc dưới quyền chỉ huy của tướng
Nguyễn Văn Toàn, ông tướng mập như con heo, khét tiếng dâm ác ở cao nguyên mấy
năm trước.
Diễm
Hương không bỏ sót một tin tức nóng bỏng nào. Cô đã nghe một người lính dù chửi
trên đường phố:
- Mỹ
bỏ ông Thiệu, ông Thiệu bỏ ông Phú, ông Phú lại bỏ rơi tụi tao, mẹ kiếp “quân
hồi vô phèng” là đây rồi. Việt cộng về sẽ hỏi tội chúng mày! Chúng tạo là “lính
trơn” sợ cái đếch gì!
Nghe
người lính nhếch nhác chửi, Diễm Hương lại nhớ đến Phú - ông chồng hờ - của
mình, coi mình như một thứ đồ chơi ở biệt thự Pleiku.
Thoáng
thấy vẻ mặt rầu rầu của Hương, Lý Ly kéo tay Hương lên xe xích lô:
- Đi
với em, chị yên tâm.
Và Ly
bảo anh đạp xe xích lô:
- Cho
chúng tôi về Chợ Lớn!
Chiếc
xe lại vun vút chở hai cô gái ngược lên đường Trần Hưng Đạo, xuôi về quận 5,
quận 6.
***
Khách
sạn Bồng Lai là khách sạn cỡ lớn của một ông chủ người Hoa. Tuần trước, nghe
tin “Đà Nẵng đã bỏ ngỏ” ông chủ đã đưa vợ con bay đi Hồng Kông, tạm lánh xa cái
cảnh nhộn nhạo của Sài Gòn. Ông giao khách sạn cho người quản gia có tên gọi
“chú Coóng”, một người mà Lý Ly coi như cha nuôi. Lý Ly là đứa con hoang, vô
thừa nhận, được chú Coóng đưa về làm con nuôi cho vui cửa, vui nhà vì chú Coóng
sống độc thân. Khi Lý Ly đến tuổi 13, trở nên một “con nhỏ xinh đẹp”. Một buổi
sáng tướng Phú về thăm bà Lâm Đệ là vợ ở Chợ Lớn, vào ăn ở tiệm Bồng Lai, thấy
“con nhỏ xinh xinh” đã điều đình mua lại của chú Coóng với giá năm ngàn đôla.
Chú Coóng bán ngay cho vợ chồng tướng Phú. Lý Ly theo tướng Phú về Pleiku làm
một con hầu trong tư thất.
Gặp
lại Lý Ly hôm nay, chú Coóng mừng lắm:
- Ủa!
Cháu về hồi nào vậy?
- Dạ,
thưa chú cháu về đã một tuần nay rồi. Đi cùng với cháu đây là chị Diễm Hương,
chị nuôi của cháu.
Diễm
Hương cúi đầu chào chú Coóng. Chú Coóng vồn vã:
- Nhà hàng mấy bữa nay đông nghẹt khách Huế,
Đà Nẵng di tản vô đây. Chú mời cô Hương và Lý Ly lên lầu ăn với chú bữa cơm gia
đình, bữa cơm Tàu cho vui mà!
Khi ba người ngồi vào bàn ăn, chú Coóng rót cho
mỗi người một ly rượu sâm nhung:
-
Loạn! Loạn to rồi! Ngày mai sẽ ra sao? Chưa biết! Sài Gòn có “tắm máu” hay
không? Ta là dân đen, hãy nhậu lai rai cho vui! Nào, xin mời, xin mời!
Chỉ
một chút men cũng làm cho chú Coóng trở nên say sưa, vui tính, yêu đời. Chú nổi
tiếng là “thổ công Chợ Lớn”. Đó là sự kiện quan trọng xảy ra ở đây chỉ giờ
trước, giờ sau là chú biết liền và chú phát ra “lời bình luận”, làm cho ai nghe
cũng khoái.
Biết
rằng Lý Ly về đây là để thăm bà Lâm Đệ như nhiều lần trước, mỗi lần về, bà Lâm
Đệ đều cho tiền “buốc boa”, chú Coóng nói ngay:
-
Cháu Ly về muộn mất rồi! Bà Lâm Đệ đã bay đi Hồng Kông rồi. Từ Hồng Kông bà ta
sẽ bay đi Mỹ.
Lý Ly
tròn xoe đôi mắt:
- Đi
Mỹ trong lúc ông Phú vẫn ở lại Sài Gòn?
Chú
Coóng gắp một miếng thịt chim rán, nhai ngấu nghiến, lại tợp một ngụm rượu rồi
mới nói:
- Bà
Lâm Đệ đưa con đi Hồng Kông từ một tuần trước, khi ấy lấy vé còn dễ lắm, còn
tướng Phú ở lại, tưởng rằng Việt cộng chưa đánh nhanh được đến như thế, nào ngờ
Việt cộng đánh như chẻ tre, tiến như vũ bão, ông Phú mới cuống lên, lật đật đến
xin sứ quán Mỹ một chỗ ngồi trên máy bay, di tản cùng với ông Ngô Quang Trưởng.
Song Mỹ đã từ chối, vì ông Phú bị buộc tội để mất Buôn Mê Thuột và mất cả Tây
Nguyên, đã bị ông Thiệu ném vào sọt rác thì Mỹ thương làm sao được?
Lý Ly
hồi hộp lắng nghe, lại hỏi:
- Rồi
sao hở chú?
- Năm
1954, ông Phú được Pháp ném xuống Điện Biên Phủ, bị Việt Minh bắt làm tù binh
đã hết hồn, hết vía, nay mà bị bắt làm tù binh thì sẽ nguy hiểm đến chừng nào?
Thế là ông tướng bại trận này mới quân phục chỉnh tề, đeo lon trung tướng, gõ
cửa khắp nơi và bị tướng Đặng Văn Quang, cố vấn an ninh của ông Thiệu, một tay
cự phách trong nghề buôn ma túy mắng một câu:
- Đã
là tùy nghi di tản thì sao không xách giùm bà Lâm Đệ một vali vàng đi Hồng
Kông? Còn ở lại đây làm gì? Để lại vào trại tù binh của Việt cộng chăng?
Tủi
nhục, chán chường, hoảng sợ, ngài trung tướng Phú đã quyên sinh bằng năm chục
viên thuốc ngủ! Con hầu thấy vậy mới hô hoán lên, người ta chở ngài vào bệnh
viện cấp cứu, ngài được rửa ruột, được cứu sống và đưa về nhà. Ngài không ăn,
không ngủ, không nói một câu, cho đến sáng hôm qua, ngài tự kết liễu đời mình
bằng một phát súng! Bỏ lại Hồng Kông bà Lâm Đệ, một tuyệt sắc giai nhân, một
“trùm ma túy” có hạng! Ngẫm mà xem: Phú là dân Bắc kỳ, khôn ngoan, giảo hoạt,
được Mỹ đào tạo trong hàng tướng trẻ, quyền “nghiêng thiên hạ”, vậy mà cũng
chỉ... một sớm, một chiều!
Lý Ly
kêu lên:
-
Trời! Cháu nghe thật dễ sợ!
Diễm
Hương cúi mặt ngậm ngùi, câu chuyện vui của chú Coóng, vui mà rất thật, làm cho
cô nghĩ rằng từ nay mình đã rũ bỏ được một gánh nặng.
Thoáng
thấy nỗi buồn của hai cô gái, chú Coóng nói luôn:
-
Uống đi! Ăn đi chứ! Có lẽ đời nó là như vậy. Thăng trầm là lẽ thường tình. Càng
trèo cao, càng ngã đau! Cái thời ông Phú hô “bắn bỏ” nay đã hết! Cái thời bà
Lâm Đệ phơi phới chở ma túy bằng quân xa của chồng cũng đã hết! Chỉ ngày mai
thôi, bà ta sẽ lại lau khô nước mắt, cặp bồ với một ông Hoa kiều cỡ bự! Sự đời
là thế. Cho nên chỉ có chú Coóng đây là hạnh phúc nhất: ngày ba bữa nhậu túy
lúy, bồ bịch gạt đi không hết, ông Thiệu cũng gật, ông Việt cộng cũng “huề”, ai
thèm để ý đến thằng quản gia? Cùng lắm thì chú lại làm thằng bồi tiệm! Công
hầu, khanh tướng làm chỉ cho mệt? Còn các cháu: ở đây với khách sạn Bồng Lai
làm chiêu đãi viên cũng được hay là lại nhớ Pleiku?
Lý Ly
nói trước :
- Dạ,
cám ơn chú! Cháu ở với chị Diễm Hương và má Bảy cũng được ạ.
Diễm
Hương nhỏ nhẹ:
- Dạ,
thưa chú, để xem thời cuộc xoay chuyển ra sao, bọn cháu sẽ có lời thưa chuyện
với chú sau. Trước mắt, ngày mai, chúng cháu phải trở lại Pleiku.
Chú
Coóng gật đầu:
- Tùy
các cháu! Chú không ngăn cản. Song đang loạn lạc thế này, đi lại phải cẩn thận,
nghe!
***
Rời
khách sạn Bồng Lai, Diễm Hương và Lý Ly lại ngồi xích lô ra bến xe về Pleiku.
Hai
chị em cùng chung một nỗi buồn. Lý Ly không gặp được bà Lâm Đệ để xin tiền, từ
nay đành phải sống nhờ má Bảy. Diễm Hương gặp lại Lê Hoàng, một ân nhân đã cứu
sống cả gia đình cô, song gặp nhau một thoáng rồi lại chia tay tạm biệt. Khi
nghe tin Phạm Văn Phú tự sát, Diễm Hương bàng hoàng giây lát rồi lại tự nhủ
mình: thế là chấm dứt một món nợ đời mà cô tưởng rằng nó còn đeo đẳng mãi mãi.
Thế là như người ta thường nói: “Kết liễu một đời lính đánh thuê!”.
Diễm
Hương có thể yên tâm làm lại cuộc đời mình. Cô cũng mừng cho Lý Ly khỏi phải sa
chân xuống vũng bùn nhơ. Hai chị em sẽ sống trong tình thương của má.
Chiếc xe vẫn lao nhanh lên phía trước, ngược chiều với những chiếc xe khác đang xuôi về Sài Gòn.
Lý Ly
gục đầu vào vai Hương. Diễm Hương quàng tay qua vai cô bé. Hình ảnh má Bảy, cô
Chín và cả Lê Hoàng lại hiện lên trong tâm trí...
***
Má
Bảy rất vui khi nghe tin cô Chín được về công tác ở Ủy ban quân quản thị xã
Pleiku. Hôm trước, má cứ tưởng cô Chín còn phải theo bộ đội giải phóng về Sài
Gòn thì má lại thương cô vất vả. Ở đây tạm yên ổn rồi. Nó được ở đây thì nhất
định má sẽ còn sớm tối có nhau. Chín sẽ dìu dắt che chở cho Diễm Hương và Lý
Ly. Má sẽ sửa sang lại quầy hàng, buôn bán kiếm thêm để bù đắp cho Chín vì má
biết rằng Cách mạng còn nghèo, đông lương bộ đội có được mấy đồng. Chín cứ phải
sống kham khổ mãi, má chẳng đành lòng.
Việc
đầu tiên của má là ra tiệm may chú Bắc mua một lá cờ Mặt trận nửa xanh, nửa đỏ
có ngôi sao vàng ở giữa và một lá cờ Tổ quốc - cờ đỏ sao vàng, - má treo lên
trước cửa thay cho lá cờ nhỏ bé của cô Chín cho hôm bộ đội vào tiếp quản thị
xã.
Buổi
chiều nào, sau giờ làm việc, cô Chín cũng lại ghé qua nhà má Bảy. Gương mặt cô
Chín vẫn còn xanh xao, dấu vết của những cơn sốt rét rừng còn đó, song nét vui
mừng thì mỗi ngày lại càng thêm rạng rỡ.
Má
Bảy cứ nghĩ mãi về những sự kiện dồn dập xảy ra ở đây và riêng gia đình má,
phải chăng “ở hiền thì sẽ gặp lành?” Diễm Hương và Lý Ly bỏ câu lạc bộ Phượng
Hoàng chạy về, gặp nạn muôn phần nguy ngập, những tưởng sẽ chết về tay thằng ác
ôn, lại được Lê Hoàng cứu thoát! Lê Hoàng sao mà dễ thương? Má chỉ ước nó sẽ là
con nuôi của má, mà sao cả con Hương cũng mến nó lạ lùng?
***
Những
ngày trở về Pleiku của Diễm Hương là những ngày bâng khuâng, buồn vui lẫn lộn.
Vui vì chung quanh mình, bà con cô bác đều vui. Bản thân Hương đã nhìn thấy
tương lai với niềm hy vọng ở một Ngày Mới đã bắt đầu, Hương có thể làm lại cuộc
đời mình, không còn dại khờ, tăm tối, u mê đến mức phó thác cả thân mình cho số
phận, đến khi phấn lạt, son phai, như bao nhiêu người khác, Hương sẽ chán
chường mỗi lúc canh tàn chợt tỉnh, hoặc lại cố tìm Lãng Quên trong rượu mạnh, xì ke, ma túy... từ trụy lạc đến bên bờ
vực thẳm, con đường đâu có còn xa? Niềm vui được giải phóng từng ngày lại từng
ngày cứ dâng tràn như sóng xô, gió cuốn. Càng vui, Hương càng nhớ đến Hoàng,
Hoàng có phải là một chàng Thạch Sanh trong truyện cổ tích đã cứu được nàng
công chúa? Hoàng sẽ nghĩ gì về Hương, khi biết được Hương chỉ là một chiêu đãi
viên mà cuộc đời đã bị hoen ố?
Một
buổi tối, chờ cho Ly đã ngủ say, Hương lấy giấy bút viết cho Hoàng một bức thư
dài, kể cho Hoàng nghe buổi sáng “em đến
nhà anh thì anh đã đi rồi, em buồn quá định quay về Pleiku thì Lý Ly lại đưa em
đến khách sạn Bồng Lai, em và Ly được nghe chú Coóng kể về cái chết của ông
tướng Phú, cái chết hèn nhát của kẻ thất bại cùng đường, như vậy là cuộc đời
cũ của em đã hoàn toàn chấm dứt. Em định
theo anh về Cần Thơ, song như vậy thì “kỷ” quá, phải không anh? Thế là em và Ly
trở lại Pleiku với má. Em mong anh một ngày nào đó, khi đất nước yên hàn, anh
lên Pleiku với Ly và em. Ở đây bây giờ vui lắm, em mong anh từng phút, từng
giờ...”.
Bức
thư của Hương được gửi qua tay một người bà con di tản về Cần Thơ. Hoàng sẽ
nhận được và Hoàng sẽ trả lời hay là im lặng?
Đêm
đêm, hình ảnh của Hoàng lại len vào giấc ngủ của Hương. Khi Hương tỉnh dậy thì
bên cạnh mình không phải là Hoàng mà lại là... Ly! Lý Ly nằm ngủ yên ấm như một
đứa trẻ thơ.
Hương
lại vùi đầu xuống gối, lặng im trong đêm yên tĩnh. Ngọn đèn ngủ vẫn tỏa ánh
sáng xanh mát dịu.
***
12
giờ trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Cả
thị xã Pleiku ẩm ầm chuyển động khi loa phóng thanh trên những ngã ba, ngã tư
đường phố báo tin toàn thắng: Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh Sài Gòn
lời tuyên bố xin đầu hàng không điều kiện và hạ lệnh cho quân ngụy hạ vũ khí
đầu hàng quân giải phóng. Đài Tiếng nói Việt Nam dõng dạc đưa tin: từ năm mũi
tiến công như vũ bão, quân giải phóng tiến vào Sài Gòn đánh chiếm sân bay Tân
Sơn Nhất, Tổng nha cảnh sát, Bộ Tổng tham mưu và dinh Độc Lập. Ngụy quyền Sài
Gòn hoàn toàn sụp đổ. Đồng bào Sài Gòn tràn ngập đường phố hoan hô bộ đội giải
phóng.
- Má
ơi! Sài Gòn được giải phóng rồi!
Má
Bảy rưng rưng nước mắt, mở cửa, ùa ra đường phố, hòa vào dòng người sôi nổi tụ
tập chung quanh các loa phóng thanh.
Diễm
Hương ôm bé Ly vào lòng và nói:
- Ly
ơi! Anh Hoàng lại về Sài Gòn, Sài Gòn vẫn nguyên vẹn đó em.
Diễm
Hương, trong phút giây súng sướng, tưởng chừng như đang được cùng đi với Hoàng
trên đường Tự Do, vẫy chào từng đoàn xe tăng quân giải phóng rầm rập tiến về.
Hương
nhớ lại từng cử chỉ, từng lời nói của Hoàng ở Sài Gòn khi hai chị em cô về
thăm, biếu quà. Hình ảnh giáo sư Lê Vỹ và bà má của Hoàng mới đôn hậu làm sao.
Ước mơ của Hương nếu như cô được làm con của gia đình giáo sư.
Hương
đã chờ đợi một lời nói của Hoàng, nhưng sao Hoàng chưa nói gì về tấm hình và
chiếc khăn tay của Hương tặng anh hôm anh tạm biệt Pleiku. Hoàng đã nhận vật kỷ
niệm ấy, anh đã nghĩ gì về Hương, coi Hương là bạn, là em gái hay là... người
thương? Có lẽ còn phải có một thời gian? Diễm Hương nhớ một câu cô đã đọc được
ở một cuốn sách phương Tây: “Tình yêu nào mà không có nước mắt? Tình yêu nào mà
lại không đợi, không chờ, quên ăn, quên ngủ? Chỉ có năm tháng đợi chờ mới hiểu
được lòng nhau...”
Hương
muốn chắp tay nguyện cầu cho ước mơ của cô trở thành hiện thực, bởi lẽ Hương
tin là có trời, có phật, nếu không thì làm sao Hương lại gặp Hoàng khi cả hai
người đã băng mình qua cái chết? Hoàng đã trốn trại. Má đã che chở cho Hoàng
rồi Hoàng lại cứu Hương, cứu má? Phải chăng đây là mối duyên kỳ ngộ? Tuy vậy,
Hương cũng tự biết mình là một cô gái đã “có chồng”, Hoàng có thể thương mình,
nhưng còn giáo sư Lê Vỹ, giáo sư có chấp nhận cho không? Từ đây đến bến bờ hạnh
phúc là cả một chặng đường dài.
III.
Buổi
chiều mùa hè thật đẹp.
Bầu
trời cao nguyên trong xanh không một gợn mây.
Chiếc
xe đò đưa Hoàng trở lại Pleiku dừng lại ngã ba đường thị xã. Hoàng xuống xe,
không rẽ vào chợ. Anh quẹo sang con đường có trồng những cây thông cao vút, con
đường dẫn tới ngôi nhà quét vôi màu xanh nhạt của má Bảy.
Diễm
Hương đang ngồi trông hàng cho má, chợt thấy Hoàng, cô thốt lên:
- Anh
Hoàng!
Hoàng
đã đến thật bất ngờ. Anh chỉ mỉm cười. Nụ cười tái hợp sao mà hiền hậu, dễ
thương. Do chủ động trước nên anh nén được xúc động, Diễm Hương ngược lại, cứ
trân trân nhìn anh, lát sau cô mới hỏi tiếp:
- Anh
Hoàng! Sao anh không điện cho em biết trước để em ra đón anh?
- Anh
sống bình dị quen rồi. Má có nhà không? Ly đâu rồi!
Diễm
Hương đón Hoàng vào nhà và cô gọi ríu rít:
- Má ơi! Ly ơi! Anh Hoàng đã lên đây nè?
Má Bảy
lật đật đi từ phòng trong ra phòng nhỏ khách, Ly cũng theo sau má.
-
Con! Má cứ mong hoài từ sau bữa con về Sài Gòn. Con lên, sao không điện cho em
nó ra đón con.
Hoàng
lễ phép:
- Dạ
thưa má, con định mấy bữa nữa mới lên, song sớm nay tiện có xe, thế là con nhảy
lên, đi luôn!
Ly
rót nước mời Hoàng.
- Mời
anh uống nước, em trông anh mập bữa trước nhiều đó.
Diễm
Hương nhìn Hoàng âu yếm :
- Anh
Hoàng hôm nay lại là sinh viên Văn khoa rồi!
Hoàng
tiếp ngay:
- Có
còn gì là dấu vết “quân lực Việt Nam Cộng hòa” nữa không?
Má
Bảy lắc đầu:
-
Khiếp quá! Nghĩ lại những ngày tháng ấy, má vẫn còn rùng mình! Con không liều
thân cứu má và các em con thì hôm nay làm gì còn được ngồi đây?
- Dạ,
má và các em cũng cứu con nữa chứ!
Những
nụ cười tràn ngập tình thương.
Hoàng
mở chiếc túi du lịch, lấy ra ba gói quà nhỏ đặt lên bàn, những gói bánh ngọt
của Sài Gòn:
- Thưa má, ba má con gởi lên biếu má.
Má
Bảy:
- Con
cứ bày vẽ ra làm gì! Ba má con vẫn mạnh giỏi chứ?
- Dạ,
Sài Gòn giải phóng rồi, ba má con hồi cư, vui lắm má à. Cứ tưởng Sài Gòn tan
nát, đổ vỡ, ai ngờ bộ đội giải phóng tài tình quá, đánh mạnh, thắng nhanh, lẹ
quá, má ơi! Chẳng làm gì có chuyện “tắm máu” như ông Thiệu, ông Kỳ loan truyền
tin thất thiệt.
Má
ngồi xuống ghế rồi má lại đứng lên ngay:
- Con
lên đây là má vui rồi. Má cũng sẽ về lại Sài Gòn. Bây giờ thì Diễm Hương ngồi
đây nói chuyện với anh con. Để má và Ly vào bếp sửa soạn một bữa cơm thật ngon
để ăn mừng anh Hoàng con nhé!
Khi
còn lại hai người ngồi đối diện, Hương mới nhìn sâu vào đôi mắt Hoàng và nói
thật nhỏ nhẹ:
- Em
gửi thư cho anh. Anh đọc thấy “kỳ” lắm không? Mà sao anh không biên thư trả lời
em, để em cứ mong hoài?
Hoàng
cũng nhìn lại khuôn mặt trái xoan của Hương, bữa nay coi thật rạng rỡ:
-
Viết thư thì bao nhiêu trang giấy cho vừa? Vì thế hôm nay anh lên đây để nói
cho hết, được không?
- Dạ.
Rồi
như chợt nhớ ra một điều gì, Diễm Hương vội nói:
- Mời
anh Hoàng lên lầu, em sẽ nói... À mà để anh lên lầu, rửa mặt và thay quần áo đã
chứ! Anh ngồi xe đò suốt một ngày trời, bụi bặm lắm mà!
Hương
đứng dậy lên lầu. Hoàng đi theo. Anh lại nhìn thấy mái tóc xõa sau lưng Hương.
Một mùi hương thơm tỏa nhẹ, anh cũng thấy mình lang lâng.
Trong
lúc Hoàng đi rửa mặt, chải đầu, thay quần áo thì Hương cũng không quên ngồi
trước bàn trang điểm, chải tóc. Cô mỉm cười với bóng mình trong gương.
Khi
Hoàng tươi tỉnh trong bộ quần áo mới từ trong phòng tắm bước ra, Hương nghe rõ
từng bước chân anh đang đi lại phía sau lưng mình. Cô không quay lại và nhìn
thấy bóng anh hiện rõ trong gương.
Hoàng
đến sát sau lưng Hương, đặt nhẹ một tay lên vai cô. Hương để yên bàn tay Hoàng
trên vai mình. Lát sau, cô mới đặt tay mình lên tay anh và quay lại:
- Anh!
Hương
chớp chớp hàng mi. Nếu nhìn kỹ, Hoàng sẽ thấy đôi mắt Hương đã rưng rưng ngấn
lệ.
Hương
đứng lên, cầm tay Hoàng dìu anh ra ngồi xuống đi văng, hai người im lặng. Sự im
lặng “nói” gấp ngàn lần những điều mà khi xa nhau họ tưởng sẽ phải nói hết khi
gặp lại.
Cũng
hôm nay, trong giây phút gần nhau, Hoàng mới có dịp để ngắm nhìn lại Diễm
Hương: mái tóc bồng bềnh như sương, như khói, khuôn mặt thanh tú, những ngón
tay búp măng với vóc người mảnh mai làm cho Hương như một con chim non lúc nào
cũng cần sự che chở, lúc nào cũng cần một tổ ấm để tránh gió mưa, dông bão
ngoài trời.
Hoàng
cầm tay bạn, cảm nhận cả hơi ấm từ đôi bàn tay ấy. Anh nói bâng khuâng:
-
Hương đẹp thật đó!
Hương
cúi đầu:
- Anh
làm em mắc cỡ đến chết mất thôi!
- Anh
khen em thật mà!
Hoàng
chỉ nói được đến thế, bởi vì Hương có nét đẹp riêng, không thể trộn lẫn với
những cô bạn của anh ở Sài Gòn.
Với
linh cảm riêng của người con gái, Hương thấy được những rung cảm của Hoàng,
Hương muốn kéo dài những giây phút hiếm hoi này. Đời Hương đã gặp nhiều bất
hạnh khi sa chân vào câu lạc bộ Phượng Hoàng, rồi tiếp sau đó là những ngày khổ
đau khi rơi vào tay tướng Phú.
Hương
đắn đo:
- Anh
Hoàng ở lại đây với em lâu nhé!
- Lâu
là bao nhiêu ngày?
- Là
mãi mãi. Ba má có cho phép không?
- Ba
má cho phép anh đi chơi một tuần rồi mới về thành phố.
-
Thành phố vui lắm, anh nhỉ!
-
Thành phố vừa được giải phóng rực rỡ cờ hoa. Các anh bộ đội hiền khô! Bà con cô
bác rầm rộ mít tinh hoan nghênh phái đoàn chính phủ trung ương. Mấy chuyến tàu
chở cán bộ tập kết ra Bắc năm 1954 nay lại trở về miền Nam. Cảng Sài Gòn, tủi
tủi, mừng mừng. Nhiều người khóc, nước mắt ràn rụa sau 20 năm trời đằng đẵng xa
nhau.
Câu
chuyện vui của Hoàng làm cho Hương chạnh buồn. Ba đã mất rồi.
Hương
gục đầu vào vai Hoàng, khóc tức tưởi:
- Má
em chờ đợi đã bạc trắng mái đầu. Em đâu có biết được chân dung của ba, vì ba đi
tập kết từ ngày em còn bé xíu!
Hoàng
rút khăn thấm từng giọt nước mắt trên hai gò má của Hương:
-
Cuộc chiến kéo dài 20 năm, bao nhiêu đau thương, mất mát trên cả hai miền. Còn
phải hàn gắn vết thương chiến tranh để lại trên đất nước và trên mỗi cuộc đời
chúng ta.
Đột
nhiên Hương hỏi một câu:
- Em
khổ lắm, anh! Anh có thương em không?
Hoàng
bặm môi để nén xúc động. Mấy phút sau, anh mới nói:
- Anh
đã lên đây với em rồi mà.
***
Những
ngày ở Pleiku của Hoàng thật êm ả. Anh có cảm giác như mình được sống ở một nơi
xa thành phố ồn ào, bụi bặm. Đến đây hôm nay, anh thấy lòng mình thanh thản lạ
thường, không một chút lo âu, sợ sệt như ngày anh còn là tên lính bộ binh đào
ngũ của “quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Lá cờ vàng ba sọc đã biến mất rồi. Lá cờ
Cách mạng đang bay cao phấp phới trên Sở chỉ huy của “Bộ tư lệnh vùng II chiến
thuật”. Nơi ấy xưa kia đã phát ra những mệnh lệnh càn quét, bắn giết cực kỳ dã
man tàn bạo. Nơi ấy hôm nay là trụ sở của Ủy ban quân quản thị xã. Trẻ em đang
quây quần chung quanh mấy chú bộ đội giải phóng đội mũ tai bèo. Các em đang
được các chú dạy cho những bài ca cách mạng. Có em còn tập đánh trống ếch, tập
quàng khăn đỏ và tập nghi thức Đội thiếu niên tiền phong để nay mai dự lễ mừng
chiến thắng.
Khi
đi qua Sở chỉ huy, Hoàng đã chỉ tay về phía ấy nhắc lại với Hương:
- Hồi
ấy anh bị giam ở đây. Nơi đó có cả trường bắn, tên đại úy Hàm đã “bắn bỏ” tù
binh, phơi nắng lính Thượng thật dã man.
Diễm
Hương đi bên Hoàng, cũng thấy vui lây niềm vui được giải phóng, song cô cũng
thảng thốt, ngậm ngùi nhớ tới những ngày đen tối cũ.
Giờ
này, Hương biết Hoàng đã thương mình, song trước mắt cô còn có lắm chông gai:
đó là gia đình Hoàng, một gia đình trí thức, một gia đình khá giả ở thành phố
liệu rồi có chấp nhận Hương là một cô dâu, nếu ba má Hoàng biết được Hương là
một chiêu đãi viên của câu lạc bộ Phượng Hoàng? Nguy hại hơn nữa Hương còn là
“vợ bé” của tướng Phú! Hương thoắt rùng mình và cảm thấy buồn, một nỗi buồn cay
đắng, xót xa. Cô nghĩ: nếu ta chỉ là một cô gái nhà lành không thôi, thì cuộc
tình này với Hoàng sẽ đẹp biết chừng nào? Cô chỉ còn lại một điều an ủi duy
nhất: ba cô là cán bộ kháng chiến đi tập kết ra Bắc, nay Cách mạng đã về, cô sẽ
được thơm lây vì ba cô, một người cha yêu nước, ông đã trở về trong tư thế của
người chiến thắng.
Thoáng
thấy có nét buồn trên khuôn mặt Diễm Hương, Lê Hoàng ướm hỏi:
- Sao em đang vui lại buồn thế?
Hương
thấy chưa thể nói lên điều uẩn khúc của mình, cô lảng sang chuyện khác:
- Qua
nơi em đã sống, đã được mắt thấy tai nghe những con người hết sức tàn bạo, em
thương những người đã khuất, đã buộc phải hy sinh vì hạnh phúc của đồng bào.
Lê
Hoàng an ủi bạn :
- Nay
mai, anh chắc là chính quyền Cách mạng và Mặt trận sẽ cho xây một đài tưởng
niệm những anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì nước.
Sau
nửa ngày đi dạo, buổi chiều Hương và Hoàng lại trở về, ngồi bên nhau trên lầu
hai. Họ nói với nhau thật nhiều chuyện, song Hương vẫn chưa dám nói ra điều suy
nghĩ sâu thẳm của lòng mình. Cô sợ sự thật ấy sẽ dẫn đến đổ vỡ cho một cuộc
tình chớm nở. Hoàng chưa cảm nhận được điều ấy, anh làm mọi cách để Hương vui,
để Hương quên đi những ngày cũ và hướng tới tương lai.
Những
ngày vui thường là rất ngắn. Một tuần lễ ở Pleiku của Hoàng đã trôi đi nhanh
chóng. Ngày Hoàng phải trở về Sài Gòn đã tới. Ngày tạm biệt thật bịn rịn, khó
nói nên lời.
Hoàng
thật sự thấy nao lòng trong buổi chia tay. Trên đường về, anh lại một lần nữa
tự kiểm tra lại mình. Anh đã yêu Hương và Hương đã yêu anh. Những nụ hôn đầu
tiên và những giọt nước mắt chân tình. Anh dự định sẽ nói với ba má sự kiện
trọng đại này, trước hết là nói với má vì bà đã thương anh với tất cả tấm lòng
người mẹ. Còn ba, không phải ba không thương anh, song ông là con người kiên
nghị và quả cảm. Ông thường nói: tình cảm là quý báu, song lý trí lại không thể
thiếu được, nó giúp cho mình sự suy nghĩ có cân nhắc, có chọn lọc chắc chắn
hơn. Tình cảm gắn liền với lý trí sẽ dẫn tới hiệu quả tốt đẹp hơn.
Buổi
tối hôm qua, trong căn nhà má Bảy, Hoàng đã trao tặng Hương một tấm hình của
mình với dòng chữ: “Tặng Hương tấm hình
này với tất cả tấm lòng bền vững của tôi”. Anh hy vọng ba má sẽ chấp nhận
và tán thành tất cả dự kiến của anh và của Hương.
***
Giáo
sư Lê Vỹ đốt một điếu thuốc lá thơm. Mấy hôm nay, vợ chồng ông vui hẳn lên. Lê
Hoàng từ Pleiku trở về đã kể lại tất cả chuyến đi rất thú vị của mình. Qua cử
chỉ và lời nói của con, giáo sư hiểu ngay rằng con trai mình đã yêu một cô gái
khác với dự kiến của ông. Kiều Thu, con gái bác sĩ Văn Bình, vốn là bạn học của
Hoàng, bấy lâu đã được ông coi như cô con dâu tương lai ở gia đình này, kể cả
những ngày di tản tạm thời vừa qua ở Cần Thơ, ông vẫn dành cho Kiều Thu sự yêu
thương, trìu mến của người cha. Vậy mà hôm nay, Lê Hoàng lại tỏ thái độ rõ rệt:
chỉ coi Kiều Thu như một cô bạn của thời sinh viên mà anh rất quý mến. Người vợ
tương lai của Hoàng phải là Diễm Hương xinh đẹp, dịu hiền, có nét buồn quyến
rũ. Giáo sư Lê Vỹ đặt câu hỏi: “Phải chăng đây lại là duyên số như người ta
thường nói?”. Là một người cha yêu thương con hết mình, ông đã phân tích, lý
giải cho Hoàng để anh khỏi bồng bột và suy nghĩ thêm. Song Hoàng đã yêu Hương
cháy bỏng, anh nói với giáo sư: “Con đã được má Bảy che chở, cứu thoát và con
đã xua đuổi, đánh trả tên ác ôn để tự cứu mình và cứu luôn cả gia đình má. Giây
phút hiểm nguy đã gắn bó chúng con với nhau. Từ những nạn nhân của chiến cuộc,
chúng con trở thành chủ nhân của cuộc đời mình. Con tin rằng Hương sẽ là vợ
hiền, dâu thảo. Chúng con đã đi qua cái chết, chúng con có thể sống xứng đáng
với nhau và không phụ lòng mong mỏi của ba má!”
Nghĩ lại
thời tuổi trẻ của mình, giáo sư Lê Vỹ càng cảm thông sâu sắc nỗi lòng của con
trai, ông tự nhủ: “Mình không thể không tôn trọng tư tưởng, tình cảm nồng nhiệt
của đôi bạn trẻ”. Ông quyết định:
- Ba
nhất trí với con và ba sẽ nói lại quyết định này với má con.
Thấy
nỗi vui mừng tràn đầy trên khuôn mặt con trai, giáo sư Lê Vỹ lại thấy cái quý
nhất trên đời này là sự sống. Nếu Hoàng và Hương đã chết dưới tay tên đao phủ
thì quả là tai hại đã rơi xuống đầu ông. Ngược lại, Hoàng và Hương đã chiến
thắng cái chết, đôi trẻ có quyền được yêu nhau, được sống hạnh phúc bên nhau
trọn đời! Hương còn là con gái của một gia đình liệt sĩ có công đóng góp cho
cách mạng, cho kháng chiến.
Sài
Gòn đã giải phóng rồi, đám cưới của Hoàng và Hương sẽ được tổ chức một ngày gần
đây. Giáo sư Lê Vỹ nói với vợ:
- Đây
là một niềm vui lớn của gia đình ta.
Buổi
sáng hôm sau, Lê Hoàng đến bưu điện trung tâm, gửi cho Hương một bức điện khẩn:
“Diễm Hương yêu quý!
Ba má đã hoàn toàn đồng ý với đề nghị
của anh.
Ngày mai, anh sẽ trở lại Pleiku.
17 giờ, em ra đón anh, nghe em!
Anh của em: Hoàng”
Hoàng
đã thuê riêng một chuyến xe để “bay” lên Pleiku và đúng 17 giờ anh đã đến đầu
phố chợ. Hương đã mặc bộ đồ đẹp nhất màu lam ra đón anh dưới rặng thông.
Hoàng
mở cửa xe, giơ tay đón Hương lên xe. Tay trong tay, đôi bạn trẻ đều cảm nhận
được hơi ấm của hai bàn tay đang xiết chặt.
- Em
nhận được điện của anh, em đã trình ngay với má. Má vui lắm, cả bé Ly nữa, nó
mong anh hoài.
Xe về
đến nhà, Hương đưa Hoàng lên lầu. Má và Ly đang bận sửa soạn bữa ăn dưới bếp.
Hương
nhìn Hoàng đắm đuối rồi gục đầu vào vai Hoàng:
- Anh!
Khi
Hương ngẩng lên thì đôi mắt đã đỏ hoe. Cô khóc, khóc vì sung sướng và cảm động.
Hoàng đặt lên môi Hương một cái hôn nồng cháy:
- Anh lên đây với em rồi, đừng khóc nữa, nghe
em! Em vui lên nào! Ai lại khóc như trẻ thơ thế. Má và bé Ly lại cười cho bây
giờ!
Hoàng
rút khăn lau từng giọt nước mắt cho Hương. Hương kể:
- Anh
biết không? Xa anh có mấy hôm mà em cứ tưởng xa anh lâu lắm ấy. Em còn một nỗi
khổ tâm, em chưa nói với anh được. Em càng thấy anh thương em, em càng khổ. Em
chỉ lo em không xứng đáng được anh yêu. Hoàn cảnh của em, anh biết không, khổ
lắm! Em nghĩ rằng, nói với nhau làm sao hết được, cho nên em đã viết một bức
thư dài từ mấy hôm nay. Anh xem thư này, coi như những lời tâm huyết của em.
Sau đó, anh cho em những ý kiến của anh. Đây, lá thư em viết cho anh đây. Hương
lật gối, lấy lá thư cô đã để sẵn dưới chiếc gối cô mới thêu hai chữ H và H lồng
vào nhau.
Hoàng
đón nhận phong thư dày cộm.
Hương
bỏ chạy xuống bếp, bỏ mặc Hoàng ngồi lại với bức thư tâm sự.
Hoàng
đã đọc những dòng chữ run run trên những trang giấy màu hồng:
“Anh ơi! Hôm nay em mới có can đảm thổ
lộ hết tâm tư với anh (không nói ra thì anh sẽ cho em là đứa con gái lừa dối
anh). Em đã xuống thành phố đến gia
đình anh, gặp ba, má anh. Em hiểu anh và càng yêu anh hơn, em cám ơn anh nhiều,
em kính nể anh và trong thâm tâm em, em coi anh như một người anh trai vậy mà
hơn thế nữa, em lại còn có diễm phúc sẽ được là vợ anh! Anh biết đó, ba em là
"Việt cộng" nên má em phải đưa em lên đây để tránh bị "Luật
10-59" của Ngô Đình Diệm khủng bố ở Thủ Dầu Một.
Mười mấy năm qua rồi, ba em đã trở lại
miền Nam chiến đấu và đã hy sinh.
Mỹ - ngụy vẫn không buông tha gia đình
em. Má em phải cho em vào câu lạc bộ Phượng Hoàng làm chiêu đãi viên để tỏ lòng
"trung thành" với Chánh phủ quốc gia. Em có ngờ đâu, em đã sa vào tay
quỷ dữ! Anh ơi! Nói làm sao hết những ngày tháng ê chề trong sinh lầy. Em làm
sao tránh được cạm bẫy? Em đã bị làm nhục và bị tướng Phú chiếm đoạt như một
thứ đồ chơi vì hắn đã có vợ tên là Lâm Đệ, con gái một phú thương ở Chợ Lớn,
một Hoa kiều cỡ bự!
Bây giờ quân đoàn 2 bị xóa sổ, Phú chạy
về Sài Gòn rồi tự sát sau khi đã cho vợ con di tản sang Mỹ.
Còn em, em đã được anh cứu thoát khỏi
bàn tay tên đại úy Hàm. Cứu em rồi, anh lại thương em, em thật cảm động vì tấm
lòng cao thượng của anh. Nhưng mai đây, về Sài Gòn, ba má anh biết chuyện riêng
tư của em, ba má anh sẽ giận anh nhiều! Em làm sao còn xứng đáng là con dâu của
một gia đình nền nếp như gia đình anh?
Vì vậy, em đã khổ đau rất nhiều, đã
nhiều đêm em không ngủ được. Em là nạn nhân của chiến cuộc, một bông hoa nhàu
nát phải không anh?
Anh thương em và muốn cưới em làm vợ,
song em còn gì để xứng đáng là vợ anh?
Nếu em được gặp anh trước đây hai năm,
ba năm thì đời em sẽ khác. Bây giờ đã muộn quá rồi, phải không anh? Em khổ đã
quen rồi, hãy để cho em chịu khổ một mình vậy, em không thể làm anh phải khổ
cùng em. Anh còn tương lai, còn sự nghiệp mai sau. Phận em là phận gái lỡ làng.
Cuộc đời em, tất cả là như thế đó, anh
thương em, em cảm ơn nhiều, anh hãy cho em được coi anh là một ân nhân, một
người anh có được không anh? Em nghĩ như thế có phải không anh?
Em gái anh: Diễm Hương”
Hoàng
buông lá thư xuống mặt bàn, anh muốn nói:
-
Hương ơi! Sao em khổ đau nhiều đến thế? Em thương anh và chẳng giấu anh điều
gì! Nhưng em chưa hiểu anh đâu!
Diễm
Hương lại bước lên lầu.
Hoàng
ôm Hương vào lòng và nói qua hơi thở:
- Em
đã thổ lộ tâm tư với anh như thế, lẽ nào anh lại chẳng thương em? Ngày xưa, xét
theo quan niệm phong kiến thì khác. Ngày nay, trong hoàn cảnh đặc biệt của anh
và em lại khác. Anh đã tự khẳng định về mình và anh đã quyết định yêu em và
nhất định đi đến hôn nhân. Chúng ta phải sống hạnh phúc. Em nghĩ khác đi thì em
sẽ làm cho anh đau khổ. Không, chúng ta sẽ làm lễ cưới. Em hãy can đảm lên và
hãy tin tưởng ở nơi anh!
Diễm
Hương lại khóc tức tưởi như một đứa trẻ.
Trong
vòng tay của người con trai. Hương thấy mình chỉ là một cánh chim bạt gió cần
được che chở.
Hoàng
nói thêm:
- Em
không thể là một bông hoa nhàu nát được. Trách nhiệm của anh là phải chăm sóc
em hơn. Đừng buồn, đừng khóc nữa, em!
III.
Giáo
sư Lê Vỹ bước ra khỏi nhà. Ông thả bộ một mình, ngược đường Tự Do, con đường
Catina thời thuộc Pháp, nay đã được đổi tên: đường Đồng Khởi.
Phố
xá vẫn tấp nập người qua lại, song sớm nay, trời Sài Gòn như xanh hơn ngày
thường. Nắng sớm đã soi nghiêng một bên hè phố. Đến cuối đường, giáo sư Lê Vỹ
rẽ sang đường Nguyễn Du. Ông gõ cửa nhà giáo sư Vũ Mạnh, một bạn đồng nghiệp đã
sống lâu năm ở Sài Gòn
Hai
mái đầu hoa râm chụm lại bên một bàn trà.
Vũ
Mạnh cười khà khà:
- Xin
chúc mừng anh hạnh phúc, con cái để huế, gia đình đoàn tụ, tuy chưa thêm của,
nhưng đã thêm người!
Lê Vỹ
để lộ nét mừng trên khuôn mặt:
- Cám
ơn anh đã khen tôi. Gia đình tôi có thêm con nhỏ Diễm Hương, đúng là dâu hiền
anh ạ. Thằng Hoàng nhà tôi gặp may, nó có con mắt tinh đời đấy! Quả thật, “hậu
sinh khả úy"! Nó có cái nhìn rộng rãi hơn tôi. Trước ngày giải phóng, tôi
định hướng cho nó lấy con nhỏ Kiều Thu, bạn sinh viên văn khoa của nó. Kiều Thu
cũng hiền hòa, nay lại chỉ là bạn của thằng Hoàng. Con Diễm Hương lại nết na,
rất mực chiều chồng, tôn kính cha mẹ. Với tôi, như thế là được! Hôn lễ đơn giản
mà trang nghiêm.
- Con
trai anh ra trình diện với Ủy ban quân quản rồi phải không?
-
Rồi! Lính trơn như thằng Hoàng nhà tôi ra trình diện, nghe giải thích chính
sách rồi về nhà ngay. Còn các vị tướng, tá, úy thì tùy theo cấp bậc còn phải
tập trung cải tạo từ một tháng trở lên. Nói chung là vui vẻ và nhân đạo. Làm gì
có chuyện “tắm máu” như người ta phao đồn tin thất thiệt!
Vũ
Mạnh cười:
- Ừ,
người Việt Nam mình nhân ái lắm chứ.
Lê Vỹ
chậm rãi:
- Vì
có chuyện Pôn Pốt vào Nông-pênh, lùa dân ra khỏi thành phố rồi tàn sát khủng bố
dữ dội nên “tiếng dữ đồn xa”, làm hoang mang cả Sài Gòn. May sao, sự thật ở
thành phố này lại khác, rất vui và rất yên ổn. Tuy vậy, các cửa hàng, cửa hiệu
cũng còn nghe ngóng vì bà con lo rằng quốc doanh đang bành trướng, có thể lấn
át tư thương chăng?
Vũ
Mạnh buông một câu:
- Yên
chí! Mình có phải phú thương Ba Tàu cỡ bự đâu mà lo.
Câu
chuyện thời sự tản mạn, lai rai giữa hai nhà giáo kéo dài gần hết buổi sáng cho
đến lúc Lê Vỹ đứng dậy mời bạn đi ăn hủ tiếu Nam Vang ở tiệm ăn Hòa Bình phía
cuối đường Nguyễn Du.
***
Tuần
trăng mật của cặp vợ chồng Lê Hoàng Diễm Hương ở Vũng Tàu đã sang ngày thứ bảy.
Từ
bãi sau trở về phòng ngủ ở khách sạn Hương Biển, đôi bạn trẻ đều cảm thấy sung
sướng đến tột cùng.
Nằm
trong vòng tay của Hương, Hoàng nói nhỏ:
- Một
tuần ở đây rồi, ta nên về hay ở lại.
- Tùy
anh! Em chỉ là con chim nhỏ, suốt đời theo anh.
Hoàng
lim dim đôi mắt:
- Ba
má chỉ cho phép mình đi có một tuần, ở lại đây lâu hơn, các cụ lại mắng cho thì
dại!
- Dạ, về Sài Gòn cũng vui quá chứ, anh!
Hoàng
hỏi một câu lơ lửng:
- Vì sao vậy, em?
Hương
vuốt tóc chồng:
- Vì
em vẫn ở trong vòng tay anh mà!
Gió biển thổi vào làm tung bay rèm cửa màu xanh.
Hoàng
ôm vợ vào lòng:
-
Được, sớm mai ta sẽ về Sài Gòn để ba má sẽ khen mình là “con biết vâng lời cha
mẹ”!
Diễm
Hương cảm thấy mình hoàn toàn mãn nguyện, chẳng phải vì những điều kiện vật
chất đầy đủ của gia đình nhà chồng mà chính vì Hoàng đã yêu cô hết mình, anh đã
xóa sạch dĩ vãng đau buồn của cô ở Pleiku. Như một con chim đại bàng, anh đã
dang đôi cánh tay dũng mãnh che chở cho cô. Cô có thể gửi trọn niềm tin nơi
anh. Cô cũng không còn mặc cảm với quá khứ của mình, bởi vì tất cả những điều
thổ lộ với anh trước ngày cưới, những lo âu khi cô nghĩ thầm: “Nếu giáo sư Lê
Vỹ biết cô đã từng là chiêu đãi viên của tướng Phú, ông có thể phàn nàn hoặc
ngăn cản con trai trong cuộc tình này, nhưng Hoàng đã quên đi tất cả và nói với
ba má tất cả những điều tốt đẹp về cô, bảo đảm với ba má rằng Diễm Hương là một
con gái nhà lành!”.
Mọi
việc đã diễn ra tốt đẹp ngoài sức tưởng tượng của Hương. Điều còn lại của Hương
bây giờ là ăn ở sao cho đẹp lòng ba má, cho trọn đạo vợ hiền, dâu thảo.
- Em
lo việc nội trợ cho gia đình và phụ giúp má bán hàng. Anh sẽ lo kiếm một việc
gì đó, một công tác xã hội chẳng hạn, để cùng bè bạn sống có ích hơn trong cuộc
sống mới hôm nay.
Hoàng
đã nói với Hương như vậy. Đương nhiên là Hương rất đồng tình với anh.
Ít
ngày sau, Hoàng làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân phường xin công tác văn hóa -
xã hội gọi tắt là “Văn-Xã”, nói rõ khả năng của anh có thể viết tin cho đài
phát thanh, soạn tài liệu giải thích chính sách, kẻ pa nô, áp phích quảng cáo
và tổ chức những cuộc liên hoan văn nghệ. Kèm theo đơn xin công tác có một bản
sơ yếu lý lịch tự khai theo mẫu in sẵn mua ở hiệu sách nhân dân.
Đơn
gửi đi rồi, Lê Hoàng ngày đêm mong đợi một hồi âm.
Một
tuần rồi hai tuần lễ trôi qua, Hoàng chưa nhận được giấy báo của Ủy ban. Hương
thấy chồng có vẻ sốt ruột, đã động viên anh:
- Có
lẽ mấy chú còn bận quá nhiều việc, anh cứ kiên nhẫn đợi ít ngày nữa xem sao. Hoàng
lại vùi đầu đọc sách, những cuốn sách viết về lịch sử Việt Nam xếp đầy trên giá
sách của giáo sư Lê Vỹ.
Chiều
chiều, Diễm Hương lại đưa Hoàng đi dạo phố, nghe nhạc, ăn kem ly và coi hát cải
lương cho khuây khỏa.
Giáo
sư Lê Vỹ hiểu được nỗi băn khoăn của con trai. Ông trực tiếp đến Ủy ban phường.
Người tiếp đón ông là một ủy viên thư ký - anh Năm Sách - niềm nở:
- Thưa bác, chúng tôi đã chuyển hồ sơ của cháu
Hoàng lên quận, quận chưa có ý kiến trả lời. Theo chỗ chúng tôi biết thì quận
cũng sẽ duyệt như ý kiến đề nghị của Phường.
Giáo
sư Lê Vỹ ra về với hy vọng “có thể được” như lời hứa của anh Năm Sách.
Ông
nói với con trai:
- Chú
Năm Sách là người tử tế, chú nói rằng: con phải chờ thêm ít ngày nữa!
Ông
cũng nói với vợ :
- Mấy
ông trên quận bảo rằng phải chờ ít ngày nữa.
Vợ
giáo sư - bà Huỳnh Thị Phương - cũng sốt ruột không kém con trai. Bà quyết định
tìm hiểu nguyên nhân sự chậm trễ này. Bà tìm gặp một bà bạn cùng phố mới từ Hà
Nội trở về sau 20 năm tập kết ra Bắc: bà Mười Phúc vừa mở một quán cà phê đầu
đường Nguyễn Huệ.
Bà
Phúc nghe bà Phương kể lể đầy đủ câu chuyện, đã góp ý ngay.
- Tôi
có quen ông trưởng phòng tổ chức chính quyền quận, để tôi hỏi giúp xem sao.
Trưởng
phòng tổ chức Quận - Ông Tư Phan - tiếp bà Phúc thật vồn vã:
-
Trời! Chị Phúc! Tôi cứ ngỡ là ai! Chị đi tập kết về hồi nào vậy?
- Về
ngay sau khi Sài Gòn giải phóng đó! Ông Mười, ông xã nhà tôi cũng đi tập kết ra
Bắc, ngoài đó rét quá, ông ấy bị đau bao tử, về nghỉ hưu rồi. Tôi cũng nghèo
quá, mở một quán cà phê kiếm ăn qua ngày để nuôi cho hai đứa nhỏ học đại học.
Hôm nay tôi có chút việc cảm phiền đến anh đó!
- Chị
Mười! Việc gì đó, chị cứ nói! Tôi với anh Mười biết nhau đã lâu, cùng ra Bắc
tập kết, tôi được trở về sớm hơn anh ấy, ở cứ suốt mấy năm, bây giờ về tiếp
quản Sài Gòn, làm việc cứ bận lu bù, chưa đi được đến đâu.
Bà
Phúc chậm rãi:
-
Việc nhỏ thôi, lại không phải là việc của tôi, mà là việc của bà bạn tôi, bà
Phương, vợ giáo sư Lê Vỹ ấy mà!
- Chị
cứ nói.
- Chả
là bà Phương có cậu con trai mới cưới vợ. Vợ thì làm nội trợ, còn nó muốn xin
công tác ở phường cho bằng anh, bằng em.
- Tên
cháu là gì nhỉ?
- Lê
Hoàng! Con ông Lê Vỹ. Nó nộp hồ sơ ở phường, phường chuyển lên quận cả tháng
nay rồi mà mấy anh chưa trả lời cho nó?
Tư
Phan gõ gõ ngón tay vào cái trán hói theo thói quen, rồi như chợt nhớ ra.
- À,
à, tôi nhớ ra rồi. Có cái hồ sơ của Lê Hoàng, nhưng mà không thể duyệt được vì
có một cái mắc mứu.
- Cái
gì vậy, anh?
- À,
cái phần lý lịch gia đình, thứ nhất: giáo sư Lê Vỹ không có thái độ chính trị
rõ rệt, trong lúc thành phố này còn tạm bị Mỹ chiếm đóng thì ông ta là một nhà
trí thức “trùm chăn”, không hợp tác với Mỹ - ngụy, song cũng không ủng hộ và
tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng, có thái độ cầu an, chờ thời, bà vợ buôn
bán đồ cổ, thường có quan hệ buôn bán với “người nước ngoài” (!) Còn bản thân
Lê Hoàng thì nguyên là một lính ngụy đóng tại Sài Gòn rồi được ném lên Tây
Nguyên, khi ta giải phóng Tây Nguyên, cậu ta mới bỏ ngũ chạy về Sài Gòn... Lý lịch
bản thân và gia đình như vậy thì không thể vào làm công tác được, dù ở cấp
phường! Chị là cán bộ kháng chiến cũ, tôi mới nói thực như vậy. Còn đối với
đương sự thì tôi sẽ trả lời chung là “thành phố chưa có chỉ tiêu biên chế! Chị
cũng lựa lời nói cho khéo để người ta khỏi phiền lòng. Tôi mà duyệt đơn của cậu
ta thì sớm muộn cũng sẽ bị phê phán là mất quan điểm, lập trường!
Bà
Phúc đã vỡ lẽ ra vì sao mà Lê Hoàng bị từ chối và chưa có giấy báo cho biết kết
quả việc cậu ta xin đi công tác.
Từ cơ
quan quận ra về, bà Phúc đã tìm gặp bà Phương để giải đáp thắc mắc của bà
Phương:
- Tôi
có hỏi giúp bác việc của cháu Hoàng, song xem ra khó lắm vì thành phố chưa cho
chỉ tiêu biên chế!
- Thế
thì có nên chờ đợi nữa không?
- Chờ
làm gì nữa! Bác nên xin cho cháu tiếp học Đại học, để có cái bằng là tốt hơn
cả!
Bà
Phương kể lại câu chuyện trên đây với chồng. Giáo sư Lê Vỹ có vẻ ngậm ngùi:
-
Thôi được, để tôi bàn với con. Tiếp tục học Tổng hợp Văn cũng là một cái hay
đấy!
Một
tháng sau khi Lê Hoàng rút đơn ra thì lại thấy một thanh niên khác đã được
tuyển dụng vào làm đúng công việc mà anh vừa bị từ chối. Như vậy thì đâu có
phải là không có chỉ tiêu biên chế.
Anh
mang chuyện này bàn với Kiều Thu, Thu nói ngay:
- Anh
không biết ư? Anh không thuộc thành phần cơ bản đó! Mấy ông còn thành kiến nặng
nề với anh và ba anh là người của thành phố cũ đó. Em hỏi ba em, ba em cũng nói
vậy. Nếu không phải là “con ông cháu cha” có chức, có quyền, có thần, có thế
thì ít nhất cũng phải là người nghèo khổ! Mình được xếp vào loại “tầng lớp
trên” mà!
Hoàng
nghe Thu nói có lý. Anh cảm thấy xót xa, rồi lại tự an ủi:
- Âu
cũng là tại số phận cả!
Buổi
chiều về nhà, Hoàng tâm sự với Hương :
-
Kiều Thu vẫn là người bạn tốt của chúng ta, cô ấy lắng nghe nhiều nguồn tin
chính xác đó. Cô ấy nói có lý lắm. Tốt nhất là anh hãy đi học nốt trình tổng
hợp Văn còn bỏ dở.
Hương
vuốt tóc chồng:
- Em
cũng đồng ý với anh!
Trường
Đại học Tổng hợp khai giảng năm học 1975-1976 đón nhận hàng ngàn sinh viên đến
lớp, Hoàng phải học lại chương trình năm học trước còn bỏ dở vì nạn “quân
dịch”. Mặc nhiên anh kém Kiều Thu một lớp.
Những
ngày cuối học kỳ I cũng là những ngày giáp Tết Nguyên đán. Một buổi sáng thứ
bảy, Hoàng không thấy Kiều Thu đến lớp. Bạn bè cũng không ai biết Kiều Thu nghỉ
học vì công chuyện gì.
Buổi
chiều chủ nhật, Hoàng phóng xe đến nhà Thu. Nhà đã khóa cửa, một bà hàng xóm đã
ghé sát tại Hoàng nói nhỏ:
- Cô
Thu đi với ông bà bác sĩ rồi. Cả gia đình đi từ đêm thứ sáu!
Hoàng
hiểu ngay rằng “Đi” có nghĩa là đã di tản, chạy ra nước ngoài vì từ mấy tháng
nay, dòng người vượt biển ra đi như một mạch nước ngầm âm thầm chảy mãi.
Một
tháng sau, Hoàng mới nhận được một phong thư của Kiều Thu từ Xingapo gửi về Sài
Gòn:
“... Khi Hoàng nhận được thư này thì
Kiều Thu đã đến Oa-sinh-tơn rồi. Vì còn phải sống phụ thuộc vào ba, mả nên mình
phải ra đi. Ra đi cũng còn là một cuộc du lịch nhiều năm, nghĩ cũng hay đấy! Có
thể ba má sẽ mở một tiệm buôn bán vàng bạc và các loại đá quý. Chẳng biết Thu
có đi học nữa không ở nơi đất khách, quê người?
Chúc Hoàng và Diễm Hương trọn đời hạnh
phúc!
Nhớ hoài
Thu"
Hoàng
gấp lá thư bỏ vào túi. Nét chữ run run của Kiều Thu vẫn đẹp như xưa, có lẽ run
run vì cảm động. Thế là cô nữ sinh mơ mộng ấy đã ra đi. Nỗi buồn của tuổi học
trò cũng đã bay đi.
Hoàng
trở về nhà, đưa lá thư cho Hương xem và hỏi:
- Em
có biết vì sao Kiều Thu lại di tản không?
Hương
lắc đầu:
- Em
chịu! Vì mỗi người có một hoàn cảnh riêng.
Hoàng
buồn bã thở dài:
- Có
người mặc cảm với chế độ mới. Có người còn luyến tiếc chế độ cũ. Có người còn
liên quan với quá khứ nặng nề lúc còn cộng tác với đối phương. Có người lại
thấy buôn bán sa sút, cuộc sống bắt đầu khó khăn. Nhiều người trước đây làm
dịch vụ cho binh lính Mỹ, kiếm ăn chung quanh guồng máy chiến tranh, nay chiến
tranh đã chấm dứt, họ phải ra đi để kiếm sống.
Sự
thiếu vắng một người bạn gái cùng trường khiến cho Hoàng cứ thấy buồn day dứt.
Đây đó, bà con tiếp tục di tản ra nước ngoài, càng làm cho Hoàng phải suy nghĩ.
Từ suy nghĩ mông lung đến hụt hẫng. Hoàng không muốn đi học nữa. Anh hỏi ý kiến
của ba. Ba bảo:
- Tùy
con. Con đã lớn rồi. Ba muốn con có một tấm bằng đại học rồi sau này làm gì
cũng được, chứ học hành dở dang thì chán lắm!
Hoàng
thấy đồng lương của cán bộ, bộ đội ít ỏi quá. Nếu sau này anh đỗ đạt rồi đi
làm, có lẽ lương cũng ít thế thôi, làm sao đủ sống? Hay là tham gia công tác
chỉ là để “có tiếng”, còn “có miếng” thì không thể “có miếng” được. Anh lại hỏi
ba:
- Hay
là con xin thôi học tổng hợp Văn để quay về học Anh văn, sau này làm phiên
dịch, còn dễ kiếm ăn hơn.
Giáo
sư Lê Vỹ vốn chiều con, ông đông ý với Hoàng ngay vì ông nghĩ: gia đình mình có
thiếu gì, để cho Hoàng học ngoại ngữ cũng là cái hay. Tiếng Anh thì lúc nào,
thời nào mà chả cần!
Hoàng
viết đơn xin thôi học Tổng hợp Văn và tìm đến nhà giáo sư Chương, một thầy dạy
tiếng Anh nổi tiếng ở Sài Gòn. Anh được giáo sư Chương nhận vào học. Lớp học
của Hoàng là lớp học buổi chiều, vì vậy anh đã có nửa ngày để học ở nhà, đọc
sách và nghe nhạc với Hương.
Vợ
chồng giáo sư Lê Vỹ thấy con trai, con dâu quấn quít bên nhau, cũng yên tâm
hơn.
Riêng
giáo sư Lê Vỹ còn tự nhủ thầm:
-
Phải có một thời gian dài hơn nữa, mới có thể xóa hết mặc cảm của nhiều người.
Riêng ta, ta sẽ chẳng đi đâu hết!
Lịch
sử đất nước sang một trang mới. Ba mươi năm chiến tranh tàn phá, hậu quả của
chiến tranh sẽ nặng nề, mình chỉ là một hạt cát trên sa mạc. Chấp nhận mọi khó
khăn là một điều cần thiết, không sao tránh khỏi. Dù sao, vốn liếng, gia tài
này cũng có thể giúp vợ chồng ông sống qua ngày.
Bà
Phương thường tôn trọng chồng, song vẫn chưa hết bản khoăn.
-
Mình! Sao người ta vẫn di tản hoài? Em cử thấy lo lo thế nào ấy!
Giáo
sư nắm chặt tay vợ:
- Khỏi lo! Thời cuộc sẽ phải sáng sủa hơn. Ta
không thể làm theo họ được.
***
Những
bài học tiếng Anh làm cho Hoàng quên đi những điều mặc cảm. Anh vùi đầu vào
sách vở trong khi Hương chăm chỉ việc nội trợ trong gia đình. Một buổi tối,
Hương làm bộ bí mật với chồng:
- Anh
Hoàng! Em đố anh biết vì sao hôm nay em lại vui hơn ngày thường?
Hoàng
nhìn vào đôi mặt long lanh của vợ đang ánh lên một niềm vui say đắm:
- Vì
má khen em làm món cua bể thật ngon phải không?
Hương
lắc đầu:
-
Không phải!
- Vì
ba khen em mua được bó hoa tươi rất đẹp phải không?
-
Cũng không phải!
- Vì
anh đạt điểm 10 trên bài dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ hôm nay?
-
Cũng không phải!
- Thế
thì anh xin chịu!
Diễm
Hương vòng tay qua vai chồng:
- Anh
làm sao biết được. Anh hứa phải thưởng cho em, em mới nói!
-
Được! Anh sẽ thưởng, em nói đi!
Hương
ghé sát tại chồng, nói thật nhỏ:
- Em
đã... có bầu!
-
Trời! Chúng mình sắp có con?
-
Đúng vậy!
Hoàng
ôm chặt lấy Hương làm cho Hương muốn nghẹt thở, anh hôn tới tấp lên môi, lên
má, lên cổ vợ làm cho Hương cảm thấy sung sướng như chưa bao giờ sung sướng đến
thế.
Năm
phút sau, Hương mới gỡ được mình ra khỏi vòng tay của chồng:
- Anh
làm em sợ hết hồn!
Hoàng
lại cắn vào vai vợ:
- Tại
vì em làm cho anh sung sướng quá đó thôi! Chúng ta sẽ đặt tên cho con là gì
nhỉ? Là Hương Lan nếu là con gái, hoặc Hoàng Linh nếu là con trai?
Hương
nhõng nhẽo:
- Con
đầu lòng thì phải là con gái chứ anh!
- Lỡ
là con trai thì sao?
- Thì
em bắt đền anh đó!
Tin
vui của Hương làm cho đôi vợ chồng trẻ lại được sống một đêm thật sung sướng
như buổi tối tân hôn hôm nào.
Hoàng
nghĩ đến cha mình sẽ vui biết chừng nào khi ông sắp có một đứa cháu nội và má
anh sẽ còn vui hơn khi thấy cô con dâu hiếu thảo sắp bước vào cuộc đời làm mẹ
để cho gia đình này có thêm tiếng trẻ thơ bi bô.
***
Buổi
sáng ngày chủ nhật, tám giờ mà đường Đồng Khởi đã tấp nập người qua lại.
Hoàng
tươi tỉnh dắt chiếc xe honđa bước xuống lòng đường, Diễm Hương xách một túi du
lịch nhỏ theo chồng. Cô ngồi lên phía sau xe. Chiếc xe nổ máy thật êm. Hương
hỏi Hoàng:
- Ta
đi về hướng nào, anh?
- Tân
Bình, em ạ!
Đôi
vợ chồng trẻ đi khỏi nhà chừng mười lăm phút thì từ phía bên kia đường, một
người đàn ông có thân hình vạm vỡ, mặc quần màu ghi kẻ sọc, sơ mi trắng cộc
tay, đeo kính mát bước vào cửa hàng. Hắn cất tiếng chào vợ giáo sư:
- Xin
chào bà!
Bà
Phương ngỡ ngàng nhìn lên người khách lạ:
- Dạ,
xin mời quý ông xem hàng và mua giùm, mở hàng cho chúng tôi một bộ Tam Đa.
Người
khách tỏ ra không quan tâm đến các loại đồ cổ bày trong tủ kính mà hắn lại lễ
phép thưa:
- Dạ,
thưa bà, chúng tôi muốn gặp giáo sư.
- Dạ,
xin lỗi ông, ông cho biết quý danh ạ.
Người
đàn ông rút ra một tấm danh thiếp đặt lên mặt quầy hàng. Bà Phương đón lấy tấm
danh thiếp có in chữ “Nguyễn Văn Hàm - Tiểu đoàn đặc nhiệm quân khu II -
Pleiku”.
Bà
Phương vẫn nhẹ nhàng:
- Dạ,
thưa ông, ông cần gặp nhà tôi có việc gì ạ? Nhà tôi đang ở trên lầu một.
Người
khách thản nhiên:
- Dạ,
thưa bà, có chuyện vui thôi ạ. Chả là thế này: hồi bắt đầu tùy nghi di tản ở
Pleiku, tôi được cậu Hoàng giúp đỡ chạy về Sài Gòn an toàn. Sài Gòn giải phóng,
tôi đã ra trình diện, được dự lớp học tập cải tạo ba ngày rồi lại được về gia
đình ở Vĩnh Long. Ngày mai tôi xuống tàu di tản qua Mỹ, tôi lên đây có lời từ
biệt cậu Hoàng, cô Hương và xin có lời chào cả gia đình.
Bà
Phương không khỏi kinh ngạc:
- Rất
hân hạnh! Xin cám ơn ông và xin cho tôi được hỏi: ông đi một mình hay cả gia
đình?
- Dạ,
đi hết cả gia đình, hai vợ chồng và bốn đứa con: hai trai, hai gái.
- Ông
tự tổ chức chuyến đi?
- Dạ,
đi lén cùng một gia đình nữa.
-
Thưa ông: cháu Hoàng và cháu Hương vừa đi chơi rồi ạ. Hai cháu đi xe honđa về
ngả Tân Bình. Chỉ còn lại có nhà tôi ở lầu một. Xin mời ông lên lầu.
Bà
Phương khép cửa ra vào để hướng dẫn khách lên lầu.
Giáo
sư Lê Vỹ được vợ giới thiệu về khách, cũng niềm nở:
- Xin
mời ông đại úy ngồi chơi! Vì hoàn cảnh đất nước, ông đại úy ra đi, ông lại có
lòng nhớ đến gia đình chúng tôi, xin cám ơn ông nhiều.
Tuy
nói một câu xã giao như vậy, song giáo sư không khỏi ngạc nhiên vì câu chuyện
mở đầu của khách lại trái ngược với câu chuyện của con trai ông kể lại. Hoàng
“giúp đỡ” ông này chạy về Sài Gòn hay bắn hạ hắn khi hắn đi cướp bóc dân chúng
trong “giờ vô kỷ luật”?
Chừng
như dự đoán được ý nghĩ của người đang đối diện với mình, tên Hàm - đại úy ác
ôn - nói ngay:
- Tôi
là một sĩ quan trong “quân lực Việt Nam Cộng hòa”, ngày nay là kẻ chiến bại
rồi, nên phải gánh chịu nhiều lời đồn đại thất thiệt. Thiên hạ bảo rằng tôi là
kẻ ác, nói thật với ông bà, tôi ở lại thì sau này khó tránh khỏi tai vạ nên
phải ra đi, nhất là khi ông trung tướng Phạm Văn Phú đã tự vẫn, chết mất rồi.
Giáo
sư Lê Vỹ cười xòa:
-
Không sao! Không sao! Ai thích ở lại thì ở, ai thích đi thì đi.
Tên
Hàm cũng cười:
-
Người ta đang di tản ùn ùn như nước chảy, có làm sao đâu. Cho nên tôi chọn con
đường ra đi. Song ở đời nay, phải ăn ở có tình, có nghĩa, tôi vẫn nhớ ơn cậu
Hoàng đã giúp tôi mấy tháng trước đây trong lúc cùng đường, mạt lộ.
- Dạ!
Giáo
sư vẫn chờ đợi những câu nói tiếp theo của khách. Bà Phương cũng cảm nhận câu
nói xã giao của chồng, bà đỡ lời ông, nói với khách thêm một câu:
- Ông
đại úy nghĩ như vậy là chí phải. Tôi nghĩ, lúc nguy nan thì giúp nhau là chuyện
bình thường thôi ạ.
Tên
Hàm đặt ly nước xuống bàn, chậm rãi nói:
-
Chính vì tôi phải tri ân cậu Hoàng nên tôi mới đến đây, vì rằng bà Lâm Đệ, vợ
ông Phú đã chạy qua Mỹ, sau khi nghe tin ông Phú tự sát, đã gởi về cho tôi một
lá thư an ủi tôi, khuyên tôi gắng sống qua ngày. Bà ta lại còn hỏi thăm cả cô
Diễm Hương nữa!
Giáo
sư giật mình:
-
Cháu Diễm Hương nhà tôi?
Tên
Hàm vẫn một giọng đều đều:
- Dạ,
phải. Vì hồi trước, khi còn ở Pleiku, thỉnh thoảng ông Phú vẫn đón bà Lâm Đệ
lên thăm. Bà Lâm Đệ là giai nhân tuyệt sắc rồi, song có tính ghen tuông lạ
lùng. Thấy trong đám chiều đãi viên ở câu lạc bộ Phượng Hoàng có cô Hương là
đẹp nhất nên cứ răn đe ông Phú. Ông Phú cứ phải thanh minh “Cô bé Diễm Hương
đẹp thật, nhưng đẹp sao bằng em được! Em khỏi lo!”. Ông ta khuyên vợ “khỏi lo”,
nhưng bà vợ vẫn “cứ lo”. Có lần bà lục trong ví da của chồng thấy có tấm hình
cô Hương nên đã sa sầm nét mặt, giận ông ta mấy ngày. Ông Phú phải dỗ dành vợ
mãi, bà ta mới bớt ghen, song vẫn “tịch thu tấm hình cô Hương để làm “bằng
chứng”. Tôi cho rằng đó là chuyện thường tình của đàn bà.
Giáo
sư Lê Vỹ nói đưa đẩy:
- Dạ, đúng là câu chuyện “đàn bà”.
Tên
Hàm vẫn tiếp tục câu chuyện rất say sưa:
- Bà
Lâm Đệ rất quý tôi, một người thân cận của tướng Phú, bà ta cũng không quên cô
Hương, một cô gái xinh đẹp khiến bà ta phải “để ý”, nên trong bức thư gửi thăm
tôi, bà ta cũng gửi lời thăm cả cô Hương, tỏ ý xót thương cho cả số phận của
tôi và của cô Hương. Có lẽ bà ấy sợ tôi quên cả cô Hương nên gửi luôn cả tấm
hình cô Hương cho tôi nhớ lại một người mà có lần bà phải ghen tuông.
Hàm
nói đến đây, đã rút từ trong túi ra một tấm ảnh màu chụp năm 1974 của Hương đặt
lên bàn.
Vợ
chồng giáo sư muốn kêu lên “Lại có chuyện này ư?” song giáo sư đã trấn tĩnh
được và giả vờ thản nhiên:
- Bà
Lâm Đệ thật thủy chung. Cũng tội nghiệp cho bà ấy, nay đã trở thành quả phụ.
Sau một tuần trà, thuốc, Hàm cáo từ đứng dậy:
- Nhân hôm nay tôi lên thành phố từ biệt mấy
người bà con, tôi ghé thăm ông bà, lại không được gặp vợ chồng cậu Hoàng, tôi
xin gửi lời thăm cậu Hoàng và cô Hương. Có thể đêm nay tôi phải đi rồi. Chúc
ông bà ở lại mạnh giỏi, chúc vợ chồng cậu Hoàng hạnh phúc! Tôi xin gửi lại cô
Hương tấm hình kỷ niệm thời trẻ của cô.
- Dạ,
xin cám ơn ông.
Giáo
sư bắt tay người khách vụt đến lại vụt đi. Bà Phương cũng cúi đầu chào khách
lạ.
Bước
ra đến đường, tên Hàm đã gọi một xích lô:
- Cho
tôi về xa cảng miền Tây!
Chiếc
xe vun vút chở khách rẽ qua đường Nguyễn Huệ về xa cảng miền Tây.
Vợ
chồng giáo sư Lê Vỹ tiễn khách ra cửa, rồi lặng lẽ quay vào, ông buồn bã nói:
- Theo con trai mình kể lại thì thằng ác ôn
này bị nó bắn què cẳng kia mà, sao hôm nay nó lại lành lặn đến đây. Diễm Hương
con dâu mình là con gái nhà lành, sao thằng này lại bảo nó là chiêu đãi viên?
Bà
Phương lắc đầu:
- Tôi
nghi thằng này lắm! Nó định làm trò gì đây?
- Cứ
bình tĩnh, hãy chờ xem.
-
Theo mình, có nên nói cho các con biết chuyện này không?
Giáo
sư trầm ngâm một lát rồi nói với vợ:
- Cần
thận trọng, để tôi lựa lời hỏi con trai, mà chưa nên hỏi con dâu, không có lợi
cho hạnh phúc của con.
- Tùy
mình.
Bà Phương
im lặng, trong lúc giáo sư kín đáo bỏ tấm hình Diễm Hương vào túi. Ông cũng không
quên dặn vợ:
- Tôi
sẽ hỏi con trai. Nếu con hỏi mẹ thì mình cứ nói là mình không biết gì. Vì thằng
Hàm chỉ gặp có một mình tôi thôi.
Bà
Phương gật đầu:
-
Mình yên tâm.
Buổi
tối, giáo sư Lê Vỹ đã ngồi tâm sự với con trai. Ông dè dặt kể lại việc tên Hàm
đột ngột xuất hiện sáng nay. Thái độ, cử chỉ, lời nói của nó khiến cho ông bà
phải nghi kỵ, cảnh giác.
Hoàng
nghe xong, nói quả quyết:
- Ba
má phải cảnh giác với nó. Nếu hôm đó con bắn nó chết thì nó đã chết mất xác
rồi. Nó chỉ bị thương nhẹ vào chân nên nó mới sống sót đó. Nó có di tản hay
không thì mình cũng chẳng cần quan tâm. Còn nó bảo em Diễm Hương là chiêu đãi
viên là nó nói bậy, nhằm làm cho ba má có mặc cảm với con dâu. Vợ con là đứa
con hiếu thảo như thế nào thì ba má đã rõ. Con đề nghị ba má không nên nói lại
chuyện này với vợ con, vì vợ con đang có bầu, cần được yên ổn về tinh thần.
Giáo
sư gật đầu:
- Ba
đồng ý với con. Con yên tâm.
Hoàng
chưa hề giấu giếm cha mẹ điều gì, song trong chuyện này, anh lại thấy phải giấu
kín chuyện riêng của Hương, vì đó là nỗi đau của cô trong những năm tháng phục
vụ cho câu lạc bộ Phượng Hoàng. Nếu ba má biết chuyện này thì ba má sẽ phiền
lòng về chuyện hôn nhân của anh với quan niệm phong kiến cũ còn tồn tại trong
xã hội Sài Gòn.
Anh
nói chậm rãi:
- Tên
ác ôn này có thể còn có những mưu đồ đen tối. Ba má và con phải lưu tâm theo
dõi nếu nó còn lảng vảng ở đây, hoặc nếu nó di tản sang Mỹ rồi từ Mỹ gửi thư từ
về hoặc dùng bọn tay sai của nó cài lại, hãm hại gia đình ta thì ta phải tố cáo
nó với chánh quyền cách mạng.
Giáo
sư Lê Vỹ hỏi con:
- Con
nói có lý, bởi vì con bắn hạ nó, nó căm thù con lắm chứ. Con có cứu sống nó đâu
mà nó cám ơn con? Tại sao nó lại đổi oán thành ân? Tại sao nó không giáp mặt
con, lại đợi lúc con vắng nhà mới bước vào gặp ba?
- Vì
vậy sự xuất hiện của nó là có mục đích khác lạ, đâu phải chuyện bình thường?
Giáo
sư Lê Vỹ gật gù:
- Nếu
nó còn xuất hiện, ba sẽ xứ sự khác hôm nay. Thôi, con cứ yên tâm mà đi ngủ cho
khỏe.
***
Một
tuần sau, một buổi chiều trên đường đi học về, Hoàng đạp xe từ từ xuôi đường
Trần Hưng Đạo. Bỗng một chiếc Honda lướt tới đi cùng chiều, áp sát xe đạp của
Hoàng. Anh nhìn sang và thốt kêu lên:
- Ông
đại úy!
Hai
chiếc xe đều di chậm lại. Tên Hàm cười, hạ thấp giọng, nói:
- Anh Hoàng! Chào anh! Hôm trước tôi đến chào
từ biệt anh để di tản sang Mỹ, rất tiếc không gặp anh. Hôm nay may quá, lại gặp
anh, xin mới anh ghé quán cà phê cóc này, nói chuyện lai rai được không?
Hoàng
trả lời ngay:
- Rất
hán hạnh được gặp lại ông! Có gì trở ngại đâu. Nào, ta uống với nhau một ly cà
phê cho vui!
Hai
người dừng xe, đẩy xe lên vỉa hè, ngồi vào một quán cà phê cóc của một cô gái
trẻ.
Tên
Hàm gọi:
- Cho
anh hai ly nâu, em!
Hai
ly cà phê sữa được đặt lên bàn, cô chủ quán nhoẻn miệng cười, lui về chỗ pha
chế.
Còn
lại hai người ngồi đối diện, tên Hàm mới nói:
- Hôm
trước, tôi định vượt biên vào đêm tối trời, không may đụng tàu tuần tra, thuyền
của tôi đành phải quay trở lại vào bờ, cả bọn đành phải hẹn nhau ngày khác an
toàn hơn.
- Thế
là không may cho ông đại úy!
Tên
Hàm ghé sát tại Hoàng:
- Ấy,
đừng xưng hô như vậy. Tôi có còn là đại úy nữa đâu, cũng như anh Hoàng có còn
là lính biệt động nữa đâu! Ta là công dân rồi mà! Chính sách của chính phủ
khoan hồng quá. Thế mà người ta cứ là nói Việt cộng về là có chuyện “tắm máu”!
- Nhảm
nhí hết! Vậy thì mấy tháng nay ông làm gì? Ở đâu?
- Ra
trình diện, đi học tập cải tạo qua loa rồi về sống với vợ con ở Vĩnh Long.
Song, nghĩ kỹ lại cũng thấy ngán quá, nên rủ một ông bạn vượt biên qua Mỹ chơi!
- Hôm
nay ông muốn rủ tôi di tản chăng?
-
Không! Tôi chỉ mừng là anh bắn tôi mà tôi không chết nên phải cám ơn anh.
Hoàng
hỏi thẳng:
- Cám
ơn hay là sẽ trả đũa?
- Đâu
có chuyện đó, anh? Cái gì đã qua thì cho qua. Nhắc lại làm chi cho phiền! Hôm
nay tôi chỉ muốn nói với anh rằng: Anh ôm được cô Diễm Hương. Anh giàu quá, còn
tôi lại quá nghèo, xin bà con cô bác mỗi người vài “chỉ” định vượt mà lại phải
quay về, rủi ro quá chừng! Nếu anh không căm ghét tôi, xin anh hãy thương tôi,
cho tôi xin chút xíu gọi là “viện trợ” mà!
Hoàng
lắc đầu:
- Thế
thì ông gõ nhầm cửa mất rồi. Tôi và cô Hương đâu có lắm vàng, nay còn phải ăn
bám gia đình.
Hàm
vẫn một giọng trầm trầm:
- Anh
không biết đó thôi. Trước khi di tản, tướng Phú đã dúi cho cô Hương khá nhiều
vàng và đôla. Có lẽ cô ấy còn gửi má Bảy làm vốn riêng đó. Và ở đây, ba má anh
thiếu gì vàng bạc. Anh không thương tôi mà lại còn tiếc tôi sao?
Hoàng
thấy mình không thể lùi bước trước tham vọng của một tên đồ tể, anh nghiêm
giọng nói:
- Thì
ra ông gặp ba má tôi hôm trước và gặp tôi hôm nay cũng chỉ vì vàng! Lúc tùy
nghi di tản ở Pleiku, chúng ta xung đột nhau cũng vì ông bức má Bảy và cô Hương
phải nộp vàng cho ông. Hôm nay, hoàn cảnh đã khác, ông lại thay đổi chiến thuật
đòi vàng. Theo tôi, ông không nên tái diễn một màn kịch mà gia đình tôi không
thể chấp nhận!
Tên
Hàm cay đắng hơn:
- Tôi
đã phải tự hạ mình đến đây để xin anh chút xíu thôi. Tôi đâu có hăm dọa và đòi
anh phải nộp? Tôi qua được bên Mỹ sẽ không quên ơn anh Tôi đi thì chẳng sợ gì.
Anh và cô Hương ở lại mới cần phải giữ kín mọi chuyện. Nếu ở đây nhiều người
biết cô Hương là vợ bé của ông Phú, một viên tướng ngụy có nhiều nợ máu với
dân, tuy ông ta đã chết nhưng chưa hết chuyện đâu!
- Ông
đại úy muốn hăm dọa tôi?
- Tôi
không hăm dọa. Song anh phải biết điều đó. Vàng của tướng Phú ở đâu ra? Đó là
của tham nhũng, ông ta ăn hối lộ của sĩ quan dưới quyền, ông ta ăn cắp đồ viện
trợ Mỹ, ông ta buôn lậu ma túy với tướng Đặng Văn Quang, với vợ chồng ông
Thiệu, ông Kỳ! Ông Phú cho cô Hương mười, tôi chỉ xin một, mà không được sao?
Hoàng
lắc đầu:
- Ông
nói chỉ mà dài dòng vậy? Tôi đã nói với ông hết rồi. Ông chưa chịu hiểu mà còn
đeo đuổi tôi hoài. Tôi biết ông lén lút vượt biên, tôi mặc kệ, còn ông, ông làm
gì với tôi thì ông cứ làm. Thời thế đã đổi thay rồi, ông nên suy ngẫm cho kỹ
trước khi hành động!
Tên
Hàm thấy không thể lung lạc được ý chí sắt đá của Hoàng, hắn gượng gạo cười:
-
Thôi ta về! Chào anh!
Hắn
dắt xe xuống đường, quên cả bắt tay xã giao với một người mà từ lâu hắn coi là
địch thủ đáng gờm.
Hoàng
đứng sững nhìn theo tên đại ủy ác ôn. Trong giây lát, chiếc xe honda đã mất hút
phía đường Nguyễn Trãi. Nó chạy về quận 5.
Hoàng
lên xe, thong thả đạp về nhà. Vừa đi, anh vừa nghĩ về hành động, lời nói của
tên Hàm. Điều anh phải tự khẳng định với mình là phải hết sức bình tĩnh để xử
lý những bất trắc có thể còn xảy ra.
Anh
nói lại tất cả câu chuyện vừa xảy ra với giáo sư Lê Vỹ. Giáo sư cười:
- Ba
tưởng là chuyện gì! Ai ngờ đâu, thằng này cũng chỉ có những ngón tiểu xảo để
kiếm ăn quanh. Tuy nhiên, con cũng nên cẩn thận để tránh những sự đụng độ không
cần thiết. Còn ở nhà, ba má sẽ tẩy chay nó. Nó còn vác mặt đến đây thì ba, má
sẽ “mời” nó đi khỏi nhà ngay!
***
Diễm
Hương buông cuốn truyện đang xem dở xuống bên gối. Cô ngồi nhổm dậy gọi:
- Anh
Hoàng!
Hoàng
đang ngồi hút thuốc lá, thở những cuộn khói tròn bay lơ lửng trong phòng, nghe
vợ gọi, quay lại:
- Gì
đó em?
- Anh
coi bức thư má gửi về rồi, anh lên thăm má được không?
- Anh
cũng dự định như thế. Có điều anh muốn em cùng đi, vì má rất nhớ em, má không
về đây được. Em đang có bầu, đi ôtô thì anh hơi ngại.
-
Không, em không dám đi đâu, đèo dốc, lỡ ra có làm sao thì lại ân hận. Anh xin
nghỉ học ít ngày lên thăm má là đủ. Má
có chuyện chi buồn đó, anh!
Hoàng
đặt tay lên tay vợ:
-
Được, em khỏi lo! Chủ nhật này, anh xin phép ba má lên thăm má luôn!
- Anh
ráng an ủi, động viên má thay em nhé!
Sáng
chủ nhật, Hoàng đáp xe đò đi Pleiku. Má Bảy vui hẳn lên:
- Con
đi có vất vả lắm không? Vô đây, con.
Hoàng
kể cho má Bảy nghe về sức khỏe của Hương rất tốt, má càng vui. Sau bữa cơm
chiều, má mới gọi Lý Ly lên ngồi cạnh Hoàng:
- Bây
giờ má mới nói thật cho con rõ. Sở dĩ má biên thư về Sài Gòn nhắn các con lên
vì có chuyện này, má chỉ có thể nói riêng với vợ chồng con được thôi.
- Dạ,
xin má cứ nói.
Má
Bảy chậm rãi:
- Bấy
lâu em Ly của con đây ăn ở với má rất tốt, chẳng có chuyện gì, nay em nó nói
thật, muốn xin di tản sang Mỹ đó!
- Đi
với ai?
Má
Bảy hạ thấp giọng nói:
- Đi
với một anh con trai của má Tám cách nhà ta mươi số nhà đây này.
Hoàng
quay sang Ly, vuốt tóc cô gái:
- Sao
em lại đi?
Ly
nói rất thản nhiên:
- Má
rất thương em, em biết. Anh chị cũng thương em, em biết. Nhưng má Tám Xuân có
hai người con trai, một là anh Hạ đi lính hồi trước, nay là thương phế binh
chưa có vợ, còn anh thứ hai là anh Đông, anh Đông cùng tuổi với em. Má Tám bảo,
đời sống bây giờ khó khăn rồi, hàng họ ế ẩm, vật giá leo thang, cả gia đình lớn
nhỏ là 8 miệng ăn, cứ trông vào một quán cà phê cóc thì chết đói mất, cho nên
má định cho anh Đông vượt biên qua Mỹ làm ăn rồi sau này gửi dồ về nuôi má và
cả gia đình. Anh Đông rủ em cùng đi, em nghe có lý, em quyết định đi. Nếu em
trốn đi thì má và anh chị lại giận em, nên em cứ nói thật.
Hoàng
nhìn cô gái đang bước vào tuổi dậy thì, anh rất thông cảm với Ly, song anh chưa
hiểu tường tận về má Tám và anh con trai có tên là Đông. Anh phân vân:
- Em
đi có chắc chắn, có bảo đảm không? Thân gái dặm trường, lỡ gặp chuyện không may
thì sao?
-
Không thể có chuyện ấy được đâu, anh! Người ta đi thuyền qua vịnh Thái Lan thì
dễ gặp hải tặc, song cũng nhiều người không gặp hải tặc, mà lại vượt ra hải
phận quốc tế, được tàu ngoại quốc vớt lên, thế là thoát. Còn em và anh Đông thì
sẽ theo một đường dây bí mật xuống một con tàu ngoại quốc, đưa vàng cho họ từ
cảng Sài Gòn, họ cho ẩn nấp dưới hầm tàu, ra đến ngoài khơi là thoát mà lại an
toàn.
- Nếu
bị phát hiện thì sao?
Ly
cười thật tươi:
- Thì
bị giam giữ một vài ngày, một vài tuần rồi tha về sau khi được nghe giải thích
chính sách chứ gì! Chúng em là dân thường, là “con nít” lo ngại gì đâu! Có
nhiều người về rồi lại đi. Chúng em cũng vậy, nếu lần này bị bắt lại thì lần
sau lại đi, cứ như vậy cho đến khi đi thoát.
Hoàng
nhìn cô bé từ đầu đến chân, hình như nét ngây thơ ngày trước đã mất dần trên
khuôn mặt trẻ, bây giờ có vẻ tinh khôn hơn. Làm sao giữ được cô bé này ở lại?
Chắc là phải thuyết phục khó khăn lắm. Anh lại ôn tồn:
- Thế
là em đã quyết chí ra đi?
- Dạ.
Em quyết định rồi. Có điều em không thể giấu anh chị và má. Em ở lại thì khổ
thêm cho má, má già rồi. Cũng như anh Đông đi thì có thể giúp đỡ cả nhà, ở lại
thì lấy gì ăn? Anh Hạ - thương phế binh ngụy thì chán đời vì không lấy được vợ,
là nạn nhân của chiến cuộc, suốt ngày uống rượu và ngồi im lặng hàng giờ. Má
Tám còn sợ anh ấy chán đời đến tự sát thì khổ thân khổ đời nên vẫn phải dỗ dành
anh ấy để anh ấy khỏi phát điên. Chung quanh đây có năm sáu người đi, họ đều
đến nơi đến chốn, gửi đồ về luôn luôn. Chỉ có một người chết vì hải tặc và hai
người chết vì gặp bão. Em tin là em sẽ sống vì em ăn hiền ở lành thì sẽ gặp vận
may chứ, anh.
- Em
và Đông thương nhau rồi sao?
-
Chưa hẳn thế, song chúng em rất thân và rất quý nhau.
Má
Bảy nói chen vào, để Hoàng cùng nghe:
-
Thằng Đông có qua đây mấy bữa, tội nghiệp nó cũng hiền khô! Chỉ phải cái tội
nhà nghèo, đông miệng ăn quá. Con trai mà mới học hết bậc tiểu học. Nếu chưa
giải phóng thì sớm muộn ông Thiệu cũng bắt lính. Bây giờ kinh tế khó khăn như
thế này, nó liều thân đi và hy vọng sẽ gửi được đồ về cho má nó nuôi lũ em dại.
Ba nó là trung úy ngụy, chết mất xác ở Huế hồi trước rồi.
Thấy
má Bảy nói vậy, Ly lại khoe thêm với Hoàng:
- Anh
Đông dễ thương lắm cơ! Lại khỏe mạnh nữa. Em đi cùng anh ấy thì ảnh có thể giúp
đỡ em được nhiều!
-
Ngày nào thì các em đi?
- Chỉ
ngày một, ngày hai thôi anh?
Má
Bảy rầu rầu:
- Con
đi, má ở lại một mình, má buồn lắm.
Má
Bảy nói vậy, song má cũng không nỡ ngăn cản bước đi của bé Ly, bởi má biết mình
có thể chịu đựng thiếu thốn được. Còn bé Ly thì cuộc đời còn dài lắm. Nó phải
tự lo cho cuộc đời nó, nếu má giữ nó lại thì cái nghèo đã cầm chắc trong tay,
sau này nó khổ thì lại oán má. Có phải ai cũng có số may mắn như Diễm Hương
đâu! Hương có nhan sắc, lại gặp Hoàng, được về làm con dâu nhà giáo sư, tương
lai thật tốt đẹp.
Má
Bảy ngậm ngùi nói với Ly:
- Tùy
con, má không muốn cố tình giữ con lại đâu. Má thương con nhiều. Má có nghèo
cũng cho con nửa cây vàng để con có thêm chút xíu, phòng khi con phải chi tiêu
dọc đường di tản.
Ly
nói với má:
- Con
cám ơn má nhiều.
Hoàng
thấy không còn hy vọng giữ được Ly ở lại, anh tháo chiếc nhẫn vàng đeo ở ngón
tay đưa cho Ly:
- Anh
chị cho em chiếc nhẫn hai chỉ này để em làm vốn. Nếu phải chi tiêu dọc đường
thì em cứ bán đi. Nếu chưa phải bán thì em giữ làm một vật kỷ niệm nhỏ nhoi của
chị Hương cho em đó!
Ly
chớp chớp mắt, cảm động nói:
- Em
cám ơn anh chị nhiều. Em đi được đến “bên kia” thì em sẽ biên thư về thăm anh
chị!
Hoàng
nói với má Bảy:
- Em
Ly đi rồi thì má ở một mình, má sẽ buồn. Thôi đành, con sẽ lên thăm má luôn mà.
Mai kia bọn con có cháu, cháu lớn thì sẽ cho Hương ẵm cháu lên đây với má.
Má
Bảy cảm thấy yên lòng:
- Má
cũng mong như vậy. Má sẽ vui. Má chúc con Ly mạnh giỏi ở nơi đất khách, quê
người. Má mong cho Diễm Hương sinh nở mẹ tròn, con vuông. Hoàng phải chăm sóc
cho vợ con, nghe con!
Hoàng
nắm tay má Bảy:
- Dạ.
Má cứ yên lòng.
***
Hoàng
trở về Sài Gòn với một tâm tư nặng trĩu. Anh không thể không nói thật với cả
gia đình. Vợ chồng giáo sư Lê Vỹ đều nói:
-
Cũng khổ cho bé Ly phải xa quê hương, xa tất cả mọi người thân, nhưng biết làm
sao được?
Diễm
Hương nói riêng với Hoàng:
-
Trời! Em thương nó lắm. Có thể, em thương nó hơn cả má và anh. Bởi vì nó đã
sống với em suốt những ngày mắc kẹt ở câu lạc bộ Phượng Hoàng. Những lúc buồn
rầu, nó đã chăm sóc em từng miếng cơm, chén cháo. Em cũng không ngờ nó lại ra
đi, thật không ngờ! Nhưng nó đã thân và có thể sẽ yêu thằng Đông. Thế là chúng
nó đã ra đi rồi!
Diễm Hương đã buồn luôn mấy ngày. Hoàng phải
đưa vợ đi chơi khắp nơi này, nơi nọ để cho Hương khuây khỏa. Cả những băng
nhạc, anh cũng tránh mở những bản nhạc buồn, những bài ca ao não.
Đã
mấy buổi chiều, Hoàng bắt gặp Hương một mình thẩn thơ đi ngoài hành lang, rồi
lại tựa lan can nhìn về phía cảng Bạch Đằng, nơi đó những con tàu nước ngoài
cập bến ra khơi. Hương thật buồn, càng buồn Hương càng đẹp. Hình như trời đã
phú cho Hương một nhan sắc buồn thương. Hoàng muốn khen Hương một câu, song anh
lại thôi vì anh đang muốn cho Hương vui
Thấy
Hoàng nhìn mình, Hương lại gục đầu vào vai anh:
- Anh
ơi! Không biết con tàu ngoại quốc nào đã đưa Ly đi?
Hoàng
hôn lên môi vợ:
- Anh
cũng chịu, không hiểu là con tàu nào, nhưng chắc chắn là Ly đã đi thoát rồi.
Giờ này có thể Ly đã đến Xingapo hoặc Manila rồi!
Hai
vợ chồng lại đứng im trong buổi hoàng hôn sẫm bóng.
Hương
và Hoàng hiểu sao được Ly đã phải trải qua một đêm rùng rợn ở điểm hẹn ngoại ô
Sài Gòn, cách xa cảng miền Đông không xa, trong một căn nhà mái tôn lụp xụp. Ly
và Đông được xe đò đưa từ Pleiku về đến đây thì trời vừa tối. Người dẫn đường
là một người đàn bà đã đứng tuổi có tên là Sáu Hằng. Chị ta đưa Ly và Đông đi
ăn bữa cơm tối xong rồi mới đưa qua con hẻm dài hun hút đến căn nhà ở bên trái.
Ngồi
trong căn phòng rộng vắng lặng trong ánh sáng huyền ảo, Ly và Đông chờ đợi
không lâu. Chị dẫn đường ấn nút chuông báo hiệu có khách, lập tức cánh cửa bên
phải đã hé mở và một bóng đen hiện ra, một người mặc áo đen thì đúng hơn. Hắn
cao, mập, đầu đội mũ phớt đen che sụp xuống ngang nửa mặt. Khuôn mặt vuông chữ
điền có một khăn đen che kín chỉ để hở hai con mắt sáng long lanh. Hắn giơ một
bàn tay mang găng đen lên chào đôi bạn trẻ và nói:
- Xin chào các bạn!
Ly và
Đông cùng đứng dậy và cúi đầu chào đáp lễ, bóng đen lại nói:
- Xin
mời ngồi! Chuyến đi này rất mạo hiểm, các bạn đều phải cải trang làm công nhân
bốc vác của cảng Sài Gòn, trà trộn với toán người bốc vác để xuống tàu ngoại
quốc. Nếu không may bị bắt trở lại thì không ai được khai báo gì với công an.
Nếu để lộ thì lộ cả đường dây của nhiều người khác, tai họa sẽ khó lường trước
được. Hôm nay ta chỉ nhận trước của mỗi người một “cây” vàng. Khi đến nơi, đến
chốn, các người viết thư về nhà, ta mới thu nốt “cây” vàng thứ hai, các bạn có
nhất trí không?
Ly và
Đông cùng đáp:
- Dạ,
chúng tôi xin nhất trí!
- Vậy
xin chúc các bạn “thượng lộ bình an”, gặp nhiều may mắn.
Đèn
xanh vụt tắt, trong giây lát, đèn lại bắt sáng. Người mặc bộ đồ đen đã biến mất
sau cánh cửa khép hờ.
Sáu
Hằng, người dẫn đường nói với Ly và Đông:
- Tôi đã đưa hai “cây” vàng cho ông ta rồi.
Bây giờ ta cải trang để ra bến, chuẩn bị 9 giờ tối thì xuống tàu.
Sáu
Hằng đưa cho mỗi người một bộ quần áo công nhân bốc vác để cải trang.
Lý Ly
đã nắm chặt tay Sáu Hằng:
- Chị
Sáu! Chị cho em biết người mặc áo đen vừa rồi có phải là ông đại úy Hàm không?
Sáu
Hằng giật nảy mình:
- Sao em biết?
- Em
nhìn dáng người ông ta, em đã ngờ ngợ. Khi nghe tiếng nói thì em biết đích xác
ông ta là đại úy Hàm, chỉ huy tiểu đoàn đặc nhiệm của vùng II chiến thuật.
Sáu
Hằng giơ tay bịt miệng Ly:
- Chị cấm em không được nói nữa. Tại vách mạch
rừng, công an nghe được thì chết hết bây giờ.
-
Nhưng mà em sợ lắm!
- Vì
sao?
- Vì
nếu bị lộ, phải bắt thì ông ta sẽ hại cả nhà em mất.
Sáu
Hằng dằn giọng:
-
Không bao giờ bị lộ đâu, em đừng lo nghĩ vơ vẩn mà để lỡ cả chuyến đi!
Đông
từ nãy nghe rõ câu chuyện của Ly, cũng tái mặt, giọng run run:
- Chị
Sáu, chúng em sợ lắm. Bấy lâu em cứ tưởng ông đại úy đã di tản rồi, ai ngờ ông
ấy vẫn còn ở lại và chỉ huy cả đường dây di tản này.
Sáu
Hằng vẫn bình tĩnh:
- Thì
càng bảo đảm chắc chắn chứ sao?
Đông
chưa hết sợ:
- Ông
ta dữ dằn lắm chị ạ. Khi còn là chỉ huy tiểu đoàn trước đây, ông ta đã bắn bỏ
hàng trăm mạng người.
- Trước khác, bây giờ khác! Ông ta phải nói
như vậy để giữ bí mật đường dây lâu dài thôi. Chị không bao giờ lừa dối các em
đâu. Bao nhiêu người đã nhờ có ông ta mà đi thoát. Chị bảo đảm với các em chắc
chắn an toàn! Thôi ta đi! Các em lần lượt qua phòng bên cải dạng làm người bốc
vác, lẹ lên nào!
Và
quả đúng như lời Sáu Hằng, đêm ấy Ly và Đông đã xuống được con tàu ngoại quốc
rẽ sóng ra khơi, bỏ lại đàng sau cả thành phố Sài Gòn lấp lánh ánh đèn khuya.
Hai
tháng sau, Hoàng lại lên Pleiku thăm má Bảy. Mã nói như reo lên:
-
Con! May quá, con lên vừa đúng lúc. Con Ly sang đến Mỹ rồi, nó viết thư về đây
này. Má mừng quá. Lại cả thư của thằng Đông nữa. Hôm ấy chúng nó trốn được
xuống tàu ngoại quốc, may quá, đi thoát. Thế là má cũng yên tâm, tuy nó là con
nuôi mà má quý như con đẻ, nó đi, má cứ lo hoài, nếu chẳng may gặp chuyện rủi
ro dọc đường thì khổ cho nó. Đây con đọc đi!
Lá
thư ngắn ngủi với những dòng chữ nhỏ nghiêng nghiêng, đúng là nét chữ Lý Ly
rồi.
Hoàng
đọc:
“Má kính mến của con!
Con và Đông đã đến Mỹ rồi. Chúng con
đang ở trại tị nạn, chưa được đi làm vì còn phải làm giấy tờ và phải chờ đợi
mấy tuần nữa.
Hôm con đi, con nhớ má lắm. Dì Sáu đưa
đến điểm hẹn và nộp vàng cho một ông của "đường dây bí mật". Con sợ
quá, cứ tưởng là ai, hóa ra lại chính là ông đại ủy Hàm, người của trung tướng
Phạm Văn Phú hồi trước. Ông ấy đứng ra tổ chức nhiều người vượt biên đi lén. Số
vàng nộp trước một nửa, đến nơi an toàn thì gia đình nộp nốt nửa còn lại.
Vì vậy, sau khi nhận được thư này, má
gặp dì Sáu giúp con và con xin má một "cây" nữa để đưa cho dì Sáu
chuyển cho ông Hàm.
Khi con đi làm, có lương, con sẽ mua
hàng gởi về cho má sau. Con chưa kịp biên thư về Sài Gòn, vậy má chuyển giúp
con lời chúc sức khỏe của con tới chị Diễm Hương và anh Lê Hoàng cùng bác Vỹ.
Con chúc má luôn luôn mạnh giỏi và rất
mong thư của má. Má gởi thư cho con theo địa chỉ con ghi ngoài bì phong thư
này.
Con của má
Lý Ly”
Hoàng
đặt lá thư xuống bàn, nói với má Bảy:
- Bây giờ con đã hiểu tại sao tên Hàm tìm đến
nhà con ở Sài Gòn để thăm dò thái độ của con, nó lại gian ngoan nói rằng sắp di
tản nên đề nghị con giúp đỡ một phần, còn chuyện con bắn hạ nó, nó tống tiền
nhà ta thì bỏ qua cho nó. Nó xạo quá má ạ. Nó đã đi đâu! Nó còn ở lại tổ chức
đường dây di tản để hốt vàng, hốt bạc của bà con cô bác. Không cảnh giác thì
mình còn có thể bị nó thủ tiêu để chiếm đoạt cả số vàng mang theo nữa. Má tiếp
xúc với dì Sáu má cũng phải cẩn thận.
Má
Bảy gật đầu:
-
Biết vậy. Má cũng phải cẩn thận. Con đem lá thư này về Sài Gòn đưa cho ba con
xem, đưa cả cho con Diễm Hương xem nữa để nó vui vì con Ly đã đến đất Mỹ và nó
cảnh giác đừng có gặp lại thằng Hàm làm gì!
Sau
một ngày ở lại Pleiku, hôm sau Hoàng lại đáp xe về Sài Gòn.
Bức thư
của Lý Ly làm cho cả gia đình giáo sư Lê Vỹ vừa mừng vừa sửng sốt: một bàn tay
bí mật đang nắm giữ một đường dây tổ chức đưa người di tản ra nước ngoài, đó
lại là tên đại úy Hàm!
Giáo
sư nói với vợ con.
- Ta
biết để đề phòng. Thế là rất may, rất tốt.
Hoàng
thấy Hương đọc thư của Lý Ly, đã vui hơn hẳn ngày thường.
Hương
nói:
- Nó
lộ mặt ác ôn rồi, tên đại úy khốn kiếp kia đang kiếm ăn bằng cái nghề này đây!
Thật không ngờ.
IV.
Thời gian lặng lẽ trôi đi.
Sài Gòn đã ăn cái Tết thứ ba sau ngày giải phóng.
Diễm Hương đã sinh con đầu lòng. Hoàng đặt tên con
gái là Lê Minh.
Lê Minh đã hơn một tuổi, nó trở thành niềm vui lớn
trong gia đình giáo sư Lê Vỹ.
Suốt ngày bé Minh quấn quít bên mẹ, bên bà, ăn no
xong, nó lại lăn ra ngủ trên chiếc võng sợi dây dù bắc qua giường ngủ của mẹ.
Hoàng dạy con nói. Hương dạy con múa hát.
Buổi chiều thứ năm, Hương nhận được phong thư, ngoài
bì đề tên người gửi: Phi Nga - Pleiku. Lâu lắm rồi không có tin tức gì của Nga,
cô gái cùng chung số phận với Hương trước ngày Pleiku được giải phóng.
Nga kém Hương hai tuổi, khá đẹp, có thể xếp hàng thứ
hai, thứ ba sau Diễm Hương ở câu lạc bộ Phượng Hoàng. Khi có lệnh “tùy nghi di
tản”, Hương nghe tin Nga chạy về Sài Gòn, sau đó bặt tin. Có người nói là Nga
đã di tản sang Thái Lan, có người nói Nga đã lấy chồng sĩ quan ngụy giải ngũ ở
Cà Mau. Chưa có nguồn tin nào chính thức. Hôm nay, Nga gửi thư này, chắc là có
tin chính thức, Hương bóc thư xem:
“Chị Hương quý mến! Thư này đến với chị thật
bất ngờ phải không chị. Đứa em xấu số của chỉ sau mấy năm lưu lạc, nay lại trở
về Sài Gòn. Nó muốn đến thăm chị và anh Hoàng cùng bé Minh vào sáng chủ nhật
này đây. Chị chuẩn bị đón em nhé. Em sẽ kể chị nghe nhiều chuyện vui buồn những
năm xa cách.
Em chị
Nga”
- Thế này là thế nào? - Hương tự hỏi - Tại sao Nga
đã về Sài Gòn mà không đến thẳng đây, lại còn phải biên thư? Hay là nó sợ mình
quên nó? Cái con bé tinh nghịch hầu như không biết buồn là gì ấy, nay lại quá
cẩn thận thế này sao?
Hương đưa bức thư khoe với chồng và hỏi:
- Anh đoán giùm em xem vì sao Nga phải viết thư?
Hoàng ngập ngừng:
- Có thể cô
bé tránh cho mình sự đường đột và buộc mình phải chuẩn bị đón cô ấy thật long
trọng, thật nồng nhiệt chăng? Tốt nhất là ta cứ đợi đến chủ nhật xem sao?
Hương hồi hộp đợi.
Đúng 9 giờ sáng chủ nhật, Nga đã đi xích lô đến như
lời hẹn trong thư.
Nga mặc quần bò, áo phông kẻ sọc màu hồng nhạt, dáng
đi thật khỏe khoắn.
Hương đã đón bạn từ ngoài cửa. Cô giới thiệu Nga với
mẹ chồng:
- Đây là em Nga, bạn cũ của con ở Pleiku mới vê
chơi!
Hoàng cũng chạy từ trên lầu xuống và được Hương giới
thiệu ngay với Nga:
- Giới thiệu với Nga: ông xã của chị!
Và giới thiệu Nga với Hoàng:
- Đây là Nga, bạn em kém em hai tuổi, trước đã cùng
ở Pleiku.
Nga và Hoàng cùng cúi đầu chào nhau. Nga chìa tay,
Hoàng siết chặt tay cô bạn nhỏ:
- Rất hân hạnh. Mời Nga lên lầu!
Khi ba người đã ngồi trong phòng khách, Hương nói:
- Chị nhận được thư em vài hôm trước đây và sẵn sàng
đón em. Trời! Em khỏe khoắn và vẫn đẹp như xưa!
Nga rất tự nhiên:
- Em già đi phải không chị? Em vất vả hơn chị nhiều.
Lúc tùy nghi di tản em chạy về Bạc Liêu, sau em gặp cái Huệ, cái Thanh, chúng
nó cũng chạy tán loạn. Sau đó nó kể cho em nghe chuyện anh Hoàng vượt ngục
Pleiku chạy về nhà chị, gặp thằng đại úy Hàm đến tống tiền, anh đã bắn nó bị
thương, nó bỏ chạy. Khi Sài Gòn giải phóng, chị và bé Ly về thăm anh Hoàng và
hai bác. Sau đó anh chị yêu nhau và được phép làm lễ cưới, nay đã có một bé
Minh.
Hương mỉm cười:
- Thế là em biết khá đầy đủ về chị. Khi anh chị làm
lễ cưới, sao em không đến mừng?
- Dạ, lúc ấy em lại ở xa Sài Gòn!
- Còn bây giờ?
- Em mới trở lại Sài Gòn và xin nói ngay để chị
biết: em chưa hề yêu ai, cũng chưa hề được ai yêu nữa nên em còn sống đơn côi.
Hương nhìn xoáy vào đôi mắt Nga.
- Khỏi lo! Chị sẽ làm mai cho em một anh chàng sinh
viên.
Hoàng cũng phụ họa với Hương:
- Nhiều anh còn là “lính phòng không” kia. Nga ở
đây, anh xin giúp một tay!
Câu chuyện hàn huyên mỗi lúc một vui hơn. Rồi để hai
chị em gái tâm sự được tự nhiên, thoải mái hơn, Hoàng đã lên lầu hai để chuẩn
bị mời hai chị em đi dạo.
Còn lại một mình với Nga, Diễm Hương mới hỏi:
- Thế nào?
Bấy nay em làm ăn ra sao? Làm được những gì? Chị thì bước vào cuộc đời làm mẹ
rồi. Gia đình anh Hoàng như thế này đây. Chị cố gắng ăn ở để đẹp lòng ba má anh
Hoàng. Anh Hoàng thương chị thật lòng, có thể nói là hết mình đó. Em nói
đi! Em có cảm tưởng như thế nào?
Một nét buồn thoáng hiện trên khuôn mặt Nga:
- Chị ạ. Chị vui bao nhiêu thì em lại buồn bấy
nhiêu. Hồi còn ở Pleiku, chị thân em nhất, cho nên em vẫn hỏi thăm về chị, dõi
theo bước đi của chị và em thấy chị thật hạnh phúc. Em quyết định về đây.
Nga càng nói càng buồn, làm cho Hương càng thêm
thương bạn:
- Bây giờ em đang ở nhà ai ở đây? Em làm gì và sẽ
làm gì?
- Buồn lắm, chị ơi! Khi chạy tán loạn về miền Tây,
em không còn gì trong tay. Mấy ngàn bạc ngụy tiêu hết rồi, em bơ vơ quá, lánh ở
nhà bà con, em bỏ về Sài Gòn vào đầu tháng 6 năm 1975. Em đi hoang với mấy đứa
bụi đời. Em bị bắt vào một buổi tối ở công viên Tao Đàn và công an đưa em về
trại “phục hồi nhân phẩm”. Sau gần một năm được học tập cải tạo, được học nghề
may, em tu chí, ân hận và quyết tâm trở về cuộc sống lương thiện, em được mấy
chú công an trả lại tự do cùng với một cô bạn cùng cảnh ngộ ở Xóm Chiếu - Bàn
Cờ. Em và nó - cái Xuân - biết nghề may mà chưa tìm được việc làm. Đang ăn bám
gia đình một người bà con buôn bán vặt. Em tìm đến chị hôm nay để bộc bạch hết
với chị và em cũng thú thật với chị, em chắc chị thương em chớ không khinh em,
em cứ nói, còn thì tùy chị... Nga ngập ngừng rút khăn lau nước mắt.
Hương cảm thấy xót xa :
- Em khổ quá! Sao lại cùng quẫn đến thế này?
- Em và cái Xuân ở với dì Ba, cần có một chút vốn để
đi buôn bán bánh xèo với dì ở chợ. Em xin chị hoặc chị cho em vay chút tiền làm
vốn buôn, sau này em sẽ trả chị. Chị giữ kín cho em, đừng nó gì với anh Hoàng.
Anh ấy cười cho!
Hương lắc đầu:
- Không, chị sẽ không nói với bất cứ ai. Chị giúp em
hôm nay, chị cho em mười ngàn tiền mới đổi đây. Em cố gắng tu chí làm ăn rồi có
ai thương yêu thì lấy chồng đi. Con gái ở một mình, sống độc thân tuy được tự
do song cũng khổ lắm đó. Lấy chồng tuy vất vả, song lại có người an ủi mình.
Chồng em phải là người hiểu biết rộng rãi, độ lượng. Nếu không tìm được một
người như vậy thì thôi!
Hương bỏ mười ngàn vào túi cho Nga, vừa lúc Hoàng từ
lầu hai xuống lầu một vào phòng khách, quần áo chỉnh tề:
- Nào, xin mời Nga và Hương qua tiệm kem ly . Hôm
nay, anh chiêu đãi.
Nga chưa kịp trả lời Hoàng thì Hương đã kéo tay bạn:
- Nga đi với chồng chị. Anh Hoàng chiêu đãi, chị em
mình cứ đi!
Nga “dạ” một tiếng rồi đứng lên theo Hoàng và Hương
xuống thang lầu.
Ba người đi xuôi về phía nhà thờ Đức Bà và rẽ vào
quán cà phê Hồng Vân. Hoàng gọi ba ly kem.
- Nào xin mời Nga và Hương, bây giờ ung dung ngồi
giữa Sài Gòn mới để nhớ lại Pleiku những ngày loạn lạc.
Nga vui vẻ nói với Hoàng:
- Chắc chẳng bao giờ còn tái diễn cảnh ấy nữa đâu
phải không anh?
Hoàng chưa kịp trả lời thì một gã đàn ông lừng lững
bước tới bàn ba người, gã lễ phép nói:
- Xin chào!
Tôi xin phép anh Hoàng, cô Hương, cô Nga được ngồi hầu tiếp, mặc dù tôi là
khách không được mời.
Cả ba người đều giật mình: gã đàn ông đó chính là
tên đại úy Hàm. Hoàng nghiêm nét mặt:
- Ông Hàm! Chúng tôi tưởng ông đã đi rồi!
Gã ngồi xuống ghế và nói tiếp:
- Dạ... Tôi muốn đi lắm, song có lẽ số kiếp tôi còn
nặng nợ với mảnh đất này, nên cả hai lần đi đều bị lộ, phải hoãn lại. Thôi thì
ở lại ít ngày nữa có sao! Hôm nay tình cờ tôi ghé vô đây, lại gặp những con
người cũ của Pleiku ngày hôm qua. Thôi thì lúc đó tôi là một kẻ lầm lỗi, một kẻ
điên rồ. Bây giờ hòa hợp dân tộc rồi, chúng ta lại gặp nhau đây, cũng vì quả
đất tròn.
Hoàng đưa mắt cho Hương và Nga, ngầm bảo: “Hãy yên
lặng, xem tên ác ôn này muốn trở ngón gì?". Hương và Nga chờ đợi. Hoàng
nói tiếp:
- Ông Hàm tinh thật đấy! Ông đã nói vậy, tôi sẵn
sàng thông cảm và xin mời ông một ly cà phê, mời ông hút điếu thuốc cho vui!
Hoàng gọi một ly cà phê đen và chia gói thuốc lá mời
tên Hàm. Gã rút một điếu:
- Xin cám ơn anh Hoàng!
- Có gì đâu mà.
Gã đàn ông thở phào một khói thuốc:
- Rất may là hôm đó viên đạn giận dữ của anh bắn vào
chân tôi, lại chỉ trúng phần mềm nên tôi đã qua khỏi, không thành thương phế
binh, cho nên dù sao tôi vẫn phải cám ơn anh nhiều.
Hoàng cười, cố làm ra vẻ độ lượng:
- Ông vẫn
chuẩn bị ra đi chứ?
Cô phục vụ mang cà phê ra, gã đón ly cà phê.
- Cám ơn!
Gã nhắp một chút cà phê nóng rồi lại nói tiếp:
- Xin anh và hai cô hiểu cho tôi: chiến tranh đã
chấm dứt ở đây, song người ta thì giàu sang, tôi thì hai bàn tay trắng. Cách mạng
tha tội treo cổ đã là may. Nay tôi phải kiếm sống. Ở đây thì ai nuôi? Tôi phải
qua bên đó kiếm ăn, họa may mới có thể sống được qua ngày.
Hoàng nhấn mạnh thêm:
- Hôm trước, gặp ông ở quán cà phê cóc, tôi có nặng
lời, nay thì ta bỏ qua cho nhau chứ?
- Cho qua! Cho qua! Hôm nay tôi cũng không xin anh
đồng nào đâu!
Gã quay sang phía Hương và Nga:
- Hai cô
thông cảm, địa chỉ tạm trú của tôi là ở Tân Bình, nếu anh Hoàng và hai cô không
chê tôi nghèo, bữa nào rảnh xin ghé qua nhà tôi theo địa chỉ người bà con này!
Hắn rút một tờ danh thiếp có ghi tên.
Huỳnh
Văn Đức
Tổ
hợp Sao Mai - Tân Bình
Tên Hàm uống cạn ly cà phê rồi đứng dậy:
- Tôi xin phép được tạm biệt. Rất hân hạnh được đón
tiếp anh Hoàng và hai cô tại Tân Bình!
Hắn cúi đầu chào ba người rồi bước nhanh ra cửa, hắn
vẫy một xe xích lô:
- Cho tôi ra cảng Bạch Đằng!
Hoàng nhìn theo tên Hàm rồi quay lại nói với Hương
và Nga:
- Tên này vẫn bám theo anh. Nó kiếm câu chuyện làm
quà, có thể đằng sau những lời lẽ ôn hòa này còn có những điều mờ ám. Ta hãy
chờ xem!
Hương nói với
Nga:
- Em thấy không? Mình muốn sống yên ổn mà nào đã
được yên?
Nga nói chậm rãi:
- Em ghê tởm nó quá! Em định nói bốp chát cho nó
nghe mấy câu, song em nhìn thấy anh Hoàng đưa mắt cho em, em lại thôi, để một
mình anh Hoàng đối đáp với nó.
Hoàng bỏ tấm danh thiếp có tên “Huỳnh Văn Đức” vào
túi rồi lại tiếp tục ăn kem.
Mười lăm phút sau, ba người rời quán kem Hồng Vân,
đi ngược lên Nhà Văn hóa thanh niên, nơi đang có biểu diễn ca nhạc trên sân
khấu ngoài trời.
***
Nga và Xuân ở với dì Ba thấm thoắt đã được một
tháng. Xuân theo dì Ba đi chợ, còn Nga ở lại trông nhà. Số tiền nhỏ của Hương
cho vay làm vốn, Nga đã mua một tủ kính nhỏ bày bán các loại thuốc lá kiếm thêm
được đồng ra, đồng vào.
Sáng nay, vừa dọn hàng ra đã có khách đến mua một
gói Samit. Người khách lại chính là tên Hàm.
- Chào cô Nga!
- Chào ông Hàm! Ông cũng biết tôi ở đây? Giỏi thật!
Hàm cầm gói thuốc Samit từ tay Nga, làm ra vẻ thân
mật:
- Tôi đi lang thang khắp Sài Gòn, đến đây tình cờ
lại gặp cô Nga. Cô vẫn mạnh giỏi chứ?
- Cám ơn ông,
tôi vẫn bình thường. Ông còn ở Tân Bình không?
Hàm bóc gói thuốc lá, rút một điếu đặt lên môi.
- Chuyển đi nơi khác rồi! Tạm trú mấy hôm, buồn quá
lại đi.
- Bây giờ ông ở đâu?
- Ở khách sạn
Bông Sen, phòng 207. Chiều nay, xin mời cô Nga đến tôi chơi. Rất hân hạnh được
đón cô.
Nga ý tứ hơn:
- Cám ơn ông. Tôi bận bán hàng suốt ngày.
Tên Hàm làm bộ cởi mở hơn:
- Dù sao cũng là bạn cũ ở Pleiku với nhau cả, mong
cô không từ chối.
Nga nhoẻn miệng cười:
- Tôi ít đi một mình với ai.
- Vậy xin mời cả cô Xuân cùng đi. Xin mời hai cô đi
ăn cơm tiệm với tôi.
Nhớ lời Hoàng dặn dò hôm ở quán Hồng Vân, Nga hạ
thấp giọng:
- Năm giờ chiều mời ông cứ tới đây, nếu cô Xuân cùng
đi thì tôi sẽ đi.
Nghe có vẻ xuôi xuôi, tên Hàm càng thân mật hơn:
- Vậy phiền cô chuyển lời mời của tôi đến cô Xuân
nhé!
- Dạ.
Sau tiếng dạ ngọt ngào là nụ cười tươi tắn của Nga.
Tên Hàm ngả đầu chào:
- Xin cám ơn Nga. Đúng 5 giờ chiều tôi sẽ quay lại
đây.
Gã đàn ông dắt chiếc xe máy qua con hẻm ra đường.
Nga nhìn theo, khẽ lắc đầu.
V.
Tên Hàm ngả ngưòi, nằm duỗi dài trên giường, đệm
trắng. Gã hút từng hơi thuốc dài và nhả khói lên trần nhà, lẩm bẩm.
- Chà! Con nhỏ Nga này xạo quá. Đồng ý đi chơi lại
không đi. Thật là nhõng nhẽo, mất thì giờ nhiều quá!
Gã nhớ lại những ngày “oanh liệt” ở Pleiku, chỉ một
cái vẫy tay, cả lũ con gái đã phải ríu rít chạy theo. Hoặc buổi tối buồn buồn,
tên lính cận vệ được ông chỉ huy gọi vào đã biết ý cấp trên ngay. Nó chạy đi
tìm gái và một lúc sau đã dẫn đến một cô trẻ và đẹp!
Bây giờ thất thế rồi. Nằm khan ở đây, sao mà ngán
ngẩm.
- Chẳng lẽ lại quay về Vĩnh Long hay sao?
Gã lục tìm trong trí nhớ. Và, đột nhiên gã muốn reo
lên:
- A! Suýt nữa thì quên mất bà Mỹ Dung! Phải, phải,
ta nhớ ra rồi! Biệt thự “Bông Mai Vàng” đường Công Lý!
Con đường Công Lý nay đã được đổi tên thành con
đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Trên đường ấy có một địa chỉ của một người đàn bà
nguyên là chủ quán rượu “Hoàng Hôn”. Năm 1965 khi quân Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam,
một sĩ quan tình báo Mỹ đã lọt vào mắt xanh của Mỹ Dung, ông ta có tên là Jim.
Chiều 29 tháng 4 năm 1975, Jim được lệnh rút chạy khỏi Sài Gòn bằng trực thăng.
Mỹ Dung kẹt lại. Năm 1970, có lần Hàm đã được Phạm Văn Phú giới thiệu về gặp Mỹ
Dung để vận chuyển cho mụ này một trăm cân thuốc phiện lậu từ Pleiku về. Mỹ
Dung có vẻ đẹp sắc sảo của một mệnh phụ đầy quyền lực.
Hàm nhổm dậy, rửa mặt, chải đầu, xốc lại quần áo và
ra khỏi căn phòng khách sạn.
Chiếc honđa nổ máy, đưa gã về đường Nam Kỳ Khởi
Nghĩa. Gã nhấn chuông ngoài cổng biệt thự “Bông Mai Vàng”.
Một bà giúp việc cho Mỹ Dung đi ra mở cổng:
- Chào ông! Ông hỏi ai ạ?
- Tôi muốn gặp bà Mỹ Dung!
- Dạ, xin mời ông vào.
Hàm dắt xe vào, lững thững đi qua một cái sân trải
đá cuội. Những viên sỏi lạo xạo dưới chân gã.
Gã theo bà giúp việc vào phòng khách.
Mỹ Dung từ trên lầu xuống, uyển chuyển trong bộ đồ
màu vàng nhạt, có vẻ ngỡ ngàng:
- Chào ông, xin lỗi ông, có phải ông là đại úy Hàm?
- Dạ, phải! Bà chưa quên tôi.
- Xin mời ông ngồi!
Hàm đã ngồi đối mặt với Mỹ Dung, gã cười:
- Mong bà tha thứ cho sự đường đột của tôi hôm nay.
- Dạ, không có gì! Tôi rất hân hạnh được gặp lại
ông. Khi ông Phú tự vẫn chết, tôi có nghe tin. Tôi hỏi thăm một vài người từ
Pleiku chạy về, họ nói ông đại úy có chạy về đây, chưa rõ địa chỉ của ông, nay
ông lại đến, thật là may mắn cho tôi.
Hàm khen Mỹ Dung:
- Trí nhớ của bà tốt quá!
- Ông khen tôi quá lời. Năm 1970, ông đã cố gắng đưa
giúp tôi chuyển hàng từ Pleiku về. Tôi phải nói thật với ông là nhờ có chuyến
ấy mà tôi và ông Jim mới có tiền mua cái biệt thự này. Ông chắc chưa quên tiệc
rượu của ông Jim thết ông ở Đại Tửu Lầu Phong Lan?
- Dạ, tôi còn nhớ!
- Ấy vậy mà cũng đã mười năm rồi! Nay thì ông Jim về
Mỹ rồi. Hôm qua tôi có người bà con di tản qua Mỹ biên thư về đây cho tôi báo
tin ông Jim vẫn làm cho Cục tình báo.
- Dạ.
Bà già giúp việc bưng khay nước ra đặt lên bàn. Mỹ
Dung mời :
- Xin mời ông đại úy uống nước, hút thuốc đi rồi ta
nói chuyện. Ồ, rất may cho tôi! Cơn gió nào đã đưa ông tới đây hôm nay?
Nghe câu nói kiểu cách của Mỹ Dung, Hàm thấy vui hẳn
lên:
- Tôi đang bế tắc ở khách sạn thì chợt nhớ ra địa
chỉ của bà và đến đây ngay.
- Cám ơn ông đại úy! Cảm phiền ông một chút xíu, nếu
không có gì e ngại thì ông có thể cho tôi biết thời gian qua ông đã làm được
những gì, có định di tản, vượt biên một chuyến không?
- Dạ, sau khi ra trình diện chánh quyền ở Vĩnh Long,
tôi về quê sống ẩn dật như một thường dân. Gần đây có làm một phi vụ tổ chức
cho vài người di tản bằng cách gửi họ xuống một chiếc tàu ngoại quốc ở cảng Sài
Gòn, cũng kiếm được vài cây vàng, đủ tiền tiêu vặt. Hiện nay tôi chưa biết tính
sao, nên đi hay nên ở. Đi thì dễ ở mới khó, vì tình hình kinh tế ngày một khó
khăn, vật giá leo thang. Vợ con ở dưới quê làm ruộng, sẽ phải vô tập đoàn sản
xuất, chắc sẽ sống không nổi. Hôm nay, tôi đến đây, xin bà một lời khuyên bảo.
Mỹ Dung cười để lộ hàm răng rất đều:
- Ông đại úy nói vậy thôi. Tôi mới chính là người
đang cần xin ông một lời khuyên nên đi hay ở và sống như thế nào đây?
Hàm nhìn đăm đăm vào khuôn mặt người đàn bà đã có
một thời lừng danh ở các vũ trường Sài Gòn và nói chầm chậm:
- Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau, tôi xin mạn
phép trao đổi như thế này: bà nên ở lại để chờ một sự bảo lãnh của ông Jim qua
tổ chức HCR, vì đi bây giờ cũng bấp bênh, nếu không gặp hải tặc thì cũng bão
gió, biết thế nào mà lường trước được? Đi với một tàu ngoại quốc thì cũng là
liều mạng. Còn tôi, tôi chưa đi vì sang Mỹ mà lại tự khai là “đại úy của tướng
Phú” thì người ta nhổ vào mặt cho mình, vì ai cũng bảo rằng Phạm Văn Phú là kẻ
hèn nhát, để vỡ phòng tuyến Tây Nguyên, nên mới mất ráo cả Sài Gòn! Ông Phú bị
ông Thiệu “xà lù” vứt vào sọt rác nên mới bơ vơ ở Sài Gòn, nhục nhã quá, lại lo
cách mạng về hỏi tội nên mới phải chọn lấy cái chết ê chề. Tôi thú thật với bà,
tôi thoát chết về Sài Gòn với hai bàn tay trắng, đang gom vốn để nếu có ra đi
lén lút thì tôi sẽ đi Úc cho đỡ bẽ cái mặt, chứ sang Mỹ làm gì!
Mỹ Dung cười thành tiếng:
- Vui thật đấy! Tôi tán thành ý kiến của ông đại úy.
Sức dài, vai rộng như ông mà lại chịu bó tay hay sao? Còn tôi chẳng giấu giếm
gì ai? Tôi đã trình với chính quyền ở đây rằng: tôi là Nguyễn Thị Mỹ Dung, vợ
sĩ quan Pháp trước đây, đã bỏ chồng Pháp và lấy chồng sĩ quan Mỹ, có một con
gái lai Mỹ tên là Mỹ Ngọc, 10 tuổi, gia tài ông Jim để lại có cái biệt thự này
và mấy chục cây vàng. Sau này có đói thì bán nhà đi mà ăn. Chính phủ có tịch
thu nhà thì xin nộp luôn và sẽ xin một căn hộ ở một chung cư nào đó! Sau này
nếu ông Jim bảo lãnh cho đi thì đi. Hoặc là tôi sẽ ở lại đây mãi mãi vì sang
Mỹ, làm sao tôi mua được biệt thự dù nhỏ như biệt thự này? Ở cao ốc, nhà chọc
trời, tôi không khoái lắm đâu! Nếu ra nước ngoài thì tôi chọn miền Nam nước
Pháp! Vì thế, đi hay ở còn chưa dứt khoát đâu, ông cứ góp ý thêm.
Hàm đặt ly nước, nói tiếp:
- Bà nên chờ tổ chức HCR thì hơn là đi mạo hiểm!
- Còn ông?
- Còn tôi ư? Như tôi vừa nói với bà. Tôi đang bơ vơ,
lại quá nghèo, tôi định tổ chức cho một gia đình giáo sư ra đi để họ cho tôi
tiền và ra nước ngoài tôi còn có thể được trọng thưởng.
- Giáo sư nào vậy?
- Giáo sư Lê Vỹ, chắc bà đã biết tiếng ông này?
- Ông ta có một tiệm buôn đồ cổ ở đường Tự Do phải
không? Ông ta cũng định đi ư?
- Sẽ đi cả thôi, kinh tế khó khăn, lấy gì mà sống?
Mỹ Dung nhìn rõ những nét đăm chiêu trên mặt người
đàn ông đã từng là người thân tín của tướng Phú, nay đang sa cơ, lỡ bước, nên
ái ngại:
- Ông đại úy! Đó là công việc của ông. Dù sao hoàn
cảnh của tôi vẫn còn dễ chịu hơn ông, vì vậy nếu ông không mặc cảm, tôi xin
giúp ông một số tiền nhỏ, cũng là để tỏ lòng biết ơn của tôi đối với ông.
Hàm ngỡ ngàng:
- Bà còn có lòng giúp tôi?
- Đúng vậy! Ông đang cần có tiền để lo việc riêng,
lẽ nào tôi lại không được chia sẻ với ông một phần khó khăn?
Mỹ Dung không đợi để Hàm phải nói thêm gì nữa, bà ta
đã quay ra cầm chiếc ví da để trên mặt tủ, mở ra, lấy một xấp giấy bạc, toàn
loại tiền một trăm đồng, đặt trước mặt người đàn ông:
- Tôi xin giúp ông một trăm ngàn.
- Dạ. Xin cám ơn bà, sau này, khi tôi làm xong công
việc, ra đến nước ngoài, tôi sẽ xin có dịp hoàn lại cho bà.
Mỹ Dung xua
tay:
- Khỏi lo! Ông đừng băn khoăn về điều đó. Ông khó
khăn cũng như tôi khó khăn. Chúc ông gặp nhiều may mắn!
Hàm đón nhận số tiền bỏ vào cặp da. Gã thực không ngờ
lại có người tốt bụng như Mỹ Dung. Ơn trả, nghĩa đền, gã tự nhủ: có một ngày
nào đó mình sẽ phải trả ơn con người nhân hậu này.
Khi tiễn chân người đàn ông ra cửa, Mỹ Dung vẫn còn
lưu luyến:
- Bất cứ lúc nào, ông đại úy cần tiền, vàng, xin cứ
qua đây, tôi lo giúp cho! Ông nên đến thăm tôi vào các buổi chiều. Buổi sáng
tôi thường phải đi nhiều công chuyện.
- Dạ, xin cám ơn bà.
Chiếc xe
honda lại nổ máy giòn giã, đưa Hàm và quận Tân Bình. Lòng vui như mở hội, gã
suy tính chuyện ngày mai sẽ phải làm gì và đêm nay sẽ là một đêm hoan lạc với
một cô bồ “nhí ở tổ hợp “Sao Mai” của Huỳnh Văn Đức ở Tân Bình.
***
Tổ hợp của Đức chuyên nghề gò, hàn, tiện, nguội, sản
xuất một vài chi tiết của phụ tùng xe máy honda. Đức tập hợp được mấy “chiến
hữu” toàn là lính ngụy rã ngũ tại Sài Gòn, trương cái biển tổ hợp lên để che
mắt thiên hạ và mấy tổ viên của Đức lại luôn chạy mánh ở các tụ điểm chợ trời.
Hàm thường bao cho bọn Đức nhậu nhẹt nên bọn này rất
kính nể “đại úy Hàm”.
Sáng nay, sau giấc ngủ muộn. Hàm tỉnh dậy thì Đức và
bọn đàn em đã đi chợ trời hết. Tắm giặt xong, Hàm ngồi đợi Hoàng và Nga ở phòng
khách. Hôm qua “Nga chiêu đãi viên Pleiku” báo tin cho Hàm biết: hôm nay cô sẽ
đi với Hoàn Yến đến thăm Hàm theo địa chỉ ghi ở tấm danh thiếp mang tên Huỳnh
Văn Đức mà Hàm đã đưa cho Hoàng hôm gặp nhau ở quán kem Hồng Vân.
Hàm suy nghĩ và đoán chừng: “Con Nga lại cặp bồ với
thằng Hoàng đây, chẳng hiểu nó định nhờ vả mình công chuyện gì hay chỉ là đến
thăm xã giao thông thường?"
Hoàng và Nga đã xuất hiện đúng giờ hẹn.
Hàm đón tiếp khách thật niềm nở.
- Xin mời anh, mời cô Nga vào! Ông Huỳnh Đức bạn tôi
bận đi có công chuyện riêng, giao nhà lại cho tôi túc trực tiếp khách hàng thay
ông ta.
Sau khi mời khách uống trà, hút thuốc, Hàm nói ngay:
- Hôm trước tôi có mời cô Nga, cô Xuân đi ăn tiệm
tại khách sạn Bông Sen mà hai cô không tới. Hôm nay rất hân hạnh được tiếp cả
anh Hoàng. Tôi xin nói thật: tôi đang có đường dây di tản bằng xuồng máy, tôi
muốn mời anh Hoàng và hai cô tham gia chuyến vượt biên này. Bây giờ ra đi còn
dễ, để sau này càng khó, vì bộ đội biên phòng tăng cường quản lý bờ biển. Ở lại
thì khó buôn bán, tìm đâu ra việc làm với lý lịch “người của chế độ cũ” như tôi
và anh Hoàng, cô Nga?
Người ta kỳ thị, mặc cảm với mình, người ta từ chối.
Có lẽ anh Hoàng còn nhạy cảm hơn tôi về điều đó. Đi bây giờ chỉ cần góp mỗi
người vài, ba “cây”, ai nghèo quá thì vay tạm nhau, qua bên đó kiếm ăn dễ dàng
rồi sẽ trả cho nhau sau, dễ lắm.
Lê Hoàng nói:
- Ông nói có lý lắm. Song tôi còn cả gánh nặng gia
đình, vợ, con nhỏ và ba má tôi suốt đời chẳng muốn đi đâu xa cách thành phố
này. Làm thế nào mà ra đi được?
Hàm lắc đầu, cười:
- Cứ có quyết tâm đi rồi sẽ có cách! Anh thấy đó,
con nhỏ Lý Ly và thằng Đông còn đi thoát kia mà! Anh có biết ai tổ chức cho nó
đi không?
- Tôi không rõ!
Hàm cười khà khà rồi chỉ tay vào ngực gã:
- Chính tôi đây! Tôi đã bố trí cho hai đứa giả làm dân
bốc vác xuống tàu ngoại quốc, lại chỉ phải góp mỗi người có 7 chỉ vàng! Quá rẻ!
Câu nói của tên Hàm làm cho Lê Hoàng sửng sốt:
- Trời! Chính ông đã giúp cho Lý Ly và thằng Đông ra
đi?
- Đúng vậy! Chắc bà má Bảy đã nói cho anh biết tin
nó đi?
- Nó đi thì tôi và Diễm Hương đều biết, song lại
không biết việc ông giúp đỡ nó. Thật không ngờ!
Tên Hàm làm bộ thản nhiên:
- Còn nhiều bất ngờ nữa! Hôm trước tôi ngỏ ý muốn
anh Hoàng giúp tôi về tài chính, anh chưa giúp được. Hôm nay tôi chạy vạy, lại
có người giúp tôi rồi, anh khỏi lo cho tôi.
Gã muốn nói đến vai trò và “nghĩa cử” của Mỹ Dung,
song gã lại im bặt để giấu kín tung tích của Mỹ Dung ở biệt thự “Bông Mai Vàng”
đường Công Lý (cũ).
Lê Hoàng thấy cần phải nói rõ hơn về phía gia đình
mình sau khi tên Hàm gợi ý:
- Tôi cũng cần phải nói thật để ông biết rằng: việc
đụng độ giữa tôi và ông ở Pleiku, tôi đã nói cả cho ba má tôi biết. Ba má tôi
còn mặc cảm nặng nề với ông, làm sao mà ba má tôi đã tin ông được? Tôi nói như
vậy, ông có giận tôi không?
Hàm xua tay:
- Không giận anh đâu! Ừ nhỉ, tôi làm sao mà thuyết
phục được giáo sư tin tôi là người thực lòng muốn giúp đỡ anh và cả gia đình
anh? Khó đấy, khó thật đấy!
Lê Hoàng nói tiếp:
- Chuyện đó nói với ba má tôi chắc là sẽ không được
chấp nhận. Em Nga thấy thế nào?
Nga cười:
- Theo em, ông đại úy chẳng nên đặt vấn đề ấy. Ta
tha thứ cho nhau, quên chuyện thù hằn cũ đi để sống với nhau như những người
cùng cảnh ngộ là tốt. Còn ra đi hay ở lại là tùy hoàn cảnh và khả năng từng
người. Nói ra mà không có hiệu quả thì chẳng nên nói.
Tên Hàm bị hụt hẫng, cũng cụt hứng luôn. Gã gõ nhịp
ngón tay xuống bàn suy nghĩ rất lâu và im lặng, chưa biết nói tiếp như thế nào
với hai người đang ngồi trước mặt gã. Cho đến khi Lê Hoàng đứng dậy nói:
- Thôi, ta hãy dừng lại ở đây. Tôi mong ông hiểu cho
tôi và cô Nga hãy tạm thời chấp nhận cuộc sống hôm nay đầy rẫy khó khăn. Ngày
mai sẽ đi tới đâu, sẽ ra sao, làm sao mà biết được, phải không Nga?
Nga “dạ” một tiếng rồi cùng đứng dậy với Hoàng.
Nụ cười gượng gạo của tên Hàm lúc chia tay với khách
chứng tỏ gã rất buồn và thất vọng, khác hẳn thái độ hồ hởi lúc ban đầu đón
khách.
Huỳnh Đức về nhà đúng lúc Hàm đang ngồi trầm ngâm
như một kẻ vừa thua một canh bạc lớn. Đoán biết nỗi buồn của bạn, Đức hỏi:
- Thất bại rồi hả?
Hàm ngửng lên:
- Bọn này
nhát như cáy, không dám đi. Đủ thứ sợ, sợ hải tặc, sợ sóng to, gió lớn, rồi lại
sợ bị dân quân và công an phát hiện.
Huỳnh Đức mở tủ lạnh, lấy ra một chai rượu mạnh:
- Uống đi,
mỗi đứa một ly thôi, đủ hăng hái thôi, đừng có say té xỉu thì hỏng hết đại sự!
Tôi sẽ nói ông nghe một phi vụ mới sắp mở ra. Tôi và ông sẽ làm nên chuyện!
Hàm nghe nói đến “phi vụ mới”, lập tức ngửng lên,
đôi mắt sáng long lanh, gã hỏi:
- Ông nói gì vậy?
Đức rót cho
mỗi người một ly rượu, đẩy về phía Hàm một ly
- Uống đi, rồi bàn tính chuyện làm ăn: tôi và ông
đều đã có chút vốn. Tôi chọn trong đám người muốn đi di tản được một mụ có
chồng đại tá ngụy đang ở Mỹ. Chờ mãi mà không có giấy bảo lãnh của chồng, mụ ấy
quyết tâm mang hai đứa con tám, chín tuổi ra đi. Các phương án từ đây đến mũi
Cà mau, mụ ấy đều chê là bấp bênh, không bảo đảm. Mụ muốn ra Phan Thiết, nhập
bọn với những dân đánh cá ngoài đó, dùng thuyền đánh cá chở ra khơi, đến hải phận
quốc tế, gặp tàu nào vẫy tàu ấy, thế là chắc ăn nhất! Chỉ cần cho chủ thuyền
một vài cây là xong hết!
Hàm hỏi vặn lại:
- Nếu mụ đã biết rõ như thế, sao còn phải nhờ đến
ta?
- Đàn bà chân yếu, tay mềm, muốn có ta đi cho mạnh
cánh.
- Mụ chịu chỉ mấy cây?
- Mụ có hai chục cây, xin bao hết mọi phí tổn cho
tôi và anh. Sang đến bên ấy, gặp được chồng, mụ còn thưởng nữa.
- Ai giới thiệu mụ ấy với anh?
- Bà vợ Năm Thắng, cái ông Năm Thắng tử thủ ở Xuân
Lộc với Nguyễn Văn Toàn rồi chết luôn ở đó vì Việt cộng pháo kích đúng hầm của
ông ta. Bà Năm Thắng đành kẹt lại. Bà ấy già rồi, không muốn đi nữa, lại rất
ủng hộ việc ra đi của mụ vợ đại tá.
- Mụ ta tên gì?
- Tên là Hoàng Thị Oanh, thường gọi là Hoàng Oanh.
Chồng mụ là đại tá Võ Văn Sự.
Hàm vẫn chưa hết thắc mắc:
- Trong số 20 cây, mụ Hoàng Oanh sẽ chi cho ông với
tôi bao nhiêu?
Đức đặt mạnh ly xuống bàn sau khi đã uống cạn:
- Bà Hoàng Oanh rất xả láng, lại sòng phẳng nữa. Vì
có bà Năm Thắng nên bà ấy mới tin tôi và ông. Bà ấy nói: đến Phan Thiết, xuống
thuyền, tôi sẽ đưa cho mỗi ông 5 cây, tôi chỉ giữ lại 10 cây thôi, sẽ chi cho
lái thuyền 2 cây. Ba mẹ con tôi chỉ giữ lại 8 cây là đủ. May mắn như thế, còn chờ
gì nữa mà ta lại không chấp nhận?
Hàm vỗ mạnh vào vai Huỳnh Đức:
- Trong chuyến đi này, tôi xin nhường anh làm tư
lệnh. Tôi chỉ xin đóng vai yểm trợ. Tôi đã có dao, có súng ngắn, anh khỏi lo.
Còn căn nhà này và lũ đàn em thì sao?
- Chuyến đi này chỉ có tôi và anh biết. Tôi để căn
nhà này lại cho ba thằng đệ tử, nói dối chúng nó là ra chơi Nha Trang một tuần.
Khi đi thoát rồi, tôi sẽ biên thư về cho chúng nó biết. Được cái tôi còn sống
độc thân nên ra đi quá nhẹ nhàng, chẳng có vợ con nào túm áo đàng sau. Anh cần
chuẩn bị gì nữa không?
- Tôi sẽ nhắn về cho vợ con yên chí ở quê Cửu Long
và phải đến từ biệt bà Mỹ Dung ở biệt thự “Bông Mai Vàng”.
- Được rồi,
tôi sẽ bàn với bà Hoàng Oanh để ấn định ngày ra đi, địa điểm xuất phát, chuẩn
bị lương khô, nước uống, thuốc men, xăng nhớt cho xuống gắn máy.
- Ô kê!
***
Buổi chiều, Hàm quay trở lại gặp Mỹ Dung ở biệt thự
Bông Mai Vàng để từ biệt Dung trước ngày ra đi. Mỹ Dung rất vồn vã:
- Ông làm nên
công chuyện gì chưa?
Hàm đã kể lại toàn bộ cuộc gặp Lê Hoàng và Nga ở nhà
Huỳnh Đức, việc thu xếp cho gia đình giáo sư Lê Vỹ ra đi đã thất bại, rồi đến
việc Huỳnh Đức nhận lời đưa Hoàng Oanh cùng Hàm trốn đi qua đường Phan thiết.
Mỹ Dung nghe xong, lắc đầu:
- Tôi xin góp ý với ông: nên để gia đình bà Hoàng
Oanh ở lại đi chuyến sau, mà nên đưa gia đình ông Lê Vỹ đi trước thì vẫn hơn.
Nếu ông đưa được giáo sư Lê Vỹ và vợ con ông ta đi chuyến này thì riêng tôi còn
biếu thêm ông 20 cây vàng nữa!
Câu nói của Mỹ Dung làm cho Hàm kinh ngạc, hắn hỏi
lại:
- Dạ, bà lại còn thưởng thêm cho tôi?
Mỹ Dung cười thật tươi:
- Hôm trước tôi chưa nói hết với ông, hôm nay tôi
chẳng cần phải giấu giếm ông làm gì! Tôi vẫn còn phải làm nhiệm vụ của ông Jim,
chồng tôi để lại: luôn luôn khuyến khích người ra đi, đó là việc của chiến
tranh tâm lý mà người ta thường làm. Một nhà trí thức danh tiếng như giáo sư Lê
Vỹ ra đi thì sẽ tác động đến tâm lý của nhiều người khác. Ông nên cố gắng và
giữ kín việc này cho tôi.
Dù chậm hiểu, đến lúc này Hàm cũng hiểu được rằng
người đàn bà ở biệt thự “Bông Mai Vàng” này đã là người như thế nào. Dưới
trướng của bà ta, đâu phải chỉ có một mình ta là vệ tinh? Tự nhiên, Hàm thấy
kính nể Mỹ Dung hơn, gã tự thấy mình bé nhỏ hẳn đi trước uy quyền và nhan sắc
của người đàn bà, gã nói:
- Dạ, thưa bà, ý kiến của bà thật là xác đảng. Tôi
sẽ cố gắng và bàn lại chương trình hành động với Huỳnh Đức. Tôi sẽ không đi hẳn
đâu. Chỉ khi nào thấy bức bách lắm, nghĩa là bị bại lộ, bị săn đuổi thì lúc ấy
mới nên đi. Bây giờ, còn giữ được bí mật thì ra đi làm gì?
Hắn không dám nói hết ý nghĩ đen tối của mình “mỗi
phi vụ có thể kiếm ăn được đôi ba cây vàng, quả nào đậm thì 5 - 10 cây vàng,
đừng có vội đi mà dại!”.
Cảm thấy con mồi đã cắn phải câu, Mỹ Dung nhấn thêm
một bước nữa:
- Từ hôm nay, tôi coi ông là một người thân tín, một
đầu mối đáng tin cậy của tôi. Còn nhiều việc tôi sẽ bàn bạc tay đôi với ông.
Tôi chỉ có một yêu cầu là ông phải tuyệt đối trung thành và tuyệt đối bí mật.
Chao đảo và để lộ thì sẽ rất nguy hiểm đến tính mệnh của ông và của tôi. Cách
làm việc của tôi là hạn chế các lần gặp gỡ và mệnh lệnh chỉ truyền miệng, không
ghi chép, không sao chụp chỉ cả! Ông hiểu ý tôi chứ?
- Dạ tôi đã hiểu và xin chấp nhận ý kiến của bà để
bàn lại với Huỳnh Đức và sẽ trở lại mục tiêu gia đình giáo sư Lê Vỹ!
VI.
Diễm Hương rất vui khi được đón tiếp cô Chín về
thăm. Cô Chín với chiếc mũ tai bèo của quân giải phóng năm xưa ở Pleiku nay lại
gọn gàng trong bộ âu phục màu trắng của cô gái Sài Gòn.
- Chị lấy chồng Sài Gòn đi, em làm mai cho.
Nghe câu nói vui của Hương, cô Chín chỉ cười:
- Ai cũng chê chị khô khan. Có lẽ phải lấy chồng bộ
đội, công an mất thôi.
Qua một đêm tâm sự với Chín, Diễm Hương càng thấy
tình cảm chị em gắn bó. Chín quan tâm đến từng niềm vui, nỗi buồn của Hương và
Hoàng.
Chín nói với Hương:
- Chị được chuyển sang ngành an ninh từ hơn một năm
nay rồi. Chuyến công tác về Sài Gòn lần này của chị là để truy tìm dấu vết của
tên Hàm, đại úy ác ôn đã bị Lê Hoàng bắn cảnh cáo năm xưa ở Pleiku. Gần đây, nó
còn dính líu vào vụ tổ chức đưa Lý Ly và cậu Đông vượt biên, chị mới biết là nó
còn lẩn quất ở Sài Gòn. Sáu Hằng là người dẫn đường trong đường dây của tên Hàm
đã khai báo với công an về vụ này. Vợ chồng em lại cho biết nó đã xuất hiện ở
đây để lung lạc ba má em, rồi lại gặp các em mấy lần, lúc thì xin tiền để vượt
biên, lúc lại rủ về các em đi cùng với nó. Bà con ở Vĩnh Long cho biết tên Hàm
trốn tránh học tập cải tạo nên không ra trình diện chính quyền cách mạng, sống
bất hợp pháp ở các tỉnh miền Tây và ở Sài Gòn. Công an đã ra lệnh truy nã tên
này. Chị về đây cũng vì việc đó.
- Vậy, chị khuyên chúng em nên có thái độ như thế
nào bây giờ.
- Không hoang mang, sợ hãi mà phải cương quyết chặn
đứng âm mưu độc ác của nó.
- Nhưng nó lại biệt tăm từ hai tháng nay rồi. Có thể
nó di tản rồi chị ạ.
- Chị sẽ nói với ba má em và chồng em giúp chị và
các chú an ninh tìm ra dấu vết của nó.
Diễm Hương băn khoăn:
- Chồng em thì nửa ngày đi học, nửa ngày ở nhà làm
bài tập. Ba em cũng vậy, sáng đi dạy học, chiều về đọc sách và tiếp bạn bè. Má
em lo bán hàng, bây giờ quầy hàng thu nhỏ lại vì nghe bà con nói càng phô
trương thì thuế vụ càng tăng mức thuế, má em sợ. Còn em lo cơm nước và bế cháu
Minh là hết ngày rồi, làm sao giúp chị được?
Nghe Hương nói, cô Chín suy nghĩ một hồi lâu rồi mới
nói:
- Hương ạ, lần này về Sài Gòn vào thăm em, chị rất mừng là em và Hoàng sống rất hạnh phúc, mặc dù hoàn cảnh kinh tế ở Sài Gòn còn đang có nhiều khó khăn. Công việc của chị do đó cũng còn lắm nỗi gian nan, không thể giải quyết chóng vánh một sớm, một chiều được. Có nhiều điều chị chưa thể nói hết với em được. Chị còn ở lại thành phố một thời gian dài hơn nữa và sẽ còn ghé lại đây với vợ chồng em. Khi nào chị cần sự giúp đỡ của em, chị sẽ đặt yêu cầu cụ thể. Chiều nay chị phải về công an thành phố, nghe em!
Buổi chiều, cô Chín đi rồi, Diễm Hương thấy bâng
khuâng, lưu luyến như ngày nào ở Pleiku, Hương phải tạm xa cô chiến sĩ giải
phóng đội mũ tại bèo.
***
Nguyễn Quang Vinh tìm đến nhà Lê Hoàng một buổi
chiều thứ bảy, Vinh đã gặp cả Hương và Hoàng đang ngồi xem tivi.
Vinh nói thật sôi nổi:
- Hạnh phúc quá nhỉ! Cứ quấn quít bên nhau như thế
thì còn biết bên ngoài cuộc sống ra sao nữa? Vui, rất vui mà sao “ông bà” không
chịu ra đường? À, phải rồi, “ông bà” còn biết gì đến ai nữa?
Lê Hoàng đã ôm chầm lấy Vinh và giới thiệu luôn với
Hương:
- Đây, giới
thiệu với em: người bạn tù cùng với anh ở Pleiku mà anh thường nhắc lại với em
đó! Anh Vinh có tiếng là “vui suốt 24 giờ trên 24 giờ”.
Hương cúi đầu chào và bắt tay Vinh.
- Em chào anh Vinh! Xin mời anh ngồi.
Vinh cũng vui không kém:
- Rất hân hạnh được gặp chị Hương! Ngày cưới của các
bạn, thằng Vinh lại đi xa Sài Gòn nên không được dự. Khi về thì các bạn đã cưới
rồi. Nhanh quá, hôm nay các bạn đã có một công dân 2 tuổi! May sao, nó sẽ không
bao giờ phải vào “lính cộng hòa” như cha nó và chú nó hồi đầu năm 75!
Vinh đã mang đến căn phòng của đôi vợ chồng trẻ
không khí ồn ào, làm cho Lê Hoàng cũng vui lây. Anh nói với vợ:
- Em ở nhà lo bữa ăn tối cho ba má. Anh đi chơi với
anh Vinh một lúc nhé!
- Anh cứ đi.
Diễm Hương tiễn bạn và chồng ra cửa.
Hoàng ngồi sau xe máy của Vinh, Vinh lái xe lượn qua
đường Hàm Nghi lên đường Nguyễn Trãi.
Chiếc xe dừng bánh trước tiệm cà phê Hoàng Hôn, một
tiệm có vườn cây xanh. Vinh và Hoàng tìm được một bàn còn bỏ trống dưới bóng
cây hoàng lan. Vinh gọi hai ly cà phê đen rồi nói với Hoàng:
- “Ông” có hiểu tại sao hôm nay tôi lại tìm đến “ông”
không?
Hoàng cười thân mật và rất quen với lối nói khinh
bạc của Vinh:
- Có hai lẽ, một là “ông” nhớ tôi, hai là “ông” lại
bốc đồng chứ gì!
Vinh cười ngất:
- Ông Hoàng ơi! Đúng và chưa đúng. Nhớ ông thì nhớ
quá rồi và bốc đồng thì có bốc, vì bốc đồng của tôi không phải là chuyện đồng
bóng, mê tín, dị đoan gì cả mà là bốc đồng rất tỉnh táo, rất lý trí nữa kia.
Còn chưa đúng là xin lỗi ông, ông quả là kém thông minh. Ông cứ ở nhà hú hí với
vợ con thì ông chẳng hiểu những gì đang diễn biến ngoài xã hội! Tôi là một
thằng “lính cộng hòa” bị tướng Phú và đại ủy Hàm bỏ tù ở Pleiku cùng với ông.
Tôi với ông lại vượt ngục. Tôi chạy vào rừng rồi nhập vào đoàn người di tản về
Sài Gòn. Ông may mắn hơn tôi, được bà má Bảy che chở cho; ông lại lọt vào mắt
xanh của nàng Diễm Hương xinh đẹp và “chết chìm” trong đôi mắt xanh thăm thẳm
ấy. Bây giờ Diễm Hương lại là vợ hiền, dâu thảo. Tôi rất mừng cho ông. Song ông
có biết không? Ông xin việc ở Ủy ban phường cũng không được, vì người ta biết
ông là “lính cộng hòa”, mặc dù chỉ là lính bị động viên quân dịch đã chạy dài
từ Buôn Mê Thuột đến Pleiku, suýt bị tướng Phú treo cổ! Thế rồi ông lại quay về
đi học. Học để làm gì nhỉ? Chỗ thơm nhất thì ai cho ông ngồi? Ngay cả đồng
lương giáo sư của ông già nhà ông cũng là đồng lương chết đói, nếu không có bà
già buôn bán đồ cổ thì làm sao sống nổi? Mấy ông Vi-xi còn mặc cảm và kỳ thị
lâu lắm, ông nghĩ sao?
Hai ly cà phê nóng được đặt trước hai người, Vinh
rút một điếu thuốc lá thơm:
- Ông uống đi, hút đi rồi tôi nói cho ông nghe.
Hoàng gật gù:
- Ờ ờ... ông nói nghe được đấy. Tôi cảm thấy còn u mê,
và thấp hơn ông một cái đầu!
- Tôi lang thang khắp phố phường nên đầu óc cứ như
cái rada, thu lượm được nhiều thông tin bổ ích. Hoàn cảnh gia đình tôi lại khác
ông, vì ba tôi là đại tá ngụy ra trình diện, rồi đi học tập cải tạo mấy năm
rồi. Má tôi cứ đi thăm nuôi dài dài. Không phải đại tá ngụy nào cũng giàu có.
Ba tôi là đại tá cứng đầu, cứng cổ, hay cãi lại cấp trên, lại không biết buôn
bán ma túy như vợ Nguyễn Cao Kỳ nên cứ nghèo mãi. Từ khi ông ấy đi học tập, má
tôi phải bán dần tiện nghi trong nhà để nuôi mấy anh em tôi ăn bám. Em gái tôi
còn chưa lấy được chồng. Để cứu nguy cho cả gia đình, tôi phải “quyết chí ra
đi” để kiếm việc làm ở nước ngoài, đặng có tiền gửi về giúp đỡ gia đình.
- Ông không sợ hải tặc và bão tố sao?
- Sợ chứ,
nhưng biết làm thế nào? Có nhiều người đã làm mồi cho cá biển, song nhiều người
đã đi thoát và gửi được hàng về. Tôi liều mình ra đi và hy vọng ấp nhiều may
mắn đó. Ông là thằng bạn thân của tôi, ông có dám đưa vợ con đi cùng với tôi
không? Hay là ru rú ở góc nhà để “ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi phai”?
Hoàng bật cười:
- Hay đấy! Ông thật là một nhà hùng biện!
Vinh cười:
- Ông đừng tâng bốc tôi nữa, nghe kỳ quá đi! Tôi hỏi
ông, ông có dám ra đi không? Tôi có đường dây rồi. Một vài cây là đủ. Nếu hậu
hĩ thì khi ra nước ngoài an cư, lạc nghiệp rồi, ta sẽ gửi thêm về “hậu tạ” thì
đường dây họ càng cám ơn mình, không có cũng không sao! Kinh phí ấy thì ông có
thừa, lo gì! Chỉ còn ngại về phần tư tưởng, ông có “quyết” hay không nữa thôi?
Hoàng thở phào một hơi thuốc lá, đôi mắt xa xôi:
- Ông nói có lý! Tôi rất cảm phục ông, song việc này
rất hệ trọng, lại còn cô Diễm Hương nữa, ông để tôi về bàn với cô ấy và suy
nghĩ thêm, sẽ trả lời ông sau nhé!
- “Sẽ” là bao giờ mới được chứ?
- Xin cho tôi một tuần!
- Được! Một tuần là tối đa vì còn phải chuẩn bị. Để
lâu thì thôi đấy!
Uống cà phê xong, Vinh lại đèo xe máy, đưa Hoàng về
tận nhà. Vinh siết chặt tay Hoàng:
- “Nhi nữ thường tình", ông đừng để bà Diễm
Hương níu áo lại đây nhé. Nước mắt dàn bà là dễ sợ lắm đây! Chúc ông thắng lợi
và vượt lên trên tình cảm mềm yếu!
Hai người tạm biệt, chia tay.
Vinh lại lao xe về hướng đường Hàm Nghi và nhấn ga,
tăng tốc độ.
***
Lê Hoàng nhìn đứa con gái ngủ thiêm thiếp trên võng.
Anh hút đến điếu thuốc thứ ba mà chưa tự giải đáp được câu hỏi Diễm Hương đặt
ra:
- Từ khi yêu anh, em chưa bao giờ làm trái ý anh,
song lúc này, anh cho phép em được nói lên nỗi lo sợ của em là: con gái chúng
ta, bé Lê Minh còn non tuổi quá, đi làm sao được. Em không kể đến hải tặc nó có
thể vứt trẻ em xuống biển mà em chỉ kể đến sóng gió thôi. Người lớn còn bị say
sóng, huống chỉ trẻ con? Anh có thể hoãn lại một thời gian nữa được không?
- Hoãn thì lỡ mất cả thời cơ.
Giấc ngủ phẳng phiu của con, đôi mắt lo âu, buồn vời
vợi của vợ làm cho anh thấy nao lòng. Bên cạnh đó lại là lời nói sôi nổi, thái
độ dứt khoát, hy vọng chứa chan của Vinh làm anh day dứt không nguôi.
- Hay là để đứa con nhỏ ở lại với ông bà?
Hương đã nghe anh hỏi và nàng đã trả lời:
- Nếu để con lại thì anh cũng để em ở lại với con
luôn! Em thương con hơn cả chính bản thân em.
- Thế thì chúng ta sẽ không đi đâu hết, mặc Vinh nó
đi một mình nó vậy!
Bài toán khó nhất đời mình, Hoàng vẫn không sao giải
đáp được. Bình thường thì giáo sư Lê Vỹ có thể góp ý kiến cho Hoàng về nhiều
vấn đề khác, song việc ra đi lại là đi lén thì anh đâu dám hé răng. Anh đành ra
ngẩn vào ngơ. Nói chuyện với vợ thì lại gặp ngay những sợi dây tình cảm vô hình
níu kéo anh lại. Anh quyết định tìm đến nhà Vinh. Tên bạn ranh mãnh này vừa
thấy anh, đã cho một câu phủ đầu:
- Chiến bại rồi phải không? Lại nhụt nhuệ khí vì
nước mắt đàn bà, con trẻ rồi chứ gì! Tôi chưa có vợ con, song tôi đã thấy khối
vị đã phải đầu hàng vợ con, nhất là nàng Diễm Hương tuyệt sắc và con búp bê Lê
Minh! Cũng là cái lẽ thường tình mà thôi. Cho nên chỉ có thằng Vinh này là bước
đi cứ tênh. Vì nó chưa có vợ, có con. Ông biết không? Bồ của tôi là cô Nghĩa
“mắt xanh”, hoa khôi của trường Đồng Khánh cũ đấy, nàng yêu tôi, tôi yêu nhưng
chưa dám coi là vợ vì cưới em làm vợ thì tôi còn hai bàn tay trắng, ra đi lập
nghiệp thì nàng khóc, ai mà dứt bỏ cho đành! Hôm qua tôi nói chuyện ra đi, nàng
bảo:
- Nếu hai năm, anh không về hoặc không bảo lãnh cho
em đi công khai thì thôi! Cuộc chia ly này là tại anh chứ không phải tại Nghĩa!
Thôi thì tôi cũng phải “hát câu tạ từ”. Đó, mối tình đầu của tôi đó. Cuộc tình
nào mà không có nước mắt Mai kia ở nơi chân trời, góc bể, có lúc tôi nhớ “Nghĩa
mắt xanh”, ấy là lúc tôi hy vọng nàng sẽ quên tôi để vui cùng duyên mới. Tôi đã
nói với nàng: “Vì hoàn cảnh đất nước còn nghèo, gia đình anh còn nghèo nên anh
phải xa em! Anh thành tâm chúc em hạnh phúc”. Tôi bỗng trở thành một con chim
trời bạt gió! Nhưng oái oăm thay, nàng lại cứ thích cái tính ngang tàng của
tôi. Nàng bảo: em yêu cái “dáng đàn ông” của anh nhiều hơn cái vẻ mềm yếu của
mấy anh đeo đuổi em mà lại cứ hèn hèn thế nào đấy!
Tôi cũng day dứt, cũng khổ đau, nhưng cố vượt lên để
mà ra đi! Hôm nay ông chưa thắng được chính mình thì ông hãy đi chơi với tôi
một buổi cho khuây khỏa nỗi buồn!
Lê Hoàng ngượng ngập:
- Cái gia đình nhỏ nhoi của tôi cũng trở thành gánh
nặng. Tôi chưa hẳn là đã chiến bại đâu. Không chừng tôi sẽ đi một mình với ông
rồi sau này tới đâu hay tới đó. Bây giờ hãy đi chơi với ông một buổi cho vui
rồi sẽ trả lời ông sau, được không?.
- Ô kê!
Vinh xách xe ra đường. Hoàng nhảy lên ngồi phía sau
xe. Chiếc xe Cub lại lao về phía đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.
Vinh dừng xe trước cửa biệt thự “Bông Mai Vàng”,
nhấn chuông khe khẽ. Cánh cổng màu xanh hé mở. Bà già giúp việc nhận ra người
khách quen thuộc:
- Cậu Vinh!
- Chào má! Cô cháu có nhà không ạ?
- Bà Mỹ Dung vừa nhắc đến cậu. Mời cậu vào.
Vinh và Hoàng cùng dắt xe vào và dựng xe trên sân.
Mỹ Dung đã bước ra trước cửa phòng khách. Sau khi
cúi đầu chào, Vinh giới thiệu:
- Thưa cô, cháu giới thiệu với cô, Lê Hoàng, bạn
cháu.
Mỹ Dung bắt tay thân mật cả hai người:
- Các cháu vào chơi!
Khi đã ngồi vào phòng khách, Lê Hoàng được nghe
tiếng nói dịu dàng của người đàn bà đứng tuổi:
- Ba cháu, giáo sư có mạnh giỏi không?
- Dạ, thưa cô, ba má cháu đều mạnh giỏi.
Vinh đỡ lời Hoàng nói với Mỹ Dung:
- Thưa cô, cùng đi chuyến này với cháu có cả vợ
chồng Lê Hoàng - Diễm Hương.
Hoàng giật mình, kinh ngạc nhìn Vinh như muốn kêu
lên: “Ơ kìa, tôi đã quyết định đi đâu mà ông lại nói thế?” song anh vẫn phải im
lặng ngồi nghe người đàn bà có giọng nói thật đài các:
- Cô chấp nhận hai cháu và sẽ giới thiệu các cháu
với một đường dây đặc biệt của cô.
Vinh và Hoàng đều bâng khuâng chưa hiểu “đường dây
đặc biệt” này do ai phụ trách, bởi vì Vinh đã gửi trọn niềm tin vào người đàn
bà mà anh chỉ biết kính trọng từ lần đầu anh được bà mẹ dẫn đến để ra mắt Mỹ
Dung. Hôm ấy, Mỹ Dung đã cười rạng rỡ:
- Trời! Cháu của cô lớn quá rồi. Ba cháu, đại tá ở
biệt khu thủ đô này còn phải đi học tập cải tạo dài dài, có về được thì gia
đình cháu cũng cử nghèo, cứ sa sút. Cháu di tản được là gia đình có phước đó.
Cháu rủ thêm được con trai giáo sư Lê Vỹ đi thì qua bên đó các cháu sẽ kiếm
được việc làm ngay. Các cháu sẽ tìm đến địa chỉ của ông Jim với mật hiệu của
cô, ông Jim sẽ đón các cháu thật nồng nhiệt.
Lê Hoàng vừa nghe chuyện vừa nhìn chung quanh phòng
khách: tiện nghi sinh hoạt đều là hàng “xịn” của Nhật Bản. Từ chiếc dương cầm
đến pho tượng thần vệ nữ bằng cẩm thạch và những bông hoa phong lan tươi treo
ngoài cửa sổ, cái gì cũng gợi cảm làm cho chủ nhân hầu như trẻ mãi không già.
Mỹ Dung hiểu được sự ngỡ ngàng của Hoàng, liền hỏi:
- Tại sao ba má cháu không đi?
- Dạ, thưa cô, chủ yếu là do ba má cháu quyết định,
mà ba cháu thì đã già. Ba cháu còn bận về một công trình nghiên cứu, một bộ
sách khảo cứu về lịch sử Việt Nam hiện đại. Cháu bàn với Diễm Hương trốn đi,
song Hương chưa quả quyết vì còn sợ cháu Lê Minh còn nhỏ quá không đi nổi.
- Thì để cháu bé lại cho ông bà! Các cháu nên thu
xếp đi càng sớm càng tốt. Cứ nấn ná ở lại, sau này Nhà nước quản lý chặt chẽ
hơn nữa thì đi làm sao?
- Dạ, thưa cô, về phần cô, cô có định đi không ạ?
Mỹ Dung cười:
- Cô đi thì chính quyền sẽ tịch thu ngôi biệt thự
này, cô tiếc lắm. Qua bên Mỹ dễ gì có ngay được biệt thự? Tuy vậy, lúc nào cô
cảm thấy khó ở thì ông Jim sẽ bảo lãnh cho cô đi công khai qua tổ chức HCR của
Liên hiệp quốc.
Một giờ sau, thấy cuộc tiếp xúc đã vừa đủ, Vinh cáo
từ ra về.
Mỹ Dung tiễn Vinh và Hoàng ra đến cổng.
Mỹ Dung quay vào, mỉm cười sung sướng vì biết rằng
trong dòng người di tản lại có thêm hai chàng thanh niên tuấn tú.
***
Một tuần sau, chiều chủ nhật, Mỹ Dung đang ngồi nghe
nhạc Disco thì có chuông điện thoại. Bà ta cầm ống nghe:
- Tôi nghe, ai đó.
Đầu dây nói bên kia có tiếng đáp:
- Dạ thưa cô, cháu là Vinh đây ạ.
- À Vinh! Có chuyện chỉ đó, cháu?
- Dạ thưa cô, ba cháu được tha về rồi cô ơi!
Mỹ Dung thảng thốt
- Sao? Ba cháu đi học tập cải tạo đã về?
- Dạ, ba cháu vừa về tới đây được nửa giờ. Cả nhà
cháu đều mừng như ba cháu được sống lại. Má cháu cứ khóc ròng. Chúng cháu cũng
mừng lắm vì ba cháu còn khỏe, chỉ có nước da xanh mét vì bị sốt rét rừng thôi
cô ạ.
- Cô gửi lời
chúc mừng ba cháu mạnh giỏi và cháu nói giùm cô là cô có lời mời ba má cháu đến
chơi trong vài ngày tới!
- Dạ.
Mỹ Dung đặt ống nghe và thấy xốn xang trong lòng. Có
lẽ ông đại tá này đã cải tạo tốt nên mới được về sớm? Như vậy thì chắc chắn là
chuyến đi di tản của thằng Vinh phải hoãn lại một thời gian. Biết tính sao bây
giờ? Mỹ Dung tự an ủi “đành phải hoãn vậy, chờ xem ý kiến của ông già đại tá
này ra sao?".
Tin vui của gia đình Vinh cũng nhanh chóng được loan
báo đến gia đình Lê Hoàng và Diễm Hương. Diễm Hương mừng quá, trước hết là cô
có cớ để yêu cầu Lê Hoàng suy nghĩ lại vì chuyến đi còn hoãn lại.
Giáo sư Lê Vỹ chưa hay biết những toan tính riêng
của con trai và con dâu. Ông mỉm cười nói với vợ:
- Đó, mình thấy không? Sĩ quan của chế độ cũ, tướng,
tá cũng lần lượt được trở về với gia đình. Hãy chờ xem những đổi thay.
Bà Phương thở dài, nói với chồng:
- Tôi chỉ thấy đời sống ngày một khó khăn hơn vì
hàng ngoại nhập khan hiếm, hàng nội thì xấu và đắt quá. Ăn dần vào vốn thì khô
kiệt mất thôi. Mình có đi chợ mới thấy là nguy ngập.
Giáo sư bình thản:
- Chắc sẽ chẳng đến nỗi nào đâu.
Ông bỏ mặc bà vợ với chuyện lo toan về giá cả. Ông
lên lầu, vùi đầu vào trang sách đang đọc dở dang để quên đi một thực tế chưa
mấy sáng sủa.
Lê Hoàng lại tìm đến nhà Vinh và kéo Vinh ra quán cà
phê cóc bên đường. Hoàng nói với bạn:
- Ông già vừa mới được về. Ai cũng mừng cho gia đình
cậu. Chuyện riêng ta hãy gác lại một thời gian nữa phải không?
- Chỉ hoãn thôi chứ không phải là hủy bỏ đâu đấy!
Ông nhớ chưa?
Hoàng đáp liều:
- Tôi nhớ! Sẽ đi, ngại gì mà không đi!
Trở về nhà, Lê Hoàng nói ngay với vợ:
- Cậu Vinh sôi nổi thật đấy, nhưng rất phiêu lưu mạo
hiểm. Vượt biên mà không chắc chắn thì sẽ chết vì hải tặc, vì sóng gió hoặc
không cẩn thận còn bị chính những tên dẫn dắt hãm hại nữa chứ!
Diễm Hương hỏi lại chồng:
- Ba anh Vinh đi cải tạo được về rồi mà anh ấy vẫn
còn muốn đi?
Hoàng gật đầu:
- Tuy hoãn nhưng cậu ta tuyên bố với anh sẽ đi một
ngày gần đây.
Diễm Hương cắn môi suy nghĩ một lúc lâu rồi mới nói:
- Em cứ nói thật, anh đừng giận em nhé, em sợ lắm. Mình
gặp nguy hiểm đã đành nhưng còn con nhỏ bé, tội lắm anh ơi!
Khác với lần đầu khi nghe ý kiến của vợ, lần này
Hoàng đã nói:
- Em yên tâm. Anh cũng không thể mù quáng được.
Nghĩa là phải thận trọng. Chẳng lẽ tình hình lại cứ mờ mờ ảo ảo mãi sao? Thôi thì
dù đời mình có khó khăn, mình cũng ráng chịu, để vì con, tất cả vì con!
Diễm Hương chỉ chờ Hoàng nói có thể, cô sung sướng
đến trào nước mắt:
- Anh thương em một phần, hãy thương con mười phần,
anh ạ!
Hoàng đã hôn lên đôi má phớt hồng của vợ. Anh thấy
có cả vị mặn của những giọt nước mắt ân tình.
Sáng hôm sau, đi qua Sở công an, Hoàng đã gửi cho cô
Chín một bì thư qua phòng thường trực. Thư anh viết vắn tắt.
“Em và Hương cần gặp
chị” và anh ký tên: Hoàng.
Tại trụ sở công an phường, cô Chín ngồi đợi kết quả
kiểm tra hộ khẩu ở căn hộ Huỳnh Đức. Kết quả đã làm cho cô Chín không vui:
- Thưa chị, Huỳnh Đức đã bỏ đi đâu từ nửa tháng nay
rồi! Theo lời của bọn đàn em còn ở lại ngôi nhà ấy thì có thể Huỳnh Đức sẽ
không về nữa, vì trước đó anh ta có tâm sự “Tôi
sẽ di tản, sẽ vượt biên”.
Chín hỏi lại anh công an đường phố:
- Nhận định của anh như thế nào?
- Có hai khả năng, một là hắn đã di tản rồi, hai là
còn lẩn khuất đâu đó để chuẩn bị ra đi.
- Còn tên Hàm?
- Những người còn ở lại nói cách đây chừng hai tháng
có một người là “đại úy Hàm” đến đây chơi, ở lại một tuần, thường lôi Đức đi
nhậu nhẹt. Hàm ở tạm trú mà không trình báo gì cả. Nay cũng biệt tăm!
Rời trụ sở công an phường, Chín trở về báo cáo với
trưởng ban chuyên án, trung tá Hồng Giang:
- Mình triển khai phương án I hơi chậm nên cả hai
đối tượng đều đã xa chạy, cao bay.
Hồng Giang hỏi Chín:
- Cô Diễm Hương có cung cấp được nguồn tin gì mới?
- Dạ, chưa. Có lẽ bọn chúng đánh hơi thấy ta đang
giăng lưới nên lại tránh cả việc lai vãng đến nhà cô Hương?
Hồng Giang nhắc lại mệnh lệnh cũ:
- Đồng chí cứ tiếp tục bám sát địa bàn chung quanh
nhà giáo sư Lê Vỹ, tôi sẽ có ý kiến chỉ đạo các mũi tiến công khác. Khi nào cần
chuyển sang phương án II, tôi sẽ mời các đồng chí về họp cấp tốc.
Chín “dạ” một tiếng rồi chụp chiếc mũ vải trắng lên
đầu, bước ra khỏi phòng làm việc của trung tá Hồng Giang.
***
Cùng thời gian ấy, trên bến Ninh Kiều (thành phố Cần
Thơ) cách Sài Gòn 180 kilômét, có hai người khách vừa lên bến, vào một tiệm cà
phê có rèm cửa màu xanh. Tấm biển ghi hàng chữ mềm mại “Cà phê Thanh Thanh”.
Ngồi trước hai ly cà phê, người đàn bà mặc áo bà ba,
quấn khăn rằn nói với người đàn ông có dáng mệt mỏi:
- Ông Hàm! Lệnh của bà Mỹ Dung là “án binh bất
động”, đề phòng đường dây bị lộ, ông không được về thành phố nữa!
- Thì tôi đã đi khỏi hai tháng nay rồi mà.
- Còn ông Huỳnh Đức?
Người đàn ông hạ thấp giọng:
- Cái thằng bất tài, bất lực ấy sẽ không giúp ích
được gì cho ta, lại cứ muốn tán tỉnh con Diễm Hương và con Nga. Để nó tồn tại
thì có phen chết chìm cả lũ, tôi đã mạn phép “tiền trảm hậu tấu” rồi!
Người đàn bà kinh ngạc:
- Ông đã bắn
bỏ?
Hàm lắc đầu:
- Không phải bắn, mà cho nó đi theo Hà Bá. Một buổi
tối tuần trước, tôi rủ nó xuống ghe nhậu. Tôi cho mấy viên “thuốc an thần” vào
bình rượu. Sau ba ly 100%, nó ngất xỉu, tôi hất nó xuống sông, Chiều hôm sau,
bà con đã đồn đại ầm lên là có một người đàn ông chết đuối trên sông, xác chết
giạt vào bờ, công an đến chụp hình rồi mang xác chết vào bệnh viện khám nghiệm
tử thi. Nạn nhân chừng 45 tuổi, không có giấy tờ tùy thân nên chưa rõ tông tích
nạn nhân là ai và vì sao lại chết đuối?
Người đàn bà lạnh lùng hỏi tiếp?
- Giấy tờ của nó và vàng bạc để đâu?
- Giấy tờ tôi đốt hết. Còn 5 cây vàng nó thu được
của mấy người xin đi di tản thì tôi còn giữ đây. Xin biếu chị Ba hai cây, tôi
chỉ cần ba cây là đủ! Hàm đưa gói vàng cho người đàn bà. Chị ta bỏ vào túi xách
tay rồi nói:
- Cám ơn! Khi nào có mệnh lệnh mới của bà Mỹ Dung
tôi sẽ gặp anh sau!
Hai người chia tay. Người đàn bà giao liên có tên là
“chị Ba” vẫy một xích lô về khách sạn Tây Đô. Hàm lững thững xuống bến, bước
lên một chiếc thuyền vận tải chở đầy phân đạm. Hắn cười tự mãn : “Còn lâu quý
vị mới tìm gặp được ta!”. Con thuyền chở phân đạm là nơi ẩn nấp kín đáo của kẻ
sát nhân chưa hề lộ mặt.
***
Diễm Hương trang điểm xong thì Lê Hoàng đi học cũng
vừa về tới nhà. Hoàng đã đứng sau lưng vợ và nhìn vào trong gương. Anh nói:
- Nàng tiên của anh hôm nay rực rỡ quá!
Hương quay lại:
- Thôi đi anh, đừng có làm em mắc cỡ! Hôn em đi rồi
em nói cho nghe chuyện này hay lắm!
- Chuyện gì đó, em?
- Hãy hôn em đi, thưởng cho em rồi em mới nói.
Thấy vợ rất vui và nũng nịu, Hoàng biết rằng có một
chuyện gì hệ trọng đã xảy ra. Anh hôn nhẹ lên môi vợ và nói:
- Anh thưởng cho em rồi đó, nói đi, chuyện gì mà bí
mật quá như thế?
Hương cầm tay Hoàng, dìu ra chiếc ghế đi văng.
- Anh ngồi xuống đây, em nói anh nghe một chuyện rất
nghiêm chỉnh, rất bí mật, tuyệt đối bí mật! Đó còn là mệnh lệnh của chị Chín
nữa. Hôm kia anh qua Sở công an mời chị, sáng nay chị đã qua đây và báo cho
biết một tin dữ!
- Làm sao! Tin dữ!
- Tin dữ mà lại vui! Này nhé, tên Hàm chạy về Hậu
Giang. Nó rủ thằng Huỳnh Đức cùng đi, chắc là bàn chuyện về di tản gì đó với
nhau. Thế rồi nó giết luôn thằng Đức!
Hoàng giật mình, sửng sốt:
- Nó giết thằng Đức? Nó bị bắt chưa?
- Làm sao mà bắt được con quỷ ấy? Nó giết thằng Đức,
ném xác thằng Đức xuống sông. Khi xác nổi lên trôi giạt vào bờ, công an địa
phương mới vớt lên, không có giấy tờ gì cả. Công an chụp hình nạn nhân đưa về
thành phố để xác minh, truy tìm tung tích nạn nhân. Sau một ngày tìm kiếm, đối
chiếu, phòng quản lý hồ sơ cho biết, đó chính là Huỳnh Đức ở cơ sở tạm trú của
tên Hàm.
- Thế là có chuyện đổ bể rồi đó, nó mới giết thằng
Đức để bịt đầu mối của đường dây di tản!
- Vì vậy, chị Chín lại nhờ em và anh giúp chị một
tay truy tìm thủ phạm vụ giết người này. Anh phải xin phép nghỉ học một tuần và
trình bày với ba hẳn hoi. Em cũng sẽ xin phép ba đi cùng chị Chín ít nhất là
một tuần. Chị Chín nói rằng anh và em không nên ở nhà, đề phòng tên Hàm quay
trở lại hãm hại mình vì mình biết quá rõ lại lịch nó ở Pleiku. Và cả ba má cũng
không được tiếp xúc với nó hoặc bất cứ ai (vì phải đề phòng cả những tên tay
sai của bà Mỹ Dung nữa).
Hoàng như chợt tỉnh ngộ:
- Thật may cho anh và em!
- Đó, anh thấy chưa? Mình đã mất cảnh giác, lại tìm
đến nhà thằng Đức, ngồi nói chuyện với tên Hàm. Nếu hôm đó có chuyện gì xảy ra
thì nguy hiểm quá.
- Hôm ấy, anh biết nó còn đang lôi kéo cả gia đình
mình đi di tản kia mà!
- Nhưng anh vẫn còn nhẹ dạ, bốc đồng đi theo ông
tướng Vinh đến nhà bà Mỹ Dung. Cũng may mà bố anh Vinh đi cải tạo lại được về
dịp này nên anh Vinh mới xin hoãn chuyến đi di tản. Nếu không thì đã sa vào tay
thằng Hàm, nguy hiểm biết đâu mà lường!
Lê Hoàng thốt lên:
- Mỹ Dung, một bàn tay phù thủy!
Diễm Hương vuốt tóc Hoàng:
- Chuyện đã xảy ra như thế, chị Chín giao nhiệm vụ
cho em là phải luôn đi sát anh để anh bảo vệ em và em bảo vệ anh, đồng thời
giúp đỡ tích cực cho chị Chín trong những ngày này. Anh đồng ý không?
- Nhất trí với em đó!
- Thế thì đi với em. Chúng mình ăn tiệm bữa trưa nay
và đến gặp chị Chín nhận nhiệm vụ mới ở số 30/4, cạnh quán cà phê “Hoàng Hôn”.
Mười lăm phút sau, chiếc xe honda do Hoàng lái đã
đưa Diễm Hương đến điểm hẹn.
***
Từ ba giờ chiều, quán cà phê “Hoàng Hôn” lại đông
khách cho đến khuya.
Từng chiếc bàn dưới từng tàng lá cây xanh đã có từng
cặp thanh niên nam nữ ngồi uống và rì rầm tâm sự. Có một bàn phía trong chỉ có
một người khách ngồi uống: một người đàn bà đứng tuổi mặc bộ bà ba đen. Đó là
người đàn bà có tên gọi “Chị Ba” đã từng ngồi cùng bàn với “đại úy Hàm” trên
bến Ninh Kiều (Cần Thơ) hôm trước.
Điếu thuốc cháy liên tục trên tay chị Ba, chị cũng
chẳng bận tâm và đôi mắt chị Ba còn lơ đãng nhìn ra cửa như đang chờ đợi ai
chưa tới đúng hẹn...
Nửa giờ đã trôi qua, quán Hoàng Hôn lại có thêm một
người khách đi vào. Chị xách trên tay một túi nilông lớn nhét đầy 5 cây thuốc
lá Samít. Chỉ ghé vào từng bàn mời chào khách mua hàng:
- Samít Thái Lan thứ thiệt đây, xin mời anh, mời
chị!
Có hai người mua hai gói, bóc hút thử và khen:
- Thuốc mới, thơm lắm!
Nhiều bàn khác, khách đều “cám ơn” vì họ đã đủ thuốc
hút.
Chị ta lại ghé vào quầy mời chủ quán:
- Cô mua giúp, tôi bán sỉ, rẻ thôi.
Cô chủ quán xinh đẹp chọn một cây:
- Tôi lấy một
cây thôi, tôi còn nhiều thuốc ba số năm.
Chị bán thuốc ghé vào bàn “chị Ba”.
Chị Ba niềm nở:
- Bớt cho tôi hai giá, tôi gom hết cho!
- Chừng như chỉ đợi có thế, người bán thuốc đã vui
vẻ bày cả bốn cây thuốc thành một chồng cao ngất trên bàn và không ngớt lời
quảng cáo:
- Thuốc Samít thứ thiệt đó chị! Chị có thể mua nhiều
nữa, em còn cả mười cây cột chặt trên Honda để ngoài kia.
Theo bàn tay chỉ của chị bán thuốc, chị Ba nhìn ra
ngoài cửa quán: một chiếc honda 50 với cả bịch thuốc càng phồng cột bằng sợi
dây cao su còn đó. Chị Ba nói:
- Chị bán cả cho tôi, tôi gom hết! Tính tiền đi! Vừa
nói chị Ba vừa bày tiền lên bàn, những tờ giấy bạc mới tiền 100 đồng, 200 đồng,
500 đồng...
Người bán hàng chưa kịp nhận tiền thì hai thanh niên
từ một bàn bên trái đã xăm xăm bước tới, nói dõng dạc để nhiều người nghe rõ.
- Chị bán thuốc! Chúng tôi là cán bộ quản lý thị
trường, yêu cầu chị xuất trình biên lai nộp thuế buôn chuyến! Ủa, mà lại toàn
là thuốc ngoại nhập.
Chị bán thuốc tỏ vẻ sợ sệt, nói lúng túng :
- Dạ, hai anh thông cảm, em chỉ có mấy cây bán cho
bà này thôi. Của bà con là Việt kiều về nước cho em làm quà, em hút không được
nên bán đi kiếm chút đỉnh thôi!
Một anh cán bộ nghiêm giọng nói:
- Làm quà thì để ở nhà hút chứ! Đã đem đi bán thì
phải có giấy thuế. Nếu không có giấy thuế tức là hàng nhập lậu rồi, phải xử lý.
- Dạ, hết bao nhiêu tiền, em xin nộp ạ.
- Chẳng những nộp thuế mà còn phải nộp phạt nữa.
Chị bán thuốc càng run rẩy:
- Em không có tiền, dạ, em vừa mới mời bà đây thôi
ạ.
- Tiền của ai đây?
- Dạ, của bà này ạ.
- Vậy là chị đã bán cho bà này? Xin mời cả chị, cả
bà về trụ sở Ủy ban phường để giải quyết.
Người đàn bà có tên “chị Ba” lập tức phản ứng:
- Mấy anh làm chi mà dữ vậy! Không cho tôi mua thì
thôi. Tiền này của tôi, các anh không được đụng đến. Các anh muốn bắt, muốn
tịch thâu hết thì cứ bắt cô này đi!
Chị Ba toan đứng dậy. Hai tay ôm lấy những bó tiền
bỏ vào giỏ xách. Mắt chị Ba còn lườm và miệng chị ta nguýt dài hai anh cán bộ,
vẻ thách thức:
- Làm chi mà hách dịch quá chừng!
Một anh cán
bộ nói như ra lệnh:
- Tôi yêu cầu cả hai chị về phường! Mua và bán đều
là bất hợp pháp, còn cãi cái gì nữa chứ!
Thấy đôi bên cãi lộn, to tiếng, các khách hàng khác
đều nhìn đổ xô về phía bàn chị Ba. Và một anh công an đường phố từ ngoài cửa đã
nhanh nhẹn bước vào.
- Hàng lậu thuế mà còn cãi lộn sao? Xin mời tất cả
về phường. Ở đây, các bà làm ổn quá!
Thấy bóng công an xuất hiện, chị Ba đứng né sang một
bên, chuẩn bị bước đi, chị đã bị anh cán bộ thuế vụ nắm chặt cánh tay:
- Xin mời chị cùng về phường giải quyết!
Biết là không thể thoát được, người mua, người bán
đều phải ngoan ngoãn bước đi theo anh công an và hai anh cán bộ thuế vụ.
Tại trụ sở Ủy ban phường, cả bịch thuốc của chị bán
hàng được khui ra, không có gì hơn là những cây thuốc lá Samít. Kiểm đến giấy
tờ, chị bán thuốc đưa ra tấm giấy chứng minh nhân dân mang tên “Diễm Hương”,
còn người mua thuốc có mật danh “chị Ba” lại có tấm giấy chứng minh nhân dân
mang tên Huỳnh Thị Bé, giấy cấp tại Cần Thơ.
Đồng chí công an hỏi Huỳnh Thị Bé:
- Chị làm nghề gì?
- Tôi buôn bán vặt!
- Hàng gì?
- Thuốc lá.
- Chị mang nhiều tiền thế?
- Đi buôn mà! Tôi có cả triệu đồng đó!
- Mời chị bỏ hết tiền ra đây!
Huỳnh Thị Bé miễn cưỡng phải lôi từng bó tiền đủ
loại đặt lên bàn. Khi tất cả 10 bó tiền đã được lôi ra khỏi chiếc giỏ xách, anh
công an vẫn còn thấy trong túi có một vật gì nặng nặng. Anh hỏi:
- Còn bịch gì nặng nặng trong túi đó, chị?
Huỳnh Thị Bé tái mặt, cúi đầu lặng thinh, lát sau
chị ta lại đảo mắt nhìn anh công an, nỗi lo sợ mỗi lúc một tăng.
- Còn cái chi đó, chị bỏ ra đây, xem nào, tiền hay
thuốc phiện lậu?
Chị ta vẫn lặng thinh. Sau cùng, chị ta phải miễn
cưỡng đặt cả gói mùi xoa bọc kín vật nặng lên bàn.
Anh công an
kêu lên:
- Súng! Trời ơi! Chị đi buôn mà có cả vũ khí?
Thị Bé đổi giọng:
- Phải, vũ khí, một khẩu K.54 đó và cả băng đạn nữa!
- Là của chị?
- Tôi đi xa phải có vũ khí phòng thân chứ! Bây giờ
trộm cướp nhiều lắm!
- Chị biết bắn? Chị có giấy phép mang súng.
- Cũng bắn được tàm tạm thôi! Tôi không có giấy
phép!
Diễm Hương làm ra vẻ sợ sệt:
- Xin mấy anh lập biên bản và cho em về!
Anh công an ôn tồn đáp:
- Tiền, thuốc
nhập lậu, lại cả vũ khí nữa, làm sao mà về ngay được? Xin mời chị ngồi chờ cho
ít phút.
Hai người đàn bà cùng ngồi xuống ghế dài và hai anh
cán bộ thuế vụ cũng kéo ghế ngồi đối diện với anh công an.
Anh công an quay máy điện thoại và cầm ống nghe:
- Dạ, tôi Vũ Hùng đây! Báo cáo anh Chánh chúng tôi
đã kiểm tra và tạm giữ Huỳnh Thị Bé với một khẩu súng K.54.
Ở đầu dây nói đằng kia có tiếng đội trưởng Võ Chánh
vang lên:
- Chúc mừng anh đã lập công xuất sắc. Thế là rất
tốt, rất tốt.
***
Cuộc thẩm vấn Huỳnh Thị Bé bước sang ngày thứ hai.
Anh trinh sát hình sự Vũ Hùng đẩy ly nước đến trước
mặt người đàn bà:
- Chị uống nước đi, rồi khai cho rõ.
Thị Bé uống cạn ly nước và nói:
- Tôi xin ông điếu thuốc lá, tôi ghiền nặng nên
không có thuốc hút, tôi không chịu nổi!
Lập Vũ Hùng đẩy bao thuốc lá Salem đầu lọc đến trước
mặt thị Bé:
- Chị hút đi rồi khai cho rõ!
Thị Bé bật lửa, châm thuốc hút một hơi dài, nhả khói
và nói:
- Thưa ông, tôi xin khai theo những câu hỏi của ông
từ hôm qua.
- Được, chị cứ khai báo thật thà.
- Dạ. Tôi tên là Huỳnh Thị Bé, sinh năm 1945, nghề
nghiệp: buôn bán thuốc lá ở thành phố Cần Thơ. Cha mẹ: chết. Anh chị em: không
có. Chồng: thiếu tá quân đội Sài Gòn Huỳnh Thanh Long, đi học tập cải tạo sau
ngày giải phóng (chưa được về), con trai, con gái: không có. Tài sản: một căn
nhà lợp mái tôn rộng 30 m. Vốn buôn: hai cây vàng. Thị trường buôn bán của tôi
là Sài Gòn - Cần Thơ. Nguồn hàng: thuốc lá ngoại nhập mua ở chợ Bến Thành,
đường Tôn Thất Đạm, cảng Sài Gòn. Ai bán cũng mua, ai mua cũng bán, có lúc có
lời, có khi bị lỗ. Khẩu súng K.54 tôi mua của một anh bộ đội ở bến xe miền Tây,
giá 2 chỉ vàng. Có lẽ anh ấy lấy trộm được ở đơn vị bộ đội đem bán lấy tiền
tiêu xài. Tôi không hề quen ai ở đường Công Lý.
Vũ Hùng ghi từng lời khai của thị Bé, ghi xong, tay
anh đặt bút và hỏi:
- Chị khai hết rồi?
- Dạ, thưa hết!
Vũ Hùng
nghiêm giọng nói:
- Chị lại khai đúng như hôm qua? Hôm qua tôi đã nói
rằng chị chưa thành khẩn, thật thà, nên nghĩ kỹ và khai cho rõ kia mà!
- Thưa ông, tôi đã khai hết. Có còn chi nữa đâu mà
khai thêm, khai khác?
Thị Bé giụi điếu thuốc lá vào cái gạt tàn, lầm lì
ngồi đợi.
Vũ Hùng điềm
đạm nói:
- Tôi nói rằng chị khai chưa rõ là có cơ sở, có
chứng cứ rõ ràng, đâu phải là tôi nói vu vơ. Tôi chỉ lấy ra một điều chị nói
dối để chị thấy rằng chị không thể quanh co lừa dối cơ quan điều tra được. Đây,
chứng cứ ấy đây.
Vũ Hùng rút từ tập hồ sơ ra một tấm hình cỡ 12 x 9
cm đưa cho thị Bé và hỏi:
- Chị có biết ai đứng đây không? Cánh cổng sắt màu
xanh là cổng nhà ai? Ở đâu?
Thị Bé nhìn vào tấm hình chụp một người đàn bà mặc
bộ đồ bà ba đen, đội nón, quay lưng lại, một tay xách giỏ, một tay đang nhấn
chuông ngoài cổng biệt thự “Bông Mai Vàng”.
Nét mặt thị Bé cứ tái dần, tái nhợt. Tay run run đặt
tấm hình xuống bàn, đôi mắt cụp xuống, bặm môi câm bặt.
Vũ Hùng nhìn từng cử chỉ của thị Bé và nói:
- Chị nói đi chứ! Ai đứng trong tấm hình này?
Thị Bé liếm môi rồi đáp:
- Thưa ông, người đàn bà ấy là... là... tôi ạ!
Vũ Hùng đanh thép:
- Thế mà chị cứ khăng khăng mãi là chị không hề quen
biết ai ở đường Công Lý! Chị thừa biết chủ nhân biệt thự này là bà Mỹ Dung và
chị đến đây làm gì, ngày nào, mấy lần, chị khai cho rõ, giấy bút đây, chị mang
về phòng tạm giam, suy nghĩ và viết cho đầy đủ chiều mai nộp cho tôi, nghe!
Hùng nhấn chuông. Một đồng chí công an đẩy cửa vào.
Hùng nói:
- Đồng chí đưa bà này trở lại phòng giam!
- Rõ!
Anh công an lại đưa thị Bé ra khỏi phòng của Vũ
Hùng. Thị Bé tiu nghỉu như mèo mất tai, cầm giấy bút lủi thủi bước theo anh
công an về phòng biệt giam, thị Bé cay đắng nghĩ thầm:
- Đổ bể hết rồi! Làm sao mà lại lộ? Làm sao mà người
ta lại chụp ảnh được khi mình đến nhà bà Mỹ Dung?
Trong bốn bức tường của phòng biệt giam, thị Bé lại
nghĩ cách lừa dối công an sao cho hợp lý, để tránh tội. Thị viết: “Tôi chỉ đến
nhà bà Mỹ Dung có hai lần để vay tiền mua hàng, cả hai lần đều bị từ chối.
Trước ngày giải phóng, chồng tôi có quen bà Mỹ Dung ở vũ trường đường Tự Do
(cũ) bà Mỹ Dung lấy chồng sĩ quan Mỹ nên giàu có hơn vợ chồng tôi, tôi nghĩ
rằng bà Mỹ Dung còn thương hoàn cảnh chồng tôi đi cải tạo, tôi có khó khăn thì
sẽ cho tôi vay ít nhiều. Ai ngờ bà ta lại từ chối”.
Ngày thứ ba của cuộc thẩm vấn, thị Bé đưa bản tự
khai nộp cho Vũ Hùng.
Hùng xem xong, lắc đầu và hỏi:
- Tại sao hôm qua chị lại nói là không quen ai ở ông
đường Công Lý?
Thị Bé nói:
- Dạ, thưa ông, tôi quên ạ!
Vũ Hùng nghiêm nghị hơn:
- Quên! Chị còn quên nhiều thứ lắm đấy. Chị đừng để
chúng tôi đưa chứng cứ ra rồi mới lại ấp úng thú nhận và khai thêm những điều
công an đã biết mà chị còn giấu giếm.
Thị Bé vẫn cúi mặt, ngồi im.
Đột nhiên Vũ Hùng đưa cho thị một phong thư của
“thiếu tá” Huỳnh Thanh Long từ trại cải tạo gửi ra. Vũ Hùng nói:
- Chúng tôi có thông báo cho chồng chị biết việc chị
bị tạm giữ vì có liên quan đến một vụ việc với bà Mỹ Dung và việc chị mang vũ
khí quân dụng trái phép. Ông “thiếu tá” đã suy nghĩ và gửi ra cho chị bức thư
này, chị xem có đúng bút tích của ông Long không?
Thị Bé bủn rủn chân tay và đáp:
- Dạ, thưa ông, đúng là chữ viết và chữ ký của chồng
tôi. Trời! Tôi biết nói sao với ông ấy bây giờ?
Vũ Hùng ôn tồn:
- Vì sao mà chị hoảng sợ thế? Chị cứ đọc đi xem ông
Long nói gì chứ?
Thị Bé lẩm nhẩm đọc:
“Mình!
Tôi vừa nghe tin
mình bị bắt vì mang vũ khí trái phép, lại có quan hệ với bà Mỹ Dung nên bị công
an tạm giữ để điều tra, xét hỏi.
Trời ơi! Lần trước,
mình vào trại thăm nuôi, tôi đã nói với mình là phải làm ăn lương thiện, nghèo
thì chịu khổ, mà đã đến nỗi nào đâu mà mình lại không chịu sống yên ổn. Mình có
biết rằng tôi đã có tên trong danh sách 50 sĩ quan cấp tả của quân đội Sài Gòn
đã cải tạo, học tập tốt nên được đề nghị phóng thích nay mai rồi không? Vậy mà
mình lại cứ quên lời dặn của tôi và lại giấu giếm tôi những việc làm mờ ám của
mình.
Bây giờ đã lỡ rồi.
Tôi giận mình mà vẫn thương mình hết dạ, hết lòng. Mình hãy khai báo thật rõ và
xin chánh quyền khoan hồng vì sai phạm của mình. Việc của mình có liên quan đến
một tổ chức dụ dỗ, cưỡng bức người di tản, gây rối trật tự trị an xã hội, tội
phạm là nghiêm trọng rồi. Nếu còn quanh co thì sẽ bị nghiêm trị, mức án sẽ
tăng. Mình sẽ đi tù khi tôi được tha về với gia đình! Tôi sẽ sống thế nào? Sống
với ai ở Cần Thơ?
Mong muốn duy nhất
và cháy bỏng của tôi là vợ chồng càng sớm được trở về đoàn tụ gia đình như ngày
nào ta đã chung sống với nhau.
Mình hãy suy nghĩ
cho kỹ và xin phép các ông cán bộ quản giáo để được viết thư vào cho tôi.
Mong đợi!
Thanh
Long”
Thị Bé bậm môi suy nghĩ: chồng tôi sắp được trở về
rồi sao? Vậy mà tôi lại phải vào tù! Biết nói thế nào với ông ấy bây giờ?
Thị Bé đặt bức thư lên bàn.
Vũ Hùng nói:
- Chị cứ cầm lấy bức thư đem về phòng giam. Chị khai
rõ những điều tôi hỏi và nhớ viết thư cho ông ấy. Chúng tôi vẫn kiên nhẫn chờ
đợi sự ăn năn hối cải của chị, chị rõ không?
- Dạ. Thưa ông, tôi đã rõ!
***
Sự đóng góp sức mình vào công tác an ninh của Diễm Hương làm cho cô Chín hết sức vui mừng. Sau khi biết rõ thị Bé từ Hậu Giang lên thành phố tìm mua thuốc lá ngoại, Diễm Hương đã sắm vai người bán thuốc lá Samit ở tiệm “Hoàng Hôn”, dẫn đến việc thị Bé bị sa lưới. Công an thu thêm một khẩu súng K.54 và tạm giữ được thị Bé - một mắt xích quan trọng trong đường dây của Mỹ Dung.
Sau mấy ngày vắng mặt ở gia đình, Lê Hoàng và Diễm
Hương lại trở về trong niềm vui thắng lợi. Giáo sư Lê Vỹ biết rõ điều đó, song
ông cũng không khỏi băn khoăn, ông nói:
- Các con tham gia công tác là tốt, song ba thấy đó
là việc rất nguy hiểm, nếu xảy ra chuyện đụng độ với các đối tượng hình sự ấy
thì sao?
Hoàng nói đỡ
lời cho Hương:
- Dạ, thưa ba, khi chúng con làm việc đã có anh em
công an bố trí yểm trợ...
- Nhưng ai mà lường trước được những hiểm nguy...
Thị Bé đã khai hắn có biết tên Hàm trong đường dây
di tản, nhưng thị chưa khai rõ hiện nay Hàm đang lẩn trốn ở đâu và trên thực tế
thì thị Bé cũng không thể nào biết được nơi ẩn náu của Hàm.
Cô Chín căn dặn Diễm Hương “Vợ chồng em cần cẩn thận
hơn khi đi lại trên đường phố và cảnh giác theo dõi sự xuất hiện trở lại của
tên Hàm ở thành phố này”.
Lê Hoàng vẫn phải tiếp tục học chương trình Anh văn.
Diễm Hương giúp mẹ chồng làm công việc nội trợ và bán hàng. Tiệm đồ cổ nay đã
thu gọn lại, trông lèo tèo có mươi lăm mặt hàng gốm sứ. Doanh số chỉ bằng một
phần mười so với trước ngày giải phóng. Thỉnh thoảng anh cán bộ thuế vụ lại ghé
vào thăm hỏi và mức thuế cứ mỗi tháng lại tăng, làm cho cả đường phố này đều
ngao ngán. Từ đầu đó đã loan truyền một quan niệm rằng: “Buôn bán là một nghề
bóc lột, ngồi mát ăn bát vàng, dễ phát triển thành chủ nghĩa tư bản” (!), rằng:
“Chỉ có đi vào sản xuất mới là đúng hướng, hàng hóa, sản phẩm làm ra phải bán
cho thương nghiệp quốc doanh để phân phối lại cho nhân dân lao động theo tiêu
chuẩn định lượng, theo giá quy định” (!). Bà con thì thầm nói với nhau: “Thành
phố bốn triệu dân này đang có hàng triệu người cần việc làm, cơ quan, xí nghiệp
nào có thể thu hút được hết số người này? Nguyên vật liệu ngày một khan hiếm,
lấy gì để sản xuất? Giá sinh hoạt ngày thêm đắt đỏ mà đồng lương thì thảm hại,
một người làm chưa đủ nuôi chính bản thân mình thì còn nói chi đến gia đình và
cải thiện đời sống?”
Diễm Hương biết rõ hơn ai hết sự sa sút của đời sống
chung quanh, khi chính mâm cơm của gia đình cứ bớt dần đi những món ăn hàng
ngày. Một số đồ vật trong gia đình như quạt, đài, xe máy đã bán dần đi. Một số
vừa bán, vừa cho, vừa biếu không mỗi khi có người bà con ngoài Bắc vào thăm. Cô
nghe nói ở ngoài Bắc nghèo lắm. Tất cả các cơ sở sản xuất từ nông nghiệp đến
tiểu, thủ công nghiệp đều phải xây dựng thành hợp tác xã, xã viên được “ăn
chia” ít ỏi trong lúc nhiều vị chủ nhiệm trở nên giàu có. Tệ nạn móc ngoặc, tuồn
hàng Nhà nước ra ngoài đã xảy ra. Tem phiếu thực phẩm, sổ gạo đã buộc mọi người
phải chầu chực để mua hàng từ sáng sớm, xếp hàng như rồng, như rắn. Mua như
xin, bán như cho. Mấy cô bán hàng thì cong cớn, nói năng chỏng lỏn, quăng hàng
ra cho khách hàng. Việc phân phối hàng theo bìa, phiếu đã làm nảy sinh một câu
nghe đến lạ tai, rằng: “Cao thì cung cấp, thấp thì chợ đen, quen thì cổng
hậu!”.
Có lần Diễm Hương nghe được câu chuyện giữa giáo sư
Lê Vỹ và giáo sư Vũ Mạnh về vấn đề sản xuất và phân phối lương thực. Giáo sư Vũ
Mạnh lắc đầu cười:
- Thật là lạ! Lạ đến khó hiểu nổi, nước ta là nước
nông nghiệp, dân số không đông lắm mà quanh năm lại thiếu ăn! Cán bộ chạy
ngược, chạy xuôi để thu mua lương thực cả hai vùng đồng bằng sông Hồng, sông
Cửu Long, hai cái vựa lúa nổi tiếng này cứ được tuyên truyền về năng suất lúa
vậy mà chính phủ phải nhập gạo từ nước ngoài? Có nên xem lại cái quan hệ sản
xuất không nhỉ?
Giáo sư Lê Vỹ đáp:
- Đấy là việc của các nhà làm kinh tế, song tôi nghe
nói nông dân có làm mà không có ăn vì tệ dong công, phóng điểm đang nuôi béo hàng
trăm cán bộ xách túi chạy rông ở mỗi xã! Lại còn tệ liên hoan chè chén lu bù và
tệ tham nhũng ở nhiều ban quản trị hợp tác xã. Báo chí tuyên truyền rằng không
khí sản xuất thì hăng say, song thực tế thì có mấy ai phấn khởi sản xuất. Một
số cơ sở còn báo cáo năng suất “ma” để lấy thành tích đề nghị khen thưởng thi
đua nữa!
Giáo sư Vũ Mạnh gật gù:
- Ở miền Nam, các tập đoàn sản xuất, tổ hợp và hợp
tác xã làm ăn chểnh mảng và thụt lùi! Tại sao? Vì ai? Câu hỏi này còn nhức
nhối. Chưa ai dám công khai phát biểu quan điểm tiến bộ vì sợ bị truy chụp là
lạc hậu, là “không tán thành chủ nghĩa xã hội” (!), là “ảnh hưởng của tàn dư đế
quốc, tư bản” (!) vân vân và vân vân... Tôi và bác đã ở lại đây trong khi người
ta di tản ra nước ngoài, tôi và bác chấp nhận một cuộc sống khô khan, cứng nhắc
và cứ nghèo dần đi, biết tính sao đây? Ta sẽ nói với các con, cháu và thế hệ
mai sau như thế nào?
Giáo sư Lê Vỹ lắc đầu:
- Chắc là chưa thể giải quyết xong trong một sớm,
một chiều được. Tôi thì tự cảm thấy mình đuối sức, “lực bất tòng tâm”. Mình lại
là nhà giáo, làm gì được?
Đôi bạn già lại nhìn nhau thở dài, im lặng. Bên ấm
trà, sau mỗi buổi đàm luận chỉ còn lại một sự đồng cảm: “Nước Việt Nam ta đánh
giặc thì rất giỏi, song xây dựng kinh tế thì còn quá kém!”
Thấy Diễm Hương kém vui, Lê Hoàng phải an ủi vợ:
- Em và anh phải hy sinh nhiều thú vui riêng, phải
tiết kiệm chi tiêu để nuôi con! Bây giờ ta ráng chịu đựng sự thiếu thốn về vật
chất để mai sau con của chúng ta sẽ sung sướng hơn.
Diễm Hương chưa hiểu mai sau có được như lời chồng
nói không, nhưng cô lại tự xác định:
- Anh! Em đã
yêu anh, đã có con rồi, con là nguồn vui lớn của chúng ta, khổ thế nào em cũng
chịu được, để chia sẻ cùng anh.
Cuộc sống bình dị của Hương cứ êm đềm trôi. Cho đến
một buổi sớm, Nga lại tìm đến với Hương:
- Chị ơi! Thằng Hàm nó lại không chịu để em được
sống yên ổn!
Hương giật mình:
- Sao? Nó lại xuất hiện? Lại quấy rầy em?
- Dạ. Hôm qua nó tìm đến em. Nó khoe có nhiều tiền,
nhiều vàng, nó rủ em đi nhậu để tính chuyện vượt biên. Em không chịu. Nó bảo ở
lại làm chỉ cho khổ. Em vẫn không chịu. Nó lại xoay sang nhờ em vận động chị và
anh Hoàng di tản, nếu vận động được ba má đi càng tốt. Nó hứa sẽ bao hết, không
phải đóng góp gì cả, hoặc gia đình muốn thưởng cho nó bao nhiêu cũng được! Em
vẫn không chịu. Nó lại năn nỉ em và hứa chiều mai sẽ quay trở lại. Em sợ thằng
này quen thói côn đồ, ác ôn, mình không theo nó, nó lại hại mình nên em phải
nói với chị để chị coi chừng hành động liều lĩnh của nó.
Hương suy nghĩ một lát, rồi nói với Nga:
- Được, chị cám ơn em đã thông báo cho chị biết tin
này. Chị sẽ bàn với anh Hoàng để đề phòng và xử lý với nó nếu thấy cần phải xử
lý. Còn chuyện buôn bán của em ở chợ có đủ sống không?
- Dạ, cũng tạm đủ sống, nhưng ngày nào ế hàng thì
cũng chật vật.
- Nếu túng quẫn quá, em cứ đến đây. Anh chị tuy
nghèo, vẫn có thể giúp đỡ em được chút đỉnh.
- Dạ.
Buổi trưa, khi Hoàng đi học về, Hương đã kể lại câu
chuyện của Nga.
Hoàng không giấu nổi vui mừng, anh reo lên:
- Hay! Tên khốn kiếp không hay biết những gì đang
xảy ra quanh nó. Em cứ giữ bí mật, không nên nói với ba, má. Để anh lo liệu xử
lý thằng này.
Hoàng đã gọi dây nói đến Sở Công an, hẹn làm việc
với cô Chín vào lúc hai giờ chiều.
***
Chiếc ghe chuyên chở phân đạm sau khi trả hàng ở Cần
Thơ, trở lại Sài Gòn, vừa về tới cảng. Trời chạng vạng tối, thành phố đã lên
đèn.
“Đại úy Hàm” rời bỏ chiếc ghe bước lên bờ. Gã vẫy
một chiếc xe xích lô đến thẳng đường Công Lý (cũ), chiếc xe lướt qua biệt thự
“Bông Mai Vàng”. Liếc mắt nhìn hai cánh cổng biệt thự màu xanh khép chặt. Cành
hoa tím ngày thường buông rủ ra phía ngoài cánh cổng, giờ này đã được gạt vào
phía bên trong cánh cổng. Đó là ám hiệu mà chủ nhân ngôi của biệt thự này ngầm
báo cho khách biết bà ta đi vắng. Khách không nên vào. “Đại úy Hàm” thở dài não
nuột. Thế là biệt tăm bà Mỹ Dung, lại mất liên lạc cả với Huỳnh Thị Bé! Đi về
đâu bây giờ? Trở lại chiếc ghe còn đậu ngoài cảng hay tìm vào khách sạn? Hàm
lắc đầu ngao ngán, đã cất công đi mấy trăm cây số đường sông lên đây, chẳng lẽ
lại về tay không? Gã quyết định tìm về Bàn Cờ - Xóm Chiếu để gặp lại “cô Nga
Pleiku”.
Hẹn xong với Nga về buổi gặp chiều mai để bàn chuyện
“ra đi”, Hàm lại tìm về chiếc ghe tạm trú qua đêm ở cảng Sài Gòn.
Ở con hẻm sâu Xóm Chiếu chiều hôm sau, Nga lại nóng
lòng mong đợi Hàm trong căn nhà nhỏ lợp tôn và Hàm đã xuất hiện đúng giờ. Gã
cười nói với Nga:
- Em nói cho anh nghe, em đã thực hiện yêu cầu của
anh đến đâu rồi?
Nghe những tiếng “anh và em”, Nga thấy khó chịu. Cô
lắc đầu:
- Không ai chịu đi đâu, ông đại úy!
- Họ sợ chết vì hải tặc hoặc gió bão.
Hàm ngồi xuống ghế, mệt mỏi đặt chiếc túi du lịch
nhỏ khoác vai xuống bàn.
Nga bưng ra hai ly nước mát mời khách:
- Mời ông dùng tạm ly nước này.
Hàm chưa kịp uống ly nước thì cánh cửa đã bật mở.
Anh công an đường phố bước vào với trinh sát Vũ Hùng. Tên Hàm đưa tay với lấy
chiếc túi du lịch, song chiếc túi đã bị Nga giữ chặt. Gã hoảng hốt giằng lại
chưa được thì họng súng của Vũ Hùng đã chia thẳng vào ngực gã:
- Ông Hàm! Ông đã bị bắt!
Gã bủn rủn tay chân, chưa biết đối phó ra sao thì
anh công an đường phố đã nắm chặt cổ tay gã và bập vào chiếc còng số 8. Gã lom
khom nửa đứng, nửa ngồi.
Vũ Hùng ấn vai gã xuống và ra lệnh:
- Ông ngồi xuống! Ông bị truy nã lâu rồi, hôm nay
chúng tôi có lệnh bắt ông khẩn cấp.
Hùng quay sang Nga :
- Cô Nga là
một nhân chứng. Mời cô đi cùng chúng tôi.
Cả bốn người cùng bước ra cửa, tên Hàm bước đi chệnh
choạng như muốn sụp xuống. Chiếc xe cảnh sát từ từ lăn bánh rời khỏi khu vực
Bàn Cờ, Xóm Chiếu.
Từ quán cà phê cóc trên hè phố bên kia đường, Diễm
Hương nói nhỏ với Lê Hoàng:
- Anh nhìn
coi, y đã bị tóm gọn! Nga thật xứng đáng được khen thưởng.
Tại phòng hỏi cung, Vũ Hùng chỉ vào khẩu súng K54,
gói vàng và mười nghìn đồng tiền mặt, hỏi tên Hàm:
- Bấy lâu ông không ra trình diện, ông ở đâu?
- Dạ, ở dưới ghe, lênh đênh trên sông Tiền, sông
Hậu.
- Ông quen ai ở bến Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Dạ... dạ... tôi không nhớ, có một bà bán cơm bình
dân.
- Ông hãy dẹp
ngay cái trò giả vờ ngớ ngẩn ấy đi! Bà Huỳnh Thị Bé có gửi lời thăm ông đó!
Nghe đến cái tên Huỳnh Thị Bé, Hàm thấy lạnh buốt
sống lưng. Gã ấp úng không nói được. Vũ Hùng lại hỏi tiếp:
- Bà Bé đã nằm trong trại giam kia rồi, bà ấy đã
khai hết và sẽ được “mời” ra đối chất với ông sau. Ông nghe tôi hỏi nữa nhé: -
Khẩu súng K.54 này ở đâu ra? Ba cây vàng lá Kim Thành này ở đâu ra?
Gã liếm môi và lắp bắp nói:
- Dạ, thưa ông, súng tôi mua đã lâu để phòng cái
thân. Vàng thì tôi dành dụm.
- Sao ông không dám nói thật? Ba cây vàng này là của
người vừa bị ông giết đó!
Gã kêu lên hoảng hốt:
- Các ông đã biết cả rồi?
Vũ Hùng nghiêm trang nói:
- Huỳnh Đức có năm cây vàng của người muốn di tản
đặt cọc trước khi đi. Ông đã giết Huỳnh Đức, ném xác nó xuống sông và tước đoạt
cả số vàng này, ông lại chia cho bà Bé hai cây, có đúng không? Hôm nay ông đến
nhà cô Nga có việc gì?
- Dạ thưa ông, để… thăm cô ấy ạ. Tôi định ở lại đó
một đêm vì tôi biết cô Nga đã từng bị tập trung ở trường “phục hồi nhân phẩm”
ạ.
- Ông có đến
nhà cô Diễm Hương?
- Dạ, có.
- Để làm gì?
- Để rủ cô ấy và gia đình cùng vượt biên. Trời ơi!
Vợ chồng cô ấy đã phản tôi, đã hại tôi!
Vũ Hùng điềm tĩnh hỏi tiếp:
- Hại ông? Hay ông đã hại cô Hương, cậu Hoàng?
- Dạ, thưa ông, tôi có hại gì ai đâu ạ?
Vũ Hùng cười:
- Ông Hàm! Sao ông chóng quên thế? Ông có thể sờ tay
vào đùi bên phải kia xem có còn vết sẹo do đạn súng ngắn xuyên qua phần mềm đó
không? Vì sao ông bị Lê Hoàng bắn cảnh cáo ở Pleiku năm xưa, chắc ông còn nhớ
suốt đời? Sao lại quên mà cứ định quanh co?
Hàm rũ xuống như một tầu lá úa, một lúc sau, hắn
nghe tiếng nói đanh thép của anh công an:
- Ông đại úy
tiểu đoàn trưởng đặc nhiệm! Tôi đã gợi ý cho ông khai báo về tội lỗi của mình,
chưa hết câu hỏi đâu! Ông hãy suy nghĩ cho kỹ để ngày mai trả lời cho đủ, nghe
không?
- Dạ.
VII.
Lê Hoàng mua về một bó hoa tươi, những bông hồng
thắm để mừng ngày sinh của con gái: Lê Minh bước vào tuổi 15. Cô bé đã là học
sinh phổ thông trung học, có gương mặt rất giống mẹ. Diễm Hương sung sướng đã
đành, Lê Hoàng càng vui hơn khi thấy những nét yêu kiều trên gương mặt con gái.
Nó gợi lại nét đẹp của Diễm Hương đã một thời được nhiều người trầm trồ khen
ngợi ở Pleiku mười lăm năm trước.
Giáo sư Lê Vỹ và bà Phương ôm đứa cháu đầu lòng
trong vòng tay và hôn lên đôi má lúm đồng tiền của nó nhiều cái hôn. Bà Phương
còn mua cho cháu một sợi dây chuyền vàng và một đôi bông tai vàng kiểu
Hô-nô-lu-lu rất hợp thời trang:
- Cháu phải ngoan hơn và học giỏi hơn nữa, nghe!
Lê Minh nép
vào ngực bà nội và thưa:
- Dạ!
Khách đến mừng sinh nhật của cháu Lê Minh hôm nay
còn có giáo sư Vũ Mạnh. Ông cho cháu cả một bịch bánh kẹo và một con búp bê tóc
vàng của một bà bạn từ Paris vừa gởi về làm quà cho gia đình ông.
Câu chuyện của đôi bạn già thật vui. Giáo sư Vũ Mạnh
cười khà khà:
- Cho đến hôm nay, tôi mới giật mình, thì ra mình đã
vượt được chặng đường 15 năm giông bão và trụ lại được đến hôm nay ở Sài Gòn, ở
ngay trên mảnh đất quê hương này. Với lịch sử dân tộc thì 15 năm là một chặng
đường ngắn, nhưng với một đời người lại ở tuổi tôi, tuổi bác thì 15 năm
(1975–1990) lại là một chặng đường dài dằng dặc với những lo âu, phấp phỏng,
thất vọng rồi lại hy vọng, tan rồi lại hợp, tưởng chừng như một giấc mộng!
Giáo sư Lê Vỹ nói lời tâm đắc:
- Chúng ta
mới ở tuổi 55 mà đã bạc cả mái đầu. Công trình nghiên cứu của tôi mới đạt được
một phần ba cuốn sử “Việt Nam, thế kỷ 20”. Hôm nay Sài Gòn đã tấp nập, đông
vui, hàng ngoại, hàng nội cạnh tranh nhau tràn ngập phố phường. Khách sạn ba
sao, năm sao đang mọc lên. Hàng chục ngàn Việt kiều và du khách nước ngoài đã
vào Sài Gòn cũng như đã vào Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang, Vũng Tàu,
Hạ Long. Năm 1989, lần đầu tiên sau 15 năm, nước ta thừa gạo. Gạo xuất khẩu từ
Bắc chí Nam đã lên tới 1,5 triệu tấn năm 1989, năm 1990 con số này sẽ cao hơn.
Đó là cái gì nếu không phải là quan hệ sản xuất đã được đổi mới? Ruộng đất đã
về với nông dân và cái khoán gọi là “khoán 10” đang phát huy tác dụng của nó.
Giáo sư Vũ
Mạnh thở phào một khói thuốc:
- Quan hệ xã
hội cũng có nhiều cái mới: người ta hết lo chuyện “cải tạo tư sản”, hoặc đi
“học tập mãi mãi” (!). Đó là nhiều nhà buôn lớn nhỏ đã mở rộng cửa hàng tự do
kinh doanh. Cái thời cả thành phố chỉ có mấy cửa hàng quốc doanh, hàng đã xấu
lại ít, một số hàng “đầu vị” được phân phối cho người có chức có quyền đã lui
vào quá khứ. Ở Hà Nội nhiều người chưa quên một thuở chưa xa lắm: một chiếc áo
may ô cũng phải gắp thăm mới được mua, đến nỗi có cả câu ví dân gian rằng “bắt
cởi trần, phải cởi trần, cho may ô mới được phần may ô!” (tập Kiều). Thái độ
chỏng lỏn, vênh váo của mấy cô mậu dịch thật là đáng ghét! Chuyện phiền hà,
tham nhũng cũ của thời bao cấp thì kể đến một nghìn một đêm lẻ cũng không hết!
Bác xem báo, nghe đài đã biết và gặp ngay trên đường phố Sài Gòn hàng trăm sĩ
quan cấp tướng tá, có cả mấy ông tổng trưởng bộ này bộ nọ của chính phủ Sài Gòn
trước 1975 đã được trở về gia đình. Năm ngoái trong buổi tiếp xúc với ký giả,
ông Võ Văn Kiệt đã nói một câu nghe mà hởi lòng, hởi dạ, rằng: “Đã là người
Việt Nam thì ai cũng có thể đóng góp sức mình xây dựng Tổ quốc, không kể trước
đây người đó làm việc gì với chính quyền cũ”. Công cuộc đổi mới của nước ta là
thuận với quy luật tiến hóa và được lòng dân, có nhiều triển vọng. Thời kỳ ấu
trĩ đã qua rồi, phải không bác?
Giáo sư Lê Vỹ gật gù:
- Bác đã “tổng kết” thật hay! Cái được cho ta niềm
vui, cái mất còn để lại nỗi đau chưa dứt. Chuyện “thuyền nhân” Việt Nam ứ đọng
lại ở Hồng Kông và những xác đàn bà trẻ em trôi giạt vào bờ biển Thái Lan do bị
hải tặc giết mà báo chí đã nêu, đó là những điều còn làm nhức nhối nhiều người.
Tệ tham nhũng, tệ ăn chơi sa đọa kiểu “Đường Sơn Quán”, đang được cả nước quan
tâm. Tôi tin rằng đêm đông giá lạnh sẽ qua đi để cho Mùa Xuân ấm áp trở về. Ánh sáng đang xua tan dần bóng tối như
lời ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã nói với các nhà báo năm vừa qua.
Giáo sư Vũ Mạnh nói tiếp:
- Khi tôi nhận cho cháu Hoàng vào làm cán bộ giáo vụ
ở trường của tôi, ông trưởng phòng tổ chức cũng có một vài ý kiến băn khoăn.
Tôi nói thẳng với ông ta: “Tôi nhận anh Hoàng, tôi chịu trách nhiệm!”. Việc làm
có hiệu quả của cháu Hoàng suốt mấy năm nay đã chứng minh rằng cháu là một
thanh niên có phẩm chất tốt, thông minh, lanh lợi và có nhiều sáng kiến. Hôm
nay tôi phải thông báo cho bác một tin vui về Lê Hoàng.
Giáo sư Vũ Mạnh rút từ trong túi áo ra một tờ giấy,
một văn bản có đóng dấu son:
- Đây là quyết định của nhà trường do tôi ký đã được
các cấp có thẩm quyền duyệt y cho cháu Hoàng được đi tháp tùng với tôi trong
đoàn chuyên viên của ta sang dự hội thảo về “sinh học và đời sống xã hội"
ở Băng Cốc. Khi tôi đề xuất ý kiến chọn đoàn viên đi với đoàn, cũng lại ông
trưởng phòng tổ chức băn khoăn, tôi phải nói: “Các ông đã giao cho tôi đưa đoàn
chuyên viên đi, tôi có trọn quyền chọn người đi tháp tùng. Đi để rồi tiếp thu
cái hay, cái đẹp để về làm việc chứ có phải đi chơi, hoặc đi buôn đâu mà các
ông ngại. Nếu các ông không nhất trí thì cả tôi nữa, tôi cũng thôi luôn”. Câu
nói thẳng thắn của tôi làm cho “vị” ấy chạm nọc, đỏ mặt lên, song cuối cùng
phải chấp thuận đề nghị của tôi! Ngoài Lê Hoàng, tôi còn chọn hai cán bộ trẻ
nữa cùng đi, đó là Dũng và Nhân, tất cả đều có triển vọng kế tục sự nghiệp của
lớp người già! Phải cho các cậu này đi để mở rộng tầm nhìn, trăm nghe không
bằng một thấy.
Giáo sư Lê Vỹ chậm rãi:
- Phải như thế! Phải như thế, bác ạ. Nếu đất nước ta
biết sử dụng con người, biết bồi dưỡng những mầm non thì đâu phải chỉ có một
Đặng Thái Sơn đang làm vẻ vang cho cộng đồng người Việt.
Câu chuyện tản mạn của đôi bạn già kéo dài suốt buổi
cho đến lúc hai ông lại lôi nhau đi dạo phố, rồi lại thưởng thức mấy món ăn ở
quán Ngọc Lan Đình của một Hoa kiều Chợ Lớn.
***
Diễm Hương chuẩn bị cho chuyến đi Băng Cốc của Hoàng
thật chu đáo. Từ những đồ dùng nho nhỏ đến những bộ quần áo hợp thời trang.
Hoàng nhìn vợ âu yếm:
- Mấy bộ đồ này đẹp rồi, trang nhã và đứng đắn, lịch
sự nữa. Anh còn lo lắng hơn cả em, vì bác Vũ Mạnh cứ nhắc anh: “Đem chuông đi
đấm nước người”, phải làm sao cho mình có thể tự hào là người Việt Nam thông
minh và dũng cảm. Biết khiêm tốn học tập, nhưng cũng biết ngửng cao đầu. Khó
lắm chứ có dễ dàng gì! Ngày xưa các cụ nói “thập niên đăng hỏa”, ngày nay ta
nói nôm na “mười năm đèn sách”, sự cố gắng học tập của anh mười năm qua đã
không bị uổng phí.
Hương nép đầu vào ngực chồng:
- Em không mong ước gì hơn nữa! Thành đạt của anh sẽ
mở đường cho con chúng ta khi nó đang bước sang tuổi mười lăm. Nó cũng có
“gien” thông minh như anh đó. Con bé dễ thương lắm!
Lê Hoàng hôn vào đôi mắt huyền của vợ và nói:
- Còn em? Đề tài dự thi của em đã có kết quả gì
chưa?
- Chưa có gì đâu anh ạ. Ba cái mẫu mã đồ gốm sứ của
em có khi còn bị người ta chê nữa ấy chứ!
Hoàng lắc đầu:
- Em đừng quá khiêm tốn đến mức tự ti. Mình phải có
lòng tự tin ở trí tuệ và tài năng của mình. Đôi bàn tay của em được gọi là bàn
tay vàng, anh thì chỉ muốn gọi là “bàn tay ngà” thôi!
Hoàng đã hôn lên bàn tay trắng muốt của vợ. Những
ngón tay búp măng đẹp như ngón tay cô giáo.
Diễm Hương nói:
- Đóng góp của em chưa được bao nhiêu, ấy thế mà mấy
ông phóng viên nhiếp ảnh, mấy ông nhà báo cứ vây quanh lấy em, nào chụp, nào
ghi ở giữa phòng triển lãm làm cho em mắc cỡ quá!
Từ khi Hoàng được giáo sư Vũ Mạnh nhận vào trường
làm việc thì Diễm Hương cũng xin được vào học ở trường trung cấp mỹ thuật công
nghiệp thành phố. Tốt nghiệp loại giỏi, Hương xin về làm việc ở xí nghiệp gốm
Thanh Bình. Cô đã thiết kế nhiều mẫu hàng xuất khẩu gửi đi chào hàng ở nước
ngoài, những lọ cắm hoa, những bộ đồ trà, những con voi, những con sư tử. Ở hội
chợ Quang Trung, mẫu hàng của cô được tặng Huy chương Bạc, đến hội chợ triển
lãm Giảng Võ hàng của cô được tặng Huy Chương Vàng.
Năm nay, kỷ niệm 45 năm thành lập nước, đồ gốm của
Diễm Hương lại tham gia hội chợ triển lãm Giảng Võ (Hà Nội) lần thứ 2. Hai mẫu
hàng mới của Hương được chọn là Thiên Nga trắng và Con Nai vàng sẽ được chào
hàng ở các nước Đông Nam Á, ở Hồng Kông, ở Nhật Bản và cả ở Pháp nữa.
Nhiều nghệ nhân ngành gốm, sứ ở Sông Bé, Đồng Nai có
tuổi nghề cao đã khen ngợi Diễm Hương có bàn tay tài hoa, tạo dáng đẹp, thanh
nhã, dễ thu hút sự chú ý của khách hàng.
Khi bày thử một số hàng mẫu ở cửa hàng đồ gốm Tinh
Hoa của má, khách nước ngoài đã ghé vào mua với giá cao, má nói với Hương:
- Khi nào cháu Lê Minh học hết phổ thông, con xin
cho cháu vào xưởng làm với mẹ, kèm cặp cho cháu theo nghề của mẹ!
Diễm Hương hởi lòng, hởi dạ. Cô nói với chồng:
- Nhờ có một cơ chế thoáng, một đường lối đúng,
những chính sách phù hợp với lòng dân, sát với quy luật thị trường nên xí
nghiệp của em không chỉ có năm trăm công nhân như hôm nay mà sẽ có hàng ngàn
công nhân trẻ tham gia sản xuất hàng cạnh tranh với hàng nước ngoài đang tràn
vào nước ta. Xí nghiệp của em đã ký hợp đồng trực tiếp với các hãng buôn nước
ngoài và được phép thu ngoại tệ từ tháng tám năm ngoái.
Hoàng cười âu yếm:
- Mọi điều kiện khách quan ấy đã có rồi, song nếu em
không cố gắng học tập và sáng tạo thì cũng không có những thành tựu.
Diễm Hương nũng nịu:
- Công đầu phải là công của anh. Anh đã động viên,
khuyến khích em đi học, đi làm. Em yêu anh hết mình nên đã nghe theo anh tất
cả.
Buổi chiều có thêm một người đến mừng sinh nhật cháu
Lê Minh. Đó là Nguyễn Quang Vinh, “anh chàng ồn ào” đã mang đến một bó mười
cuốn truyện Kim Đồng và một bộ quần áo nữ sinh thật đẹp
- Đây tôi mừng cho nhỏ Lê Minh! Chúc cháu và “ông
bà” mạnh giỏi vì tuần sau tôi đã bay rồi!
Hương và Hoàng cùng hỏi:
- Bay sớm thế? Lễ tiễn đã ấn định ngày chưa?
Vinh vẫn sôi nổi:
- Rồi! Chiều chủ nhật này, mời Hoàng và Hương đến
nhà tôi. Có vài chục bạn bè, ta làm một bữa nhậu rồi chia tay. Tôi nói thật
lòng đấy! Vì sao? Năm 1990 này, Sài Gòn trở lại tấp nập đông vui mà tôi lại
phải ra đi? Khổ đấy, vì gia đình tôi có tới mười nhân khẩu, má tôi đau ốm luôn,
mấy đứa nhỏ, lũ em những năm trước xin làm ở đâu người ta cũng mặc cảm về lý
lịch nặng cân “cha cháu là đại tá ngụy mà!” khổ thế đấy, chúng nó chạy mánh
ngoài chợ trời. Tôi giữ riết lắm chúng nó mới khỏi phạm pháp. Bây giờ tất cả
còn nghèo. Được chính phủ cho đi công khai, hợp pháp, đi để kiếm sống ở Mỹ, ở
Canada hay ở Úc, tôi chấp nhận cả. Qua đó cũng phải đổ mồ hôi mới có miếng ăn.
Tôi sẽ lấy vợ trong cộng đồng người Việt và sẽ có thiếp báo hỉ gửi về cho các
bạn vào năm 1991. Được chưa nào?
Nếu tôi may mắn được như Hoàng và Hương thì tôi ở
lại. Tôi đi để có chút vốn rồi mai này sẽ trở về thăm lại Sài Gòn. Nếu có số
“hên” thì tôi sẽ ở lại làm một chuyện liên kết, liên doanh gì đó, thiếu gì
“mex” phải không? Song tất cả mọi ước mơ đều phải có tiền, có vốn! Tôi tin rằng
các bạn sẽ có những chuyến đi du lịch sang Âu châu, Úc châu. Các bạn sẽ gặp tôi
ở nước ngoài. Cũng có thể nếu Vinh này phất thành triệu phú thì tôi sẽ gửi vé
máy bay về mời các bạn!
Lúc ấy ta sẽ hàn huyên, kể lại cho nhau nghe những
ngày ở Pleiku mười lăm năm trước, chuyện tôi và ông bị đại úy Hàm bỏ tù rồi
vượt ngục, rồi ông cứu Diễm Hương như chàng Thạch Sanh cứu nàng công chúa, rồi
ông bà về Sài Gòn làm lễ cưới tưng bừng, rồi cháu Lê Minh ra đời, rồi thằng Hàm
đeo đuổi toan ám hại ông, rồi nó và đồng bọn bị bắt. Nó lãnh án tử hình về tội
giết Huỳnh Đức để chiếm đoạt năm cây vàng, còn Huỳnh Thị Bé và đồng bọn đều đã
được tha. Rồi những ngày khó khăn vì bao cấp, rồi những ngày vui vẻ vì xóa bỏ
bao cấp như hôm nay. Ngàn lẻ một chuyện buồn và Ngàn lẻ một chuyện vui. Tôi và
ông sẽ ngồi lại với nhau, có “trà dư tửu hậu” đàng hoàng nữa chứ! Thôi nhé, tạm
biệt, chiều chủ nhật này đến uống “rượu nhạt” với tôi nhé, để cho tôi không còn
ân hận trước giờ bay!
***
Diễm Hương lại ngồi trước bàn trang điểm. Đặt thỏi
son lên môi, cô mỉm cười với bóng mình trong gương: mình vẫn còn trẻ, còn đẹp
và giữ được tình yêu trọn vẹn của chồng. Lê Hoàng thường khen: “Em trẻ lâu thật
đấy, khi con gái chúng ta bước sang tuổi mười lăm thì chúng ta cũng bước vào
tuổi ba mươi sáu”.
Lê Hoàng thường nói đến sắc đẹp trời phú cho Hương.
Hương đã giữ gìn chẳng phải cho riêng mình, mà còn cả cho anh nữa. Hương trẻ
lâu, song không có nghĩa là không già. Thời gian đã đi qua trên mỗi số phận con
người. Hai mươi năm chia cắt, ba mươi năm chiến tranh tàn khốc, hàng triệu
người đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chiến cuộc đã xô đẩy anh đến
với em và em đến với anh. Sự suy nghĩ đúng đắn của ba má đã giữ anh lại, đã giữ
em lại trong mái ấm gia đình. Gia đình ta đã nghèo đi khi đất nước chưa mở cửa.
Những biến động trên thế giới gần đây đã thức tỉnh lòng người. Đất nước đang
hồi sinh và đang chắp cánh cho mỗi con người.
Lê Hoàng nói về những suy nghĩ của anh. Diễm Hương
không sao nhớ hết được. Giáo sư Lê Vỹ đã hiểu được tâm tư nguyện vọng của những
đứa con. Ông tạo mọi điều kiện để Lê Hoàng có thể kế tiếp được ông sau này và
Diễm Hương không chỉ quẩn quanh với bếp núc, với con cái. Diễm Hương đã được
trở về với nghề truyền thống của quê hương. Nét tài hoa của cô gái Tân Uyên đã
in dấu ấn trên mỗi sản phẩm ra đời.
Diễm Hương muốn nói với má Bảy: “Má ơi! Con sẽ sống
xứng đáng với ba con, ba đã hy sinh để cho con có được ngày hôm nay. Má đã nuôi
con khôn lớn. Anh Hoàng đã cứu sống con và yêu con hết mình. Chúng con đã chấp
nhận cuộc sống khó khăn mười lăm năm qua để tìm lại nguồn vui ngay trên đất
nước của mình. Cái Thiện đã thắng cái Ác, mỗi người đang tự cởi trói để vươn
tới tương lai mặc dù trước mắt chúng con còn vô vàn khó khăn, vật tư khan hiếm,
chất lượng sản phẩm có lúc chưa cao, đời sống người thợ còn lắm bấp bênh...”
Diễm Hương nhìn lại nụ cười của mình trong gương,
niềm vui hôm nay làm cho Hương cảm thấy mình trẻ lại như thời con gái.
Sài Gòn đang trở lại phồn vinh, đang vẫy gọi...
Mùa Xuân 1990
Nguyễn Thiện Thuật
No comments:
Post a Comment