I
Cô gái rụt rè bước vào từ phía cánh cửa khép hờ sau
khi đã gõ nhẹ tay "cạch, cạch" theo thói quen lịch thiệp và đã được
người ngồi trong phòng đáp lại uể oải:
- Xin mời vào!
Cô gái nhỏ nhẹ:
- Em chào anh Sĩ...
Người thanh niên chừng như miễn cưỡng phải đáp lại:
- Chào cô...
Cô gái nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế bành bọc nhung xanh
đối diện với anh thanh niên. Cô đặt hai bao thuốc lá 3 số 5 lên bàn:
- Thưa anh, ông thiếu tá cho em mang thêm thuốc lá cho
anh...
- Cám ơn cô...
à quên, xin lỗi, cô tên chi nhỉ? Cô thì nhớ tên tôi, mà tôi lại cứ quên tên cô…
Cô gái khép nép:
- Dạ, thưa: em tên là Lệ Ninh.
Anh thanh niên trầm lặng gật đầu:
- À. Lê Ninh! Lệ Ninh, cái tên hay thật đấy.
- Dạ, có hay chi đâu, anh! Ba má em đặt cho em, anh cứ quá khen...
Anh thanh niên chừng như đã cảm thấy dễ chịu hơn nghe
lời giãi bày của cô gái. Anh nói vui vẻ:
- Khi còn ở Hà Nội, đi học phổ thông, tôi có được đọc
một cuốn tiểu thuyết của Nga từ thời trước cách mạng được nhà văn Vũ Ngọc Phan
dịch sang tiếng Việt có tên là An-na-kha Lệ Ninh (từ nguyên bản An-na
Ka-rê-ni-na). Nay tình cờ tôi lại gặp cô, cô có cái tên Lệ Ninh, tên hay thật
đó mà, hay mà lại đẹp nữa!
Cô gái lộ vẻ mắc cỡ, chớp chớp hàng mi dài, làm cho
đôi mắt càng bâng khuâng.
Anh thanh niên bắt gặp cái nhìn của cô gái, vội quay
đi, nhìn qua song cửa. Ngoài trời, nắng buổi sáng đã bừng lên trên những ngọn
cây cao.
Lệ Ninh nhìn theo rồi nói:
- Ở ngoài Bắc có lẽ trời đã trở lạnh còn ở đây vẫn là
nắng nóng. Cái nắng Plây Cu đến dễ sợ, phải không anh? Anh Sĩ có sợ nóng không?
Sĩ quay lại, nhìn cô gái:
- Tôi cũng đã quen. Với lại tôi đang là tù binh thì
nóng sao cũng phải chịu!
Lệ Ninh mim cười:
- Anh Sĩ là tù binh, nhưng là tù binh hạng đặc biệt được
ưu đãi mà!
Sĩ không bỏ lỡ cơ hội, khai thác:
- Nay ưu đãi thì mai sẽ là cực hình, đó là điều tôi biết
chắc chắn...
Lệ Ninh khe khẽ thở dài:
- Em nghe ông thiếu tá nói: theo lệnh của thiếu tướng
tư lệnh, không ai được phép động đến người anh...
Sĩ lắc đầu: Không phải như thế đâu! Tôi đã sa cơ, lỡ
rơi vào tay ông thiếu tá thì sớm muộn tôi cũng phải hy sinh vì tôi là người
lính của phía bên kia! Tôi chỉ là anh lính quèn, anh binh nhì làm nhiệm vụ
trinh sát, các ông ấy bắt được tôi, sẽ thẩm vấn, khai thác xong thì bắn bỏ.
Cô gái lắc đầu:
- Đó là suy nghĩ của anh. Em nghe mấy ông nói thì lại
khác kia...
- Khác sao?
- Thiếu tá nói: bắn bỏ anh thì dễ, nhưng khai thác anh
mới là khó, mà nếu thuyết phục được anh tình nguyện xin hồi chánh, trở về với
chánh nghĩa quốc gia thì mới thật là tuyệt vời!
Sĩ làm bộ ngạc nhiên: Lại thế nữa kia ư!
- Dạ, em nghe ông thiếu tá nói, em tin...
Sĩ cười nhạt:
- Thế thì cô đích thực là Thiên Nga, Phượng Hoàng, chứ
đâu phải chỉ là chiêu đãi viên? Lệ Ninh lắc đầu:
- Dạ. Cũng lại là suy nghĩ của anh về em đó thôi. Em đầu
có xạo? Em chỉ là chiêu đãi viên câu lạc bộ Phượng Hoàng, chưa một lần nào là
Thiên Nga. Thiên Nga là lính của bà Trần Lệ Xuân thời ông Diệm, ông Nhu. Các
ông ấy chết, bà Lệ Xuân đi Mỹ, lính Thiên Nga tan tác. Có nhiều cô gia nhập đội
quân chiêu hồi đi với cán bộ bình định về xã ấp. Công việc của lính Thiên Nga
không phải là công việc của tụi em ở đây...
Sĩ làm ra vẻ thông cảm với cô gái:
- Xin lỗi, bây giờ tôi mới rõ ... Lệ Ninh làm chiêu
đãi viên đã lâu chưa?
- Dạ, thưa: em làm ở đây đã hai năm. Năm 20 tuổi em
làm ở vũ trường Ha-oai của bà Năm ở Nha Trang. Vũ trường Ha-oai đêm đêm toàn sĩ
quan Mỹ đến nhảy, em sợ lắm. Khi được lên Plây Cu, em coi như thoát nạn ...
- Sĩ quan cộng hòa và sĩ quan Mỹ ở đây cũng dữ dằn lắm
chứ?
- Không đâu anh! Đây là đất Cao Nguyên, tụi em được
cưng lắm mà!
Một phút im lặng.
Cô gái bóc một gói thuốc lá:
- Em mời anh!
- Cám ơn cô ...
Sĩ nhìn lại cô gái từ đầu đến chân. Từ trang điểm đến
áo quần, Lệ Ninh có nét đẹp thùy mị, đoan trang khác hẳn cô gái đầu tiên vào
phòng này từ tuần lễ trước: cô ấy có tên là Tuyết, lẳng lơ, ăn mặc lòe loẹt, hở
hang, khêu gợi làm cho Sĩ vừa có cảm giác ghê ghê, vừa có cảm giác mình bị xúc
phạm. Tuyết đã mang đến dây cả một tập dày báo chí Sài Gòn các loại như tờ Tiền
Tuyến của quân lực Việt Nam cộng hòa, tờ Trắng Đen của phái đối lập và cả mớ tạp
chí phương Tây với những hình ảnh khỏa thân của những cô gái giang hồ. Ngay lúc
ấy, Sĩ đã chép miệng quay đi, làm cho Tuyết phải thất vọng rồi cô ta che miệng
cười và hỏi:
- Lính Bắc Việt các anh không quen xài mấy thứ báo này
sao?
Sĩ đáp, giọng khô khốc:
- Tôi mới bị bắt vào đây, còn nhiều thứ phải lo, phải
nghĩ, còn bụng dạ nào mà xem báo?
Tuyết vẫn nhởn nhơ:
- Anh cứ coi báo đi, cho khuây khỏa mà! Ông thiếu tả
nói với em thế!
Ông thiếu tá nào đây? Có lẽ không ai khác là một tên
ác ôn hay một tên cán bộ chiêu hồi. Sĩ nghĩ thế và nhìn thẳng vào mắt cô gái:
- Nhờ cô nói lại với ông thiếu tá, tôi còn mệt mỏi lắm,
còn cần giấc ngủ hơn...
Và anh đã hết nằm lại ngồi ngả người vào lưng ghế, khi
ngủ đã đành mà khi thức cũng lại nhắm nghiền hai mắt... Anh đang chuẩn bị cho
mình những câu trả lời chất vấn của kẻ địch và cả những sự chịu đựng, thử thách
của những trận đòn thù rất man rợ, và có thể anh sẽ phải hy sinh.
Thái độ lạnh nhạt của anh với cô gái nhảy có tên là Tuyết
khiến cho ông thiếu tá thay đổi ngay kế hoạch thăm dò: Lệ Ninh đã xuất hiện từ
ba hôm nay với anh lính Bắc Việt này với phong cách khác hẳn cô Tuyết, và Ninh
đã trò chuyện được với anh lính Bắc Việt này.
Giờ đây, để cô gái có tên là Ninh được yên lòng, Sĩ đã
rút một điếu thuốc đặt lên môi và bật ngọn lửa ga rít một hơi dài. Ninh pha một
ấm trà nóng, rót ra chén:
- Mời anh!
Sĩ đỡ chén nước từ tay cô gái:
- Cám ơn!
Cô gái nhìn anh thật trìu mến:
- Ngoài Bắc lạnh
nhiều, mấy anh ưa uống trà nóng. Vào Nam, anh nên tập thói quen dùng trà đá đi
...
Sĩ lắc đầu:
- Có lẽ tôi chẳng dám nghĩ đến một thứ trà nào lúc này.
Khi ở rừng thì có bi - đông nước lạnh, khi hết, bị khát thì lại uống nước suối.
Còn bây giờ, như cô nói: tôi đang được ưu đãi, ngồi ở đây uống chén nước nóng
này, hãy biết có ngày hôm nay. Còn ngày mai có lẽ tôi sẽ bị treo ngược lên, bị
tra tấn và sẽ “được uống” từng xô nước dơ bẩn ...
Câu nói của Sĩ làm cô gái giật mình:
- Sao anh cứ bi quan thế?
- Đó là sự thật, sự thật sẽ còn tàn nhẫn hơn thế!
Lệ Ninh ái ngại:
- Em biết nhiều người tù bị tra tấn, gầy rạc đi, ốm ho,
hộc máu ra mà chết nhưng với anh, em lại có linh cảm rằng anh sẽ không bị ngược
đãi như thế!
Sĩ lắc đầu ngao ngán:
- Có lẽ tôi
không lầm đâu. Chỉ ngày mai, ngày kia thôi, tôi sẽ phải lần lượt trả lời những
câu hỏi của ông thiếu tá và sẽ phải ăn đòn. Và nếu điều đó xảy ra thì cô Ninh sẽ
hết ngạc nhiên...
Cô gái khép nép:
- Dạ. Em đến đây là theo lệnh ông thiếu tá, thấy anh
vui vui là em mừng. Còn nếu anh chưa vui được thì em cũng chịu, biết làm sao?
Sĩ gật đầu:
- Cô nói đúng đấy! Người ta còn để tôi yên có nghĩa là
sẽ hành hạ tôi tới chết. Tôi nói dăm ba câu cho tạm thời khuây khỏa để chuẩn bị
cho cuộc chiến đấu quyết liệt ngày mai thôi. Với người lính như tôi, đã đến bước
này thì sự hy sinh là không tránh khỏi... Thôi nhé xin thứ lỗi, cô Ninh có thể
trở về nhiệm sở được rồi. Xin cô khép giùm tôi cánh cửa lại. Tôi muốn được yên
tĩnh....
Cô gái đứng lên:
- Dạ. Em xin chào anh! Cô lui bước ra khỏi phòng sau
khi đã khép lại cánh cửa thật nhẹ nhàng.
Còn lại một mình với ấm trà, khói thuốc, Sĩ lại nhắm nghiên
hai mắt, chìm đắm trong suy tư, song hôm nay, anh không thể quên được hình dáng
của Lệ Ninh, một cái tên gợi nhớ đến một cái tên Hà Nội của anh: Lệ Hằng! Phải
rồi, Lệ Hằng, cô bạn hay hát, hay cười đã làm anh say đắm. Bây giờ Lệ Hằng có
hiểu được không, anh đã là một người lính bị địch bắt làm tù binh giam lỏng ở
đây ...
Sĩ bồi hồi xúc động, muốn kêu lên: “Lệ Hãng ơi! Biết
bao giờ anh mới nhận được thư em? Và biết bao giờ ta mới lại gặp nhau? Hay là sẽ
chẳng có bao giờ?”
***
Sĩ đang ngồi đối
diện với một người được biết là thiếu tá Cang trong phòng 1, phòng thẩm vấn những
người bị bắt làm tù binh.
Cang có khổ người thấp, đậm với nước da đen sạm và đôi
mắt trắng dã. Cái nhìn sắc lạnh của Cang xoáy vào gương mặt cương nghị của người
thanh niên. Hắn mở tập hồ sơ để sẵn trên bàn, hất hàm hỏi:
- Anh là Nguyễn
Văn Sĩ?
- Thưa vâng.
- Nếu anh khai man, anh phải chịu trách nhiệm trước
tòa án binh, nghe chưa?
- Dạ.
- Tôi đọc lại, nghe đây: Họ và tên: Nguyễn Văn Sĩ, 21
tuổi, địa chỉ: số ... Phố Nguyễn Du, Hà Nội, là học sinh học hết cấp 3 phổ
thông, vào bộ đội tháng 8 năm 1971, cấp bậc: binh nhì, đơn vị: đội trinh sát
thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 2, trung đoàn 1, sư đoàn 320, có đúng không?
- Dạ, phải.
- Anh xâm nhập Plây Cu cùng với một đồng đội bị chết, y
có tên là Tâm, có phải không?
- Dạ, phải.
- Từ hôm bị bắt đến nay đã mười ngày, anh có bị đánh đập
không? Có được chăm sóc chu đáo không?
- Dạ thưa: tôi bị biệt giam để chờ thẩm vấn.
Cang cười nhạt:
- Biệt giam hay là ưu đãi đặc biệt cũng thế. Rất may
cho anh, anh đã bị bắt sống, nếu đội tuần tiễu quá tay, đã bắn chết như bạn của
anh rồi. Song, chúng tôi cần bắt sống. Mười ngày qua, anh thấy chánh sách của
Chánh phủ quốc gia có nhân đạo không?
Sĩ im lặng.
Cang lại gặng hỏi:
- Khó trả lời lắm sao?
- Thưa ông, tôi là người lính đi làm nhiệm vụ trinh
sát, đã bị bắt. Sự hy sinh đối với tôi là có thể xảy ra. Mười ngày qua chưa đủ
để tôi có ý kiến trả lời ông được!
- Hừ! Anh cũng cứng cỏi đấy, nhưng mà anh nên nhớ, đã
bị bắt thì chớ có dại dột, chớ có bướng bỉnh để rồi lại phải ân hận. Nếu tôi ra
tay thì… thép cũng phải chảy ra nước, chứ đừng nói chi đến bản lĩnh, đến lập
trường như anh thường nghe Cộng Sản tuyên truyền...
Cang đứng lên, đi di lại lại, nói chậm rãi:
- Anh đã là tù binh, bây giờ chỉ có hai con đường: một
là khai báo thành thật, phản tỉnh để trở về với chánh nghĩa quốc gia thì sẽ được
đối đãi thật tử tế như những người đã hồi chánh. Hai là còn chống lại Quốc thì
sẽ bị bắn bỏ hoặc bị tống ra đảo Phú Quốc làm tù khổ sai! Tôi sẽ cho anh thêm thời
giờ để suy nghĩ, nghe!
Sĩ vẫn im lặng cho đến lúc thiếu tá Cang đứng sững trước
mặt anh, dõng dạc:
- 21 tuổi đời, trẻ người, non dạ quá mà! Hãy suy nghĩ
kỹ đi ... Em! Trở về với chánh nghĩa quốc gia, em sẽ có tương lai sán lạn... Nếu
không thì em sẽ ân hận suốt đời! Còn nhiều thời giờ để em suy nghĩ để có thể…
làm lại cuộc đời!
Sĩ vẫn ngồi như bất động.
Lại còn những ngày dài chờ đợi trong lo âu, thấp thỏm.
Lại những đêm thức trắng trong phòng biệt giam sang trọng như một phòng khách để
mỗi sáng, mỗi chiều lại thấy xuất hiện cô gái có tên là Lệ Ninh.
Sĩ không khỏi ngạc nhiên khi kẻ mang quân hàm thiếu tá
kia lại gọi mình là em bằng giọng ngọt xớt! - Mi đang muốn gì ở ta? Lừa phỉnh,
hù dọa đề thử gân một anh lính Bắc Việt? Sĩ biết chắc rằng dự đoán của anh
không nhầm. Sau lời nói ngọt ngào là những giọng gay gắt trước khi bước vào
phòng tra tấn nhục hình?
Sĩ tự nhủ: “Ta
sẽ chỉ là ta, còn tụi bay, bay cứ làm công việc của chúng bay. Ta đâu có sợ?”
II
SAU BUỔI ĐỐI THOẠI VỚI TÊN THIẾU TÁ Cang, được trở lại
phòng biệt giam, Sĩ đã thấy mình sẽ phải làm gì trong những ngày tới. Không thể đắm chìm trong suy tư đằng đẳng, không thể
bị quan để dẫn tới thất bại trước kẻ thù gian manh, xảo quyệt!
Thế là đã rõ: chúng đang muốn anh quy thuận hoàn toàn,
anh sẽ rời bỏ trận tuyến để trở thành một tên mật vụ, một tên cán bộ bình định,
chiêu hồi hay một tên lính cộng hòa?
Sĩ mừng thầm là mình vẫn còn tỉnh táo để có thể đối
đáp với tên Cang bằng những lời nói vừa có văn hoá, lịch sự, ôn hoà, lại vừa giữ
được tư thế của người lính Bắc Việt, trong lúc tên Cang mặt sắt đen sì, môi
thâm, mắt trắng dã tuôn ra những lời hăm dọa đểu cáng. Hãy tỉnh táo hơn, cứng rắn
hơn để bước vào cuộc chiến đấu mới không cân sức này. Không có vũ khí trong tay,
chỉ còn lại một cái đầu ...
Sĩ mỉm cười một mình. Nhớ lại những dòng chữ anh đã viết
trong bản tự khai báo sau khi bị bắt làm tù binh, anh tự nhủ mình: “Hãy giữ
nguyên lời khai báo, kể cả khi bị đánh đập tàn nhẫn! Lời tự khai đó là: cái tên
thật của anh là Lê Văn Tâm đã được thay bằng cái tên Nguyễn Văn Sĩ là tên của
người đồng đội đã bị địch bắn chết và vứt xác xuống khe sâu. Tâm muốn mình sẽ
mãi mãi được mang tên đồng đội, người bạn ra đi từ Hà Nội, đã anh dũng hy sinh
trong cái đêm hai anh em xâm nhập ngoại vi thị xã Plây Cu. Kể cả địa chỉ của
gia đình Sĩ ở Hà Nội (số .... phố Nguyễn Du), Tâm cũng đã ghi rất rõ ràng, đề
phòng địch sẽ thẩm tra qua mạng lưới điệp viên của chúng... Một bản “Sơ yếu lý
lịch” của Sĩ đã được Tâm chép lại nguyên văn để đánh lừa kẻ địch, và mai đây, nếu
anh được toàn vẹn trở về, anh có thể thay mặt Sĩ (người đã hy sinh) kể lại cho
cha mẹ Sĩ về cái chết của bạn mình lúc 12 giờ đêm ngày 22 tháng 12 năm 1974
ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944). Hai anh lính trẻ của sư
đoàn 320 làm nhiệm vụ trinh sát chuẩn bị cho những trận đánh mùa khô. Chưa kịp
hoàn thành nhiệm vụ thì một đã bị hy sinh và một bị bắt làm tù binh. “Ta chưa
trả thù được cho bạn thì ta quyết không được làm bất cứ một điều gì làm tủi
vong linh của bạn!”. Tâm tự hứa với lòng mình như thế và anh coi đó là một lời
nguyền.
Ôi! Cái đêm không trăng sao - 22 tháng 12 - Sĩ đã trườn
người lên trước khi phải băng qua con đường rải đá để vào Plây Cu, Tâm bò sau
cái bóng nhấp nhô của bạn, cách nhau một cự ly 10 mét...
- Đoàng! Một tiếng nổ làm cho Tâm giật mình và hai
bóng đen nhảy tới: hai tên biệt kích quật Tâm ngã sấp khi anh vừa kịp dứng dậy
sau tiếng súng nổ bất ngờ...
- Bắt sống thằng này, nộp thiếu tá, lấy thưởng, mày!
Tên biệt kích thứ hai giật phắt khẩu súng của Tâm và bẻ
quặt hai cánh tay anh ra phía sau lưng. Tên thứ nhất bấm đèn pin soi vào mặt
Tâm rồi cười hô hố:
- Lại một tên Bắc Kỳ Sắp chết đói hả? Vào đây làm gì?
Mày tưởng chúng tao không có mặt sao? Thằng bò lên phía trước kia đã bị chúng
tao bắn tan xác rồi. Còn mày thì tao phải bắt sống, nghe chưa? Tên biệt kích thứ
ba, tên vừa nổ súng bắn chết Sĩ đã chạy về phía anh bộ đội hy sinh, nó nhặt một
khẩu súng và nắn hai túi áo ngực của người vừa ngã xuống. Nó ngửng lên vừa lúc
tên cầm đèn pin bước tới:
- Chú mày bắn khá lắm. Ta có lời khen. Ta sẽ trình lên
thiếu tá để có trọng thưởng cho chú mày!
- Dạ, thưa trung uý: tên này đã chết, em bắn trúng
lưng nó, đạn xuyên qua ngực, chết ngay lập tức. Ngoài khẩu súng và bi - đông nước,
nó không còn giấy tờ gì khác...
- Hãy lục soát
thật kỹ quanh người nó.
- Dạ, em đã lục kỹ, hai cái túi áo rỗng không.
- Vứt xác nó xuống khe kia rồi quay lại chỗ thằng kia
áp giải nó về nộp cho thiếu tá, nghe!
- Dạ.
Trong đêm tối Lê Văn Tâm bị ba tên biệt kích, thám báo
lôi về bốt gác tiền tiêu của chúng.
Tên cầm đèn pin ra lệnh cho hai tên đi theo: Tao cấm
chúng bay không được đánh đập thằng này. Đã bắt sống được nó thì cứ đem nộp lấy
thưởng, không cần phải đấm đạp chi hết, nhưng phải trói chặt nó lại, đề phòng
nó chạy hoặc đánh lại chúng mày khi nó liều mạng.
- Dạ, anh Hai nói chí phải. Để em trói nó lại bằng sợi
dây dù này rồi sẽ giải nó sang dinh thiếu tá!
Miệng nói, tay làm, tên biệt kích thứ hai có cái đầu
trọc lốc đã nhanh tay trói Tâm bằng sợi dây dù và ấn cổ buộc anh ngồi xuống:
- Ngồi xuống đây cha nội! Đừng có quậy mà lại xơi kẹo
đồng đấy!
Tâm ngồi sụp xuống và lại nghe chuông điện thoại reo.
Tên đội trưởng ác ôn cầm ống nghe:
- Dạ, tôi đây. Dạ, trình thiếu tá, chúng tôi đã nổ
súng bắn chết một thằng và bắt sống một thằng. Dạ, dạ, tôi sẽ mang nó lên nộp
ngay ạ.
Nó đặt ống nghe và ra lệnh cho tên vừa trói tù binh:
- Lệnh của thiếu tá: ta phải mang nộp tên Việt Cộng
này ngay bây giờ! Đi, chú mày dẫn giải nó đi ngay!
Khi đến trước mặt tên thiếu tá, Tâm nghe tên này ra lệnh:
- Cởi trói cho anh bạn ngay!
Khi Tâm được cởi trói, tên thiếu tá cười:
- Anh bạn ngồi xuống đây! Mệt và đói lắm hả? Yên tâm,
vào đến đây rồi thì chắc sống lắm. Không ai còn đánh đập anh bạn nữa đâu! Anh bạn
là lính của sự đoàn nào? 10 hay 320? Cứ chuẩn bị tinh thần, khai cho rõ! Chánh
phủ quốc gia có chánh sách tù binh rất rộng rãi...
Một ly nước lạnh và một gói thuốc lá được đặt lên bàn.
Tâm vẫn ngồi im lặng.
Tên thiếu tá nhìn người tù binh từ đầu đến chân một lần
nữa rồi lại ra lệnh:
- Trung úy mang y xuống phòng biệt giam số 1 cho tắm
giặt, thay quần áo, cho ăn uống đầy đủ. Đề phòng y tự sát hoặc chạy trốn, nghe!
Tên trung uý “dạ” một tiếng rồi xách tay Tâm đứng dậy:
- Theo tôi, đi!
Tâm bị đẩy đi trước, trước mặt anh là ngôi nhà sáng
ánh đèn: phòng biệt giam số 1 ở đó.
***
Cửa phòng bật mở. Tên mật vụ bước vào:
- Nguyễn Văn Sĩ! Lệnh thiếu tá: anh phải chuyển sang
trại số 2, phòng biệt giam số 2A!
Tâm nhìn tên mật vụ, không chút ngỡ ngàng rồi yên lặng
bước đi theo nó.
Nó không quên nói tiếp:
- Mang theo cái túi đựng quần áo nữa!
Tâm xách chiếc túi. Tên mật vụ nhếch mép cười.
- Khai báo hết đi rồi trở về hồi chánh là sung sướng
ngay thôi mà! Đừng có dại dột chống lại ông thiếu tá mà lại chết uổng mạng!
Thấy Tâm vẫn không hé răng, tên mật vụ vẫn dai dẳng
nói:
- Tôi là người đi bước trước. Anh là người đi bước sau.
Tôi nói thật nhé: đã vào đến đây thì chỉ có hai cách: một là về với Quốc Gia,
hai là nhận lấy cái chết đau đớn, ê chề, nhục nhã! Đi Côn Đảo, đi Phú Quốc là mấy
thằng già, còn trẻ trung như anh thì không ai cho đi ở chuồng cọp đâu! Chỉ có bắn
bỏ nếu không chịu đầu hàng! Tôi nói thật nhé: lập trường của các anh là... cái
đếch gì? Hãy vứt nó vào sọt rác, nghe chưa?
Thấy Tâm vẫn trơ như đá, nó đi lui lại vài bước và
nói: Thôi nhé! Cha nội chắc còn nhiều điều mặc cảm, phân vân nên chưa dám quyết
định về với Chánh nghĩa Quốc Gia? Cũng không ai ép buộc đâu. Cứ suy nghĩ kỹ rồi
sẽ trả lời cho ông thiếu tá!
Tên mật vụ mở cửa phòng biệt giam số 2A. Đèn bật sáng.
Tâm nhìn căn phòng: hẹp hơn phòng số 1 và lại có kê hai chiếc giường. Trên một
chiếc giường đã có một người tù ngồi chồm hỗm. Thoáng nhìn người này, Tâm biết
là hắn còn rất trẻ. Thấy Tâm bị đẩy vào, hắn chỉ nhìn chòng chọc mà không nói
được câu nào.
Tên mật vụ gọi:
- Huỳnh Văn Hoà!
- Dạ.
- Từ hôm nay, anh có thêm một người bạn mới nhé. Tôi
giới thiệu luôn: đây là Nguyễn Văn Sĩ lính Bắc Việt, trinh sát của sư đoàn 320
xâm nhập trái phép, bị Quốc Gia bắt làm tù binh. Hai người ở chung phải giữ trật
tự, không được cãi cọ, không được quậy phá, nghe!
- Dạ.
Tên mật vụ lui ra sau khi khóa cửa lại. Tâm ngồi xuống
mép giường, bắt đầu làm quen với anh bạn mới.
- Cậu cũng là tù binh?
- Dạ. Em là
lính cộng hòa, lính bị động viên quân dịch ở Sài Gòn đó anh.
- Tên cậu là Huỳnh
Văn Hòa?
- Dạ. Người dẫn anh vào đây vừa giới thiệu tên em rồi
đó!
- Cậu quê ở Sài Gòn hay lục tỉnh miền Tây?
- Dạ. Em ở quận 1 Sài Gòn, đường Tự Do, tức là đường
Ca - ti - na cũ đó ...
- Ba má làm gì? Có nhiều anh chị em không?
- Dạ, ba em dạy học. Má em buôn đồ cổ có một tiệm buôn
nhỏ. Em có hai chị em em là trai. Chị em hơn em hai tuổi, tên là Hiền, đang học
Văn khoa ...
- Sao cậu bị bắt
vô đây?
- Dạ, em bị động viên quân dịch trong cái chiến dịch “Tràn
ngập lãnh thổ” của ông Thiệu đó. Khi Hòa ước Pa - ri được ký kết rồi, ai cũng
tưởng hoà bình sẽ được lập lại, song ông Thiệu, ông Kỳ không chịu, cho rằng người
Mỹ ký với Bắc Việt là sai lầm và vì thế ông Thiệu phải gia tăng hoạt động quân
sự, lấn đất, giành dân để nống ra vùng giải phóng của Việt Cộng. Quân lực Việt
Nam cộng hòa có một triệu lính cũng vẫn chưa đủ, cho nên ông Thiệu phải bắt
thêm lính. Em bị bắt vào lính vì thế!
- Sao ba má không chạy tiền lo lót?
- Dạ. Có đấy. Nhưng tiền mất, tật mang. Người ta lấy của
ba má em cả cây vàng hứa sẽ giúp đỡ để em làm “lính kiểng” ở Sài Gòn, không phải
ra trận. Thế mà em vẫn bị đẩy lên Cao Nguyên, ở Vùng 2 chiến thuật này. Em sợ
quá, bỏ trốn mới đi được nửa đường về Sài Gòn thì bị bắt trở lại từ hơn một
tháng nay.
- Có bị đánh đập gì không?
- Dạ, không. Ông thiếu tá chỉ doạ dẫm thôi và cho ăn uống
đầy đủ, lại cho em được viết thư về gia đình.
- Thế là thế nào nhỉ? Lính đào ngũ như cậu thì phải bỏ
tù chứ?
- Em thấy mấy
thằng nhà nghèo thì bị bạt tai, tống vào trại số 3 chật chội như cá hộp. Có thằng
bị phơi nắng cả tuần lễ.
- Cậu thử ngỏ ý muốn lo lót, xem ông thiếu tá nói ra
sao?
- Dạ. Em sợ lắm.
Nhưng nếu ba má em được thăm nuôi, lên đây gặp em thì em sẽ nói để ba má em lo
lót...
- Ừ, có khả năng vàng bạc thì nên lo lót mà về chứ!
Đến lượt Huỳnh Văn Hòa hỏi thăm về Tâm:
- Anh là bộ đội Bắc Việt, sao anh lại để cho chúng nó
bắt làm tù binh?
- Tôi làm nhiệm vụ trinh sát, phải đột nhập Plây Cu, mạo
hiểm, nên bị bắt.
- Có một mình anh?
- Không. Có hai người. Tôi và bạn tôi. Bạn tôi đã bị
hy sinh ...
- Trời!
Tâm nhìn rõ nét mặt Hoà biến sắc. Hắn hỏi tiếp:
- Nó bắn bạn anh?
Tâm gật đầu:
- Một phát súng nổ. Bạn tôi đã chết và bị vứt xác xuống
khe. Còn tôi, tôi không kịp trở tay vì quá bất ngờ. Chúng nó tước mất vũ khí của
tôi và bắt về đây...
- Nó có đánh đập anh không?
- Không. Nó chỉ trói rồi lại cởi trói và theo chúng
nói: chúng phải bắt sống tôi để được lĩnh thưởng của ngài thiếu tướng tư lệnh
Phạm Văn Phú.
- Rồi chúng nó cứ giam anh hoài?
- Chúng biệt giam tôi đã hai tuần rồi, có hai lần thẩm
vấn, có hăm doạ mà không đánh đập. Có lẽ chúng nó còn dụ dỗ, nếu tôi không khuất
phục thì chúng nó sẽ tra tấn và có thể sẽ bắn bỏ thôi!
Hoà ngậm ngùi:
- Khó khăn cho anh quá, anh ơi!
Tâm nhìn lại vẻ mặt còn măng sữa của Hoà, giọng nói của
anh đã đanh lại!
- Không sao! Với tôi thì tôi đã sẵn sàng chấp nhận hy
sinh. Đã là lính thì phải chiến đấu với kẻ thù và trong chiến đấu thì sự hy
sinh, mất mát là chuyện thường tình. Bao nhiêu bạn tôi đã ngã xuống. Người sống
sẽ trả thù cho người chết. Nói vậy, không phải là sách vở đâu, và tất cả đều đã
trở nên bình thường.
- Vì thế mà không còn gì phải e ngại?
- Đúng. Tôi đang chờ đợi xem họ sẽ còn những trò gì nữa
đối với tôi. Giờ đây, tôi không có một tấc sắt trong tay, cũng không có một đồng
xu nhỏ ...
Hòa tỏ vẻ khâm phục:
- Anh cứng cỏi
lắm, nhưng mà em vẫn cứ lo lo cho anh.
- Cậu lo cho tôi không chịu nổi đòn tra tấn chứ gì?
- Dạ, em cứ thấy mấy anh bị đánh đến chết mà em sợ quá.
Có thể cũng chẳng còn gì để khai báo, làm cho họ tưởng là mình ngoan cố không
khai thế là họ đánh chết! À, anh cho phép em hỏi anh được không?
- Cậu cứ hỏi!
- Anh quê Hà Nội?
- Phải. Nhà tôi ở số ... phố Nguyễn Du, Hà Nội. Ba má
còn khoẻ cả. Tôi tình nguyện vào bộ đội đã hai năm nên không vào đại học. Kể ra
thì cũng thiệt thòi, nhưng cũng không sao, để sau này hết chiến tranh thì xuất
ngũ và học lại cũng không muộn...
Hoà hơi sửng sốt:
- Hết chiến tranh? Bao giờ thì hết chiến tranh hả, anh?
- Mỹ đã rút rồi. Ông Thiệu làm sao đứng vững nổi nếu
không thực hiện hoà hợp dân tộc như Mặt trận dân tộc giải phóng đã ra lời kêu gọi?
- Dạ. Em thấy ông Thiệu, ông Kỳ chừng như không muốn
chịu nhượng bộ?
- Họ không thể đừng được!
- Trời! Còn gian nan lắm anh ạ! Máu xương còn phải đổ
...
Nghe người bạn tù trẻ tuổi hơn mình nói bấy nhiêu câu,
Tâm đã nhìn lại khuôn mặt còn đầy những lông tơ của cậu ta, anh tự nhủ thầm: “Có
thể tin được những lời bộc bạch của Hòa chưa? Hòa có thật là một anh lính cộng
hòa đào ngũ hay lại là một thứ mật vụ được cài vào đây để dò xét ta? Cũng như
cô gái có tên là Ninh hiền dịu kia được cử đến để thay thế cô gái có tên là Tuyết
lẳng lơ mà ta không thèm bắt chuyện? Ta đang sống giữa một bầy sói, không thể
nhẹ dạ, cả tin để mất cảnh giác, dẫn đến tai họa được”. Nghĩ vậy, Tâm liền nói
với Hòa:
- Này, cậu có nghĩ rằng: chúng ta ở đây là đang nằm
trong tay ông thiếu tá Cang?
- Dạ, có chứ ạ!
- Ừ, cậu có biết ngoài hai chúng ta còn có ai đang ở
trong cái phòng giam này nữa?
- Dạ, còn có ai đâu ạ?
Tâm cười:
- Thế thì cậu quả là ngây thơ! Tôi nói cho cậu biết: ở
đây đâu phải chỉ có hai đôi tai của tôi và của cậu, mà còn có một cái tai nữa của
ông thiếu tá Cang! Họ đặt nghe ở nơi nào đó quanh đây để thu hết mọi lời sự của
anh em ta đó. Cái máy ghi âm nhỏ xíu thậm chí đến hai, ba cái - đặt sau những lỗ
cửa tò vò trên cao kia, hoặc dưới hốc bàn, đã thu hết mọi tiếng động, lời nói ở
đây rồi. Hàng ngày những cuốn băng ghi âm hiện đại ấy sẽ được gửi về phòng khai
thác để khuếch đại, tăng âm và sẽ lọt vào tai ông thiếu tá Cang. Ta bàn tính
chuyện gì, ta lo sợ đến đâu họ đều biết cả. Họ để ta sống, hay thủ tiêu, bắn bỏ
lúc nào cũng được!
Hòa như vỡ lẽ ra:
- Dạ, anh nói có lý lắm!
- Rồi mai đây cậu sẽ lại thấy xuất hiện cô Tuyết, cô
Ninh ở cái phòng này. Cậu và tôi sẽ “rơi” vào vòng tay của cô nào? Ông thiếu tá
cũng sẽ biết hết! Chưa kể hàng ngày, hai cô này còn phải tường trình với họ tất
cả mọi nhận xét, mọi thu hoạch của hai cô ấy về thái độ của hai đứa chúng ta!
Ta đã muốn đầu hàng chưa? Có sắp hồi chánh chưa? Hay còn ngoan cố chống lại Quốc
Gia? Họ cần phải biết để “đánh” trúng! Ta là cái gì đâu mà họ phải ưu đãi cho tốn
công, tốn của?
Hòa ngồi thần mặt ra suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Dạ, em đã hiểu. Nhưng em cứ nghĩ: anh là lính Bắc Việt,
lại là trinh sát, họ cần lôi kéo anh về hàng ngũ Quốc Gia để phản kháng với đối
phương, chứ em chỉ là thằng hèn nhát, đào ngũ thì họ lôi kéo em làm gì?
Tâm lắc đầu:
- Hãy cứ để xem
sao! Họ tinh quái lắm chứ không đơn giản như cậu nghĩ đâu! Nếu quả thật cậu
không phải là mật vụ, không phải là người của ông thiếu tá thì cậu cứ phải chuẩn
bị sẵn sàng một sự đối phó với họ.
Hòa kêu lên:
- Dạ. Anh hãy tin em đi! Em không phải là mật vụ đâu!
Em có thế nào thì em đã nói hết với anh rồi đó.
- Ừ thì tôi cứ tin cậu. Vì dù sao ta cũng đã là đôi bạn
tù binh rồi kia mà! Sở dĩ tôi nói với cậu như thế vì kinh nghiệm bản thân không
cho phép tôi được mất cảnh giác. Với tôi thì ở đây hay ngồi trước mặt ông thiếu
tá, tôi cũng vẫn nói như thế. Tôi là tôi! Tôi là người lính của phía bên kia.
Tôi dấn thân vào đây, tôi đâu có sợ cái chết? Sự hy sinh của người lính là lẽ
thường xảy ra cũng như người đồng đội của tôi đã bị bắn chết và bị vứt xác xuống
khe sâu. ...
Đến lượt Hoà lại nhìn Tâm thật lâu để cảm nhận thêm ở
người bạn lớn tuổi dạn dày kinh nghiệm này một cái gì như là sức mạnh đề kháng
rất quyết liệt, như gang, như thép. Con người này có thật là cây tùng, cây bách
trước phong ba? Còn mình, mình chỉ là chú học sinh bị ép buộc vào lính, nghe
súng nổ đã giật mình, trông máu chảy đã vội nhắm mắt, bóp cổ súng còn run tay...
Hòa muốn ôm anh Sĩ vào lòng: “Anh Sĩ ơi! Cuộc đời của
anh và em sẽ ra sao đây? Họ sẽ để ta sống hay bắt ta phải chết uổng mạng ở cái
nhà tù này? Anh còn gia đình ngoài Bắc, em còn ba má và chị ở Sài Gòn. Thương lắm,
anh ơi!". Hòa chớp mắt để giấu đi nỗi xúc động lo âu. Tâm thoáng thấy đôi
mắt đỏ hoe của người bạn nhỏ tuổi. Anh phải an ủi:
- Số phận đã đưa đẩy ta đến đây, không thể một sớm, một
chiều đã ra khỏi được nơi đây. Phải can đảm lên và sẵn sàng đón nhận những sự
thử thách mới được! Kêu than, khóc lóc cũng vô ích! Mình phải tự cứu lấy mình
thôi! Nếu quả thật, cậu là lính cộng hoà đào ngũ bị giam, rồi trốn trại, rồi bị
bắt trở lại, rồi lại được biệt giam ở đây thì cậu càng cần phải cảnh giác, để rồi
xem họ còn làm gì đối với cậu? Còn tôi, tôi đã sẵn sàng.…
***
Sự chuẩn bị tư tưởng của Tâm đã không thừa.
Giờ này anh lại ngồi trước mặt tên Cang. Nó làm bộ niềm
nở, đẩy gói thuốc 3 số 5 về phía người tù binh.
- Cậu vẫn khoẻ chứ? Tôi được mấy thằng lính gác và mấy
cô chiêu đãi viên báo cáo lại rằng cậu và cậu Hòa sống vui vẻ ở phòng 2A phải
không?
- Dạ.
- Thế là được. Mấy tuần nay, sống trong bốn bức tường,
buồn lắm phải không? Tôi sẽ cho các cậu đi du ngoạn quanh đây, đi xa hay đi gần,
tuỳ các cậu. Thích đi thì cứ nói...
- Dạ.
Tâm tự nhủ: “Tao hãy cứ nghe mày nói, để xem mày sẽ
còn làm gì nữa? Sự căng thẳng lúc này chưa cần thiết..."
Tâm vờ như người mới tỉnh ngộ với thái độ thụ động, ngồi
nghe lời chỉ dẫn của ngài thiếu tá.
Tên Cang lại nói ôn tồn:
- Hôm nay cậu nói kỹ cho tôi nghe nhé: cậu và thằng bạn
đã chết vào đây làm nhiệm vụ trinh sát nhưng cụ thể là làm cái gì? Làm bao lâu?
Sẽ liên lạc với cơ sở Việt Cộng nằm vùng nào, trong thị xã Plây Cu? Cứ nói thật
đi, nói hết đi! Tôi cho cậu nói thoải mái, sai thì sửa lại, nói lại. Có sao đâu?
Không rõ cho đến giờ phút này, cậu nghĩ gì về tôi? Có tin tôi hay chưa tin tôi?
Thực tình mà nói, tôi chỉ coi cậu như một cậu em ít tuổi, bồng bột, có lòng yêu
nước nhưng lại sai lầm mà mua lấy cái khổ vào thân. Sao không trốn lính ở Hà Nội
mà đi học? Sao không đút lót để đi học ở Nga Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc,
có sướng đời không? Lại vào nơi rừng thiêng, nước độc này để cho khổ cả một đời
thanh niên? Không chết là may cho cậu đấy! Tôi có thể bắn bỏ, nhưng nhìn cậu đẹp
trai thế kia, tôi nỡ lòng nào? Tôi không phải là kẻ tàn bạo mà tôi có lòng nhân
hậu chứ! Tôi chỉ bắn bỏ những ai dám dại dột chống lại tôi thôi!
- Dạ.
- Ừ, thế bây giờ đủ thời gian bình tĩnh suy nghĩ kỳ rồi,
cậu nói cho tôi nghe: các cậu lén lút vào đây định trinh sát những nơi nào? Thời
gian bao lâu?
- Dạ, thưa ông, chúng tôi có nhiệm vụ quan sát con đường
từ Sở chỉ huy của quân đoàn 2 ra tới sân bay Cù Hanh...
- Để vẽ sơ đồ?
- Dạ, để sẽ vẽ thôi ạ.
- Sao không vẽ ngay mà lại sẽ, lại sẽ vẽ?
- Tôi có thói quen là nhập tâm tất cả những gì tại đã
nghe, mắt đã thấy... để khi trở về căn cứ sẽ nhớ ra và vẽ lại thành sơ đồ báo
cáo với cấp chỉ huy. Cho nên tôi chỉ được phép mang theo lương khô và nước uống
Giấy bút ghi chép và các loại giấy tờ khác đều là thừa đối với tôi ...
Tên Cang gật gù:
- Ừ, cậu nói tiếp đi! Rồi sao nữa? Cậu sẽ hoạt động ở
đây bao lâu?
- Dạ, một ngày. Nếu các ông không bắt được tôi, thì sớm
hôm sau, tôi lọt vào thị xã, chờ lúc dân chúng đi lại tấp nập trên đường, tôi sẽ
cải trang, trà trộn vào đám đông dân chúng đi qua khu Sở chỉ huy của quân đoàn
2 ra đến sân bay Cù Hanh rồi quay trở lại bìa rừng trước khi trời tối... Chờ
cho đến tối hẳn, tôi sẽ tìm về lối mòn hôm trước để về đơn vị. Sẽ có người đón ở
giữa rừng vào lúc nửa đêm...
- Không sợ bị lạc sao?
- Không thể lạc được. Lối mòn đã được đánh dấu bằng
cành cây khô và một vài cây cao. Cứ theo hướng tây, nói đúng mật lệnh là sẽ gặp
được đồng đội...
- Ừ. Còn việc trinh sát, chỉ đi qua bên ngoài thì cậu
sẽ thu lượm được gì?
- Dạ. Tôi chỉ cần biết con đường từ Sở chỉ huy của các
ông ra sân bay to, nhỏ, rộng, hẹp, dài, ngắn thế nào là đủ. Hệ thống tháp canh,
đồn bốt có bao nhiêu cái là đủ...
- Để làm gì nhỉ?
- Dạ. Đó là yêu cầu của cấp chỉ huy của tôi…
- Nghĩa là sư đoàn 320 vẫn đặt Play Cu trong tầm ngắm,
chẳng những qua viễn kính mà còn qua thực địa nữa chứ gì?
- Dạ. Đúng thế ạ.
Cang cười nhạt, mỉa mai:
- Ừ. Bắc Việt làm gì có máy bay trinh sát nên phải
dùng đôi chân của các cậu, cũng đúng thôi. Tiếc rằng trinh sát của 320 lại
không quay về được và cậu lại phải ngồi trước mặt thiếu tá Cang! Có thể các ông
chỉ huy của 320 còn tung vào đây nhiều mũi trinh sát nữa! Nhưng vô ích! Tất cả
đều vô ích. Vì chúng tôi đã giăng lưới khắp mọi nơi. Sẽ bắn bỏ và bắt sống hết!
À còn một câu hỏi nữa, cậu chưa trả lời tôi: các cậu sẽ liên lạc với ai nằm
vùng ở đây?
- Dạ. Chúng tôi không được giao việc ấy. Tôi chỉ được ở
một ngày và phải rút ra trước khi trời tối.
- Ừ, tôi tạm tin lời cậu nói. Nếu cậu nói dối, sau này
tôi tìm ra được đầu mối liên lạc của cậu, thì cậu chở có trách tôi là ác nhé!
- Dạ.
- Còn bây giờ,
tôi truyền lại lệnh của ông thiếu tướng tư lệnh: ngày mai cậu và cậu Hòa sẽ được
đi du ngoạn khắp cả nội ngoại thị xã Plây Cu cho khuây khỏa, sẽ được đi nhà
hàng nhậu nhẹt lai rai... Tôi sẽ cho người mang quần áo mới cho các cậu có đồ
thay đổi. Ăn mặc lúi xùi thế này, không được! Ngài tư lệnh sẽ lại trách cứ tôi
là không quan tâm đây đủ đến các cậu. Thôi, tạm biệt nghe!
Tên Cang chia bàn tay có những ngón mập như qua chuối
mắn về phía Tâm. Anh rụt rè rồi đành phải miễn cưỡng đưa tay ra bắt lấy bàn tay
kẻ thù.
Tên Cang nắm chặt tay anh và lắc mạnh:
- Cứ suy nghĩ thêm đi! Đừng có bỏ phí tuổi xanh ở rừng
rú. Nên quay về với chánh nghĩa Quốc Gia đề làm lại cuộc đời!
Tên Cang gọi tên mật vụ chờ sẵn ngoài cửa:
- Mày đưa cậu Sĩ về 2A, nghe! Tên lính dập gót giầy,
giơ tay lên ngang mặt:
- Xin tuân lệnh thiếu tá!
***
Thiếu tá Cang hoan hỉ ôm những cuốn băng ghi lời đàm
thoại với tên tù binh Bắc Việt có tên là Nguyễn Văn Sĩ đến “Văn phòng mật” của
Phạm Văn Phú thiếu tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật. Cang cũng không quên mang
theo những cuốn băng ghi âm cài trộm ở phòng biệt giam tù binh nộp cho Phú để
chứng minh cho việc làm rất khoa học, rất thận trọng của hắn.
Phú hỏi ngay:
- Thành công tốt đẹp chứ ông thiếu tá?
- Dạ, trình thiếu tướng: kết quả rất mỹ mãn.
- Nó khai thế
nào? Vào đây với mục đích gì?
- Dạ, trình thiếu tướng, tất cả lời khai của nó, kể cả
thái độ của nó đối với chiêu đãi viên, mật vụ của ta, cũng được ghi lại mỉ,
không sót một câu, một chữ. Nghĩa là nó là một tên lính bộ binh, làm nhiệm vụ
thám báo, trinh sát đường đi lối lại của ta ở Plây Cu - nhất là con đường từ Tổng
hành dinh đến sân bay Cù Hanh và ngược lại ...
- Để làm gì?
- Dạ. Theo nó khai là để về vẽ bản đồ cho chỉ huy của
nó. Có lẽ để cho quân Bắc Việt chuẩn bị mở chiến dịch mùa khô ở Cao Nguyên,
đánh vào Play Cu ...
Phú gật gù rồi hỏi:
- Theo thiếu tá, tên tù binh này có phải là một tên
nguy hiểm? Có cần phải bắn bỏ?
Cang tỏ ra thành thạo:
- Dạ, y không phải là tên nguy hiểm vì mới chân ướt
chân ráo đến vùng này, chưa dò xét được gì thì bị ta bắt. Còn tên đi cùng với
nó thì đã chết mất xác rồi.
- Vậy, ta có thể dùng tên này để làm được việc gì không?
Theo mấy con bé chiêu đãi viên nói lại với tôi thì tên này không ham gái, khó bị
mê hoặc và sẵn sàng đối phó với ta nếu bị tra tấn, y có thể chịu chết chứ không
chịu đầu hàng...
- Dạ, thưa: thiếu tướng có ý kiến gì để xử lý tên này?
- Ta sẽ buộc nó phải đầu hàng, không phải bằng đánh đập,
tra tấn mà sẽ dùng thủ thuật của chiêu hồi để buộc nó đâm lao thì phải theo lao...
- Dạ, ý kiến của thiếu tướng rất phù hợp với dự kiến của
tôi...
- Nhưng trước khi ta dùng quỷ kế chiêu hồi, ta hãy buộc
nó phải đưa thám báo của ta thâm nhập vào đường mòn của nó để xác định lại những
nơi ém quân của sư đoàn 320 hoặc sư đoàn 10...
- Dạ, thưa: chắc chắn là bọn chủ lực Bắc Việt đang
phân tán phía Tây Kon Tum và phía Tây Plây Cu. Tên trinh sát này cũng chỉ biết
được lối mòn vị của nó thôi ...
- Ừ, thì ta cứ nắm lấy một con đường mòn dẫn vào vào
căn cứ của nó. Nhưng anh phải chọn mấy thằng thám báo thật can trường của ta mới
việc đó! Nhút nhát, rụt rè sẽ làm hỏng việc đó!
- Dạ.
- Nói thế là anh có thể làm theo ý tôi được rồi. Làm
đi, xong việc sẽ báo cáo lại cho tôi biết, nghe! Nó không có liên hệ gì với Việt
Cộng nằm vùng thì không có gì đáng ngại. Một tên Việt Cộng nằm vùng còn nguy hại
gấp nghìn lần một tên lính bộ binh. Ta phải phân biệt đối xử sao cho có lợi nhất
cho mình mới là khôn ngoan chứ, có phải không, thiếu tá?
- Dạ, phải.
***
Cang vừa về đến phòng làm việc đã gọi ngay Lệ Ninh và
Ánh Tuyết đến giao nhiệm vụ:
- Tôi lệnh cho
các cô phải chuẩn bị mỗi cô một bộ đồ “xịn” để đi chơi với hai tên tù binh ở
phòng 2A. Tôi sẽ cùng đi với các cô. Ngày giờ báo sau, nghe!
Ánh Tuyết đon đả:
- Có công chuyện gì đó, thưa thiếu tá?
Cang làm bộ nghiêm trang:
- Việc nhà binh mà hỏi làm gì? Chỉ biết rằng đây là một
cuộc du hí thả giàn, có nhậu nhẹt, nhảy nhót, có quay phim chụp hình, thế là được
chứ gì? Hoặc các em khoái thì ta cắm trại ngoài rừng, chơi pic-nich cũng là
cách đổi món cho hay...
Lệ Ninh lên tiếng, êm dịu hơn:
- Lệnh của thiếu tá, bọn em đâu dám cưỡng chỉ xin thiếu
tá "bo" cho tụi em thôi!
Cang gật đầu vui vẻ:
- Khỏi lo! Quỹ chiêu hồi đâu có hẹp hòi gì!
Cang hạ giọng thân mật hơn, với cách xưng hộ kiểu bồ bịch:
- Anh phân công thế này: Lệ Ninh cặp bồ với thằng tù
binh Bắc Việt có tên là Sĩ ấy nhé. Em Tuyết cặp với tên tù binh là lính cộng
hoà có tên là Huỳnh Văn Hoà nhé... Trò chuyện, tán tỉnh cho mùi mẫn, nghe?
Ánh Tuyết liếc Cang thật tình tứ:
- Còn anh Cang của em thì cặp với ai? Em ghen đó!
Cang xua tay:
- Khỏi lo! Anh sẽ rủ Mai Lan đi cùng. Mai Lan lớn tuổi,
cặp với anh sẽ hợp hơn. Được chưa?
Chuyện đang rôm rả thì có chuông điện thoại reo vang.
Cang cầm ống nghe:
- Tôi nghe đây! Ai đó?
Từ đầu dây nói đằng kia có tiếng đàn bà:
- Năm Xinh Nha Trang đây! Xin chào thiếu tá ...
Cang tươi hẳn nét mặt, nói như reo:
- A! Chị Năm! Xin chào! Chuẩn xong chưa nào? Lệnh của
thiếu tướng tư lệnh đó. Chuẩn bị sao cho ngon nhé!
- A! Anh khỏi lo! “Đêm Màu Hồng” mừng lễ đăng quang của
thiếu tướng đâu phải giỡn? Tôi sẽ đưa từ vũ trường Ha- oai lên cho các anh 25
nàng tiên nữ tuyệt trần, trong đó có cả cô Ngọc Ngà, hoa khôi số 1 của vũ trường
đó. Thiếu tướng bữa trước ra Nha Trang đã nhảy với em Ngà, rất tâm đắc, có dặn
tôi phải “đưa Ngà lên cho anh” mà!
Cang tỏ vẻ hài lòng:
- Thế là tôi
yên tâm rồi. Chiều mai, lúc 14 giờ, chị Năm và vũ đoàn Ha-oai sẽ phải có mặt ở
Plây Cu đó! Tôi sẽ cho lính ra đón, nghe!
- Cám ơn, cảm
ơn anh nhiều!
Cang đặt ống nghe, quay sang hai cô chiêu đãi viên
đang cười rất tươi khi nghe lỏm được câu chuyện qua cuộc đàm thoại:
- Ngày mai hai em phải đi cùng anh ra đón chị Năm và
“khách” từ Nha Trang lên đấy nhé! Còn chuyện du hí với hai tên tù binh đặc biệt
thì sẽ tiến hành sau “Đêm Màu Hồng”, nghe! Thôi cho hai em về nghỉ và chuẩn bị
mọi việc. Anh còn phải lo chuyện tổ chức lễ đăng quang và “Đêm Màu Hồng” cho
thiếu tướng tư lệnh! Chà, sao mà lắm công chuyện thế này? Tuy nói vậy, song
Cang lại nghĩ đến cái lon trung tá nay mai sẽ cầm chắc trong tay khi Phú đã yên
ổn ngồi vào ghế tư lệnh Vùng 2 chiến thuật. Cang là tay chân đắc lực, sĩ quan mẫn
cán nhất, lẽ nào Phú lại quên công lao của Cang?
III
NGỌC NGÀ BƯỚC VÀO CĂN PHÒNG KHÁ rộng, trang hoàng lộng
lẫy như phòng tiếp khách của một ông lớn. Đi sau cô gái là một sĩ quan mang
quân hàm thiếu tá. Gã cười hềnh hệch:
- Cứ mạnh dạn lên, em! Đây là phòng khách của tức ngài
thiếu tướng tư lệnh. Ngài đã cho tôi gọi em, là ngài đã ưng em đó. Em cứ tự
nhiên như lúc em còn ở nhà hàng Ha-oai ở Nha Trang với dì Năm thôi mà! Em ngồi
xuống đi nào!
Cô gái chỉ kịp “dạ” một tiếng, chưa kịp ngồi xuống chiếc
ghế bành bọc nhung xanh thì cánh cửa phòng khách đã xịch mở: Phạm Văn Phú uy
nghi hiện ra trong quân phục màu trắng, bộ quân phục mà hắn thường trưng diện
trước hàng quân trong những ngày đại lễ. Khác với vẻ mặt lạnh lùng thường ngày,
hôm nay Phú lại tươi cười:
- Em là Ngà? Ngọc Ngà có phải không?
- Dạ, trình thiếu tướng: em là Ngà.
Cô gái chưa nói dứt câu thì ngài thiếu tướng đã chìa
tay ra phía trước mời ngồi:
- Ta cho phép em ngồi! Rồi Phú quay sang viên thiếu tá:
- Ông thiếu tá! Ông cứ để cô Ngọc Ngà ở đây nói chuyện
với tôi, ông có thể cứ về nhiệm sở...
Thiếu tá Cang “dạ” một tiếng rồi nhẹ nhàng quay gót
sau khi giơ tay chào thượng cấp theo kiểu nhà binh. Cánh cửa phòng khách khép lại.
Còn lại có hai người: Phú và cô gái. Phú đặt tay lên vai Ngọc Ngà:
- Em ngồi xuống đi! Bây giờ, tôi cho phép em gọi tôi bằng
Anh. Cứ xưng hô thế cho thân mật, cũng như hôm trước anh đến nhảy ở vũ trường
Ha-oai ấy mà!
Ngọc Ngà khép nép ngồi xuống. Lúc này cô đã bớt hồi hộp
và trở nên tươi tỉnh hơn. Phú nói, giọng thân mật:
- Ở vũ trường Ha-oai có tới 50 vũ nữ. Tại sao anh lại
chọn em? Chọn một mình em?
- Dạ, em không biết ạ.
- Vậy thì để
anh nói cho em rõ: anh mới được Hội đồng tướng lĩnh và tổng thống Thiệu cử anh
về đây làm tư lệnh Vùng 2 chiến thuật thay tướng Nguyễn Văn Toàn bị triệu hồi về
Sài Gòn. Anh vừa nhận bàn giao xong. Mấy ông dưới quyền anh tổ chức dạ hội “Đêm
Màu Hồng” để chúc mừng anh, vị tư lệnh mới ở Cao Nguyên. Anh đồng ý với điều kiện
phải đưa vũ đoàn Ha-oai từ Nha Trang lên vì các em ở Plây Cu này đâu có đẹp!
- Dạ, thưa anh con gái Plây Cu cũng đẹp lắm chứ ạ!
Phú lắc đầu:
- Anh không có nhầm! Khi quyết định đưa vũ đoàn Ha-oai
từ Nha Trang lên, anh nghĩ ngay đến Ngọc Ngà, hoa khôi số 1 đó!
Cô gái nhìn người đàn ông đầy uy quyền ngồi trước mặt
mình bằng một cái nhìn thật quyến rũ:
- Dạ, em cảm ơn thiếu tướng!
Phú nhếch mép cười thật duyên dáng:
- Lại thiếu tướng
rồi! Em kỳ quá! Anh nhắc lại nhé: nếu có người thứ ba ở đây thì anh cho phép em
gọi anh là thiếu tướng cho thêm phần trịnh trọng. Còn bây giờ, chỉ có anh và em
thì em phải gọi anh bằng Anh, nghe!
Cô gái cúi mặt:
- Dạ. Em nhớ rồi.
- Vậy là rất tốt,
rất đáng yêu. Anh nói nốt ý của anh cho em nghe nhé: tháng trước, khi anh qua
Nha Trang, anh đã để ý đến em ngay và thầm ước một ngày nào đó sẽ đưa em về
đây. Hôm nay, việc nhận bàn giao đã xong, anh cho gọi em về đây và... em sẽ ở
luôn đây với anh...
Ngọc Ngà giật mình, kinh ngạc:
- Dạ. Em lại được
vinh dự đến thế sao?
Phú gật đầu:
- Đúng là như thế! Anh đã thích cái gì thì không ai
ngăn cản được, kể cả em nữa.
- Dạ, thưa anh, nhưng mà em thuộc quyền quản lý của di
Năm. Dì Năm dữ dằn lắm anh ạ. Em sợ dì Năm rày la em…
Phú vẫn cười:
- Em khỏi lo. Anh biết mỗi tháng em phải nạp cho dì
Năm bao nhiêu triệu đồng rồi. Anh sẽ “bao” cho em hết! Thậm chí anh còn cho dì
Năm gấp đôi, gấp ba số tiền đó!
- Dạ...
- Và để em ở đây, ở riêng với anh trong tư dinh này …
Ngọc Ngà lộ vẻ sung sướng:
- Em có diễm phúc quá, nhưng còn ... thiếu tướng phu
nhân thì sao? Bà ở Sài Gòn, bà lên đây, biết có em ở đây thì em sẽ chết mất!
mod
Phú vẫn làm bộ thản nhiên:
- Em khỏi lo! Bà ấy không hề ghen. Với lại anh là tư lệnh
quân đoàn 2, quyền uy lừng lẫy cả vùng Cao Nguyên, lan tỏa đến Nha Trang Phan
Rang, Phan Thiết, bà ấy bao giờ cũng phải giữ thanh danh cho anh, một vị danh
tướng của quân lực Việt Nam cộng hoà, đâu phải chuyện giỡn? Anh sẽ bảo đảm an
toàn cho em, báo đảm trăm phần trăm đó. Ông thiếu tá Cang, người vừa đưa em vô
đây là tai mắt của anh, là sĩ quan cận vệ của anh. Ông ta có bổn phận phải bảo
vệ cho em cũng như đang bảo vệ cho anh ...
Ngọc Ngà tỏ vẻ cảm động hơn, nàng nói nhỏ nhẹ:
- Dạ. Em yên tâm rồi!
Phú cúi sát gần cô gái, nâng cằm cô gái nhìn thật sâu
vào đôi mắt huyền ảo của cô:
- Ngọc Ngà em! Anh xin em một nụ hôn đầu tiên nhé!
Cô gái nhắm mắt, tận hưởng ân huệ của ngài tư lệnh.
Phú nói qua hơi thở:
- Cưng của anh! Về danh nghĩa em sẽ là chiêu đãi viên
của câu lạc bộ Phượng Hoàng, song về thực chất, em đã là Người Tình Tuyệt Vời của
anh rồi đó!
Ngọc Ngà e dè nói:
- Em cám ơn anh
nhiều. Em chỉ sợ em không làm vừa lòng anh được thôi?
Phú lắc đầu:
- Em đẹp hơn hẳn cô Diễm Lan chiêu đãi viên ở đây. Em
hiền dịu hơn bà Tuyết Mai vợ ông Nguyễn Cao Kỳ. Em còn duyên dáng hơn cả cô Kim
Anh vợ bé của ông Nguyễn Văn Thiệu!
Ngọc Ngà sung sướng:
- Anh quá khen em, chứ em sánh làm sao được với hai
người ấy?
Phú vẫn thao thao:
- Anh nói thật mà! Ngay đêm nay là đêm trình diễn của
vũ đoàn Ha-oai trên sân khấu câu lạc bộ Phượng Hoàng, song anh tách em ra, em
không phải trình diễn, em là của riêng anh rồi! Anh ích kỷ quá, phải không em?
Một sự ích kỷ đáng yêu đó!
Ngọc Ngà nắm chặt bàn tay Phú:
- Tuỳ anh thôi. Em đâu dám trái lệnh của thiếu tướng
tư lệnh? Phú lại hôn nàng thắm thiết.
Phú gọi dây nói cho thiếu tá Cang:
- Mời ông lên ngay!
Năm phút sau, Cang đã có mặt, nhận lệnh của Phú:
- Tôi nói để
ông thiếu tá biết: từ giờ phút này, cô Ngà là thư ký riêng của tôi, cô không về
nhà hàng Ha-oai ở Nha Trang nữa. Ông báo cho bếp trưởng làm một bữa cơm Tàu chiều
nay, nghe!
- Dạ.
Phú nói tiếp:
- Bữa cơm ăn trước bảy giờ tối để tôi còn kịp đi khai
mạc dạ vũ hội “Đêm Màu Hồng”, nghe!
- Dạ.
Cang lui ra khỏi phòng khách. Còn lại có hai người:
Phú và Ngọc Ngà. Phú khoát tay giới thiệu với cô gái:
- Từ giờ phút này, phòng khách của anh cũng sẽ là
phòng khách của em! Từ đêm nay, em và anh sẽ hưởng tuần trăng mật trong biệt thự
“Bông Mai Vàng” của anh giữa Plây Cu đang treo cờ, kết hoa mừng anh về trọng nhận
chức vụ tư lệnh Vùng 2 chiến thuật!
Ngọc Ngà nép vào vai Phú:
- Anh!
***
Sau vũ hội “Đêm Màu Hồng”, Phạm Văn Phú gọi Trần Văn Cẩm:
- Này! Ông chuẩn tướng!
Cẩm sáng mắt lên:
- Gì đó, anh?
- Ông là phó tư lệnh, đêm nay ông thích em nào, tôi cho
ông chọn.
- Cám ơn, cảm ơn, tôi xin chọn em Huệ!
Phú lại quay sang Lê Khắc Lý:
- Này! Ông đại tá tham mưu trưởng!
Lý cũng lộ rõ niềm vui:
- Gì đó, anh?
- Ông là tham mưu trưởng, ông thích em nào, tôi cho
ông chọn.
- Trời ơi! Thế
thì hết sảy, tôi chọn em Thu!
Phú vỗ tay gọi thiếu tá Cang: - Anh lệnh cho em Huệ đi
theo ông Cẩm, em Thu theo ông Lý, nghe!
Cang tỏ ra mẫn cán:
- Dạ. Anh để em lo, sẽ rất chu đáo mà!
- Còn phần thiếu
tá?
Cang tủm tỉm cười:
- Dạ, xin tư lệnh để mặc em. Tư lệnh khỏi lo mà!
Gã thiếu tá nháy mắt, nhìn lên sân khấu, phía sau cánh
gà, hơn mười cô vũ nữ đang ríu rít thay quần áo và ngấp nghé chờ lệnh của thiếu
tá Cang.
Giao xong nhiệm
vụ cho Cang. Phú lưng thủng đi bộ về tư dinh. Ngọc Ngà mặc bộ đồ ngủ màu lam đã
đón Phủ từ ngoài cửa:
- Sao lâu thế, cưng? Cưng để em mong hoài!
Phú hôn lên môi cô gái:
- Đêm vui mà em! Anh đã giao em Huệ cho ông Cẩm, em
Thu cho ông Lý. Các chiến hữu của anh được tự ý chọn lựa. Toàn là sắc nước
hương trời cả. Còn tên Cang, anh cho nó cũng được tự do chọn lựa. Anh sẽ “bo”
cho dì Năm và các em còn lại 500 đô-la để mai về Nha Trang, tiếp tục ra mắt các
ông Mỹ dưới đó đang chờ đỏ mắt ở nhà hàng Ha-oai....
Ngà dìu Phú vào phòng ngủ:
- Anh thay bộ đô quân phục đi, rồi ... “ban phước
lành” cho em.
Phú ngoan ngoãn làm theo lời cô gái. Hắn nói dịu ngọt:
- Anh vinh
thăng thiếu tướng, trấn ải Cao Nguyên cũng vất vả lắm. Nhưng có em bên cạnh,
anh cũng sẽ quên đi tất cả gian lao.
Ngọc Ngà làm bộ ngây thơ:
- Em xin nguyện
hầu hạ anh hết mình!
Phú nhìn vào đôi mắt bâng khuâng của cô gái:
- Cảm ơn em nhiều...
***
Cuộc họp trong Bộ Chỉ huy quân đoàn 2 chỉ có ba người:
Phú, Cẩm và Lý.
Buổi sáng Cao Nguyên thật yên tĩnh. Ánh nắng ban mai lọt
qua cửa sổ làm cho phòng họp sáng lên
. Phú nói ôn tồn:
- Đêm qua “vui vẻ” rồi. Bây giờ ta bàn công chuyện
nhé!
Cẩm và Lý đều gật
đầu, chờ đợi. Phú lại nói tiếp:
- Anh Lý tham mưu trưởng cho biết hoạt động của đối
phương có gì đáng kể không?
Lê Khắc Lý chỉ vào tấm bản đồ lớn trải rộng trên bàn:
- Phòng tuyến của ta vẫn yên tĩnh…
Phú tròn xoe mắt
hỏi:
- Bộ tổng tham mưu nói với tôi rằng: đối phương đã
tung hai sư đoàn 320 và 10 tới Cao Nguyên rồi kia mà, bây giờ hai sư đoàn này
đang ở đâu chứ?
Lý lễ phép thưa:
- Ông Nguyễn Văn Toàn trước khi rời Plây Cu về Sài Gòn
nhận nhiệm vụ mới cũng dặn lại tôi: “Anh phải chú ý đến 320 và 10 đấy. Họ sẽ “đấm
lưng” mình cho mà xem! "Tôi đang cho thám báo toả rộng ra chung quanh Kon
Tum nhưng vẫn chưa có tin tức gì.
Trân Văn Cẩm lên tiếng:
- Ta không thể
chủ quan được! Có thể hai sư đoàn này đang chuẩn bị cho một chiến dịch mùa khô
mà đối phương thường gọi là “Chiến dịch Thu Đông” ...
Phú gật đầu:
- Anh Cẩm nói đúng! Sự im ắng này làm cho tôi nghĩ đến
một trận bão sẽ nổi lên. Ngọn lửa còn âm ỉ sẽ bùng lên thành đám cháy lớn nếu
ta không cảnh giác đề phòng và ra tay dập tắt!
Đột nhiên, Phú đứng lên, đi đi lại lại theo thói quen
của một ông tướng:
- Tôi cứ nghe đài Hà Nội cũng đủ biết đối phương sẽ nện
ta nay mai. Họ lấy danh nghĩa là chống quân ta lấn chiếm, nống ra vùng giải
phóng của họ và la lối om sòm là ta đang vi phạm hiệp định Pa-ri!
Ngừng một lát, Phú lại dằn giọng nói tiếp:
- Để đối phó, ta đang tràn ngập lãnh thổ. Nếu đối
phương nổ súng, ta sẽ đánh trả quyết liệt. Mấy ông Mỹ cũng thống nhất với ta
như thế. Quân đoàn 2 của ta còn đủ mạnh. Kho vũ khí dự trữ Mai Hắc Đế ở Buôn Mê
Thuột của ta còn đây ắp. Các anh cứ yên tâm. Có điều ta phải chú ý là luôn luôn
cảnh giác. Trước mắt, anh Lý phát hiện cho tôi biết: Sư đoàn 320 và sư đoàn 10
đang ém quân ở đâu? Thám báo phải báo thật chính xác. Dĩ nhiên là quân đội Bắc
Việt đều phân tán trong rừng sâu, trên núi cao, họ không dại gì mà lại đóng tập
trung để bị oanh kích!
Lý đáp:
- Tôi sẽ cố gắng hết mình để tìm cho ra dấu vết của
hai sư đoàn Bắc Việt này!
- Đối phương chưa có khả năng chọc thủng phòng tuyến của
ta. Họ chỉ có thể đánh đồn lẻ để tiêu hao sinh lực của ta mà thôi. Anh Cẩm cần
có kế hoạch “thăm hỏi các già làng” để mộ thêm lính là người Thượng. Chỉ có già
làng nói thì thanh niên Thượng mới nghe. Địa phương quân của ta cần phải được
tang cường lên gấp hai lần số quân hiện nay ...Ngoài ra tôi đã lệnh cho thiếu
tá Cang tăng cường tuần tiễu trong và ngoài thị xã Plây Cu đề phòng các đội biệt
động của Việt Cộng đột nhập thị xã gây ra tiếng nổ làm cho dân chủng hoang mang.
Plây Cu là thủ phủ của Cao Nguyên, nơi đây có Sở Chỉ huy quân đoàn 2, có Bộ tư
lệnh Vùng 2 chiến thuật, ta phải giữ cho tuyệt đối an toàn!
Lý và Cẩm chăm chú lắng nghe mệnh lệnh của Phú. Phú vẫn
đi vòng quanh chiếc bàn được phủ bằng một tấm ban đô lớn. Một lúc sau, hắn tì
tay lên tấm bản đồ, giọng nói trở nên buôn bã:
- Tôi chỉ tiếc rằng tôi được bổ nhiệm lên đây hơi muộn.
Tướng Nguyễn Văn Toàn đã để cho phòng tuyến này bị Việt Cộng pháo kích mùa khô
năm ngoái, bị sứt mẻ mất một phần. Quân lính của ta bị chết, bị thương hàng
nghìn người và bỏ trốn mất nhiều. Năm nay ta phải bổ sung quân số mới mong ngăn
cản được những đợt tấn công của Việt Cộng và ít nhất là hai sư đoàn quân Bắc Việt.
Tổng thống Thiệu căn dặn tôi phải làm nhiều việc lớn lắm. Tôi và hai anh đều là
dân Bắc Kỳ, vào lập nghiệp ở mảnh đất miền Nam này, phải làm cho ông Thiệu, ông
Kỳ và cả Hội đồng tướng lĩnh thấy rõ năng lực chỉ huy tác chiến của chúng ta
nghe!
Nét mặt vốn lạnh lùng của Phú đỏ dần lên cho đến lúc hắn
đấm một quả đấm xuống mặt bàn và dằn giọng nói:
- Nếu không củng cố được phòng tuyến Cao Nguyên này
thì chúng ta nên cởi áo giáp ở đây mà về đuổi gà cho vợ! Các anh có dám hứa với
tôi như thế không nào?
Cẩm và Lý đều giơ tay:
- Anh cứ yên tâm đi! Đó là lời thề danh dự của cả ba
chúng ta!
Phú tỏ ra rất hài lòng:
- Trong chiến cuộc ở Nam Việt Nam, ai chiếm giữ được
Cao Nguyên thì người đó sẽ làm nên chiến thắng! Người Pháp nói thế và ngày nay
người Mỹ cũng nhắc lại như thế! Tôi đã nói với ông Thiệu và cả Hội đồng tướng
lĩnh rằng: Hãy tin ở Phạm Văn Phú, ở Trần Văn Cẩm và Lê Khắc Lý! Bộ ba chúng
tôi sẽ sống chết giữ Cao Nguyên đến người lính cuối cùng!
Phú vừa dứt lời, Lý và Cẩm đã cười rạng rỡ. Cả hai đều
muốn tỏ cho Phú thấy sự đồng cảm của mình. Phú đã bước tới tủ rượu ở góc phòng,
đưa tay nắm một cổ chai rượu Uýt - ky. Hắn rót đây ba cốc rượu mạnh và đưa cho
mỗi người một cốc.
Ca ba cùng cụng ly. Phú nói:
- Nào trăm phần trăm! Xin các chiến hữu cùng tôi cạn hết
ly này để ngày mai ta sẽ bắt tay vào công cuộc phòng thủ Cao Nguyên!
Ba khuôn mặt bừng bừng khí thế.
Phú đặt chiếc cốc đã cạn hết rượu rồi chậm rãi nói:
- Thời Ngô Đình Diệm, ngài đại tướng Lê Văn Tị đã trót
huênh hoang: “Lấp sông Bến Hải, tiến quân ra Bắc!”, làm một trò cười cho Việt Cộng
vì chưa kịp lấp sống Bến Hải, gia đình họ Ngô đã sụp đổ! Ngày nay, chúng ta quyết
không đi vào vết xe đổ của họ Ngô. Việc làm của chúng ta sẽ trả lời, có phải
không các chiến hữu?
Trần Văn Cẩm đã vồ lấy tay Phú, nắm chặt và lắc thật mạnh:
- Anh hãy tin chúng tôi đi! Chúng tôi sẽ không phụ
lòng mong mỏi của anh!
Lý cũng ôm chầm lấy Phú:
- Có anh ở đây, tôi rất yên tâm!
Phú cười nói với Lý, cũng là nói với Cẩm:
- Tham mưu trưởng phải tìm cho ra dấu vết của hai sư
đoàn Bắc Việt và cho tôi biết hàng ngày: 320 và 10 đang ở đâu? Hai sư đoàn chủ
lực lừng danh này sẽ là đối thủ đáng gờm của ta đó!
*****
Trở về phòng khách, vừa ngồi xuống ghế, Phạm Văn Phú
đã nghe chuông điện thoại đổ một hồi dài, hắn cầm ống nghe:
- Tôi nghe đây, ai đó?
Ở đầu dậy nói đằng kia, có tiếng thiếu tá Cang:
- Trình thiếu
tướng, tôi thiếu tá Cang …
- Có chuyện chỉ
vậy?
- Trình thiếu tướng, có ông Lãng Tử ký giả Sài Gòn vừa
tới đây, ông xin gặp thiếu tướng có chuyện rất cần ạ!
- Tôi sẵn sàng
tiếp. Mời ông ấy lên ngay!
Ba phút sau, nhà báo Lãng Tử chệnh choạng bước vào
phòng khách của tư lệnh. Vừa nhìn thấy người bạn ký giả còm nhom với cặp kính
trắng quen thuộc, Phú đã reo lên:
- Trời ơi! Ông Lãng Tử! Sao không “phôn” cho tôi trước
để tôi đưa xe ra đón? Lên đây bằng xe đò hay máy bay? Có chuyện chi cần gấp vậy?
Lãng Tử siết chặt tay Phú:
- Tôi đi xe đò, hơi gấp nên không kịp “phôn” trước cho
anh.
Phú dìu bạn ngồi xuống ghế:
- Ngồi xuống đây, kể chuyện Sài Gòn cho nghe nào! Tôi
xem báo và nghe đài thấy nói Nghiệp đoàn ký giả của các ông tổ chức một vụ xuống
đường lấy tên là “Ký giả đi ăn mày” rùm beng lắm mà! Mấy cha nhà báo dữ dằn quá,
yêu sách tổng thống phải diệt trừ nạn tham nhũng với một bản cáo trạng gọi là “Cáo
trạng số 1" có phải không?
Lãng Tử gật đầu:
- Đúng! Báo chí đứng về phe đối lập, yêu cầu chánh phủ
phải giải quyết nạn tham nhũng.
- Ừ, rồi sao nữa?
- Còn sao nữa! Tổng nha cảnh sát lại giở trò khủng bố,
đại khủng bố, khủng bố trắng…
- Dữ vậy? Cảnh
sát dám dẹp các ký giả?
- Họ ném lựu đạn
cay, giải tán cuộc biểu tình trước cửa Hạ viện, sau đó mật vụ bám gót các ký giả,
bắt một số tống giam ở khám Chí Hoà!
Phú rót một ly nước ngọt mời Lãng Tử: Tôi biết ông
không thích bia, rượu, mời ông uống Cô-ca Cô-la vậy…
Lãng Tử uống ly nước ngọt. Phú cười:
- Các ông chỉ có cây bút mà cũng dám chống cảnh sát,
chống chánh phủ thì ghê thật!
Lãng Tử phân trần:
- Tôi nhanh chân chạy lên đây. Nếu chậm thì họ cũng bắt
tôi rồi.
- Ông sợ ư?
- Không hẳn như thế, nhưng tôi phải lên cầu cứu anh vì
tôi biết đằng sau cuộc khủng bố các ký giả có bàn tay của ngài trung tướng Đặng
Văn Quang, cố vấn Quang… an ninh của ông Thiệu, mà anh lại thân với Đặng Văn Quang…
Lãng Tử đặt ly nước xuống bàn, nhìn Phú chờ đợi.
Phú thủng thăng nói:
- Tôi là con nhà võ dám đâu can thiệp vào công việc của
nhà văn, nhà bảo? Tôi với Quang là chỗ thân tình, song trong cuộc này, tôi nói
chưa chắc Quang đã nghe tôi? Ông lên dây với tôi, lấy tư cách cá nhân hay là có
sự uỷ nhiệm của Nghiệp đoàn ký giả?
Lãng Tử lắc đầu:
- Với tư cách cá nhân thôi. Tôi có là nhân vật quan trọng
đâu. Thấy mấy cha rủ tôi xuống đường là tôi đi liền mà! Thấy cảnh sát làm hung,
thú thật với ông, tôi cũng sợ! Theo tôi cứ viết báo, cứ đăng, hà tất phải xuống
đường! Làm như thế tức là làm chánh trị rồi. Tôi là cây bút độc lập kia mà, có
đứng về phe phái nào đầu mà kình chống với cảnh sát?
Phủ vẫn cười
hóm hỉnh:
- Nghĩa là ông thấy cảnh sát bắt bớ là ông hoảng chứ
gì?
Lãng Tử phân trần:
- Hoảng chứ. Với ông, tôi cứ nói thật: mấy thằng cảnh
sát vốn thô bạo, võ biền, chúng nó cứ... thượng cẳng chân, hạ cẳng tay, quật
dùi cui bạt mạng thì sao? Thân tôi còm cõi thế này, chịu sao nổi đòn? Chờ được
vạ thì má đã sưng! Tôi chỉ còn có ông là bạn bè chí cốt cùng là học sinh Hà Nội
ngày xưa, vào Sài Gòn ông thì thành đạt, hiển vinh. Còn tôi chỉ là anh nhà báo
kiết xác, không vợ, không con trong khi ông lại “cuỗm” được cả bà Lâm Đệ làm
phu nhân...
Phú bật cười:
- Tôi là... trai thời loạn, theo binh nghiệp, nhảy dù
xuống Điện Biên Phủ, suýt chết vì đại bác của Việt Minh, may sao lại chỉ bị bắt
làm tù binh với cái lon đại uý. Khi được trao đổi tù binh, tôi theo mấy thằng bạn
“dông” thẳng vào Sài Gòn, quyết “làm lại cuộc đời”. Ông Thiệu, ông Quang xếp
tôi vào hàng các tướng trẻ đang được người Mỹ chú ý đào tạo. Quang đưa tôi về Bộ
tổng tham mưu, dưới trướng ông Cao Văn Viên... Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tôi leo
dần lên cấp tá. Bây giờ trấn thủ Cao Nguyên, tôi mới là thiếu tướng. Chẳng biết
tôi có giúp được gì cho ông không? Hay là ông cứ ở đây, để tôi sẽ “phôn” cho Đặng
Văn Quang hỏi thử xem sao?
Lãng Tử năn nỉ:
- Ông phải giúp tôi. Tôi cứ tưởng Nghiệp đoàn ký giả
xuống đường biểu tình rất hoà bình thì có cái chi mà Tổng nha cảnh sát phải đàn
áp bằng lựu đạn cay rồi lại cho mật vụ bám theo để bắt bớ?
Phú đáp:
- Cũng tại các ông dám công bố “Bản cáo trạng số
1", đụng đến uy danh của ông Thiệu. Ông Thiệu nghi là các ông la hét để
làm tiền đề cho một vụ đảo chính lật đổ ông ta. Tôi hỏi thực ông nhé: đằng sau
đám ký giả các ông là những ai? Nguyễn Cao Kỳ hay Dương Văn Minh?
Lãng tử lắc đầu:
- Tôi đâu có biết?
Tôi ngán cái trò làm chính trị hội ... bung xung của mấy cha chính khách, của mấy
cha cơ hội…
- Thế thì hà tất
ông phải xuống đường?
- Tại mấy thằng bạn rủ rê rồi ép buộc, không đi theo
chúng nó, chúng nó lại phỉ báng tôi là thằng hèn! Từ nay, rút kinh nghiệm của vụ
này, tôi sẽ ở hẳn trong cái “tháp ngà” của tôi, tha hồ làm thơ, viết văn, thiếu
gì chuyện nhân tình thế thái - Rồi như chợt nhớ ra, Lãng Tử nói:
- Này, ông Phú!
Tôi định viết tặng ông một thiên tinh sử rất thơ mộng…
- Tặng tôi?
- Ừ, tặng ông, vì có hai nhân vật chính là ông và bà
Lâm Đệ vợ ông đó!
Phú cười ngất:
- Ông viết về vợ chồng tôi?
- Đúng thế! Một sĩ quan “Quân lực Việt Nam cộng hoà” với
một hoa khôi Chợ Lớn, một cô Tàu lai xinh đẹp!
- Tôi cám ơn nhã ý của ông. Nhưng có gì là thơ mộng
đâu? Chúng tôi nên vợ, nên chồng là nhờ thằng Cang làm mai, làm mối. Ngày ấy,
tôi mới là thiếu tá và thằng Cang mới là đại uý. Tôi còn trẻ, có số đào hoa, gặp
cô nàng họ Lâm, thấy hay hay là tôi ô kê!
Lãng Tử làm bộ say sưa:
- Rất hay! Ông sẽ kể lại cho tôi nghe ngay buổi chiều
nay. Tôi sẽ viết lại câu chuyện tình 15 năm về trước để tặng ông. Nếu thấy hay
thì tôi sẽ gửi cho Nhà xuất bản nào đó in thành sách, hoặc sẽ đăng tải trên tuần
báo Văn hoặc tạp chí Tao Đàn!
Phú lắc đầu:
- Ông viết thì hoa lá đấy. Tôi chỉ e thiên hạ lại đổ tội
cho tôi là thích khoa trương... Ông có nhã ý tặng tôi thì tôi sẽ lưu giữ bản thảo
trong tủ sách gia đình của tôi, in ấn làm gì! Bao giờ về già, tôi sẽ viết hồi
ký hoặc bấy giờ tôi sẽ mời ông viết giúp tôi nếu binh nghiệp của tôi còn thành
đạt...
- Cũng được,
nhưng tôi đã thích là tôi viết. Ông đừng ngăn cản tôi. Hãy cứ viết thành cuốn
tình sử, còn sử dụng nó ra sao thì tuỳ cơ ứng biến! Có phải không?
- Cũng hay đấy! Theo yêu cầu của ông, tôi sẽ kể một
vài mẩu chuyện đời tôi, chuyện của tôi với bà Lâm Đệ sau chuyển tôi di cư vào
Nam, hồi còn mồ ma anh em Ngô Đình Diệm... Có gì đâu nhỉ, một anh thiếu tá quèn
đã từng bị Việt Minh bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ năm 1954?
Lãng Tử đốt một điếu thuốc lá:
- Nhưng ông lại là bạn tôi. Phạm Văn Phú sẽ còn bảo
lãnh cho Lãng Tử kia mà! Cái ơn tri ngộ này biết đâu sẽ lại chẳng thành một cái
duyên như Bá Nha với Chung Tử Kỳ của Trung Quốc thời xưa?
***
Sau khi gọi dây
nói cho Đặng Văn Quang, cố vấn an ninh của tổng thống. Phú gặp lại nhà báo Lãng
Tử trong cư xá.
Buổi đàm luận thật cởi mở. Phú nói:
- Tôi “phôn” cho “xừ” Quang rồi. Hắn nói rằng Nghiệp
đoàn ký giả làm loạn cả đô thành nên Tổng nha cảnh sát phải can thiệp. Trời ơi,
có cái chi đâu mà các ông lại công bố “Bản cáo trạng số 1" lên án ông Thiệu,
ông Kỳ là đại tham nhũng?
Lãng Tử tủm tỉm cười:
- Cứ như tôi nghe họ nói thì vợ chồng ông Thiệu có tiền
mua vila ở Thụy Sĩ, tiền gửi nhà băng ngoại quốc. Ở Sài Gòn, ông Thiệu có hai
toà nhà. Song tất cả đều dứng tên người khác, cho nên ông Thiệu vẫn vỗ ngực
khoe mình là... liêm khiết, đại liêm khiết! Thật tức cười! Họ còn nói: Bà Mai
Anh - Tổng thống phu nhân có cô em gái nuôi, gả cho ông Lý Long Thần là Hoa Kiều
cỡ bự ở Chợ Lớn! Lý Long Thần đã giúp cho Tổng thống phu nhân làm những “cú áp-phe
động trời"! Lại còn ngài Đặng Văn Quang cố vấn an ninh của ông Thiệu, đang
bị tố cáo ầm ĩ là một tay trùm buôn lậu ma tuý từ khu Tam giác vàng qua đường
Lào về Sài Gòn, giàu nhất nhì ở cái “Việt Nam Cộng hoà quốc” này, có đúng không?
Ông Thiệu là chủ tịch Hội đồng tướng lĩnh, đứng trên cả Hiến pháp, có quyền
sinh, quyền sát đối với các vị đại tá tỉnh trưởng, cái quyền của tổng thống là
quyền... “nghiêng thiên hạ”! Có đúng không ông Phú?
Giọng nói khinh bạc của nhà báo Lãng Tử làm cho Phú phải
giật mình. Hắn trố mắt hỏi:
- Ông có nhiều tư liệu giật gân quá nhỉ? Ai nói ông
nghe vậy?
Lãng Tử được thể, lại thao thao nói tiếp!
- Bọn ký giả phương Tây chúng nó biết hết. Tây biết
thì ta sẽ biết, nhất là chúng tôi hay la cà ở cao lâu, tửu quán, cứ nhậu xỉn rồi
là... phun ra hết! Ví như tên A - Jan Đây - sơn phóng viên chiến tranh của hãng
UPI luôn có mặt ở Sài Gòn - Băng Cốc là người có nhiều “tin mật” khiến cho ông
Thiệu cũng phải kính nể!
Phú phải thú thật:
- Trời! Tôi cũng không ngờ ông Lãng Tử bạch diện thư
sinh của tôi lại rành rọt đến thế? Vậy, ông còn biết thêm gì nữa, ông cứ nói
cho tôi nghe nào!
Lãng Tử rít mạnh một hơi thuốclá:
- Họ còn nói chuyện “mua quan, bán chức” nữa kia! Từ
cái ghế quận trưởng đến cái ghế tỉnh trưởng, cái nào cũng có giá của nó cả. Có
khi được đổi bằng trăm cây vàng, có khi được hậu tạ bằng mấy héc - ta đất đồn
điền hoặc bằng cả vi - la, hoặc nhà mặt tiền. Một anh lính bị động viên quân dịch
nếu có tiền là được giữ lại Sài Gòn làm “lính kiểng”, nếu không tiền thì lại bị
đẩy ra tiền đồn biên giới, thậm chí còn bị đưa ra tận bờ sông Bến Hải! Ông tướng
Nguyễn Văn Toàn người tiền nhiệm ở Cao Nguyên này còn ăn bẩn đến mức khai hàng
nghìn “lính ma” trong sổ lương lính để rút tiền bỏ túi, hoặc sau nhiều trận
đánh, lính chết như rạ, nhưng số lương vẫn không xoá tên người chết để xơi ngon
tiền lương lính chết suốt mấy tháng liền! Có đúng không ông?
Phú đỏ mặt mà vẫn phải cười. Lãng Tử đành dịu giọng,
an ủi Phú:
- Chỉ có ông lấy được vợ giàu, được bà Lâm Đệ bao cho
từ đầu đến chân thì ông mới không phải ăn bẩn, chứ như ông Toàn mà không tham
nhũng thì lấy gì mà ăn chơi, trác táng?
Phú gật gù:
- Lãng Tử có con mắt tinh đời đấy! Ông cứ nói đi, tôi
thích nghe mà...
- Khi được biết “ký giả đi ăn mày” thì dân Sài Gòn đều
muốn hỏi: “Thối nát, mục ruỗng như thế mà sao ông Thiệu, ông Kỳ vẫn tồn tại?” Hỏi
rồi, họ lại tự giải đáp: “Có lẽ còn nhờ có... Mỹ quốc viện trợ" đều đều?
"
Phú lắc đầu:
- Bây giờ thì ... gay rồi! ông Pho, tổng thống Mỹ đang
xin Quốc hội Mỹ phê chuẩn có mấy trăm triệu đô - la cho Việt Nam cộng hoà mà
cũng còn chưa được. Nay mai Bắc Việt lại tấn công thì sao?
- Phú vừa nói dứt,
Lãng Tử đã tỏ ra ngao ngán:
- Tôi hết tin mấy cha tướng lĩnh rồi. Nhưng nếu lật đổ
ông Thiệu, ông Kỳ thì quý vị nào sẽ lên thay? Lại tranh giành xôi thịt trong
lúc Bắc Việt đã đưa được mấy sư đoàn quân chủ lực vào Cao Nguyên này rồi? và Việt
Cộng nằm vùng cũng đang nổi dậy? Mấy mẹ nhà quê không ngớt đưa “Đội quân tóc
dài” bao vây quận lỵ, chi khu? Loạn! Loạn to đấy ông ạ.
Phú vẫn cười gượng
gạo. Lãng Tử trầm ngâm một lát rồi nói:
- Thời cuộc rối như canh hẹ. Tôi biết viết cái gì bây
giờ? Có lẽ viết tiểu thuyết diễm tình là hay hơn cả. Chẳng lo đụng độ với ai!
Tôi lên đây, “ăn vạ” với ông mấy tháng có được không?
Phú gật đầu:
- Chỉ sợ ông chê tôi là võ biền, không biết chiều hiền
đãi sĩ thôi. Nếu ông có lòng chiếu cố đến tệ xá này thì tôi có thể bao ông dài
dài để ông ngồi, ông viết tiểu thuyết trường thiên.
Lãng Tử cười hồn nhiên:
- Đó. Thế là tôi với ông tâm đắc rồi! Tôi đang cần
lánh nạn, ông lại cứu nạn. Tôi sẽ ở đây vì tôi về Sài Gòn thì cảnh sát nó không
tha tôi đâu! Thời buổi loạn lạc này thì kẻ sĩ như tôi khó sống thật. Ngày xưa,
bên Tàu có Tần Thuỷ Hoàng bạo chúa mà rất sợ nho sĩ nên y khủng bố bằng cách đốt
sách vở, chôn học trò. Chữ Hán gọi là “Phần thứ, khanh nho” đấy. Vậy mà Tân Thuỷ
Hoàng vẫn không giữ được ngai vàng và cả A Phòng cùng với ba ngàn cung tần, mỹ
nữ cũng bị thiêu cháy rụi. Tổng thống Thiệu khủng bố ký giả thì rồi sẽ đi đến
đâu? Ai cũng biết Ngô Đình Diệm có luật 10/59 với cái máy chém để chặt đầu Việt
Cộng, vậy mà chính Diệm lại bị phe đảo chính ... làm thịt! Ông Phú! Tôi nói thế
có “phạm thượng” không nhỉ? Vì ông muốn tôi nói hết thì tôi nói, chứ người khác
cạy răng tôi, tôi cũng không nói đâu!
Phú vẫn cười:
- Không sao! Tôi chỉ sợ ông không nói thật chứ như ông
đã nói hết lòng mình từ nãy đến giờ thì tôi rất khoái nghe bởi vì thời cuộc bây
giờ sẽ ảnh hưởng đến binh nghiệp của tôi! Tôi là một thằng rất liều mạng mới
dám lên đây trấn thủ Cao Nguyên này vì tôi biết có hai sư đoàn quân Bắc Việt
đang ém trong rừng, sau lưng tôi kia, vậy mà tôi dám để vợ con ở lại Sài Gòn
lên Plây Cu làm tư lệnh! Cũng như ông Ngô Quang Trưởng dám ra Quảng Trị đối đầu
với Bắc Việt với câu nói xanh rờn: “Ai muốn vào cố đô Huế, hãy bước qua xác tôi!”.
Làm tướng mà ru rú ở Sài Gòn thì thà vứt bỏ súng đạn mà về cho xong!
Lãng Tử cũng cười:
- Chà! Khẩu khí của ông đúng là khẩu khí của con nhà
võ!
Phú trở nên hãng hái:
- Đánh nhau thì một là thắng, hai là thua. Tôi không
thể là một thằng hèn, đúng như nhà văn Lê Văn Trương đã nói...
Lãng Tử bật cười:
- Cái thuyết “Người hùng” của Lê Văn Trương cũng có
người chê bai đấy! Mặc kệ người ta, ai chê cứ chê, chứ tôi với ông ngày xưa học
ở Hà Nội, mê văn Lê Văn Trương lắm kia mà! Lê Văn Trương già rồi, cũng bỏ đất Bắc,
vào Sài Gòn được mấy năm rồi chết trong nghèo khổ, nhưng ít ra cũng để lại cho
đời những tác phẩm mà nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã khen ngợi trong bộ
sách Nhà văn hiện đại in năm 1942 ở Hà Nội.
Lãng Tử khen Phú:
- Ông nhớ lâu thật đấy. Hôm nay không ngờ chúng ta lại
nói với nhau nhiều chuyện đến thế. Từ chuyện thời sự Sài Gòn đến chuyện văn học
tiền chiến. Rốt cuộc lại thì ông đã đồng ý cho tôi được sống ẩn dật ở đây trong
lúc ông còn phải lo phòng thủ Cao Nguyên. Tôi cám ơn ông nhiều đấy. Vậy từ ngày
mai, tôi sẽ viết lại tình sử của ông đấy. Ông cứ yên tâm, tôi viết chơi thôi mà,
không chết ai đâu. Khi tôi viết xong, ông đọc, nếu ông ưng thì tôi sẽ có lời đề
tặng ông và bà Lâm Đệ!
- Tuỳ ông. Ông đã khoái viết thì tôi không ngăn cản. Ở
đây nếu ông thích đi chơi uống rượu cần, đánh cồng chiêng với dân Thượng thì
tôi sẽ sai thằng thiếu tá Cang lấy xe Jép đưa ông vào bản...
IV
CĂN PHÒNG DÀNH RIÊNG CHO LÃNG TỬ được bày biện đầy đủ
tiện nghi sinh hoạt như phòng ở và làm việc của sĩ quan cấp tá. Phú nói với
Lãng Tử:
- Ông lên Cao Nguyên phải khác xa khi ở cái lầu ba của
ký giả Sài Gòn. Chỉ ít ngày thôi, ông sẽ quen dân với không khí ở đây và tôi
tin là ông sẽ làm việc được! Tôi là nhà võ, ông là nhà văn, ta sáp lại với nhau,
có thể làm nên công chuyện... Tôi mới chân ướt, chân ráo lên đây, lại có ông,
thế là... văn võ song toàn rồi!
Phú đã quen cách nói thật khinh bạc của Lãng Tử và cả
hai người thấy cách xưng hô với nhau là rất thích hợp, tiếng “ông” mang tính bạt
mạng hơn cả tiếng “anh” và cả hai đều cảm thấy hình như từ nay họ sẽ không thể
thiếu nhau được!
Phú chưa hết băn khoăn:
- Nhưng mà ông chưa nói hết với tôi về ý kiến của ngài
trung tướng Đặng Văn Quang?
Phú phẩy tay, cười:
- Ông khỏi lo đi! “Xừ” Quang nói với tôi rằng “Lãng Tử
là bạn của anh, tức cũng là bạn của tôi. Sự an toàn của Lãng Tử đã được đảm bảo
bằng vàng! Thằng mật vụ nào dám động đến Lãng Tử tôi sẽ cho nó vài cái bạt
tai!”. Ông nghe “xừ” Quang nói như thế đã yên tâm chưa nào?
- Thể thì tuyệt quá!
Phú nói thêm:
- Tôi sẽ lấy cho ông một giấy thông hành đặc biệt của
Phủ đầu rồng cấp, ông có thể đi khắp lãnh thổ Việt Nam cộng hoà mà không có ai
dám động đến người ông. Ngoài ra, ông còn là thượng khách của tư lệnh Vùng 2
chiến thuật kia mà! Chiều nay, ông Quang sẽ bay lên đây...
- Thật sao? Có chuyện chi vậy?
- Hình như có chuyện cơ mật của tổng thống mà không thể
nói qua đàm thoại được!
Lãng Tử cũng làm bộ tỉnh bơ:
- Mặc các ông, chuyện quân sự, tôi không cần biết...
Phú rút một điếu thuốc lá:
- Mấy hôm nữa, ổn
định nơi ăn, chốn ở xong rồi, tôi sẽ đưa ông đi Kon Tum chơi, trên đó có nhiều
thứ mà ông chưa hề dược thưởng thức
- Cám ơn, cảm ơn nhiều!
*****
Đặng Văn Quang đáp xuống sân bay Cù Hanh đã thấy Phú
túc trực đón ở đó.
Nhìn khắp sân bay dã chiến, Quang nói:
- Việt Cộng có thể pháo kích sân bay của ta được không?
Phú nói chậm rãi:
- Nếu nói là không thể bị pháo kích thì là chủ quan,
mà nói là có thể bị pháo kích thì lại là bi quan. Song, làm tướng như ông với
tôi thì cứ phải cảnh giác, đề phòng vì như Bộ tổng tham mưu đã nói: mùa khô này,
quân đoàn 2 sẽ phải đương đầu với ít nhất là hai sư đoàn Bắc Việt, sư 320 và sư
10 đang ém quân trong rừng núi Kon Tum thì... Phú tôi chưa thể ăn ngon, ngủ yên
được!
Quang nghe Phú nói với vẻ mặt nghiêm trọng thì tỏ ra rất
khâm phục người bạn thuộc nhóm “tướng trẻ”:
- Ông nói như vậy là rất đúng. Tôi rất tán thành ý kiến
của ông. Hôm nay, ông Thiệu cử tôi lên đây cũng chính là vì điều ông vừa nói.
Cao Nguyên này là bức thành đồng, vách sắt bảo vệ cho Việt Nam cộng hòa, chứ
đâu phải chuyện giỡn! Nguyễn Văn Toàn vừa qua làm hỏng cả một ê - kíp, tôi và
ông Thiệu rút hắn về Sài Gòn, cho làm tư lệnh Vùng 3 chiến thuật, cũng yếu đấy
nhưng còn được ở gần sự giám sát của ông Trần Thiện Khiêm tổng trưởng Bộ quốc
phòng. Toàn mà xục xịch thì tôi “quất” ngay!
Phú gật gù và không quên yêu sách:
- Cao Nguyên đã quan trọng như ông nói mà tại sao các
ông không chi viện tối đa cho tôi?
Quang ngập ngừng:
- Có chứ! Ông Ngô Quang Trưởng ở Vùng 1 và ông ở Vùng
2 là những người mà ông Thiệu rất quan tâm, sẽ thoả mãn tới mức tối đa. Ông Trưởng
có kho dự trữ chiến lược ở Đà Nẵng và ông có kho Mai Hắc Đế ở Buôn Mê Thuột,
tha hồ cho các ông bắn... đến mệt nghỉ cũng chưa hết súng đạn kia mà!
- Thôi được. Mời ông lên xe, về đại bản doanh của tôi,
ta sẽ bàn tiếp...
Quang cười, bước lên xe Jép và ghé vào tai Phú nói nhỏ:
- Còn một việc nữa...
- Việc gì ông?
- Hàng từ vùng Tam giác vàng đó!
- À, món cơm
đen chứ gì?
Quang đưa mắt cho Phú biết phải giữ bí mật với tên
lính lái xe:
- Về văn phòng,
sẽ bàn tiếp!
Chiếc xe tăng tốc, cuốn bụi mù trời làm cho Quang phải
kêu lên:
- Đất ba-dan của ông lắm bụi quá!
Phú cười ranh mãnh:
- Nhưng lại có
nhiều “đặc sản”!
Quang thủ thỉ:
- Ông biết tính
tôi rồi đó! Không thể thiếu món “đặc sản” được đâu!
Phú cười hết cỡ:
- Khỏi lo! Ông sẽ xài.... mệt nghỉ!
*****
Nhà khách của Vùng 2 chiến thuật là một ngôi nhà thiết
kế theo kiểu nhà rộng của người Thượng vùng Cao Nguyên, toạ lạc giữa một khuôn
viên đây cây xanh. Đặng Văn Quang ngả người trên ghế, giọng thư thái:
- Ông Phú ạ. Có lẽ tôi sẽ lên đây trấn thủ với ông suốt
mùa khô này. Ở đây dễ chịu quá.
Phú rót đây hai ly rượu:
- Xin mời! Tôi chỉ sợ ông chê đất rừng rú buồn tẻ thôi,
chứ ông lên đây làm cố vấn trực tiếp cho Bộ tư lệnh của tôi thì còn gì bằng?
Quang nâng cốc:
- Nào xin chúc tư lệnh cường tráng! Phú cụng ly và cạn
hết cốc rượu:
- Ông vui thì nói giỡn chơi thôi chứ ông Thiệu phải
níu áo ông hàng ngày, dễ gì cho ông lên đây được?
- Nhưng mùa khô
năm nay, tôi sẽ có nhiều dịp bay lên đây với ông!
- Vì ở đây có
nhiều cam go lắm chăng?
Quang gật đầu:
- Đúng thế! Hai sư đoàn Bắc Việt đang uy hiếp sau lưng
ông... Ông đã mở rộng vành đai, quét sạch địa bàn chung quanh Play Cu và Kon
Tum rồi chứ?
- Đang làm. Tôi
đã cho bắt năm trăm tên tình nghi là Việt Cộng nằm vùng. Bắn bỏ tại chỗ 20 tên -
Số còn lại sẽ cho đi Côn Đảo và Phú Quốc!
- Rất hay! Thế mà ông tướng Toàn cứ nói là đã “làm sạch”
rồi!
Phú lắc đầu:
- Bắt nhầm còn hơn bỏ sót. Mấy mụ đàn bà thường đi biểu
tình la lối um sùm, tôi cho bắt trước, sau đó là những tên có hành vi khả nghi,
tôi cho bắt tuốt! Cho nên, từ mấy tháng nay, không hề có một tờ truyền đơn hay
một quả lựu đạn nổ! Bọn buôn lậu trên các xe đò tôi cũng cho bắt hết. Phạt, tịch
thu hàng hoá và bỏ tù! Vì bọn này thường hay tiếp tế cho Việt Cộng đủ thứ hàng
từ xăng nhớt đến thuốc tây và lúa gạo nữa!
Quang gật gù:
- Rất giỏi! Tôi và ông Thiệu rất tin tưởng hiệu rất
tin tưởng ở ông…
Phú tỏ ra phấn chấn:
- Ta với đối phương không thể đội chung trời. Đã là bất
cộng đới thiên rồi thì chỉ có máu và lửa. Xá gì năm bảy trăm mạng, có khi cần
thì cả ngàn mạng tôi cũng cho chúng nó... bay đầu! Nếu dung túng cho những kẻ
tình nghi thì sẽ có ngày chúng kề dao vào cổ ta đó!
Quang phảy tay:
- Ông cứ làm sạch
hành lang ở vùng này và phát hiện cho ra nơi giấu quân của 2 sư đoàn Bắc Việt,
mật báo cho tôI, tôi sẽ lệnh cho không quân oanh kích ngay!
Phủ cười:
- Ngày mai, ông về Sài Gòn, tôi sẽ cho ông một sơ đồ
những điểm tôi nghi là nơi đồn trú của hai sư đoàn này...
- Phải chính
xác?
- Ít nhất cũng để cho chúng biết là ta không có đui mù
và luôn luôn tỉnh táo đề phòng!
Quang tỏ ra tâm đắc:
- Ông gắng lên, qua mùa khô này mà củng cố được phòng
tuyến Cao Nguyên thì ông lên trung tướng!
- Ông hãy tin ở tôi! Chỉ ngại một điều: các ông lại
cho tôi là... quá mạnh tay thôi!
Quang lắc đầu:
- Không đâu, ông Phú! Hội đồng tướng lĩnh đang cần những
vị tướng tài như ông... Ngày mai ông sẽ cho tôi một bảng liệt kê nhu cầu của
ông ở đây: quân số, vũ khí, xe tăng, thiết giáp, máy bay ném bom để Sài Gòn có
thể được phòng vệ từ xa! Chớ nên để nước đến chân mới nhảy
Phú gật đầu lia lịa:
- Ô kê! Ô kê!
Thấy Phú đã yên lòng, Quang quay sang chuyện làm ăn:
- Thôi thế là công cuộc phòng thủ Cao Nguyên chuyện đại
sự quốc gia có thể là tạm ổn. Tôi nói tạm ổn có nghĩa là chưa ổn lắm đâu. Vậy
thì còn kẹt ở chỗ nào, ông có biết không?
Câu hỏi của Quang làm cho Phú ngớ ra, chưa biết trả lời
thế nào cho ổn nên y cứ ngồi lặng im đến mấy phút.
Quang thấy Phú ngơ ngác như một cậu học trò gọi lên bảng
trong giờ vấn đáp nên bật phì cười, Quang mới nhìn thẳng vào đôi mắt Phú rồi nói:
- Ông chậm hiểu quá! Ông đã biết đó: Tổng thống Mỹ muốn
Quốc hội Mỹ thông qua viện trợ cho Việt Nam cộng hoà có 300 triệu đô-la mà Hạ
viện, Thượng viện cứ lắc đầu hoài. Ta lấy gì chi tiêu cho cuộc chiến này? Lính
đói nó kêu la, bỏ trốn thì sao? Lại còn quân trang, quân dụng để tràn ngập lãnh
thổ? Thuế má và công quỹ còn chút nào thì ta dốc cả vào cuộc chiến. Còn vợ con
ta, vợ con các vị tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp thì trông vào đâu nếu không có “quốc
sách đặc biệt” để xoay chuyển tình thế thì... xã tắc lâm nguy mất thôi, ông ạ.
Cho nên một việc quan trọng của ta đã làm, đang làm và sẽ làm để có nguồn tài
chính rất vững, rất mạnh là phải ôm chặt lấy Nàng Tiên Nâu, ông hiểu chưa?
Phú “à” lên một tiếng như vừa vỡ lẽ ra sau câu nói của
Quang. Hắn gật gù:
- Hay lắm. Tầm nhìn xa của ông và ông Thiệu thật là tầm
nhìn chiến lược đó!
Quang xoe cả bàn tay:
- Ta phải thâu tóm nguồn tài nguyên rất phong phú của
lãnh chúa Khun-sa từ Tam giác vàng. Chẳng những có Nàng Tiên Nâu mà còn phai có
cả Nàng Tiên Trắng nữa kia! Cái món Bạch Phiến (hê - rô - in) có giá gấp nhiều
lần các thứ thuốc phiện khác còn ở dạng thô. Ta thực hiện mua tận gốc, bán tận
ngọn thì mới là “hết sảy”.
Phú chăm chú lắng nghe:
- Ông nói có lý lắm!
Quang vẫn thao thao:
- Các ông Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Cao Kỳ
đều có mánh riêng, song không có ai mạnh bằng ông Thiệu và tôi - Tôi là cố vấn
an ninh của ông Thiệu. Mấy đời đại sứ Mỹ đều phải kính nể. Mấy ông trùm CIA
cũng phải ô kê để mong còn được “giây máu ăn phần”. Hàng” của ta từ Tam giác vàng được máy bay
quân sự chở đến Viên Chăn (Lào) rồi lại từ Lào chở đến Tây Ninh, Dầu Tiếng hạ
cánh an toàn xuống các sân bay dã chiến đặt trong đồn điền cao su của Pháp. Từ
đồn điền cao su, “hàng” sẽ đưa về Sài Gòn bằng xe quân sự rồi về cảng Sài Gòn,
xuống tàu thuỷ sang châu Âu hoặc qua Tân Sơn Nhất để sang Hoa Kỳ! Những đường
dây ma tuý tuyệt đẹp!
Phú càng tỏ ra thán phục Quang, người mà Phú coi như bậc
đàn anh:
- Ông xứng đáng là Khổng Minh của ông Thiệu, của nền Đệ
nhị cộng hoà của Việt Nam đó!
Quang lắc đầu:
- Ông quá khen tôi rồi. Tài hèn của tôi so với thiên hạ
đã thấm vào đâu?
- Nhưng ít ra ở đất này, chưa ai có thể... trên tài
ông được. Tôi có thể khẳng định điều đó. Nếu không thế thì tôi trao trả ấn kiếm
cho ông để về nhà cho rồi!
Quang cười phá lên:
- Đuổi gà cho bà Lâm Đệ chứ gì?
Phú gật đầu:
- Đúng thế! Nhưng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra vì
tôi biết, tôi sẽ có thể giúp các ông làm nên đại sự. Vậy các ông cần gì ở tôi
nào? Ông nói đi để tôi xem có thể hiến được kế gì hay hơn không? Ta có cả quyền
uy trong tay mà lại chịu ngồi nhìn thiên hạ hốt bạc hay sao? Hèn lắm, nếu tôi
không giúp được gì cho các ông!
Quang làm bộ
suy tư rồi nói với giọng điềm đạm:
- Tôi với ông Thiệu là bạn học từ thời còn để chỏm tóc
trên đầu. Vào quân đội Liên hiệp Pháp cũng là đồng đội với nhau từ hồi còn là hạ
sĩ quan. Nay tôi là cố vấn an ninh của ông Thiệu thì ông Thiệu khỏi lo. Chọn
ông làm tư lệnh Vùng 2 chiến thuật trấn ải Cao Nguyên cũng không phải là chuyện
ngẫu nhiên. Khỏi phải làm cái việc kết nghĩa đào viên thời Tam Quốc, ông cũng
có thể yên tâm mãi mãi rằng: còn ông Thiệu, còn Đặng Văn Quang thì còn Phạm Văn
Phú. Kho vàng của chúng ta phải khui ra từ Tam giác vàng đó! Nhưng muốn làm ăn
lâu dài thì phải giữ cho thật chắc mảnh đất Cao Nguyên này, phải đẩy lùi cho được
hai sư đoàn Bắc Việt - sư 320 và sư 10 - đang ngày đêm uy hiếp phía sau lưng
chúng ta...
Phú gật gù:
- Ông nói có lý: Cao Nguyên là đại sự quốc gia. Còn
Tam giác vàng là... một vùng đất hứa béo bở, màu mở với Nàng Tiên Nâu, Nàng
Tiên Trắng rất hấp dẫn có phải không?
- Đó, muốn thành tỷ phú như Vua dầu lửa của Mỹ thì phải
củng cố cho bằng được vương quốc Cao Nguyên này, dùng Cao Nguyên làm bàn đạp để
vươn xa, bay cao và toả sáng!
- Xin đại huynh hãy tin ở hiền đệ này!
***
Đêm vui đầu tiên của Đặng Văn Quang trong ngôi nhà rông
có đầy đủ tiện nghi hiện đại với cô vũ nữ có tên là Thuý Lan. Cuộc truy hoan mới
đến nửa chừng thì Quang đã giật nảy mình khi nghe tiếng nổ liên hồi từ phía sân
bay Cù Hanh giội tới. Quang vội tung cái chăn mỏng và Thuý Lan cũng nhỏm dậy
theo:
- Gì đó anh?
Quang vội lấy tấm áo choàng khoác lên người rồi bước
nhanh đến bàn đặt máy điện thoại. Hắn nhấc ống nghe sau khi ấn số máy của Phú:
- Ông Phú! Có gì đấy, ông? Có tiếng đại bác ở Cù Hạnh
phải không?
Có tiếng đáp của Phú:
- Bình tĩnh! Ông cứ bình tĩnh, để tôi cho hỏi đội tuần
tiễu và thằng Cang xem sao?
Năm phút sau, Phú đã trả lời: Quân Bắc Việt pháo kích
5 quả đại bác vào Cù Hanh! Có lẽ để quấy rối đó thôi chứ chung quanh Plây Cu
không có gì lộn xộn. Ông cứ ngủ đi, tôi sẽ đi tua một lượt với thằng Cang, sẽ đến
Cù Hanh thị sát và sẽ báo cáo cụ thể với ông sau!
Quang đặt ống nghe, nói làu bàu trong miệng:
- Hừ! Đâu đã yên tĩnh!
Hắn quay lại giường với cô vũ nữ:
- Lại ngủ tiếp đi em! Mặc chúng nó. Đứa nào lơ là canh
gác để đối phương quấy rối, sớm mai anh sẽ treo cổ hết!
Thuý Lan ỏn ẻn:
- Không ngại gì
đâu anh, bao lâu yên tĩnh, đêm nay mới lại có tiếng nổ...
Cô gái kéo chăn trùm lên đến cổ người tình và hôn viên
trung tướng bằng một nụ hôn say đắm. Bên ngoài, xe tuần tiễu đang rú ga chạy về
phía sân bay Cù Hanh theo lệnh của Phạm Văn Phú.
Sáng sớm hôm sau, Phú gõ cửa phòng của Quang. Quang hất
hàm hỏi:
- Có thiệt hại gì không? Đối phương lại bắn pháo chào
tướng Đặng Văn Quang có phải không?
Câu hỏi của Quang hàm ý mỉa mai về lời khoe khoang của
Phú chiều qua rằng Plây Cu đã lâu rất yên tĩnh.
Phú có vẻ ngượng ngập:
- Đúng là đại bác của quân Bắc Việt bắn, nhằm vào Cù
Hanh nhưng không trúng đường băng, không có chiếc máy bay nào trúng đạn. Tôi đã
lệnh cho tuần tiễu và thám báo gia tăng hoạt động từ sáng hôm nay và bố phòng từ
xa. Mặt khác tất cả mấy chục máy bay đều phải chui vào các gian hầm nổi, trú ẩn,
khi nào có lệnh xuất kích mới được chui ra và cất cánh...
Quang gật đầu:
- Được! Song ông thấy chưa? Tôi tiên đoán có sai đâu!
Họ sẽ gia tăng hoạt động mùa khô này. Năm phát đạn nổ đêm qua nhắc nhở chúng ta
chớ có yên ngủ trên chiếc gối hoà bình. Nếu ta không tỉnh táo để phòng thì họ sẽ
đưa chiến tranh đến tận giường ngủ của ta từ lúc nào không hay
Phú vẫn chống chế:
- Tôi vẫn nhớ lời ông nói: sau lưng tôi đang có hai sư
đoàn quân Bắc Việt uy hiếp mà!
Quang tỏ ra vững vàng:
- Ông cứ tăng cường thám báo mặt đất rồi mật báo về Bộ
tổng tham mưu, tôi về Sài Gòn sẽ xin ông Thiệu cho máy bay oanh kích vào căn cứ
của hai sư đoàn Bắc Việt, ngăn chặn từ xa trước khi chúng mon men đến Kon Tum
và Plây Cu!
Câu nói trấn an của Quang làm cho Phú yên lòng. Hắn
nói:
- Ta phải có những cú đấm phủ đầu từ mùa khô này mới
được! Họ cho trinh sát vào dò xét đường đi lối lại, bị ta tóm gọn nên họ đã bắn
bừa bãi, trệch mục tiêu cũng cứ bắn. Dù sao đây cũng là dấu hiệu của những trận
tập kích bất ngờ...
Quang vẫn một giọng đều đều:
- Họ chưa có khả năng đánh lớn đâu. Đánh một vài cứ điểm
tiền tiêu rồi lại rút thôi. Nhưng ta phải chặn lại, nếu không binh lính của ta
lại nản lòng trong lúc ta đang cần động viên quân dịch để có thêm nhiều lính.
Và sau bữa ăn sáng, Quang cho gọi thêm bộ sậu của Phú
gồm phó tư lệnh, tham mưu trưởng và chỉ huy quân cảnh cùng lên xe ra sân bay Cù
Hanh thị sát tại chỗ. Quang đăm chiêu nói:
- Có thể đêm nay, đêm mai, sân bay này còn bị pháo
kích nữa. Các ông phải sẵn sàng đối phó. Lát nữa tôi sẽ “phôn” về Sài Gòn cho Bộ
tổng tham mưu biết để ông Cao Văn Viên trình lên tổng thống…
Khi quay về Sở chỉ huy, Quang nói nhỏ với Phú:
- Tình hình chiến sự có xấu đi hoặc căng thẳng hơn thì
“Kế hoạch tam giác vàng” của ta vẫn cứ tiến hành và phải đẩy mạnh lên, nghe!
Phú cười sảng khoái:
- Vẫn thế! Ông cứ tin ở tôi mà!
V
BUỔI SÁNG HÔM SAU, TÂM VÀ HOÀ LẠI BỊ GỌI lên phòng thẩm
vấn của thiếu tá Cang. Cang làm bộ giận dữ nói với Tâm:
- Nguyễn Văn Sĩ! Anh là bộ đội Bắc Việt xâm nhập trái
phép lãnh địa của chánh phủ Việt Nam cộng hòa để dò xét địa hình ở đây. Nếu
chúng tôi không bắt được anh thì trận pháo kích đêm qua sẽ phá huỷ cả máy bay của
không lực Việt Nam cộng hoà! Tiếc rằng các anh chỉ bắn vu vơ, trệch hết cả ra
ngoài. Song chúng tôi vẫn có thể trị tội anh, khép anh vào cái tội âm mưu phá
hoại sân bay Cù Hanh. Anh nghĩ thế nào?
Một phút im lặng nặng nề.
Tâm với cái tên giả là Sĩ vẫn không nói nửa lời. Tên
Cang trừng mắt:
- Để chuộc tội, tôi gia ân cho anh phải viết lời phản
tỉnh, tình nguyện xin hồi chánh về với chánh nghĩa quốc gia. Trong hạn ba ngày
nếu anh không xin hồi chánh thì anh chớ trách tôi là ác nhé!
Tâm bậm môi, im lặng.
Tên Cang nói tiếp:
- Vì tội của anh là rất lớn, đã quá rõ ràng nên buộc
lòng chúng tôi phải đưa tên anh vào danh sách những phần tử nguy hiểm, có
phương hại đến an ninh quốc gia, phải lập hồ sơ tội phạm! Lát nữa anh sẽ phải
sang phòng chụp hình rồi viết lại lời khai cung, ký tên và điểm chỉ cả 10 ngón
tay, nghe!
Cang lại quay sang với Hoà:
- Còn Huỳnh Văn
Hoà! Cậu can tội đào ngũ, rồi lại trốn trại. Biết ăn năn hối cải, chờ ngày thiếu
tướng xét cho đi lao động khổ sai ít nhất là 6 tháng. Song cậu cũng vẫn được gặp
gia đình. Bà má cậu đang chờ ngoài kia, bà được phép từ Sài Gòn lên thăm nuôi cậu
đó!
Hoà nghe tin má lên thăm nuôi thì lộ nét mừng ra mặt.
Cậu chớp chớp mắt nhìn thiếu tá Cang bằng một cái nhìn biết ơn, giọng run run:
- Dạ. Thưa ông
thiếu tá, tôi được phép gặp má tôi ở đâu ạ?
- Về phòng 2A. Mười giờ mới là giờ thăm nuôi.
Cang vỗ tay gọi một tên lính vào, ra lệnh:
- Anh đưa “anh bạn Bắc Việt” này sang phòng số 5 giam
2A, nghe! chụp hình, lăn tay. Xong rồi lại đưa về phòng biệt giam 2A nghe!
Tên lính “dạ” một tiếng thật gọn rồi nói với Tâm:
- Anh Sĩ, mời anh theo tôi! cả anh Hoà nữa, theo tôi rồi
sẽ cùng về 2A.
Hai người tù binh cùng đứng dậy đi theo tên lính.
Cang đứng dậy, phủi tay, đốt một điếu thuốc, rít mạnh
một hơi rồi thở khói lên trần nhà, khoan khoái....
***
Khi Tâm và Hoà được đưa trở lại phòng 2A thì má Tư - mẹ
của Hoà - đã chờ sẵn ở đó.
Vừa nhìn thấy má, Hoà đã thốt kêu lên:
- Má! Má!
Đôi mắt anh đỏ hoe.
- Trời! Con tôi... Ba má nhận được thư con từ tuần trước,
lại có cả đại diện của ông thiếu tá đưa đến tận nhà, nói rõ chánh sách của
chánh phủ quốc gia, ba má mới yên tâm. Hôm nay ông thiếu tá mới cho má lên thăm
nuôi con...
Hoà trấn tĩnh lại và giới thiệu Tâm với má:
- Thưa má: đây là anh Sĩ, bộ đội Bắc Việt mới bị bắt
làm tù binh, đang ở chung phòng này với con
Tâm cất tiếng chào má Tư:
- Cháu chào bác ạ.
Má Tư cảm động nói:
- Cậu! Quý hoá quá. Thôi thì số phận đã an bài như thế
này, hai anh em chịu khó chờ thượng cấp xét cho mà...
Hoà dìu mẹ vào trong phòng, Tâm bước theo sau.
Tên lính canh đứng sững, chờ đợi.
- Má Tư hiểu ngay tên lính canh đang muốn cái gì. Bà mở
cái giỏ xách tay, rút ra hai gói thuốc lá 3 số và một xếp giấy bạc đưa cho tên
lính:
- Tôi chẳng có quà gì nhiều. Chú cầm tạm chút quà tôi,
tôi cám ơn chủ nhiều.
Tên lính đưa tay đỡ gói quà, lễ phép nói:
- Xin má...
Tên lính lui ra khỏi phòng. Cánh cửa vẫn mở rộng. Má
Tư vuốt tóc con:
- Con mời anh Sĩ hút thuốc đi con, kẹo bánh và trái
cây đây nữa. Hai anh em ăn đi rồi chia vui với má.
Tâm “dạ” một tiếng rồi đỡ lấy gói thuốc từ tay Hoà.
Má Tư trải tờ báo lên bàn, bày ra ba quả xoài, một cây
thuốc lá, năm gói kẹo....
Hoà hỏi nhỏ má Tư:
- Ba má có lo lót cho con?
Má Tư nhỏ nhẹ, gật đầu:
- Có đấy con ạ. Ông thiếu tá cử đại diện về là vì thế.
Má xin cho con khỏi phải giam, được trở về quân ngũ nhưng vẫn phải ở đây mà
chưa được về Sài Gòn đâu ...
- Dạ. Có tốn kém nhiều không má?
Má Tư im lặng xoè 5 ngón tay như thầm nói: “Năm cây”!
Hoà hiểu ý mẹ, cậu cúi mặt, ngậm ngùi:
- Cũng đành phải thế, chứ biết làm sao bây giờ? Mã Tư
lại nhìn sang phía Tâm:
- Cậu Sĩ bị bắt vô đây từ bao giờ? Rõ khổ!
Tâm nhỏ nhẹ:
- Dạ, thưa bác: cháu có hai anh em đi làm nhiệm vụ,
không may lọt vào vòng phục kích của thám báo, bạn cháu bị bắn chết, còn cháu
thì bị bắt. Họ cứ giam hoài ở phòng số 1, tuần trước mới được về ở chung với em
Hoà ở phòng số 2A này.
Má Tư ái ngại:
- Thôi thì cái
số đã như thế thì phải đành chờ sự cứu xét của ông thiếu tá thôi...
Tâm lại thăm dò:
- Thưa bác, sao bác trai không lên thăm Hoà ạ?
Má Tư lắc đầu:
- Nhà cửa bỏ cho ai mà đi được? Ông ấy nhà tôi giao
cho tôi đi là đủ, rồi về nói chuyện lại cho cả nhà nghe. Gớm, cô Hiền là chị
gái của em Hoà đây thì nhớ em lắm. Nó cứ khóc ròng, thương em phải tù, phải tội.
Nó bảo: tốn kém bao nhiêu má cũng phải lo lót cho em Hoà mau được về...
Hoà đỡ lời mẹ:
- Về Sài Gòn thì khó lắm. Chỉ có thể là được trở về
quân ngũ thôi. Thôi được, má cứ để con xem, nếu được gia án đến đâu thì con sẽ
biên thư về cho ba má biết. Nhưng má ơi, ở đây con cũng cần phải có tiền để thỉnh
thoảng mua quà cáp cho mấy anh lính gác. Có quà cáp thì họ mới không hạch sách.
Má Tư hiểu ý con, nói ngay:
- Có chứ. Má có mang lên cho con vài trăm ngàn đây.
Ngoài ra con sẽ giữ lấy cất cẩn thận 5 chỉ vàng này để phòng khi con cần phải
tiêu thì bán đi lấy tiền chi tiêu, hoặc cần mua thêm đồ ăn cho khoẻ. Cả ba bộ đồ
xi-vin này nữa, chẳng lẽ cứ mặc áo lính suốt tuần sao?
Má Tư gói riêng cho Hoà một gói, đặt tận tay anh tất cả
mấy thứ anh đang cần.
Tâm để ý quan sát cử chỉ, lời nói của hai mẹ con Hoà,
anh yên lòng, khẳng định: Hoà đúng là nạn nhân của “quân dịch”, Hoà nói thật tất
cả, không phải là kẻ xấu của địch cài vào để dò xét anh (như đã có trường hợp xảy
ra đối với những người hoạt động rơi vào tay địch, bị chúng giam chung với mật
vụ, chỉ cần nhẹ dạ, cả tin là sẽ bị lộ hết tung tích ...). Tâm vui vẻ nói với Hoà:
- Má đã cho em thì em giữ lấy. Cũng có lúc yếu đau chẳng
hạn, có khi phải cần đến.
- Má Tư nói với Tâm:
- Thôi thì, anh đã ở gần em, có điều gì em Hoà còn bỡ
ngỡ, anh cứ bảo ban em coi nó như đứa em trong nhà. Tôi cảm ơn anh nhiều.
Tâm lễ phép thưa:
- Dạ, không có gì đâu ạ. Bác cứ yên tâm. Cháu và Hoà
cùng cảnh ngộ, hoạn nạn như nhau, phải thương nhau chứ ạ. Những lời nói cởi mở
cứ thắm sâu vào mỗi người, làm vợi đi nỗi đau, nỗi lo còn canh cánh bên lòng.
Má Tư nấn ná ở lại đến chiều mới ra về khi tên lính
gác nhắc đến lần thứ hai:
- Hai giờ chiều rồi đó, bà già! Lệnh của ông thiếu tá:
hết giờ thăm nuôi rồi, bà già phải về thôi!
Má Tư thu xếp đứng lên, bịn rịn nhìn con và anh bộ đội
Bắc Việt khôi ngô, tuấn tú.
***
Má Tư đi rồi, gian phòng biệt giam 2A lại trở nên vắng
lặng, buồn tênh. Hoà chỉ được phép tiễn má ra đến cửa. Người gác cửa, trung sĩ
An lại đẩy cửa bước vào, hất hàm hỏi Hoà:
- Gặp bà già thế
là yên tâm đó! Được phép vào thăm nuôi, tức là ông thiếu tá sẽ có lệnh ân xá
cho cậu rồi! Hắn quay sang phía Tâm - còn anh bạn Bắc Kỳ này nữa, cứ viết giấy
xin hồi chánh đi, rồi sẽ được trả tự do, tôi nói thật: chớ có dại mà bướng bỉnh,
ngoan cố trái lệnh thiếu tá thì chỉ có thiệt thân thôi. Chỉ cần vài lần sân bay
Cù Hanh bị pháo kích nữa là ông thiếu tá treo cổ cậu thôi!
Tâm ngồi lặng thinh. Hoà mời trung sĩ An một điếu thuốc:
- Em xin mời trung sĩ.
Trung sĩ An rút một điếu thuốc rồi quay ra:
- Tôi không được phép ngồi đây.
Hắn quay ra và lại đi chậm chậm suốt dọc hành lang.
Còn lại hai người, Tâm nói với Hoà:
- Chưa rõ các “ngài” sẽ làm gì với hai đứa chúng mình
đây?
Bỗng có tiếng léo nhéo của con gái phía ngoài: Trung
sĩ ơi! Cho bọn em vào “thăm nuôi” nào!
- Chà, chà! Em Tuyết, em Ninh, lệnh của ai mà các em đến
đây?
Tuyết vênh váo:
- Lệnh của thiếu tá Cang! Hai đứa chúng em phải mang
trà, thuốc vào cho hai anh biệt giam trong này mà!
- Ừ nhỉ. Xin lỗi! Tôi quên.... Vào đi!
Tên An mở cửa. Hai cô chiêu đãi viên bước vào phòng và
khép cửa lại. Tuyết làm bộ đon đả
- Chào anh Hoà, anh Sĩ!
Tâm vẫn được gọi bằng cái tên giả “anh Sĩ” điềm tĩnh
nhìn hai cô gái: Tuyết vẫn lẳng lơ và Ninh vẫn kín đáo, nhẹ nhàng.
Hòa chia tay về phía hai cô gái:
- Mời các em ngồi! Có chuyện chi vậy?
Tuyết đặt lên bàn một gói thuốc lá và một bịch trà:
- Đây là phần trà thuốc của ông thiếu tá gửi cho các
anh. Còn em nghe nói bà má anh Hoà vừa tới thăm nuôi có phải không?
- Phải. Bà về rồi. Bà cho quà, tôi mời hai em ăn kẹo,
ăn bánh!
Tâm vẫn ngồi im. Tuyết trêu chọc:
- Anh Sĩ lầm lì quá nhỉ. Buồn ư? Có em Ninh đây mà sao
không vui lên nào?
Hoà bóc gói bánh đưa cho Tuyết một gói Sô - cô - la:
- Mời em Tuyết, em Ninh nữa! Hôm nay tôi biết là mình
sẽ được ân xá, vậy xin hỏi hai em: hai em có mang theo máy ghi âm không đấy?
Tôi và anh Sỹ đây đã khai hết cả với ông thiếu tá rồi! Nếu không được ân xá thì
sẽ đi tù, có thế thôi, thật đơn giản!
Tuyết trố mắt nhìn Hoà:
- Anh nói chi mà kỳ quá? Em có đặt máy nghe lén bao giờ?
Không đặt máy nghe lén thì các cô cũng phải trình lại với thiếu tá về thái độ của
hai tên tù binh này, chứ gì?
Tuyết gật đầu:
- Dạ. Có, em là tiếp viên mà!
- Thế thì đích thực em là Thiên Nga, Phượng Hoàng rồi
còn gì?
- Không đâu anh Hoà! Em chỉ là chiêu đãi viên, và Ninh
cũng thế.
Tâm ngồi yên lặng, để ý quan sát từng cử chỉ của hai
cô gái. Anh không khỏi ngạc nhiên: “Tại sao hôm nay anh bạn Hoà lại hãng hái “tấn
công” Thị Tuyết, khác hẳn mấy hôm trước?".
Tâm chưa tự giải đắp được thắc mắc của mình. Lệ Ninh
nói nhỏ nhẹ:
- Hôm trước ông thiếu tá có dự định cho chúng em đi
cùng với hai anh làm một cuộc dã ngoại ngoài trời. Picnic đó, song ông thiếu tá
lại vừa thay đổi ý kiến, bỏ cuộc Pic - nic này rồi!
Hoà hỏi
- Sao vậy?
Tuyết nhanh nhảu đáp:
- Vì sân bay mới bị pháo kích. Chung quanh thị xã đã
được báo động, thiết quân luật mà! Em nghe nói: lính còn bị cấm trại nữa kia! Nội
bất xuất, ngoại bất nhập đó!
Hoà chia cho hai cô gái mỗi cô một gói kẹo và nói:
- Thôi được. Tôi tạm tin lời cô Tuyết. Xin cảm ơn cả
hai cô và nếu ông thiếu tá có hỏi về anh em tôi thì xin hai cô chuyển giúp
chúng tôi đến ông thiếu tá lời cảm tạ...
Thấy thái độ cứng rắn, dứt khoát của Hoà, Tuyết đành
phải lôi tay Ninh cùng đứng dậy ra khỏi phòng 2A.
Tâm lắc đầu, ngán ngẩm nhìn theo hai cô gái. Lát sau,
anh mới hạ thấp giọng hỏi Hoà:
- Sao em làm hung thế?
Hòa đáp:
- Em phải đuổi hai ả đáng ghét này đi để còn bàn với
anh một việc rất quan trọng và thật khẩn cấp...
Hoà vươn vai đứng dậy, nhìn thận trọng qua song sắt:
tên trung sĩ An đang ngồi chồm hỗm ngoài hè, y vừa hút thuốc lá vừa lơ đãng
nhìn lên bầu trời.
Hoà đưa gói thuốc cho Tâm. Tâm rút một điếu nói thật
nhỏ: châm lửa hút. Hoà kéo Tâm cùng nằm xuống giường nói thật nhỏ:
- Anh Sĩ! Anh nằm xuống đây, góp ý kiến cho em...
Tâm ngả người nằm xuống cạnh Hoà. Hoà thì thầm:
- Trong hoàn cảnh của em hiện nay, anh bảo em nên làm
gì? Anh có tin em không?
Tâm hỏi lại: Má em đã lo lót 5 cây vàng thì chắc là họ
sẽ cho em trở về quân ngũ và xoá cái án đào ngũ cho em đó. Anh rất tin em, vậy
em có ưng về quân ngũ không?
- Tình hình chiến sự em xem đã đến hồi sôi động rồi. Đối
phương đã pháo kích thì chắc sẽ tiến công. Em về quân ngũ, sẽ phải đối đầu với
các cuộc tiến công ấy. Em không muốn bị chết uổng. Ba má em lại chỉ có một mình
em là con trai. Em thương ba má em lắm ... Còn anh nữa? Em thấy đã đến lúc họ
làm “mạnh tay” với anh rồi đó. Nếu trong những ngày tới anh không ưng hồi chánh
thì chắc họ sẽ không để yên cho anh đâu!
- Nghĩa là...
- Dạ, nghĩa là theo như em biết mấy cái mánh của họ là
sẽ in truyền đơn tán phát rộng rãi có hình của anh với lời chú thích: “Đây là một
binh sĩ Bắc Việt xin trở về quy thuận chánh phủ quốc gia” và phóng to tấm hình
của anh để “triển lãm” khắp chốn, khắp nơi, gây hoang mang nghi kỵ trong đơn vị
của anh, lúc ấy họ sẽ thả anh ra để anh tìm về đơn vị với cái án “đầu hàng, đầu
thú”. Anh sẽ hết đường tiến bộ... Hai nếu anh phản đối không quy thuận thì sau
khi khai thác, tra tấn, bôi nhọ danh dự anh, họ sẽ thủ tiêu, bắn bỏ!
Tâm nghe Hoà nói có lý, anh hỏi:
- Theo em thì anh nên làm gì bây giờ?
Hoà lại liếc nhìn ra phía song sắt, canh chừng tên trung
sĩ An, rồi mới nói thật nhỏ vào tai người bạn lớn tuổi:
- Theo em thì anh nên... vượt trại, trốn khỏi nơi này!
Tâm không khỏi kinh ngạc về ý kiến táo bạo của Hoà, một
phút sau, trấn tĩnh lại, anh mới hỏi:
- Anh thì như vậy, còn em?
Hoà đáp:
- Em cũng cùng trốn đi với anh! Trốn đi đâu? Vào rừng
hay về thành phố? Vào rừng sẽ rất nguy hiểm vì thám báo dày đặc của chúng nó...
Ở vùng này em rất thuộc địa hình, ta sẽ tính đường đi cho ngon...
- Em nói vậy, chứ tại sao lần trước em trốn mà không
thoát, để chúng nó bắt em trở lại? Nếu lần thứ hai, bị bắt thì nó còng tay em,
tống vào xà - lim mất!
Hoà không chịu, trình bày tiếp:
- Thất bại một lần, em đã rút được bài học lần tránh.
Em tin là nếu lần này thoát khỏi Play Cu, em cứ đường hoàng đi về Đà Lạt hoặc
Nha Trang với số tiền và vàng má em cho em đây là…
- Chúng nó truy nã em đến tận Sài Gòn thì sao?
- Em dại gì mà về Sài Gòn? Em có nhiều nơi quen biết.
Em với anh sẽ mặc hai bộ đồ xịn này, sắm vai “công tử bột” lại có tiền trong
túi thì lo gì?
Tâm đắn đo:
- Theo kế hoạch của em thì lúc nào, ngày nào ta có thể
vượt trại?
Hoà:
- Chỉ cần anh đồng ý với em, em sẽ có cách làm thật hữu
hiệu, thật ngon cho xem!
Càng nghe Hoà nói, Tâm càng cảm phục người bạn nhỏ tuổi.
Thì ra không phải ai cũng nhút nhát, sợ sệt như anh tưởng lầm. Anh nói nhỏ hơn:
- Anh đồng ý sẽ đi với em, nhưng phải tuyệt đối bí mật,
lộ ra để chúng nó nghi ngờ là chết cả hai đó!
Hoà:
- Anh yên tâm. Lần trốn trước em còn bỡ ngỡ chứ lần
này em có kinh nghiệm rồi. Em sẽ có cách làm kín đáo và mau lẹ. Em tin chắc là
an toàn thôi. Hơn nữa anh và em lại chưa bị chúng nó tra tấn, đánh đập, còn đủ
sức khoẻ để đi. Nếu để chúng nó đánh gãy chân tay mình thì đi làm sao được? Phải
lẹ lên, anh!
Tâm thầm cám ơn người bạn tù binh. Anh bấm mạnh vào
tay Hoà để biểu lộ đồng tình và quyết tâm sắt đá. Hoà hiểu ý, ngồi bật dậy nói
to để cho nếu tên trung sĩ có còn ngồi ngoài hành lang cũng đủ nghe tiếng:
- Theo em: anh cứ xin hồi chánh để trở về với chánh
nghĩa quốc gia là hay hơn cả!
Tâm hiểu câu nói của Hoà: một màn kịch đã bắt đầu,
trong đó Hoà và anh sẽ thủ hai vai chính của vở diễn ...
VI
TRUNG SĨ AN VỖ VAI HÒA:
Chỉ vài hôm nữa là mày được ân xá thôi. Tao nghe chúng
nó nói là ông thiếu tá ưng cho mày về quân ngũ rồi. Lần này đừng có dại dột mà
bỏ trốn nữa nghe! Cứ chịu khó một thời gian, rồi nói với bà già “dấn” thêm mấy
“cây” nữa để xin về làm lính kiểng ở Sài Gòn là êm ru! Tao biết vừa qua bà già
của mày cũng tốn kém đấy. Nén bạc đâm toạc tờ giấy, thời nào cũng vậy!
Hoà làm bộ ngớ ngẩn:
- Em có biết gì đâu anh? Chắc là má em năn nỉ nên mấy
ông cũng thương tình...
Tên An lắc lư:
- Năn nỉ mà không có “cây” thì cũng vứt đi. Mà ân xá
là tao mừng rồi.
Tên trung sĩ ngồi cùng bàn với hai anh tù binh từ lúc
8 giờ và đang say sưa tán gẫu với Hoà, một người mà hắn biết là sắp được trắng
án, lại đang có tiền trong túi. Thế nào mà Hoà chẳng mở hầu bao ra để khao nó mấy
bữa nhậu say xỉn.
Bỗng có tiếng gõ cửa.
Tên An nói vọng ra:
- Cứ vào!
Một cái đầu bù xù của con gái thò vào.
Tên An reo lên:
- A! Em Tuyết! Vào đây! Vào đây, anh bảo...
Tuyết mặc cái áo mỏng, hở cổ để lộ làn da trắng nõn,
cô bước vào:
- Dạ. Các anh đang có công chuyện gì đó? An kéo tay cô
gái:
- Này, chịu khó chiều các anh chút xíu đi! Em ra chợ
mua cho tụi anh một can rượu đế với lại cái giò heo về đây nhậu lai rai cho đỡ
buồn!
An quay sang Hoà:
- Chú em đưa
cho nó mấy ngàn đi nào!
Hoà hưởng ứng ngay:
- Anh để em đi với em Tuyết cho lẹ. Em mới rành đồ nhậu,
con gái thì biết mua bán gì đâu.
Không cần đắn đo, tên trung sĩ gật đầu:
- Ừ, tao cho chú mày đi với em Tuyết ra chợ. Đi lẹ
lên, nghe!
Hoà mặc vội chiếc áo sơ - mi màu ghi rồi hấp tấp đi
theo cô gái.
Chờ cho hai người đi khuất, tên An mới lại vỗ vai Tâm:
- Còn cha nội này nữa! Hồi chánh cho lẹ lên! Cứ nghe đại
tao mà lại hay nhé! Chọn nơi sung sướng mà sống ung dung, tội gì lại húc đầu
vào đá? Nghĩ kỹ chưa nào?
Tâm chậm rãi:
- Em sẽ viết đơn như ông thiếu tá đã nói. Anh chuyển
giùm em nhé!
Tên An nói như reo lên:
- Ừ, có thế chứ! Hồi chánh là phải. Nhưng tao không
chuyển đơn đâu. Mày cứ đưa cho con bé Ninh, nó chuyển lên ông thiếu tá. Tao chỉ
có nhiệm vụ canh gác chúng mày thôi. Dính vào đơn từ, mấy ông lại là tao là bồ
bịch với chúng mày!
- Dạ! Như thế cũng được ạ. Em sẽ nhờ cô bé Ninh chuyển
giúp lên ông thiếu tá...
- Vậy thì viết đơn đi. Chậm trễ làm gì!
- Tâm làm bộ nhăn nhó:
- Em chưa viết bao giờ. Nói sao cho gọn, nếu rườm rà,
ông thiếu tá lại không phê chuẩn thì chết!
Tên An tỏ ra thông thạo:
- Cứ viết đại đi! Nói là tôi đã giác ngộ, xin chánh phủ
khoan hồng tha tội cho tôi và tôi xin hồi chánh. Viết đi, rồi cùng ra với thằng
Hoà. Tao canh gác chúng mày mệt lắm. Hôm nào cũng phải gác từ 6 giờ sáng đến 2
giờ chiều...!
Suy nghĩ một lát, tên An cười hề hề:
- Này, tao nhờ
mày một việc nhé: tao đang kẹt tiền, thằng Hoà mới được má nó cho mấy trăm ngàn,
mày bảo nó “bo” cho tao vài chục ngàn, cho cả con Tuyết nữa, rồi tạo tháo khoán
cho cả ba đứa chúng mày, cho con Tuyết ở đây, tha hồ vui vẻ. Có ưng không nào?
Con bé này ngon lắm, mày!
Tâm đành phải nhận lời:
- Dạ. Anh Hai cứ yên tâm. Em sẽ bảo thằng Hoà... Nó
còn phải mang ơn anh nhiều mà.
Tên An gật gù:
- Ừ, được. Nó xài hết thì mấy bữa nữa má nó lại lên
thăm nuôi. Ở Sài Gòn, nhà nó có tiệm buôn đàng hoàng lắm mà!
Một giờ sau Hoà
và Tuyết đã xách về hai giỏ đầy: rượu, thịt, rau sống.
Một tờ báo được trải rộng ra bàn. Ly, chén bày lên. Thịt
quay, gà luộc được dọn ra đầy ắp.
Tên An xoa má thị Tuyết:
- Cô em tháo vát thiệt đó! Anh làm mai cho em nhé: em
thích thằng Hoà hay thằng Sĩ?
Thị Tuyết giãy nảy:
- Anh Sĩ đã có em Ninh rồi! Em chỉ xin cặp với anh Hoà
thôi!
Tên An cười hô hố:
- Đó, thằng Hoà có chịu không?
Hoà đáp gọn:
- Chịu!
Cuộc nhậu bắt đầu. Trung sĩ An phút chốc đã quên phắt
nhiệm vụ của tên lính coi tù. Ranh giới giữa tên lính gác với hai kẻ bị giam giữ
coi như bị xoá nhoà.
- Nào! “dô” trăm phần trăm!
Tên An cụng ly với Hoà và Tâm. Thị Tuyết cũng pha thêm
Cô - ca cô - la vào rượu và cụng ly luôn.
An nói bô bô:
- Bữa nhậu này là của thằng Hoà! Tao mừng cho chú mày
sắp được ân xá! Còn cha nội này nữa - Sĩ! Gắng lên, viết đơn xin hồi chánh đi,
lẹ lên. Tao sẽ nhậu với chúng mày đến xỉn mới thôi!
Rượu vào, lời ra.
Từng khuôn mặt đã đỏ dần lên. Tên An được coi như là “chủ
xị”, y thổ lộ can tràng:
- Tao nói thật với tụi bay: tao buồn lắm, con vợ tao
lăng loàn dữ lắm. Nó ở Kon Tum với hai đứa con, cứ thúc bách tao gửi tiền về.
Lương tao là lương trung sĩ ba cọc, ba đồng. Kẹt lắm! Tao cũng chẳng ghen làm
gì. Có khi nó ngoại tình mà tao có biết gì đâu!
Hoà và Tâm càng hiểu thêm tâm trạng của tên lính gác.
Thị Tuyết vòng tay lên cổ tên An:
- Cưng của em ơi! Đừng có buồn. Tuyết luôn ở bên anh
đây mà!
Tên An gạt thị Tuyết ra:
- Anh không cặp với em đâu. Em phải cặp với thẳng Hoà
kia! Anh chỉ cần nhậu thôi. Nhậu cho quên đời! Bao giờ anh lên thiếu uý lương bổng
khá hơn, lúc đó sẽ hay. Còn bây giờ, anh cần phải có tiền, có thật nhiều tiền.
Em giúp được gì cho anh nào?
Thị Tuyết rót thêm rượu vào cái ly vừa cạn của tên
trung sĩ.
- Anh “dô” trăm phần trăm với em nào!
Hai người cụng ly.
Một giờ sau, tên An chệnh choạng đứng lên: Thôi tao
cho tụi bay xả láng! Tao phải ra ngoài kia, ngồi ở đây, ông thiếu tá đi tua, thấy
tao say xỉn lại rầy la tao thì... chết!
Hoà không quên nhét vào túi trên trung sĩ một xấp giấy
bạc:
- Em biếu anh...
Tên An khoái trá:
- Ờ, ờ... anh cám ơn chú mày...
*****
Sáng hôm sau, Lệ Ninh lại đem trà, thuốc đến cho Tâm
và Hoà.Cô gái cứ nhìn đăm đắm vào đôi mắt của Tâm:
- Anh Sĩ! Anh viết đơn xin hồi chánh đi.
Tâm biết mình vẫn còn được mang cái tên là Sĩ. Anh hỏi
cô gái:
- Em có thấy ông thiếu tá nhắc gì anh?
Lệ Ninh:
- Mấy bữa nay ông ấy làm việc trên Sở chỉ huy của thiếu
tướng tư lệnh. Em chưa nghe ông ấy nhắc gì đến anh. Em chỉ có nhiệm vụ đem trà,
thuốc cho các anh... À, hôm qua, con Tuyết nhậu ở đây phải không? Sao không kêu
em? Các anh tệ thật đấy!
Tâm thanh minh:
- Anh lên chỗ em làm sao được? Nếu kêu em thì phải là
ông trung sĩ kia!
Lệ Ninh cười:
- Là em nói vậy thôi, chứ em có dám uống rượu đâu!
Hoà nói với Ninh:
- Này, em kiếm cho anh mấy tờ giấy và một cây bút bị
nhé. Anh và anh Sĩ sẽ làm đơn trình lên ông thiếu tá mà...
Lệ Ninh vui vẻ: Chiều nay em sẽ mang giấy bút cho các
anh. Làm đơn xin ân xá đi. Rồi còn đi lại tự do chứ. Ở mãi đây, tù hãm thế này,
buồn lắm có phải không?
Hoà và Tâm gật đầu như cùng cảm thông với điều cô gái
đang mong đợi.
*****
Ngày thứ ba, cũng là lúc cuộc nhậu lần thứ ba lại được
bày ra trong căn phòng 2A. Hoà và Tuyết lại xách từ chợ về hai giỏ đầy thịt,
rau và rượu đế.
Trung sĩ An khề khà:
- Em Tuyết không được nói gì với ông thiếu tá đấy nhé.
Ông ấy biết anh say xỉn thì lại la hét om sòm. ‘
- Ông ấy thương anh lắm mà!
- Thương anh nghèo, nhưng ông ấy có cho anh uống rượu
đâu!
Hoà rót rượu đầy bốn cái ly. Cả bốn người cùng cụng ly.
Thị Tuyết đong đưa:
- Trăm phần
trăm nè!
Cuộc nhậu chẳng khác một bữa tiệc vui trong gia đình vừa
trúng mánh.
Tên An cầm cả một đùi gà đưa lên miệng cắn, nhai nhồm
nhoàm.
Rượu cứ rót. Thức ăn cứ gắp đây chén.
Tên trung sĩ kéo tay cô gái:
- Em Tuyết ca một
câu vọng cổ nào thật mùi mẫn cho anh nghe nào!
Tuyết giãy nảy:
- Em chỉ biết nhảy tăng - gô thôi! Ca cải lương phải
nhường cho Lệ Ninh!
- Thế thì em chạy về tìm Lệ Ninh lên đây. Uống say phải
nghe hát mới thấy khoái!
Hoà phụ hoạ với tên An:
- Anh Hai nói có lý lắm. Cảm phiền em Tuyết nhé. Em đi
tìm ngay em Ninh đến đây nào! Chốc nữa bọn anh sẽ “bo” cho cả hai em!
Thị Tuyết ngoan ngoãn đứng lên và khuất sau cánh cửa
khép hờ.
Tên trung sĩ đã uống đến ly rượu thứ tư trong lúc Hoà
và Tâm chưa cạn hết ly thứ hai. Nó ngả đầu sang bên thành ghế. Đôi mắt dục ngàu
lờ đờ muốn nhắm lại. Điếu thuộc lá cháy dở trên tay hắn rơi xuống đất.
Hoà đưa mát cho Tâm:
- Trung sĩ của
tôi xỉn rồi đó. Mặc cho ông ấy ngủ cho ngon…
Nhớ lại kế hoạch đã bàn với nhau từ tối hôm qua, Hoà
và Tâm hồi hộp chờ đợi giờ phút quyết định cho chuyến đi...
Hoà im lặng xem đồng hồ: 10 giờ 45 phút...
Thời gian nặng nề trôi.
Khi kim đồng hồ chỉ đúng 11 giờ thì có tiếng còi xe ô
tô phía ngoài vọng vào. Hoà ra hiệu cho Tâm: cả hai đều nhón gót mở cửa phòng
2A lọt ra ngoài, nhẹ bước qua cái sân rộng, tiến đến chiếc xe tắc - xi vừa đỗ
dưới gốc cây bên đường.
- Chào anh Ba!
Anh tài xế mở cửa xe đón hai người khách trẻ tuổi.
Cánh cửa xe khép lại. Chiếc tắc - xi lăn bánh từ từ, rẽ trái.
- Anh Ba cho tụi em về Quy Nhơn, nghe! Trong phút chốc,
chiếc xe đã ra khỏi Plây Cu nhằm hướng Quy Nhơn lao đi vun vút.
Trong phòng 2A trung sĩ An đã bắt đầu ngáy o ... o ...
Nửa giờ sau, thị Tuyết và Lệ Ninh mở cửa ngó vào Tuyết
lắc đầu: - Ông trung sĩ xỉn rồi. Còn hai ông tướng kia đi đâu rồi? Lại ra chợ
mua đồ nhậu chăng”?
Ninh kéo tay Tuyết lui ra:
- Thôi, để mặc cho ông ấy ngủ….
***
Tên An tỉnh dậy, giụi mắt ú ớ: Mãi cho đến lúc 2 giờ
kém 10 phút chiều, trung sĩ Chí vác súng đến đổi gác cho trung sĩ An như thường
lệ, ngó vào phòng 2A mới giật nảy mình kêu lên:
- Ông An! Ông An!
- Chí đấy hả?
Chí đáp:
- Tôi đây! Nhậu xỉn hả? Hai thằng tù binh đâu rồi? Có
đổi gác không hay còn muốn ngủ?
Tên Chí ái ngại: Mặt mũi đỏ gay, tên An thấy hoảng hốt
thực sự:
- Chúng nó xin phép ra ngoài chút xíu mà! Có thấy
chúng nó ở ngoài đó không?
- Có thấy đứa nào đâu? Nó xin ông đi từ hồi nào? Tên
An loạng choạng đứng dậy, rảo bước ra cửa:
- Bỏ cha rồi! Có ai cho chúng nó đi xa đâu kia chứ?
Chúng nó mời tôi uống có một ly thôi mà. Tối qua tôi thức khuya với con Tuyết,
hôm nay uống có một ly mà đã xỉn! Chết cha tôi rồi!
- Mặt ông còn đỏ, đừng ra ngoài nữa, để tôi chạy đi
tìm chúng nó xem sao. Ông cứ ở đây!
Chẳng cần phải chờ tên An bằng lòng hay phản đối, tên
Chí co chân chạy qua sân và vọt thẳng lên Sở chỉ huy của thiếu tá Cang. Nó nghĩ
bụng: “Ông căm mày từ bao lâu rồi, đồ ăn bẩn, có món nào béo bở mày ăn hết, có
biết đến ai đâu. Mày để xổng tù, tao sẽ cho mày biết thế nào là lễ độ, nghe
con!”
Thiếu tá Cang cũng vừa bước vào bàn giấy. Hắn nghe tên
Chí báo cáo rành rọt:
- Trình thiếu tá:
em đến đổi gác cho trung sĩ An thì thấy trung sĩ An say xỉn còn nằm ngủ trong
phòng 2A mà hai tên tù binh đã trốn biệt, đi đâu mất tiêu rồi ạ!
Cang tưởng nghe nhầm, vội hỏi lại:
- Cái gì hả? Say xỉn để hai thằng tù trốn rồi hả?
- Dạ, đúng 2 giờ kém 10 phút, em đến đổi gác thì không
thấy hai tên tù, em chạy vội lên đây báo cáo với thiếu tá!
Cang đập mạnh
tay xuống bàn:
- Thật thế hả? Mày xuống gọi ngay thằng An lên đây cho
tao!
- Dạ.
Tên Chí quay đi. Cang quay ngay máy điện thoại xuống
phòng 2A gọi: - Trung sĩ An đấy hả? Mời ông lên ngay, có phải hai thằng tù đã
trốn mất tiêu rồi không?
Đầu dây nói ở
phòng 2A chỉ có tiếng ấp úng:
- Dạ, dạ trình thiếu tá... dạ, dạ...
Cùng lúc ấy tên Chí đã bước vào phòng 2A, nó nắm tay
tên An:
- Tôi đã tìm khắp nơi, có thấy bóng dáng thằng tù nào
đầu. Tôi phải lên trình thiếu tá ngay. Ông ấy đang nổi cơn thịnh nộ lôi đình
kia kìa!
Tên An xám mặt, nhăn nhó, run lập cập.
- Sao lại vội
trình thiếu tá như vậy?
- Thì hãy lên ngay đã nào. Nếu chúng nó còn luẩn quẩn
quanh đây thì phải lùng sục bắt chúng nó lại chứ. Lẹ lên nào!
Khi hai tên trung sĩ đến trước mặt tên Cang, tên thiếu
tá quát:
- An! Ai cho mày uống rượu hả? Hai thằng tù đâu rồi?
Canh với gác như mày thì tao treo cổ!
Cang quay sang tên Chí:
- Chí! Mày xuống chỗ thượng sĩ Tùng nói lại lệnh của tạo
cho cả mười đứa đi lùng sục quanh đây, tìm bắt lại cho tao hai thằng tù, nghe! Còn
ông An, mời ông ngồi lại đây, tôi hỏi!
Tên Chí chạy đi còn tên An ngồi sụp xuống trước mặt
thiếu tá Cang.
Cang vẫn quát:
- Ai cho uống? Uống từ hồi nào? Uống với những đứa
nào? Nói ngay, nói cho đúng!
Tên An run rẩy:
- Dạ, trình thiếu tá: em nhận gác từ 6 giờ sáng như
thường lệ. Đến 10 giờ thì cô Tuyết đi chợ về mang một xị rượu đế cho em và hai
tên tù uống chơi. Em không ngờ say xỉn ...
- A! Lại cả con Tuyết nữa hả? Có con Ninh không?
- Dạ, chỉ có cô Tuyết!
- Một xị, bốn đứa uống mà lại xỉn, nói láo!
Cang đập bàn gọi:
- Con Tuyết đâu? Có ở phòng tiếp tân đó không?
Ánh Tuyết lò dò bước từ cửa phía trái sang, nét mặt
xám ngoét...
- Tuyết! Mày nói ngay tao nghe: ai cho mày đi mua rượu?
Chúng mày nhậu nhẹt từ hồi nào? Quân khốn khiếp! Chúng bay bị hai thằng tù ranh
con đánh bẫy rồi. Say xỉn để chúng nó trốn! Tao phải treo cổ cả lũ bay mới được!
Cang quay máy điện thoại gọi thượng sĩ Tùng:
- Tùng đấy hả?
Sao cho lính lùng sục tìm hai thằng tù rồi hả? Ừ được, mày lên đây ngay, giam cổ
thằng An lại cho tao!
Cang quay sang thị Tuyết:
- Còn con Tuyết ở lại đây, tao hỏi!
Khi tên An bị thượng sĩ Tùng lôi đi rồi, Cang vẫn còn
hầm hầm nét mặt giận dữ. Hắn hất hàm ra lệnh cho thị Tuyết:
- Con kia! Mày
nói lại tạo nghe: ai sai mày đi mua rượu, ai đưa tiền? Sao lại chỉ mua một xị?
Nói đi, nói cho thật. Nói quanh tao giết, nghe chưa?
- Dạ, trình thiếu tá: sáng nay, theo thường lệ, con
mang trà, thuốc cho tù binh thì ông An sai con đi theo tên Hoà ra chợ mua rượu
- hai chai rượu đế - và ba chục ngàn đô nhậu, gồm có thịt heo quay, thịt gà luộc
và rau sống...
- Chúng mày nhậu bữa nay là bữa thứ mấy rồi?
- Dạ, bữa thứ ba!
- Hừ! Thế là bỏ mẹ cả lũ rồi. Nó cho nhậu xỉn để nó trốn
thoát mà!
Thằng Hoà chi tiền hay thằng Sĩ chi tiền?
- Dạ, tên Hoà ...
- Nó cho mày bao nhiêu? Cho thằng An bao nhiêu? Dạ, nó
cho con 50 ngàn, cho anh An một trăm ngàn...
- Đó! Lũ khốn khiếp! Chúng bay giết tao rồi, thấy chưa?
Mày ngồi đây, lấy giấy bút ra, làm cho tao một bản tường trình về ba bữa nhậu của
chúng bay. Viết bản tường trình cho hết rồi tao treo cổ chúng bay lên, đồ khốn
kiếp!
Thị Tuyết run lập cập:
- Con lạy thiếu tá, anh An sai con, con mới dám đi chợ
...
Cang quát:
- Im ngay! Viết đi, nói cho rõ. Còn oan lắm sao? Mày với
thằng An là quân khốn kiếp! Quân khốn kiếp!
***
Năm giờ chiều. Thiếu tá Cang được biết kết qua truy
lùng hai tù binh: biệt vô âm tính Thượng sĩ Tùng trở về với con số không:
Trình thiếu tá, em cho lính sục sạo khắp nơi mà không
hề thấy bóng dáng hai thằng trốn trại. Chúng nó đã đi từ hồi nào!
Mày đã báo cho tất cả các bốt gác trong ngoài thị xã
chưa?
- Dạ. Em đã báo cho cả mười bốt gác.
- Hai thằng này không ra khỏi đây được thì chúng nó có
thể lẩn vào nhà dân. Thằng Hoà, lính cộng hoà chưa có cơ sở quen biết ở Play Cu,
nhưng thằng Sĩ có thể có liên hệ với một tên Việt Cộng nằm vùng ở quanh đây. Thế
nhưng, tao dặn mày điều quan trọng này, phải nhớ mà thi hành: đó là phải giữ
kín chuyện này. Nếu lộ cái tin tù trốn trại, dân chúng xôn xao, binh lính hoang
mang thì khó bắt lại chúng nó. Mà ngài thiếu tướng biết được thì tao với mày bị
lột lon như chơi! Còn thằng An và con Tuyết, mày cho giam cổ chúng nó lại. Chờ
lệnh của tao nghe! Lát nữa, mày lại phải thông báo lại cho cả mười bốt gác: ta
đã bắt lại được hai tên tù binh rồi. Tao sẽ lệnh cho mật vụ dò xét mấy gia đình
Việt Cộng thuộc loại có chồng con đi tập kết ra Bắc. Nếu hai thằng tù trốn lủi
vào nhà nào, tao sẽ cho bắt liền. Có thể bắn hạ hoặc bắt sống trở lại. Còn với
thiếu tướng tư lệnh, tao sẽ lựa lời trình lên để ông ấy không nổi nóng mà quở
phạt ta nghe!
- Dạ, em sẽ làm đúng như lời thiếu tá.
- Thôi đi, đi,
cứ thế mà làm!
* *
*
Cang đã phóng ngay lên Sở chỉ huy của Phạm Văn Phú. Bị
đột ngột, Phú hỏi ngay:
- Có chuyện chi đó ông thiếu tá?
Cang lựa lời thăm dò:
- Trình thiếu tướng, hình như sáng nay, máy bay của ta
có oanh kích phía Tây Bắc Kon Tum?
Phú gật đầu:
- Cả Tây Bắc Plây Cu nữa đó. Cứ nghe tiếng bom nổ ình
ình là tôi biết không quân ta hoạt động rồi. Vì thế mà Bắc Việt không dám pháo
kích sân bay Cù Hanh nữa....
- Dạ. Chắc là có lệnh của trung tướng Đặng Văn Quang?
- Có chứ! Ông Quang đã điện về Sài Gòn đề nghị tổng thống
cho oanh kích suốt dọc hành lang phía Tây Bắc theo những mục tiêu mà thám báo
đã xác định nhằm trả đũa hai sư đoàn Bắc Việt. Máy bay thám thính của ta còn
bay liệng nhiều lần trên vùng trời phía Tây để răn đe, cảnh cáo đối phương...
- Dạ, thế là rất hữu hiệu...
- Vì vậy tôi đã lưu giữ trung tướng Quang ở lại đây
chơi ít ngày giúp tôi bài binh, bố trận, thực hiện “tràn ngập lãnh thổ” như ý
muốn của tổng thống…
Cang được thể, trổ tài xu nịnh:
- Dạ, trình thiếu
tướng, tôi đã cho tuyển chọn hai em gái vùng Cao Nguyên này để vào hầu trung tướng
và thiếu tướng.
Phú cười rất tươi:
- Ông thiếu tá thật là tuyệt vời. Thay mặt cho trung
tướng, tôi có lời cảm ơn.
- Dạ, không có gì đâu ạ.
Phú làm bộ cao đạo:
- Với tôi thì em Ngọc Ngà cũng đang phục vụ hết mình rồi.
Cang cười hềnh hệch:
- Dạ thưa, thiếu tướng cũng cần phải thay đổi món chứ ạ.
- Ừ, thôi cũng được. Nhưng phải đưa tôi sang phòng số
7, nghe, không để cô Ngà biết thì phiền đấy!
- Dạ, được ạ.
Ngừng một lá, Cang mới nói:
- Dạ, trình thiếu tướng, suýt nữa tôi quên: con Tuyết
và thằng trung sĩ An vừa có chuyện rắc rối ạ.
- Sao? Chúng nó bồ bịch bậy bạ?
- Dạ. Hai đứa lại tự ý tổ chức nhậu nhẹt với hai tên
tù binh ở phòng 2A...
- Với thằng Hoà
và thằng Sĩ lính Bắc Việt hả?
- Dạ.
- Rồi sao?
- Dạ thưa, lúc trưa nay, nhậu xỉn thằng An và con Tuyết
để cho 2 tên tù trốn trại!
Phú kêu lên: Trốn trại? Chúng nó đi đâu?
- Dạ. Có thể chúng nó còn lẩn quất quanh đây. Tôi đã
cho mật vụ áp sát mấy gia đình Việt Cộng nằm vùng dò la. Chắc là chúng nó sẽ bị
bắt lại trong đêm nay.
- Các bốt chung quanh đây?
- Dạ, thưa, tôi đã cho phong toả hết. Chúng không thể
lọt đi đâu được!
Phú cau mày rồi nói lẩm bẩm:
- Không được lộ bí mật với ông trung tướng đâu nhé.
Còn đối với thằng An và con Tuyết, ông giam cổ chúng nó lại, cần thiết thì tra
tấn xem chúng nó có thông đồng với ai không? Khai thác xong phải trừng phạt thật
nghiêm hai đứa này, nếu cần lập hồ sơ và đưa ra toà án quân sự xét xử cho
nghiêm. Song ông phải chờ lệnh của tôi, nghe!
- Dạ.
Cang không ngờ Phú lại không hề nổi nóng về cái tin tù
trốn trại. Hắn nghĩ có lẽ vì hắn đã khéo dẫn dắt hai ngài tướng lĩnh đến... mê
cung với hai cô kiều nữ vùng Cao Nguyên chăng? Hắn đắc ý cười tủm tỉm và đứng
lên xin phép Phú lui gót.
Phú gật đầu:
- Thiếu tá cứ như thế mà làm, nghe!
- Dạ.
Cang đã thở phào nhẹ nhõm khi bước ra khỏi Sở chỉ huy
của Phú. Về đến nhiệm sở, Cang gọi điện thoại cho thượng sĩ Tùng:
- Tùng đấy hả? Tôi đã trình lên thiếu tướng tư lệnh rồi.
Ổn cả thôi. Nhưng anh chuẩn bị sáng mai ra phố tóm cổ cho tôi con mụ Sáu, nó có
chồng đi tập kết đấy! Nhất định con mụ này có liên quan đến hai tên tù vừa trốn
trại. Con mụ Việt Cộng nằm vùng này sẽ phải khai ra hết! Anh nhớ chưa? Tốt, rất
tốt! Cứ thể mà làm. Nghe!
Cang đặt ống nghe.
Hắn đứng dậy, vươn vai, đi đi, lại lại, thở ra khoan
khoái như vừa trút bỏ được một gánh nặng trên vai...
VII
CHIẾC XE TẮC- XI VỪA CHỚM QUỐC LỘ SỐ 1 đã dừng ngay lại
theo yêu cầu của Hoà. Anh giúi vào tay tài xế một trăm ngàn đồng:
- Em cám ơn anh Ba nhiều. Từ đây vào Quy Nhơn bọn em sẽ
có đứa bạn ra đón. Anh Ba có thể quay lại Plây Cu được rồi.
Anh tài xế bắt tay hai người bạn trẻ sau một chuyến đi
với giá cao, vui vẻ quay lại Plây Cu và yên trí rằng hai chàng thanh niên này
đang có công chuyện rất gấp mà anh không dám hỏi. Nhớ lại sáng hôm qua Hoà đã
ngỏ ý muốn thuê một chuyến xe anh, anh đang ế khách, đã nhận lời ngay và y hẹn
đến đón hai chàng trẻ tuổi ăn mặc bảnh bao, lịch thiệp, rồi từ Plây Cu đây, xe
anh chỉ chạy hơn hai giờ liền, đã đến ngay quốc lộ số 1. Anh yên tâm quay lại
Plây Cu sau khi nhìn rõ hai bàn tay vẫy vẫy từ biệt của Hoà và Tâm.
Chờ cho chiếc xe của anh Ba đi khuất, Hoà mới nói lớn
với Tâm:
- Thế là ta đã thoát rồi. Ta sẽ vẫy xe về Phan Rang
trước khi trời tối, anh ạ.
Tâm bàng hoàng trước mọi chuyện vừa xảy ra. Lần đầu
tiên anh nhìn thấy quốc lộ số 1 sau nhiều tháng ở rừng. Anh thầm cảm phục Hoà,
anh bạn đã mạo hiểm cùng anh vượt trại và từ đây anh sẵn sàng đi theo sự hướng
dẫn của Hoà. Hoà nói cho Tâm hiểu:
- Từ giờ phút
này, anh cứ yên tâm đi với em. Em không về Sài Gòn đâu vì tên thiếu tá Cang sẽ
về Sài Gòn để truy nã em và có thể tống tiền ba má em vì em trốn trại.
- Ta về Phan Rang sẽ tạm lánh ở đâu?
- Ở Phan Rang, em có một người bà con thân thiết. Đó
là dì Tám, bạn hàng của má em từ hơn mười năm nay. Dì Tám rất phúc hậu, có tiệm
buôn tạp hoá ở Phan Rang. Anh và em hãy cứ về đó ở hôm nay. Em sẽ nói với dì
Tám rằng anh và em đều là lính cộng hoà chạy trốn quân dịch. Dì Tám sẽ giúp đỡ
em và anh. Sau đó, tuỳ cơ ứng biến và em sẽ nhờ dì Tám bí mật báo tin cho ba má
em ở Sài Gòn. Đó là chuyện sau này. Còn bây giờ thì phải tạm lánh ở đây đã.
Chưa thể xuất đầu lộ diện được đâu...
Tâm nói:
- Sau khi thấy chúng ta trốn trại, chắc rằng chúng sẽ
báo động và bủa vây khắp cả Plây Cu và sẽ sục về Sài Gòn…
- Vì thế, ta phải
ở lại Phan Rang chờ đợi thời cơ thuận tiện...
Câu chuyện còn đang lan man thì một chiếc xe Pho đã chạy
tới. Hoà đưa tay vẫy, xe dừng lại ngay. Hoà lên tiếng:
- Cho tôi về Phan Rang, anh Hai!
- Xin mời lên nào!
Cánh cửa xe mở ra. Hoà và Tâm ung dung xách túi lên xe.
Cửa xe đóng lại và xe lại bon bon chạy về hướng Nam. Hoà nói nhỏ vào tai Tâm:
- Tên Cang không thể ngờ được chúng ta lại đã chạy khỏi
Plây Cu hơn trăm cây số như thế này! Bây giờ, có trời mới biết được chúng ta
đang ở đâu và sẽ đi về đâu?
Tâm không giấu nổi vui mừng:
- Em tài giỏi quá! Anh biết lấy gì đền ơn em được?
- Có gì đâu anh! Anh với em còn nhiều công chuyện phải
bàn với dì Tám...
Khi mặt trời vừa chìm xuống phía sau ngọn tháp Chàm,
chiếc xe Pho chở Hoà và Tâm cũng vừa cập bến Phan Rang Nhanh như sóc, Hoà đã đặt
vào tay anh tài xế đủ một trăm ngàn với lời “cám ơn anh nhiều”.
Hai người trẻ tuổi rảo bước vào phố. Ngôi nhà số 20 có
lầu 1, đúng là nhà dì Tám đây, tại sao không phải là tiệm tạp hoá mà lại là một
quán bán đồ nhậu và hu tiểu Nam Vang? Hoà dắt tay Tâm:
- Anh đi với em, cứ tự nhiên như người nhà nhé.
Hai người bước vào quán nhậu như hai thực khách. Lúc
này quán chỉ có hai ông đang ngồi uống rượu ở bàn mé trong bên phải.
Hoà đi thẳng vào bên trái, đến trước quầy của dì Tám.
Dì Tám - một người đàn bà mập mạp, phúc hậu, mặc bộ đồ mầu xanh nhạt, chợt nhận
ra Hoà:
- Hoà có phải không?
- Dì Tám, dì không nhận ra con ư?
- Có chứ! Cháu ở Plây Cu kia mà!
- Dạ. Con đi
lính quân dịch ở Plây cu hôm nay mãn hạn quân dịch rồi, con được giải ngũ về
Sài Gòn, đi cùng với anh Sĩ bạn con đây, tiện đường con ghé thăm dì và chú Tám
mà!
Tâm củi đâu chào dì Tám:
- Con chào dì ạ.
- Nghe Tâm nói tiếng Bắc, dì Tám hỏi Hoà: Bạn của con
là người Bắc?
Hoà đáp:
- Dạ, anh Sĩ người Hà Nội nhưng có bà con đang ở Sài
Gòn, di cư từ Bắc vô năm 54 ạ. Dạ, thưa dì: chú Tám đi đâu ạ?
- Chú đang ở trên lầu, nào mời hai con lên lầu!
Hai anh bạn trẻ theo dì Tám lên lầu. Chú Tám cao lênh
khênh nghe tiếng lao xao đã ngó ra và vồn vã ngay:
- Trời ơi! Thằng Hoà! Chú nghe tin cháu đóng quân ở
Plây Cu kia mà! Xuất ngũ rồi sao? Lại có cả bạn cháu nữa?
Chờ cho dì Tám, chú Tám cùng ngồi vào xa - lông đối diện
với mình, Hoà mới hạ thấp giọng, lễ phép nói:
- Thưa dì, chú: con xin nói thiệt, dì chú thương con
cũng như ba má con thương con vậy, con và bạn con đều bị ông Phạm Văn Phú tư lệnh
Vùng 2 chiến thuật bắt bỏ tù vì trốn lính. Chúng con lại vừa trốn lần thứ hai,
vượt về đây, con xin dì, chú cho hai anh em con được tá túc ở ít ngày trước khi
con về Sài Gòn có được không ạ?
Chú Tám đắn đo một chút rồi gật đầu:
- Được! Được mà! Chú là dân bản địa ở đây, quen biết tất
cả mấy ông chánh quyền, cảnh sát, ai cũng kính nể dì, chú.
Hoà và Tâm đều mừng. Hoà nói tiếp:
- Thưa chú: bạn của con là anh Sĩ đây là người Bắc,
cùng cảnh ngộ như con, anh Sĩ có bà con là dân Bắc di cư năm 54 vô Sài Gòn. Trốn
lính, nên hai chúng con đang bị truy nã ráo riết, về Sài Gòn thì sẽ bị bắt trở
lại, nên chúng con xin chú và dì cho ở lại đây, làm gì cũng được, phụ bếp, nấu
cơm ...
Chú Tám xới lời cười xoà:
- Thiếu gì cách để che giấu các cháu. Cứ ở đây mà! Bây
giờ trời tối rồi, các cháu đi tắm rửa, giặt giũ rồi còn ăn cơm. Đi xe đò cả
ngày hả?
- Dạ đi tắc-xi
mới nhanh được đến thế. Từ Plây Cu qua Quy Nhơn rồi về đây, trả hết hai trăm
ngàn tiền xe cho tài xế, may mà má con lên thăm nuôi tuần trước, cho con tiền,
có tiền mới đào thoát được đấy ạ.
Dì Tám:
- Ở hiền gặp
lành, con ạ. Thôi đi sửa soạn đi, tắm giặt rồi còn ăn cơm...
Tâm càng cảm phục Hoà, anh yên tâm có thể ở lại đây với
Hoà.
Tắm giặt và ăn cơm tối xong, Hoà và Tâm còn lại một
lúc lâu hàn huyên cùng chú Tám trong lúc di Tám chạy ra, chạy vào vừa bán hàng,
vừa góp chuyện...
Không khí thân tình trong gia đình mỗi lúc thêm đầm ấm.
Đến 9 giờ tối thì chú Tám đứng lên:
- Các cháu đi nghỉ nhé! Đấy chiếu giường lớn này là của
hai cháu, nghỉ đi cho khoẻ, đi xe cả ngày cũng mệt rồi.
- Dạ.
Hai anh em buông màn, nằm duỗi dài trên chiếc gường rộng
Hoà nói:
- Giờ này, chúng nó ở Play Cu tha hồ mà cắn xé nhau vì
để xổng hai tù binh nguy hiểm...
Tâm cười thành tiếng:
- “Các anh mày” đã đi xa lắm rồi. Đến Tết, chưa chắc
chúng bay đã tìm thấy hai ông anh này, có phải không em?
Hoà cười khúc khích:
- Thằng trung sĩ An và con Tuyết chắc bị bạt tai, đá
đít và còng tay quá!
Sẽ là như thế. Ngài Phú tha hồ mà la hét tên Cang ...
Hoà đáp:
- Cha con nó bao che cho nhau dữ lắm mà! Có chết thì
chỉ chết thằng trung sĩ An với con Tuyết thôi! Còn em Lệ Ninh đâu có ngờ anh Sĩ
lại bỏ trốn!
Tâm cười:
- Cũng phải tạ từ em thôi, mặc dù em cũng thuỳ mị, dễ
thương lắm!
Hai anh em rì rầm tâm sự cho đến ngon lành với tiếng
thở đều đều khi Hoà ngủ...
Còn lại một mình Tâm cứ thao thức mãi với những ý nghĩ
vẩn vơ, mặc dù anh đã cố ý gác lại những suy tư, song không hiểu sao anh chưa
thể ngủ được ngon lành. Lo nghĩ đầu tiên là anh sẽ làm sao để tìm về được đơn vị
cũ? Có thể thủ trưởng của anh đã hiểu được sự hy sinh của Sĩ và anh đã bị địch
cầm tù. Chắc chắn chúng đã chụp được hình ảnh của anh, chúng sẽ tha hồ lợi dụng,
tung tin bịa đặt rằng anh đã đầu hàng, đã hồi chánh. Thủ đoạn nham hiểm của địch
có thể lừa gạt được những người nhẹ dạ, cả tin, nhưng với đơn vị anh, thủ trưởng
của anh đâu đã dễ tin như thế, nhưng anh phải về được đơn vị và được trình bày
tất cả sự thật...
Lại còn cha mẹ, anh em và bè bạn ở Hà Nội, anh chưa lập
được công mà đã sa vào tay địch và bây giờ lênh đênh trên một nẻo đường chiến
tranh, một nẻo đường đất nước chưa sạch bóng quân thù? Làm thế nào góp sức thêm
đây? Dù sao anh đã thoát được nhà tù, thoát được đòn tra tấn khi anh không chịu
đầu hàng, đầu thú. Có Hoà bên cạnh, anh có một bạn đồng hành, tuy chưa phải là
đồng đội song anh tin Hoà đã cố gắng vượt lên số phận, không cam tâm làm một nạn
nhân của chiến cuộc, đã tự giải phóng cho mình. Anh phải chung tay, với Hoà
trong cuộc vật lộn này. Anh hiểu được rằng ở đâu nhân dân ta cũng anh hùng, ở
đâu cũng có những người hướng về kháng chiến như vợ chồng chú Tám, dì Tám và cả
gia đình Hoà ở Sài Gòn nữa. Tâm thấy lòng mình được sưởi ấm mặc dù anh đang sống
giữa những con người vốn chưa phải là thân nhân của mình. Anh tự thấy có trách
nhiệm phải khắc phục mọi khó khăn, vượt lên bão táp, sống sao cho xứng đáng với
đồng bào, đồng đội của mình. Đêm Phan Rang càng về khuya càng yên tĩnh. Đôi lúc
chỉ còn tiếng xe cơ giới chạy qua đường số 1 về Nam, ra Bắc...
*****
Trằn trọc mãi, đến quá nửa đêm, Tâm đã ngủ thiếp đi được
đến gần sáng thì tỉnh dậy khi Hoà cựa mình đụng vào cánh tay bên trái của anh.
Tiếng xe chạy ầm ì ngoài quốc lộ 1 mỗi lúc mỗi dội vào
làm cho Tâm và Hoà không thể ngủ được nữa. Nhìn qua cửa sổ, về phía đông, trời
đã rạng dần, Hoà ngồi nhỏm dậy hỏi Tâm:
- Anh cần ngủ thêm nữa không
Tâm giụi mắt, ngồi dậy theo:
- Ngủ như vậy là đủ rồi. Cả hai anh em đều nhận biết
được hôm nay là ngày thứ hai mình đã được tự do, bên ngoài song sắt nhà tù. Và
cũng từ nay hai anh em đã hoàn toàn tin cậy nhau, xoá hết được mọi sự mặc cảm,
e dè, nghi kỵ...
Tâm nói với Hoà:
- Từ hôm nay, em đừng gọi anh là Sĩ nữa! Sĩ là tên người
bạn đã hy sinh của anh. Tên thật của anh là Lê Văn Tâm...
Hoà ngỡ ngàng:
- Dạ.
Tâm nói tiếp:
- Hai chúng
mình tuy hoàn cảnh có khác nhau, nhưng lại chung một cái đích để phấn đấu: phải
thoát khỏi nơi tăm tối đây nguy hiểm. Đến được đây rồi, em sẽ trở lại gia đình.
Còn anh, anh sẽ tìm về đơn vị chiến đấu của sư đoàn.
Hoà lắc đầu:
- Em chưa thể về
với ba má được, vì thấy mất em, lập tức chúng nó sẽ về Sài Gòn, dò la tông tích
của em và bắt em trở lại. Vì thế em sẽ ở lại đây, nương nhờ dì Tám, chú Tám, có
thể còn rất lâu dài. Anh ra đi thì em buồn lắm. Mà từ đây tìm về đơn vị cũ cũng
khó khăn, nguy hiểm lắm đấy chứ. Hay là anh cứ ở đây?
- Ở đây thì có thể rất an toàn, song anh còn có nhiệm
vụ của người lính, không thể bỏ dở được. Bằng mọi cách, anh phải tìm về đơn vị.
Hoà vén màn, bước ra khỏi giường. Tâm cũng vươn vai đứng
dậy. Hai người bước sang phòng khách, pha trà, đốt thuốc, tiếp tục trao đổi.
Hoà chưa hết băn khoăn:
- Em không ngăn cản anh. Em muốn giúp anh, nhưng em sẽ
giúp được gì cho anh đây?
- Công việc của anh là tìm hiểu tình hình quân địch ở
Plây Cu: nơi đóng quân, hệ thống đồn bốt, quy luật hoạt động. Plây Cu là thủ phủ
của Cao Nguyên, nơi có Sở chỉ huy của quân khu 2, có dinh thự của Phạm Văn Phú,
tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, có sân bay Cù Hanh, có Lãnh sự quán Mỹ... Em đến
Play Cu trước anh hơn một tháng, lại được bổ sung vào liên đoàn quân biệt động
trước khi em đào ngũ. Em có thể kể lại cho anh những điều tai nghe, mắt thấy ở
Plây Cu, giúp cho anh có một hiểu biết khái quát được không? Vì anh đã bị chúng
nó bắt, tức là đã lộ, anh không thể quay lại Plây Cu được. Và để trở về đơn vị
cũ, anh sẽ phải về qua ngả đường Kon Tum mới có thể an toàn...
Hoà sôi nổi hẳn lên:
- Em sẵn sàng giúp anh. Một tháng làm lính cộng hoà của
liên đoàn biệt động em nghe được nhiều chuyện lắm, lại được tung tăng đi khắp cả
thị xã Plây Cu. Con Tuyết chiêu đãi viên, dụ dỗ em, nó kể hết mọi chuyện thối
nát của tên thiếu tá Cang, tiểu đoàn trưởng đặc nhiệm của Phạm Văn Phú...
Tâm vui hẳn lên:
- Hay lắm! Thế
thì hay lắm! Em kể đi, anh nghe đây. Anh sẽ có được nhiều điều bổ ích.
Hoà phân trần:
- Thú thực với anh: khi chúng nó đưa anh vào giam
chung với em ở phòng 2A, ban đầu em cũng tưởng chúng nó cài anh vào để dò xét
thái độ của em ... nên em rất dè dặt.
Tâm cười:
- Thì anh cũng vậy. Lúc bấy giờ anh nào cũng phải giữ
gìn. Đâu đã dám thổ lộ hết mọi chuyện khi chưa hiểu hết về nhau, và khi còn nằm
trong nanh vuốt kẻ thù?
Hoà:
- Vậy thì hôm nay, em sẽ kể hết mọi chuyện em biết.
Anh cứ hỏi, anh cần gì, anh cứ đặt yêu cầu, em sẽ nói hết để anh nghe...
Tâm gật đầu:
- Thật là thú vị. Có lẽ anh sẽ rút ngắn được thời gian
tìm hiểu Plây Cu... Em cứ kể chuyện đi! Trước hết là quân lực của chúng nó. Em
biết ở Play Cu hiện nay có những đơn vị nào? Nơi đóng quân của từng tiểu đoàn?
Hoa bắt đầu kể:
- Em bị ép buộc vào lính và bị đẩy lên Play Cu, em rất
lo sợ vì đã bắt đầu mùa khô. Mùa khô là mùa Quân Giải Phóng thường hay đánh lớn
nên không khí chiến tranh đã căng thắng ở quân khu 2. Cao Nguyên có một sư đoàn
chủ lực để phòng thủ, đó là sư đoàn 23 (còn sư đoàn 22 đóng ở ven biển miền
Trung) Sở chỉ huy sư đoàn 23 đặt ở Buôn Mê Thuột với trung đoàn 53, còn hai
trung đoàn 44, 45 lại đóng ở Plây Cu. Ngoài sự đoàn bộ binh số 23, tướng Phú
còn có 7 liên đoàn biệt động và 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp. Ở sân bay Cù
Hanh (Plây Cu) đang có một sư đoàn không quân, chừng hơn một trăm phi cơ các loại,
còn một sư đoàn không quân nữa được để ở Nha Trang. Em sẽ nhớ lại và vẽ giúp
anh một bản đồ Plây Cu gồm những đường phố chính, đường từ Tổng hành dinh của
quân khu 2 ra sân bay Cù Hanh, nơi đóng toà lãnh sự Mỹ, nơi làm việc của CIA,
nơi đóng quân của trung đoàn 44, 45. Sau mấy trận pháo kích trước Tết của Quân
Giải Phóng, tướng Phú đã phân tán xe tăng, thiết giáp ra nhiều nơi, tất cả đều
hướng về rừng núi phía Tây, một số hướng ra đường số 14 đề phòng Quân Giải
Phóng đánh Kon Tum, có thể pháo kích hoặc tập kích chớp nhoáng Play Cu rồi lại
rút lui.
- Sao em biết được như thế?
- Dạ, khi em
còn ở lính, chưa đào ngũ, chưa bị bắt giam, em thường được đi chơi với mấy đứa
bạn, đi khắp cả cái thị xã ấy, rồi con Tuyết, có lẽ nó mê em nên cứ toang toác
cái mồm khoe với em mọi chuyện ...
- Cả chuyện của ông thiếu tá Cang?
- Có. Cang là tiểu đoàn trưởng đặc nhiệm, cận vệ của Tổng
hành dinh tướng Phú. Cang là cánh tay phải của Phú, là ma - cô dẫn gái cho Phú.
Cang cho người về Sài Gòn, yêu cầu ba má em phải nộp cho y đủ 5 cây vàng mới
cho má em lên thăm nuôi em và còn đòi đủ 10 cây nữa mới xin cho em về Sài Gòn
làm lính kiêng.
- Vì sao má em không chấp nhận?
- Gay lắm anh ơi! Buôn bán bây giờ ở Sài Gòn đầu có dễ.
Với lại có thể bị nó lừa. Nó lấy vàng rồi kêu khó khăn hoặc cứ đòi thêm mãi thì
sao? Về Sài Gòn, ở đó là quân khu 3, do tướng Nguyễn Văn Toàn làm tư lệnh. Ông
tướng xôi thịt này mập như con heo, vừa bị đá khỏi Cao Nguyên, về Sài Gòn đút
lót cho bà Sáu Thiệu thế nào mà lại được làm tư lệnh Vùng 3 chiến thuật. Có lẽ
phải đút cả trăm cây vàng chứ ít gì! Em nghe lính nó kháo nhau các ký giả Sài
Gòn ra “Bản cáo trạng số 1" tố cáo tham nhũng có nói đến cả tướng Toàn ăn
chặn lương của lính chết, lính bị thương, khai man quân số để lấy tiền xài, lại
hiếp dâm gái vị thành niên, xạo với con Tuyết, bây giờ nó mới nói ra. Ngài thiếu
tá Cang còn tệ hơn nữa, ỷ thế ông Phú, quát nạt đủ thứ, cho lính mở sòng bạc
sát phạt lẫn nhau để ông ấy thu tiền hồ. Ở trại con gái, mấy con nhà thổ cũng
phải “cúng” cho thiếu tá Cang đủ thứ thì mới được yên thân hành nghề mại dâm
cho lính.
- Còn lính mới đào ngũ như em thì sao?
- Tháng trước
có hơn một trăm đứa trốn lính. Chúng nó đi thoát được một nửa. Một nửa bị bắt
trở lại. Đứa nào có tiền đút lót thì không bị đánh. Như em, chúng nó biết ba má
em có tiệm buôn ở Sài Gòn thì giam riêng, “biệt đãi” để đòi đút lót nhiều hơn.
Tâm lại nắm chặt tay Hoà:
- Anh cám ơn em
nhiều. Anh đã nhớ những điều em vừa nói. Em vẽ thêm cho anh một bản đồ Play Cu.
Anh sẽ vẽ lại và đem về đơn vị.
- Ngày nào anh đi?
- Anh sẽ cố gắng đi sớm nhưng đi công khai từ đây về
Quy Nhơn rồi theo đường 19 về Kon Tum qua đường 14 nữa, cũng xa và vất vả đó,
nhưng anh đi được càng sớm, càng hay, lại phải có giấy tờ căn cước hợp lệ. Có
thể nhờ chú Tám lo giấy tờ được không nhỉ?
Hoà đáp gọn:
- Khỏi lo, chú Tám là dân bản địa ở đây mà. Còn tiền
đi đường, em sẽ giúp anh, em còn đủ cho anh. Thiếu thì sẽ có chú Tám cho thêm...
Tâm có cảm giác như đang sắp được tự do tung cánh về rừng.
Thì ra Hoà đã tích luỹ được những điều mà anh chưa có, lại đang cần phải “nhập
tâm” để đem về đơn vị. Hoà có trình độ văn hoá trung học phổ thông, lại đang
chán ghét bọn sĩ quan tướng tá nguy. Đích thực, Hoà là con nhà lành rồi, ít ra
thì Hoà cũng có ba là nhà giáo, mẹ là nhà buôn và chị Hiền là sinh viên Văn
khoa kia mà!
Hiểu biết của Hoà tuy bé nhỏ mà lại có ích, nếu Tâm biết
góp nhặt lại, có thể giúp cho đơn vị của anh những điều đang rất cần cho cuộc
chiến đấu của Quân Giải Phóng.
Hoà và Tâm cùng nhìn ra phía bờ biển. Mặt trời đang tắm
nắng chân mây xa. Một ngày mới đây hy vọng lại bắt đầu.
VII
NHỮNG BÔNG HOA CUỐI CÙNG ĐÃ NỞ RỘ NHỮNG trên cành hoa
mai trong phòng khách của thiếu tung tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật.
Cuốn lịch năm 1975 trên tường cũng đã bóc tới anh ngày
mồng 5 tháng giêng âm lịch.
Ngồi đối diện với Phạm Văn Phú hôm nay lại là nhà báo
Lãng Tử, một người mà Phú thường gọi là hiền huynh trong những lúc trà dư, tửu
hậu.
Phú rót đầy hai ly rượu Hoàng Cúc:
- Nào xin mời hiền huynh!
Lãng Tử nâng ly rượu cụng ly với Phú:
- Xin cảm ơn, xin mời!
Phú nói thật điềm đạm:
- Mấy hôm trước Tết, sau Tết, tôi bận tối mắt, tối mũi
lo việc phòng thủ Plây Cu, Kon Tum, cũng may mà đối phương không pháo kích nên
cũng tạm thời được ăn Tết yên ổn...
Lãng Tử:
- Tôi cũng biết vậy, cũng mừng cho ông ở nơi đầu sóng,
ngọn gió này. Cao Nguyên này mà bất ổn thì Sài Gòn cũng không thể ngồi yên được.
Ông Thiệu, ông Kỳ, ông Trần Thiện Khiêm, ông Cao Văn Viên, ông Đặng Văn Quang
phải cám ơn ông Phú nhiệt liệt mới phải chứ!
Phú cười;
- Các “xừ” ấy
có điện lên tới tấp, lại gửi thiếp chúc Tết, rồi bánh chưng, bánh tét, dưa hấu,
lê, táo, sâm-banh, bích-quy, bò, gà, dê, nai đủ cả cho tôi, nhưng tôi có đụng
đũa đâu. Đến hôm nay ngồi được ở đây với hiền huynh là tôi mừng lắm rồi. Ta có
thể ngâm cho nhau nghe một vài vần thơ hoặc xướng hoạ mà không lo đại bác nổ
trên đầu...
Lãng Tử đặt ly rượu xuống bàn:
- Ở Sài Gòn,
tôi có mấy ông bạn là Mạnh Thường Quân, song ông cho phép tôi được nói với ông
hôm nay thật chân tình nhé...
- Ông cứ nói.
- Tôi không nịnh ông, mà phải nói thật lòng với ông:
Phạm Văn Phú mới là Mạnh Thường Quân số 1 của Lãng Tử! Đọc truyện Tàu, chắc ông
chưa quên thời Xuân Thu, Chiến Quốc có chuyện chiêu hiền đãi sĩ của thái tử Đan
nước Yên?
- Có, tôi có nhớ...
- Thái tử Đan dung nạp Phàn Ô Kỳ là tướng nước Tần chạy
sang xin đầu hàng để báo thù. Thái tử Đan còn đặc biệt ưu đãi tráng sĩ Kinh Kha
trước khi Kinh Kha qua sông Dịch Thuỷ đến Hàm Dương hành thích vua Tần... Cảm
kích trước tấm lòng quý trọng người hiền của thái tử Đan, Kinh Kha đã xông lên
chín bậc cung điện để giết Tần Thuỷ Hoàng, mưu trừ đại hoạ cho dân, song việc lớn
đã không thành. Kinh Kha đã phải hy sinh, nát thân trước điện nhà Tần, song tiếng
thơm còn lưu lại đến ngàn đời sau...
Phú gật đầu:
- Đúng vậy. Nhưng tôi tự biết mình chưa thể sánh với
thái tử Đan được. Mà nói như cụ Tam Nguyên Yên Đỗ thì… “Cúi trông thẹn đất, ngửa
trông thẹn giời!” Phú còn hèn lắm, Phú chưa làm được cái gì với bạn đâu...
Lãng Tử lắc lư cái đầu:
- Thì tôi đây cũng chưa thể bén gót được Kinh Kha.
Nhưng tại sao tôi lại kể chuyện Kinh Kha với ông? Vì tôi thấy ông bận trăm
công, ngàn việc tầy đình, mà ông vẫn không quên tôi, tôi chỉ là anh nhà báo
quèn “Sinh bất phùng thời”, lên đây lánh nạn, ông lại bao dung, đặt tôi vào
hàng tân khách...
Phú vẫn ôn tồn:
- Phải nói Lãng Tử
là thượng khách của Phú mới đúng. Người ta ở đời có gặp gian nan mới hiểu được
lòng nhau chứ! Ông cho tôi được “ôn cố tri tân”, có ôn việc cũ mới biết được việc
mới: tôi bị Việt Minh bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, được trao
trả tù binh, tôi xuống tàu há mồm, làm một chuyến di cư, theo binh nghiệp và
nay đã lên tới thiếu tướng tư lệnh cấp vùng. Ông là một trong những bạn cố tri,
chia sẻ buồn vui với tôi nên tôi rất quý ông. Tôi đã có vợ đẹp, con khôn, nhà lầu,
xe hơi, chức trọng, quyền cao, song lại có được người bạn hiền như ông, thật
không phải dễ mà ai cũng có thể có được? Ông cứ ngẫm mà xem tôi nói có đúng
không?
Lãng Tử gật gù:
- Đúng lắm! Rất đúng! Chiều 30 Tết, tôi uống rượu say
một mình, ông lại thương tôi cô đơn, ông đã cho em Lệ Ninh đến ở cùng tôi. Với
tôi thì Lệ Ninh là nàng Tây Thi của Phạm Lãi xưa rồi đó!
Phú cười vui:
- Lệ Ninh là chiêu đãi viên số 1 đó. Con bé dịu hiền
và chiều ông hết mình phải không?
- Đúng thế!
- Ông cứ giữ em Ninh lại ở với ông cho vui. Một cô
nàng lịch sự, văn minh, một cô gái xứ Bắc, gốc Hà Nội Lê đó. Nàng là con gái đất
Tràng An hào hoa, phong du nhã....
- Tôi cảm ơn
ông nhiều. Lệ Ninh có thể còn ở với tôi được nhiều ngày. Thú thật với ông:
không hiểu sao cái Tết này tôi buồn quá? Có phải chiến cuộc đang có nhiều biến
động gay gắt không? Những năm đánh Pháp ở ngoài Bắc tôi đã không có gan chịu đựng
gian khổ ở chiến khu Việt Bắc nên mới “dinh-tê” về nội thành Hà Nội, sống với
văn chương lãng mạn. Khi kháng chiến trở về, bạn bè ai cũng có phần vinh dự của
chiến thắng. Tôi thấy xấu hổ quá, tủi nhục và bẽ bàng nữa, thế là tôi theo các
ông xuống tàu há mồm làm một cuộc di cư vào Sài Gòn cho đến ngày nay. Vũ Hoàng
Chương là thi sĩ nổi tiếng một thời, anh ấy có câu thơ thế này:
“Uổng sinh thời
loạn lạc
Xót mệnh vong quốc nô!"
Rồi lại than thân:
“Áo vải, mộng công hầu,
Vinh quang: đường lối khép,
Thẹn trước, thương về sau,
Đời tàn trong ngõ hẹp!"
Tâm trạng của Lãng Tử lúc này có khác chi tâm trạng Vũ
Hoàng Chương? Lại rất giống Đinh Hùng nữa! Đinh Hùng cũng là nhà thơ nổi tiếng,
lại là anh vợ của Vũ Hoàng Chương! Bế tắc lắm ông ạ.
Phú an ủi bạn:
- Nếu ông ở đây buồn, ông có thể đi Đà Lạt với em Lệ
Ninh? Tôi sẽ sai thằng Cang bố trí một chuyến xe đưa ông đi Đà Lạt. Khi nào cần
trở lại Plây Cu, ông lại “phôn” cho tôi, tôi sẽ cho lính lên đón ông về.
Lãng Tử suy nghĩ một lát, mới hỏi:
- Buồn thì ở đâu tôi cũng buồn, nhưng tôi không buồn để
chết đâu! Tôi có buồn mới viết văn, làm thơ được và rất an phận nghèo nàn. Được
ông bao dung thế này thật là quý hoá vô cùng. Chiến sự lại đang gay.
- Khỏi phải nói lại điều đó. Song với ông, tôi phải
nói thật: ngày 6 tháng 1 - 1975 vừa qua, trước Tết, Việt Cộng đã tái chiếm Phước
Bình, tỉnh lỵ của Phước Long rồi. Quốc Gia không đẩy lui được, đành chịu để mất
Phước Long. Đài Hà Nội đang rùm beng về chuyện đó. Song, ông Thiệu lại nhận định
rằng: Việt Cộng mới chỉ có khả năng đánh chiếm thị xã nhỏ bé như Phước Bình
(Phước Long) được thôi, nếu đụng đến đô thị lớn thì sẽ bị đánh bại ngay! Cho
nên, với Plây Cu và Kon Tum, Việt Cộng và cả Bắc Việt nữa, cũng mới chỉ pháo
kích “gãi ngứa” ta thôi! Tuy nhiên, tôi dự đoán, sau Tết, chỉ ít ngày nữa thôi
- hôm nay mới là mồng 5 Tết - có thể ngoài mồng 10, họ lại pháo kích vào Cù
Hanh, sân bay quan trọng của ta. Ông đang cần yên tĩnh để sáng tác văn thơ, ông
nên đi Đà Lạt với em Ninh. Tôi xin bao tất cả, ông sẽ ở khách sạn Pa-lát-xơ, Mộng
Điệp hay Ngọc Lan, nơi nào cũng là khách sạn loại sang cả. Tôi sẽ “phôn” cho “xừ”
đại tá tỉnh trưởng trên đó. Nó phải lo bảo vệ an toàn cho ông và em Ninh. Hàng
ngày ông có thể nói chuyện đàm thoại với tôi được. Tôi dự kiến như thế có được
không?
Lãng Tử:
- Được lắm. Ý ông rất hợp với ý tôi.
- Vậy thì ngày mai mồng 6, ngày lành tháng tốt, ta lại
có thể “tiễn đưa một chén quan hà” được chăng?
- Được đấy!
- Thế thì ông “lệnh” cho em Ninh để em chuẩn bị đi với
ông. Còn tôi, tôi sẽ “lệnh” cho thằng Cang chuẩn bị xe cộ, lấy cái xe
Méc-xê-đéc của tôi đưa ông và em Ninh đi. Chừng 9 giờ khởi hành là vừa đẹp: sẽ
đến nơi lúc 3 giờ chiều...
Lãng Tử nắm chặt tay Phú:
- Thay mặt cho em Ninh, tôi cám ơn ông nhiều, nhiều lắm:
Phú cười xoà:
- Lại khách khí rồi!
- Không phải
đâu! Tôi không thể không cám ơn ông suốt đời!
Lãng Tử đứng lên, trở về căn nhà rỗng mà Phú đã có nhã
ý để cho ở với cô gái có tên là Ninh.
Buổi tối, cơm nước xong, Phú lại tìm đến chỗ ở của
Lãng Tử:
- Này ông Lãng Tử, ngày mai, ông đi Đà Lạt rồi, tối
nay tôi cần phải đàm đạo với ông một hồi nữa thì mới yên lòng được...
- Tôi rất sẵn sàng. Ông cứ nói...
Phú suy nghĩ một lát, rồi hỏi:
- Ông đã nghe đài Hà Nội, đài Giải Phóng của Việt Cộng,
đài Sài Gòn của ông Thiệu, đài BBC của Anh quốc, đài Tiếng nói Hoa Kỳ của Mỹ,
theo ông thì tình hình chiến cuộc ở Việt Nam cộng hoà sẽ ra sao? Nên Đệ nhị cộng
hoà của ông Thiệu sẽ ra sao? Khả năng tái chiếm lãnh thổ và thực thi hoà ước
Pa-ri sẽ ra sao?
Lãng Tử kêu lên:
- Tôi làm sao có tài như Khổng Minh được? Song cứ như
tôi biết thì Mỹ rút đi và ông Pho tổng thống Mỹ mới lên cầm quyền, chưa kịp viện
trợ 300 triệu Mỹ kim cho ta thì ta lấy tiền đâu, vũ khí đâu mà tái chiếm lãnh
thổ?
Phú nói giọng bi đát:
- Lính mới thì đào ngũ nhiều. Ở đây lính người Thượng
thì ú ở quá. Tôi sắp treo cổ một thằng trung sĩ vì nó rượu chè bê tha để xổng mất
hai tên tù binh hồi trong Tết...
- Vậy, nên làm gì, theo ông?
- Đành phải chờ đợi và kêu to lên để ông Pho phải cho
thêm tiền. Sau khi mất Phước Long, ông Thiệu đang la ó om sòm, đặt vấn đề với Mỹ:
nếu không tiếp tục viện trợ cho Việt Nam cộng hòa thì Việt Cộng và Bắc Việt sẽ
thôn tính hết miền Nam. Ông Thiệu còn phao lên: nhiều sư đoàn Bắc Việt đã luồn
sâu vào hậu cứ của Việt Nam cộng hòa, sẽ đánh lớn ở quân khu 1, quân khu 2. Ông
thấy thế nào?
Lãng Tử trầm ngâm rồi nói:
- Đã đánh nhau thì chớ có chủ quan. Cao Nguyên của ông
ở đây là thành đồng vách sắt bảo vệ cho Sài Gòn, Cần Thơ, ông phải yêu cầu ông
Thiệu chi viện tối đa cho Cao Nguyên: pháo binh, cơ giới, máy bay và lính bộ
binh. Phải có quả đấm thép mới giữ được Plây Cu, Kon Tum. Tại sao ông lại chỉ để
một sư đoàn 23 ở đây và một sư đoàn 22 ở Bình Định canh giữ suốt một dải miền
Trung? Theo tôi, ông phải có ít nhất 2 sư đoàn tinh nhuệ nữa!
Phú lắc đâu:
- Tôi đã nói với “xừ” Đặng Văn Quang. Quang hứa xin
ông Thiệu, nhưng chưa có gì cả!
- Cứ như thế thì có lẽ phải đợi đến khi Kon Tum, Plây
Cu bị đánh dữ dội, ông Thiệu mới tỉnh ra chăng?
- Hình như ông Ma-tin đại sứ Mỹ cũng bất lực? Ông có
lên đây với tôi, ông mới thấy tôi đang bí đến như thế nào? Khó khăn vô cùng mà
cứ bảo tôi khắc phục, khắc phục làm sao đây? Chắc rằng nay mai tôi sẽ còn vất vả
lắm...
***
Sáng hôm sau, tiễn Lãng Tử ra xe đi Đà Lạt với Lệ Ninh
rồi, Phạm Văn Phú quay về Sở chỉ huy với nét mặt đăm chiêu khác thường. Hắn gọi
điện mời tham mưu trưởng đại tá Lê Khắc Lý sang phòng làm việc.
Lý hơi sửng sốt:
- Có gì khẩn cấp đó, anh?
- Hôm nay là mồng 6 Tết âm lịch rồi. Ta lại phải xắn
tay áo lên mà đối phó với hai sư đoàn Bắc Việt. Tôi sẽ cho bắn pháo dữ dội hơn
và ném bom huỷ diệt những điểm chung quanh đây và chung quanh Kon Tum để “phòng
thủ từ xa”. Sau thoả ước Pa-ri, quân Mỹ rút đi, Việt Cộng lại có thêm dân, thêm
đất mà họ gọi là “vùng giải phóng được mở rộng”. Thám báo của ta cho biết họ
đang có dân công sửa đường chuẩn bị đánh lớn vào mùa khô chăng? Lại có cả mít
tinh của dân chúng hoan hô bộ đội về giải phóng Kon Tum nữa chứ! Ông thấy thế
nào? Có đáng lo ngại không?
Lý chậm rãi đáp:
- Đáng ngại lắm chứ! Làm tướng chỉ huy mà chủ quan là
điều cấm kỵ. Ở Plây Cu, Kon Tum ta có lực lượng mạnh, quân đông, xe pháo rất
nhiều, lại cả một sư đoàn không quân với hơn trăm máy bay, ta thừa sức đánh lại.
Theo tôi, ta nên đánh tiếp, đánh phủ đầu cho đối phương biết rằng nếu họ húc
vào Plây Cu, Kon Tum là sẽ húc đầu vào đá! Họ có thể chiếm Phước Long nhưng đừng
có hòng mon men đến đây. Họ có giỏi lắm thì cũng chỉ đánh theo kiểu quấy rối và
như họ nói để “tiêu diệt sinh lực địch" là chính. Họ đã thất bại ở thành cổ
Quảng Trị rồi, chắc họ không dại gì mà lại đánh Plây Cu.
Phú lắc đầu:
- Hôm qua tôi hỏi ý kiến ông chuẩn tướng Phó tư lệnh
Trần Văn Cẩm thì ông Cẩm lại có ý kiến hơi khác ông Lý đấy!
Khác như thế nào?
- Ông Cẩm dự đoán thế nào đối phương cũng đánh Kon Tum
và Plây Cu. Nếu họ không giữ được thì cũng phá ta dữ dội hơn để đạt hai yêu cầu
lớn của họ là: tiêu hao sinh lực ta và mở rộng vùng giải phóng ở Cao Nguyên
này! Nếu họ đạt được hai yêu cầu đó thì ta lại thua họ, co cụm lại mùa khô này
để mùa khô 1975-1976 ta sẽ thua thiệt nhiều hơn nữa. Cho nên, theo tôi nếu chỉ
có bắn pháo và ném bom cũng chưa đủ mà ta phải tung quân đánh rộng ra, đẩy lùi
cả hai sư đoàn 320 và sư đoàn 10 ra khỏi Cao Nguyên này. Có làm được như vậy,
ta mới ăn ngon, ngủ yên được chú!
Lý sáng mắt lên, đáp:
- Nếu ta cố gắng đạt được như vậy thì thật là lý tưởng!
Phú phác một cử chỉ hăng hái:
- Ông trung tướng tư lệnh cũ Nguyễn Văn Toàn không làm
được, nhưng Phạm Văn Phú sẽ làm và phải làm cho bằng được. Các ông nên nhớ, cuộc
chiến giữa ta và đối phương là một mất một còn. Ta có binh lính nhiều, có vũ
khí mạnh, có xe tăng, máy bay mà lại cứ ngồi ôm đầu cho họ đánh hay sao? Tôi thấy
xấu hổ lắm. Bạn tôi, ông biết đấy: nhà báo Lãng Tử ở đây mấy tháng nay, tìm hiểu
thực tế, cũng khuyên tôi nên xin ông Thiệu cho thêm ít nhất hai sư đoàn nữa để
giữ Cao Nguyên...
- Hình như ông Lãng Tử mới đi Đà Lạt?
- Ông ấy đi rồi! Đi thay đổi không khí ít ngày rồi lại
sẽ trở về đây...
Nhìn lên tấm bản đồ chiến sự treo trên tường, Phú nói
tiếp:
- Cao Nguyên này là giang sơn của ta, phải giữ lấy ông
ạ. Để mất Cao Nguyên là sẽ mất hết, ông Thiệu cũng thống nhất nhận định như thế
mà!
Lý hỏi lại:
- Như thế nghĩa là ta sẽ tung quân ra đánh trước?
Phú gật đầu:
- Đúng thế! Tôi sẽ lệnh cho đại tá Phạm Duy Tất chỉ
huy biệt động quân đưa hai liên đoàn số 4 và số 6 đánh ra vùng Việt Cộng mới lấn
chiếm của ta. Ta sẽ dùng cả không quân ném bom trước rồi xe tăng, đại bác và
quân biệt động đi sau, đánh giãn chúng nó ra. Phải thực hiện đốt sạch, cướp sạch,
giết sạch! Ông thúc giục mấy anh chiêu hồi phối hợp phủ dụ dân chúng lôi kéo họ
về với chánh nghĩa quốc gia, nghe!
- Dạ. Điều đó
tôi sẽ làm ngay.
***
Bàn bạc với Lý xong, Phú lại gọi thiếu tá Cang lên nhận
lệnh:
- Ba việc tôi giao, ông làm đến đâu rồi?
- Cang lễ phép thưa:
- Dạ. Việc thứ nhất: khai thác thằng trung sĩ An, tôi
đã đánh nó đến ngất xỉu, nó vẫn không nói gì thêm và chắp tay lạy xin tha chết.
Tôi đã bắn bỏ, cho tất cả những đứa khác phải xanh mặt...
- Tốt! Còn con mẹ nghi vấn ta bắt?
- Dạ. Tống giam và thông báo cho 20 gia đình Việt Cộng
nghi vấn khác biết để răn đe.
- Tốt! Còn số “hàng” từ Lào đưa sang?
- Dạ. Tôi đã nhận đủ 500 ký thuốc phiện, 2 ký bạch phiến
để sớm mai đưa đi Sài Gòn.
- Tốt! À còn con Tuyết?
- Dạ, tôi đã tống nó xuống trại con gái làm đồ giải
trí cho đám lính người Thượng
- Được đấy! Nay mai biệt động quân của ta sẽ đánh rộng
ra. Đối phương có thể còn bắn phá Plây Cu, nhất là sân bay Cù Hanh. Ông phải
chú ý tăng cường bảo vệ Sở chỉ huy của tôi và tất cả các mục tiêu của ta có thế
đã lộ đối với hai thằng tù binh đã trốn thoát. Chúng nó trốn thoát đi đâu nhỉ?
Cửa nào ta cũng chốt chặn ngày đêm, nó “bay” đi ngả nào? Có thể chúng nó còn
chui rúc ở đâu đó ngay trong thị xã này thì sao? Ông phải cho mật vụ, thám báo
theo dõi hai cái thằng này!
- Dạ.
Xế trưa, Phú mới về đến tư dinh.
Ngọc Ngà nũng nịu:
- Em thấy cưng bữa nay có điều chi không vui có phải
không?
Phú gật đầu:
- Hết Tết rồi, chiến sự lại rộ lên nay mai, anh là tư
lệnh, còn phải lo nhiều công chuyện...
Ngọc Ngà không dám hỏi gì thêm, chỉ ngả đầu vào vai
Phú và khép cửa lại
IX
KHÁCH SẠN PA-LÁT-XƠ TOẠ LẠC TRÊN MỘT ngọn đồi nhìn thẳng
xuống hồ Xuân Hương.
Về tháng này, tháng giêng âm lịch, buổi sớm và buổi tối
ở đây còn lạnh tới 16-17độ C.
Buổi tối vừa tới Pa-lát-xơ, Lãng Tử đã cùng Lệ Ninh ở
một phòng trên lầu 1.
Người quản lý khách sạn cho biết: hôm nay cũng chỉ có
20 phòng có khách. Quá nửa số phòng còn vắng. Lệ Ninh thực sự cảm động khi biết
rằng Lãng Tử quả là thượng khách của thiếu tướng tư lệnh Phạm Văn Phú, được lên
đây ở không điều kiện, nghĩa là: muốn ở khách sạn nào cũng được và muốn chi
tiêu bao nhiêu tiền cũng không hạn chế, thiếu tiền thì cứ “phôn” về cho Phú biết;
nghĩa là Ninh và Lãng Tử có thể xài tiền đến... mệt nghỉ!
Đêm nay Lệ Ninh đã lại nằm trong vòng tay của Lãng Tử.
Cô đắn đo hỏi:
- Anh ơi! Anh thương em thực sao?
Lãng Tử vuốt tóc Ninh:
- Anh thương em thật mà. Một tháng nay, gặp em ở Plây
Cu, anh muốn em sẽ ở bên anh mãi mãi và thực tế thì hai đứa chúng mình cũng đã
có nhau dưới mái nhà rông ở Plây Cu và bây giờ là ở Đà Lạt. Anh muốn em sẽ thôi
không làm chiêu đãi viên nữa, có được không? Cũng như cô Ngọc Ngà đã bỏ vũ trường
Ha-oai ở Nha Trang mà lên ở hẳn với ông Phú tại Plây Cu đó...
Lệ Ninh nép mình vào Lãng Tử: Hạnh phúc đến với em thật
không ngờ, em thì cam chịu phận hèn kém, nhưng anh thì còn danh vị, còn sự nghiệp
văn chương của anh, nếu sau này vì lẽ nào đó, em không lấy được anh, thì em sẽ
đau khổ biết chừng nào? Cho nên em chỉ biết vâng lệnh ông thiếu tướng, đi hầu hạ
anh thôi, được anh thương em thấy đã là hạnh phúc lắm! Còn được làm vợ anh ư?
Chuyện đó, nằm mơ, em cũng chưa có được!
Lãng Tử ngồi nhổm dậy và Lệ Ninh cũng ngồi dậy theo
anh vì cô biết anh sắp nói một điều gì thật quan trọng. Cô chờ đợi không lâu,
Lãng Tử đốt một điếu thuốc lá, hút một hơi dài rồi nói giọng trầm trầm:
- Anh muốn em xoá hết mặc cảm đối với anh. Anh là nhà
báo, nhà văn sống giữa Sài Gòn 20 năm nay, anh không thuộc một nhóm chính trị
nào, anh luôn giữ cho ngòi bút của anh là ngòi bút trung lập, lấy việc viết
văn, làm thơ làm lẽ sống thanh cao. Vì vậy anh vẫn nghèo, trong lúc người ta chạy
áp-phe, nhiều người trở nên giàu có. Còn những người như ông Phạm Văn Phú thì
khỏi phải nói đã là... “nhà binh triệu phú” rồi. Vừa qua, anh được Phú cưu mang
vì hồi xưa có quen nhau ở Hà Nội rồi di cư khi đất nước chia làm hai miền. Anh
nghèo nhưng sống tốt, sống đẹp nên bạn bè anh ở Sài Gòn đều quý mến anh, họ sẵn
sàng làm Mạnh Thường Quân giúp anh những khi anh nghèo túng. Chẳng lẽ anh cứ
lăn lóc mãi sao? Anh thèm khát một mái ấm gia đình, anh đã tiếp tục với đôi ba
người bạn gái mà sao anh chưa thấy mình có thể dừng bước với một người nào. Có
lẽ là chưa hợp tính nết chăng? Họ đến với anh rồi họ lại ra đi! Chỉ có em, anh
không hề nói xạo, em đã có một sự truyền cảm đến lạ kỳ làm xao động lòng anh những
ngày đầu ở Plây Cu. Em chưa có cái đẹp rực rỡ của Ngọc Ngà, song em lại có cái
duyên đằm thắm, một vẻ đẹp thầm kín làm cho anh phải đam mê... Anh nói thế, em
có tin anh không?
Lệ Ninh cúi mặt, đôi mắt càng bâng khuâng:
- Em tin. Em cám ơn anh nhiều.
Lãng Tử ôm ngang vai cô gái:
- Anh không muốn
áp đặt một điều gì đối với em. Còn nhiều thời gian để em suy nghĩ về anh trước
khi em đi đến một quyết định một việc rất hệ trọng đối với anh và em.
Lệ Ninh nhỏ nhẹ:
- Anh định ở Đà Lạt bao lâu? Tuỳ em. Khi nào ta thấy cần
phải xê dịch đi nơi khác thì anh và em sẽ đi. À ngày mai, anh sẽ dẫn em đến
thăm một ông anh họ của anh quê gốc Thái Bình. Ông ấy nguyên là công chức làm
việc từ thời thuộc Pháp ở Sở địa chính Hà Nội di cư vào Sài Gòn năm 1954 rồi
lên Đà Lạt làm việc một thời gian, nay ông bà ấy quay về mở tiệm ăn ở gần chợ
Hoà Bình. Em sẽ thấy một gia đình rất nền nếp, rất hạnh phúc, rất lý tưởng. Anh
cũng muốn có một mái ấm gia đình như vậy.
Lệ Ninh hỏi:
- Anh sẽ giới thiệu em với ông bà ấy như thế nào?
- Là bạn của
anh? Hay là... vợ sắp cưới?
Lệ Ninh lắc đầu:
- Anh chỉ nên giới thiệu em là cô bạn nhỏ tuổi thôi,
em hay mắc cỡ lắm đó.
Lãng Tử cười:
- Tuỳ em! Anh sẽ
làm theo “lệnh” của em mà!
Hôm sau, Lãng Tử đã đưa Lệ Ninh đến tiệm ăn Hoàn Mỹ.
Ông Trọng Đạt, chủ tiệm ăn không khỏi ngỡ ngàng khi đột nhiên gặp lại Lãng Tử:
- Kìa chú! Lên đây từ bao giờ mà không hề báo cho tôi
biết trước?
- Dạ. Em mới lên tới đây chiều qua.
- Chú ở đâu? Và lại đi với...
- Dạ, em ở
ô-ten Pa-lát-xơ và em xin giới thiệu với anh: Lệ Ninh, bạn em từ Sài Gòn lên...
Lệ Ninh cúi đầu chào ông Trọng Đạt.
Ông Đạt bắt tay cả hai người:
- Mời cô chú vào chơi!
Bà Lan Hương, vợ ông Trọng Đạt cũng vồn vã:
- Kìa chú! Chú
lên bao giờ mà bây giờ mới tới thăm anh chị? Lãng Tử lại phải nhắc lại câu trả
lời ông Đạt, bà Lan Hương cũng hiểu ra ngay:
- Nhà văn, nhà
báo các chú là thường dành cho thiên hạ những điều bất ngờ...
Lãng Tử càng vui:
- Dạ, chị, anh tha lỗi cho em, em cứ lang thang suốt đời.
Hôm qua bạn em, cô Ninh đây muốn đi chơi Đà Lạt, thế là em lấy xe của một tên bạn
đưa cô Ninh lên đây...
Ông Đạt hỏi:
- Ông bạn nào đấy? Ở đâu?
- Dạ, xe Méc-xê-đéc của Phạm Văn Phú ở Plây Cu.
Ông Đạt hơi giật mình:
- Phú nào? Có phải Phú thiếu tướng tư lệnh Vùng 2 chiến
thuật không?
- Dạ, phải, Phú cũng người Bắc ấy mà, hắn quen em từ
ngoài Hà Nội. Hắn di cư vào đây, theo đuổi binh nghiệp, lấy vợ Hoa Kiều Chợ Lớn,
trở nên giàu có, thuộc cánh tướng trẻ của ông Thiệu đó!
Ông Đạt thản nhiên:
- Tôi biết! Rất biết về lai lịch của Phú.
Lệ Ninh ngồi bên cạnh bà Lan Hương cứ im lặng nghe
chuyện của hai người. Cô ăn mặc kín đáo và giữ được vẻ đoan trang, nên gây được
cảm tình đẹp ngay với ông bà chủ tiệm ăn. Lãng Tử thấy cần phải giới thiệu một
đôi chút về Lệ Ninh với ông Đạt và bà Hương.
Thưa anh chị: Lệ Ninh cũng là người Bắc, quê Nam Định,
di cư theo gia đình vào Nam năm 1954, Ninh kém em một giáp, thật thà lắm nhưng
lại vụng về, chỉ được cái là rất hợp với tính tình của em...
Ninh càng nghe Lãng Tử giới thiệu, càng thầm cảm phục
tài hư cấu của nhà văn. Cô mỉm cười im lặng. Không khí gia đình mỗi lúc mỗi
thân mật thêm với câu chuyện hàn huyên giữa hai anh em họ gần kề.
Lãng Tử nhìn quanh nhà:
- Cháu Đức đi chơi đâu ạ?
Đức là con trai độc nhất của ông Đạt. Ông Đạt lắc đầu,
nói giọng buồn buồn:
- Cháu Đức của chú năm nay tròn 18 tuổi, mới bị động
viên quân dịch rồi. Nó vào lính, tôi mất khối tiền lo lót mới xin cho nó được một
chân lái xe vận tải của Liên đoàn quân biệt động ở Đà Nẵng, thuộc quyền ông tướng
Ngô Quang Trưởng đấy! Nếu không lo lót thì nó lại bị tống ra mặt trận, nguy hiểm
lắm. Ra Huế hay ra Quảng Trị thì... dễ chết lắm!
- Thưa anh, cháu Đức có thỉnh thoảng được về thăm anh
chị không ạ?
Ông Đạt lắc đầu:
- Nó mới vào lính được 6 tháng, chưa về lần nào. Chỉ gửi
thư về thôi. Tôi cứ phải viết thư động viên nó và gửi tiền cho nó tiêu thêm.
Lương lính mới có bao nhiêu đâu!
Lãng Tử an ủi ông Đạt:
- Cũng đành phải vậy thôi anh ạ. Rồi để lo lót dần dần,
xin cho cháu về gần nhà hoặc sau nại ra một chứng bệnh nào đó mà xin cho cháu
xuất ngũ…
Ông Đạt đăm
chiêu:
- Cũng có thể được đấy, nhưng phải tốn cả chục cây
vàng kia, mà tôi thì chưa phải là giàu có gì! Cũng còn nhờ cái hồng phúc nhà
mình nữa chú ạ. Thôi được, đó là việc của cháu Đức. Thế còn chú và cô Ninh hôm
nay ở đây ăn cơm với anh chị nhé. Lâu rồi ta chưa họp mặt gia đình, tôi rất nhớ
chú, nhắn về Sài Gòn mời chú lên chơi, mà sao chú cứ khất lần mãi thế?
Lãng Tử cười xoà:
- Anh chị cứ tha cho em cái tội lan man, cái máu văn
nghệ sĩ lông bông mới được. Vừa rồi, em vì nhẹ dạ mà suýt nữa bị rầy rà đấy!
Có chuyện gì?
- À anh cũng nghe hàng trăm ký giả Sài Gòn xuống đường
biểu tình trong một cuộc gọi là “Ký giả đi ăn mày” đó! Các cha hăng hái quá lại
tán phát cả “Cáo trạng số 1" về tham nhũng của ông Thiệu, ông Kỳ, ông
Quang, ông Cao Văn Viên, ông Trần Thiện Khiêm.... Cảnh sát đô thành mới dẹp và
bắt nhốt một số. Em bị mấy thằng bạn lôi kéo, suýt nữa bị bắt oan. Em có chính
kiến, đảng phái gì đâu, nhưng mà cảnh sát cứ bắt, cứ tẩn. Thế là em phải chạy
lên chỗ tướng Phú nhờ nó nói lót với Đặng Văn Quang cố vấn an ninh của ông Thiệu,
can thiệp với cảnh sát đô thành, em lại vô sự, đi ngao du luôn!
- Thôi chú, cô cứ lên đây với anh chị, nhờ vả Phạm Văn
Phú làm gì. Nó là võ, mình là văn mà tôi nghe quân đoàn 1, quân đoàn 2 của mấy
cha kỳ này gay đấy vì mấy ông Giải Phóng sẽ đánh mùa khô. Lại có cả mấy sư đoàn
Bắc Việt luồn sâu vào hậu cứ của Cao Nguyên rồi. Phạm Văn Phú có chống đỡ nổi
không? Chú tiếp xúc với Phú, chú thấy thế nào?
- Chuyện của hắn thì còn dài dài. Em sẽ nói với anh
sau, nhưng em linh cảm thấy hắn sẽ phải đương đầu với một mùa khô rất nóng bỏng
ở Cao Nguyên…
Bà Lan Hương hỏi chen vào:
- Cô và chú ở chơi với anh chị ở đây nhé, đừng ở ô-ten
nữa. Ở đây rộng rãi lắm mà. Trên lầu 1 có ba phòng, cô chú cứ ở phòng máy lạnh
bên trong đó. Dịp này thằng cháu Đức đi vắng, anh chị hơi buồn, bán hàng cà-phê
kế bên đây phải mướn một cô gái con bà bạn đấy. Cô Thoa rất chịu khó. Còn bên
này, bán hàng ăn phải thuê một ông nấu bếp. Bán sáng cho khách ăn điểm tâm và
bán tối cho họ nhậu lai rai. Anh chị chỉ cần kiếm đủ sống, chẳng thiết làm giàu
nữa! Cô chú ở đây thì nhất định anh chị sẽ vui hơn nhiều, có phải không cô
Ninh?
Ninh chỉ biết “dạ” một tiếng rồi lại ngồi im. Một lúc
sau cô mới nói:
- Nếu anh chị
cho phép... Em chỉ sợ làm phiền anh chị lâu quá!
- Ồ, có chi đâu mà phiền! - Ông Đạt đáp.
Sớm nay Lãng Tử đã phải căn dặn Lệ Ninh thật kỹ: Chỉ
được nói là bạn, là con gái nhà lành, có má ở Sài Gòn, ba mất lâu rồi, quen
Lãng Tử năm năm nay, thực sự thương nhau, có thể đi đến hôn nhân. Tuyệt đối
không được nói là vũ nữ và là “lính” của Phạm Văn Phú...
Ông Trọng Đạt phải nhấn mạnh:
- Cô Ninh đã là bạn của chú Lãng Tử thì vợ chồng anh
chị coi cô như người nhà rồi. Nhà này đang cần có thêm người thân cho vui nhà
lúc thằng cháu Đức đi vắng còn lâu mới về...
Lãng Tử phải nói với Ninh:
- Anh chị nói
thật tình đó. Hai anh em mình phải vâng lời anh chị, ở lại đây cho anh chị vui
lòng!
Buổi chiều, Lãng Tử đã xách va-li từ khách sạn
Pa-lát-xơ sang nhà ông bà Trọng Đạt-Lan Hương. Lệ Ninh thoăn thoắt đi theo Lãng
Tử lên lầu 1.
***
Ngày rằm tháng giêng âm lịch.
Lãng Tử và Lệ Ninh vừa đi chơi ở thung lũng Tình Yêu về
đến nhà thì ông Đạt đã nói ngay:
- Vừa có điện thoại của Phạm Văn Phú gọi lên cho chú đấy!
- Có chuyện chi đó anh? Lành hay dữ? Hình như có chuyện
đột xuất. Phú dặn tôi: lúc nào chú về thì gọi lại cho hắn ở Play Cu.
- Dạ. Để em gọi cho hắn!
Lãng Tử đã gọi về Plây Cu. Mười phút sau, từ đầu dậy
nói đằng kia, tiếng Phú đã vang lên rất rõ:
- Chào nhà báo!
- Có chuyện chi đó, ông Phú?
- À bình thường thôi, nhưng rất may cho ông và cô Lệ
Ninh...
- Sao?
- Đêm qua Việt Cộng pháo kích dữ dội vào Play Cu. Vài
chục quả đạn cỡ lớn rơi xuống sân bay Cù Hanh phá hỏng hai đường băng. Nhiều quả
đạn rơi xuống mấy cái chốt của liên đoàn biệt động quân số 4 và số 6. Có 10 tên
lính bị thương nặng. Hai quả đạn rơi cách cái nhà rông chỗ ở của ông có mười
mét, làm gãy cây cối nhưng nhà thì không bị sập. Nếu ông nằm ở đó chắc sẽ phải
một phen bở vía! Tôi và em Ngọc Ngà cũng giật mình tỉnh giấc. Đêm nay thì tôi
phải chuyển chỗ ở rồi, cho thật an toàn...
Lãng Tử hỏi lại:
- Sao hôm trước ông nói sẽ cho quân đánh vào “vùng giải
phóng” của Việt Cộng, ném bom và bắn phá liên tục để đẩy lùi đối phương vào rừng
kia mà?
- Tôi đánh phá ác liệt chứ. Và vì vậy mà đối phương trả
đũa đó!
- À ra thế?
- Ừ, sao? Ông và cô Ninh vui vẻ chứ? Không ở Pa-lát-xơ
nữa mà lại về ở tiệm Hoàn Mỹ à? Ờ, thôi được, tuỳ ông. Có cần tôi chi viện gì
không nào?
- Ông còn đang bận đánh và đỡ, ông cứ lo việc phòng thủ
Cao Nguyên đi. Khi nào cần, tôi sẽ gọi lại. Cám ơn ông nhiều! Bái bai!
Ông Trọng Đạt từ nãy chăm chú theo dõi cuộc đàm thoại,
đã hiểu được nội dung, ông lắc đầu cười:
- Việt Cộng lại nện vào Kon Tum và Plây Cu rồi. Cứ ăn
đòn như thế thì tư lệnh Vùng 2 chiến thuật cũng đến... hết hơi!
Lãng Tử phác một cử chỉ đồng tình:
- Em cũng thấy hắn có vẻ bối rối lắm.
- Gay thật chứ! Lúc thảnh thơi mấy năm trước thì thằng
Nguyễn Văn Toàn làm tư lệnh, có miếng ngon thì nó ăn hết. Đến bây giờ thì tên
Phú hứng... đạn! Kẻ ăn ốc, người đổ vỏ là như vậy!
Ông Đạt vuốt râu và chậm rãi nhận xét:
- Người Mỹ và Hội đồng tướng lĩnh của Thiệu chọn và cất
nhắc Phạm Văn Phú vì cho rằng Phú theo Pháp, đã bị Việt Minh bắt làm tù binh ở
Điện Biên Phủ tháng 5 - 1954, được thả ra lại vào Nam theo Ngô Đình Diệm thì
Phú sẽ tuyệt đối trung thành với “Nền Đệ nhị cộng hoà”, nhưng tôi xem ra y cũng
không phải là kẻ thông minh, mà chỉ khôn vặt.
- Theo anh thì
hắn nên như thế nào?
- Hắn nếu khôn ngoan thì đừng có lên Plây Cu làm mà
gì! Lại hăng máu vịt rồi sẽ chuốc vạ vào thân. Lấy vợ Tàu lai Chợ Lớn rồi thì cứ
ở Sài Gòn, chui vào Bộ tổng tham mưu mà làm, có hơn không? Lại còn lên Plây Cu,
có lẽ y đang thèm cái lon trung tướng. Nhưng ở đời, tham thì thâm, chú cứ đợi đấy
mà xem... Cái nguy của Thiệu là Mỹ đã rút quân, lại cắt viện trợ mà mấy ông Giải
Phóng lại làm... rất hung, chống đỡ làm sao đây?
Lãng Tử ra vẻ tâm đắc:
- Anh nhận xét có lý lắm!
Ông Đạt rót nước trà nóng:
- Chú uống đi, tôi vẫn nghiện cái trà móc câu Thái
Nguyên này đó. Ở đây lành lạnh, uống cái trà này, thật tuyệt.
- Ông lại nói
tiếp:
- Thời loạn lạc mà không tỉnh táo là coi như hỏng hết!
Tôi biết thân phận mình “Văn dốt - Vũ dát” làm cái anh công chức quèn, rồi giũ
áo, từ quan mà về mở tiệm buôn bán kiếm ăn nhì nhằng qua ngày thế này cũng đủ!
Gần 60 tuổi rồi, tôi thèm một cuộc đời ẩn dật quá. Học được cái đạo làm người
như La Sơn Phu Tử hay như Trạng Trình ở núi Côn Sơn, thật là cao đạo. Mình là
thường dân, chớ nên mưu bá, đồ vương mà dại! Chú là con người tài hoa, lấy văn
chương làm lẽ sống, lại không xu phụ phe nhóm chính trị nào, thế là rất tốt. Ai
có lòng mến mộ, làm Mạnh Thường Quân thì ta làm tân khách đến chơi vui. Chơi
chán thì lại ra đi, thong dong, tiêu dao ngày tháng cùng với non nước, cỏ cây.
Hay! Nhưng mà chú phải biết: chú sẽ đến một ngày gối mỏi chân chồn, “gió bụi
giang hồ” mãi không được đâu! Nếu cô Lệ Ninh tình nguyện “sửa túi nâng khăn”
cho chú thì anh chị sẽ giúp cho...
- Dạ. Em cám ơn anh chị...
Khi Lệ Ninh ở buồng tắm bước ra, Lãng Tử kể lại cho cô
nghe về cú điện thoại của Phú nói về trận pháo kích Plây Cu và đạn rơi gần nơi
Lãng Tử ở nhà rỗng, Ninh xuýt xoa:
- May cho anh em mình quá nhỉ! Tình hình rối ren như
thế, anh có về Plây Cu nữa không?
- Còn phải tuỳ
tình hình, nếu căng thẳng quá thì chưa thể về đó được đâu, em!
Lúc còn lại hai người ở phòng riêng, Lệ Ninh mới hỏi
nhỏ người yêu:
- Anh ơi! Nhưng mà... anh chị Đạt nhận xét về em như
thế nào? Anh nói thật cho em nghe!
Lãng Tử ôm hôn Lệ Ninh:
- Anh chị Đạt đều khen em hiền hậu và dễ thương lắm...
Một giọt nước mắt sung sướng lăn trên gò má cô bỏ đi
gái, cô nép đầu vào Lãng Tử:
- Anh đã thương em, đừng bao giờ bỏ em, tội nghiệp em
lắm, nghe anh!
Lãng Tử cảm nhận sâu xa tình yêu của cô gái, từ đây
Ninh không còn là cô vũ nữ nữa, nỗi đau của cô đã được xoa dịu, nỗi buồn cố hữu
của anh cũng lắng xuống, vơi đi. Hai tâm hồn phiêu bạt đã thấy cần phải có nhau
trong đời, trong một mái nhà ấm êm hạnh phúc...
X
LÊ VĂN TÂM SAU MƯỜI NGÀY LẶN LỘI ĐÃ TÌM về được đơn vị
của mình. Từ thủ trưởng đến các chiến sĩ trong đơn vị đều đón anh trong niềm
hân hoan phấn khởi.
Trung đội trưởng Trần Kỳ ôm Tâm vào lòng và cho anh biết:
- Ở ngoài này khi nhận được tin Sĩ hy sinh, đơn vị đã
làm lễ truy điệu rất trang nghiêm và sau đó đã cử hai tổ trinh sát khác thâm nhập
tiếp vào hai thị xã Plây Cu và Kon Tum. Kết quả rất khá nên được thủ trưởng đại
đội khen ngợi...
Tâm được một ngày nghỉ ngơi, tắm giặt. Sau đó anh ngồi
viết tự kiểm điểm, thành khẩn báo cáo lại toàn bộ những suy nghĩ và hành động của
mình từ khi bị địch bắt vào tù và cho đến ngày trốn thoát được.... Ngoài phần tự
kiểm điểm, theo yêu cầu của đơn vị, anh còn viết tiếp một bản báo cáo dài 10
trang giấy cùng với một bản đồ vẽ theo bút tích của Hoà về con đường từ Sở chỉ
huy của Phạm Văn Phú đến sân bay Cù Hanh với những chốt đóng quân của liên đoàn
biệt động ngụy số 4, số 6, nơi bố trí phòng thủ của các đơn vị pháo binh, xe
tăng, thiết giáp của hai trung đoàn số 44 và 45 ngụy.
Cấp ủy và thủ trưởng đại đội xem xét bản tự kiểm điểm
của Tâm thấy không có điều gì nghi vấn nên lại càng tin tưởng ở đức tính kiên
cường, bản chất tốt đẹp của người lính Cụ Hồ trong Tâm.
Trung đội trưởng Trần Kỳ thì được giao nhiệm vụ đối
chiếu bản tự thuật của Tâm về tình hình địch với bản báo cáo của cơ sở ta từ địch
hậu gửi ra, anh rất hài lòng và thông báo cho Tâm biết:
- Tài liệu của em và của anh lính cộng hoà Huỳnh Văn
Hoà (lính đào ngũ) rất khớp với tài liệu của hai tổ trinh sát vào sau em thu lượm
được. Tất cả hai tài liệu này sẽ giúp cho pháo binh ta hiểu thêm được mạng lưới
phòng thủ của địch để ta có thể bổ sung cho phương án tác chiến nay mai...
Sau hơn một tháng trời gian lao, ở xa đồng đội, hôm
nay Tâm lại được phát quân trang mới. Những đêm ngủ trong rừng đại ngàn ở phía
Tây Kon Tum thật yên ổn. Trung đội trưởng Trần Kỳ nói với Tâm:
- Mặc dù em bị địch bắt nhưng sau khi nghiên cứu kỹ bản
tự kiểm điểm của em, cấp trên vẫn hoàn toàn tin tưởng ở em. Tuy có điều vì em
đã bị lộ với địch nên không thể trở lại công tác cũ được. Mà em sẽ được bổ sung
sang một đơn vị mới, nhận một nhiệm vụ khác nhưng rất đặc biệt và cũng rất quan
trọng
Tâm sung sướng, trả lời:
- Em rất cảm ơn đơn vị và cảm ơn anh!
Những đêm tiếp theo, Tâm thường nghe rất rõ tiếng đại
bác của bộ đội pháo binh Quân Giải Phóng bắn về Kon Tur và Plây Cu, làm cho
quân địch mất ăn, mất ngủ. Tâm biết chắc từ tên thiếu tướng Phạm Văn Phú đến
thiếu tá Cang và những tên giặc lái ngụy ở sân bay Cù Hanh đã cảm thấy bất ổn
ngay trong sào huyệt của chúng.
Và suốt mấy ngày nay, máy bay trinh sát, lũ “cán gáo”
trực thăng vè vè bay qua những khu rừng bạt ngàn ngó nghiêng, chỉ điểm cho pháo
của chúng bắn vu vơ. Thám báo, biệt kích đánh ra, mò mẫm vào rừng cũng không
dám thọc sâu. Chúng muốn phát điên lên vì bà con người Thượng lại cùng bộ đội sửa
đường giao thông chừng như để chuẩn bị cho chiến dịch mùa khô. Khẩu hiệu động
viên la liệt trên mấy con đường mới đắp. Truyền đơn kêu gọi binh lính ngụy bỏ
ngũ về với nhân dân, về với Mặt trận dân tộc giải phóng được rải khắp nơi...
Mọi sự kiện xảy ra đều giống như những dấu hiệu không
bình thường báo trước những trận đánh lớn nay mai...
Trung đội trưởng Trần Kỳ đi họp trên đại đội về vui vẻ
thông báo với các tiểu đội:
- Địch đang
tăng cường phòng thủ Plây Cu và Kon Tum. Chúng muốn thực hiện chiến dịch “tràn
ngập lãnh thổ” nhưng chúng đang được nếm đòn của pháo binh ta. Theo lệnh trên,
ta còn tiếp tục nã pháo vào sân bay Cù Hanh và chung quanh Sở chỉ huy của Vùng
2 chiến thuật.
Tâm lại phấn chấn thêm khi nhớ lại từng người đã giúp
đỡ anh ở Plây Cu mà anh coi là ân nhân như Huỳnh Văn Hoà, như hai anh tài xế xe
tắc-xi, như chú Tám, dì Tám ở Phan Rang. Bất giác anh nhớ lại lúc mới về đến
Kon Tum, trên đường đi công khai bằng giấy tờ hợp pháp của chú Tám chuẩn bị cho
từ Phan Rang, anh đã viết mấy dòng vắn tắt gửi qua hòm thư bưu điện về cho Huỳnh
Văn Hoà và chú Tám:
“Anh đã về đến quê nhà, gia đình anh rất vui, cám ơn
em nhiều. Hẹn sẽ gặp lại em và chú, dì Tám.......”
Tâm cũng không quên khuôn mặt hiền hậu và giọng nói dịu
dàng của cô chiêu đãi viên có tên là Lệ Ninh đã bắt chuyện được với anh, giờ
này Lệ Ninh đang làm gì? Ở đâu trong một hoàn cảnh rối ren của Plây Cu? Tâm
không thể nào ngờ tới Lệ Ninh lại đang được ở cách xa Plây Cu, xa lắm, cùng với
người tình mới quen: Lãng Tử ở Đà Lạt, xứ sở của hoa anh đào...
Lê Văn Tâm lại bồn chồn nghĩ tới một đơn vị mới mà anh
sắp được bổ sung như lời hứa của anh Trần Kỳ. Tâm không thể ngồi yên khi tất cả
đồng đội chung quanh anh nhộn nhịp, hăm hở đi vào chiến dịch Xuân Hè trên mặt
trận Cao Nguyên...
XI
Trung đội trưởng Trần Kỳ đặt vào tay Tâm một gói thuốc
lá 3 số 5 và một chiếc bật lửa ga rồi nói một câu nói thật hồ hởi:
- Từ hôm nay, em phải xài mấy thứ này, chứ không thể
ngồi trong rừng hút thuốc vấn được đâu. Theo lệnh trên thì ngày mai anh và em sẽ
đột nhập Play Cu không phải vào ban đêm như khi em và Sĩ bị lọt vào ổ phục kích
của thám báo ngụy. Hai anh em ta sẽ có đủ giấy tờ để đi công khai, hợp pháp từ
Kon Tum theo đường số 14 xuống Plây Cu trong vai thương lái đi buôn hàng tạp
hoá: Son, phấn, nước hoa, mỹ phẩm... Mỗi người một túi xách tay, nhảy lên xe
đò. Khi đến Plây Cu sẽ có người đón, trên dọc đường đi có người yểm trợ tối đa.
Anh đi trước, em đi sau.
Anh đã nói chuyện này với em từ buổi chiều, bây giờ
nói lại, em còn muốn hỏi gì thêm thì anh sẽ nói cho em nghe?
Tâm mạnh dạn hẳn lên và hỏi lại:
- Em còn băn khoăn một chút về diện mạo và trang phục
của em, của anh đi lại công khai, có thể bị lộ được không?
Trần Kỳ thản nhiên đáp:
- Em cứ yên tâm đi. Đi trước em có Trần Kỳ, đi sau em
có lực lượng yểm trợ tối đa. Khẩu hiệu của anh và em là Bí mật - Bất ngờ - Quyết
tâm - Dũng cảm. Hành động kịp thời! Em soi gương lại mà xem: Lê Văn Tâm còn đâu
là anh trinh sát của pháo binh Quân Giải Phóng nữa? Lê Văn Tâm giờ này trở đi
đã là một tay thương lái, ăn mặc bảnh bao, đúng mốt Sài Gòn, trẻ tuổi, đẹp trai
kia mà! Còn Trần Kỳ cũng hết vẻ khô khan của một trung đội trưởng trinh sát rồi.
Trần Kỳ cũng như em, đã là một tay áp-phe có hạng rồi! Anh cứ gọi chuyến đi này
chuyến đi..."vào hang bắt cọp" cho nó có khí thế, em hiểu chưa? Song
“vào hang bắt cọp” mà không hề phiêu lưu mạo hiểm đâu nhé, mà là một chuyến đi
chắc thắng với khẩu hiệu anh vừa nói: Bí mật, Bất ngờ, Dũng cảm!
Trần Kỳ nắm chặt bàn tay của Tâm:
- Trần Kỳ phải lập được kỳ công. Còn Lê Văn Tâm phải
có quyết tâm cao! Phần em chỉ có thế thôi, hành trang đã có đủ, tám giờ sáng
mai ta lên đường, tạm xa cái lán trại này một thời gian. Ta phải đi nghỉ sớm để
ngày mai có sức mà đi!
Tâm cố nén xúc động để giảm bớt hồi hộp một chuyến đi
mà anh coi là “một trận đánh” chắc chắn không kém phần gay go, ác liệt bên cạnh
anh Kỳ. Tâm nhớ lại một câu ngạn ngữ của người Pháp mà anh đã được đọc trong mục
“Lời hay, ý đẹp” trên báo Đoàn khi anh còn ở Hà Nội lúc rời ghế nhà trường:
“Chiến đấu không gian khổ thì thành công còn vẻ vang gì!”. Câu ngạn ngữ mang
tính triết lý cao, có sức mạnh cổ vũ những con người dũng cảm hăng hái tiến lên
hoàn thành nhiệm vụ ở mọi nơi, mọi lúc.
Suy ngẫm kỹ, Tâm tự nhủ:
- Chuyến đi này
là một thử thách. Ta hãy đi theo anh Kỳ, nhập cuộc, không phải là một cuộc
chơi, mà là một cuộc chiến đấu chắc chắn sẽ là như thế!
Tâm đã chui vào chiếc màn dã chiến màu xanh lá cây của
anh bộ đội Giải Phóng. Giấc ngủ rừng đêm nay lại đến như một bàn tay vỗ về êm
ái, như một lời ru của mẹ ngày nào. Tâm nhìn sang bên phải: anh Trần Kỳ vẫn còn
thao thức. Điếu thuốc lá lập lòe trong màn: anh Kỳ cũng đang nghĩ về chuyến đi
vào Plây Cu sớm mai đây...
*****
Chiếc xe đò chở đây khách rời Kon Tum từ 9 giờ sáng, đến
xế trưa mới tới Plây Cu, đổ khách ở bến xe liên tỉnh. Giờ này phố xá đã có rất
đông người đi lại. Phiên chợ thị xã đang ồn ào, tấp nập. Trần Kỳ và Lê Văn Tâm
nhanh chóng hoà mình vào dòng người xuôi ngược và ghé vào một quán giải khát
ven đường. Ánh nắng chói chang làm tăng độ nóng buổi trưa.
Kỳ gọi hai ly nước ngọt. Nét mặt thanh thản của anh
như ngầm nói với Tâm:
- Cứ vui vẻ, thoải mái, cái gì phải đến, sẽ đến, sắp đến…
Hai người đốt thuốc hút chơi. Khói thuốc bay lên lững
lờ. Cô hàng cà-phê mắt xanh, môi thắm đặt hai ly nước ngọt mời khách:
- Em mời hai anh uống nước...
Kỳ và Tâm cùng đáp:
- Cám ơn! Cám ơn!
Mười phút sau, một người khách có dáng cao cao lững thững
vào quán. Anh ta đến ngồi vào bàn kề bên bàn nước của Trần Kỳ. Anh ta có dáng
khoẻ và đẹp, hàng ria mép xanh và cái miệng hay cười rất phù hợp với đôi mắt
sáng và thật hiền lành.
Anh ta cũng gọi một ly nước cam rồi móc túi lấy ra gói
thuốc lá thơm, rút một điếu, chưa kịp đặt lên môi, đã sực nhớ mình quên hộp quẹt.
Anh ta ghé sang bàn Trần Kỳ:
- Tôi quên bật lửa, cảm phiền anh, cho tôi mồi điếu
thuốc. Kỳ lịch thiệp:
- Dạ, xin mời anh! Kỳ đã bật ngọn lửa xanh đến lần thứ
ba cho người khách lạ. Anh ta hút một hơi dài, gật đầu nói lời “cảm ơn” và hạ
thấp giọng nói vừa đủ cho hai người nghe:
- Uống nước xong, xin mời hai bạn cùng đi!
Kỳ khẽ gật đầu, mỉm cười im lặng.
Lê Văn Tâm từ nãy, không bỏ sót một cử chỉ, một câu
nói nào của người khách lạ. Anh tự nhủ:
- Đúng, “người của ta” đây rồi! Mười phút sau, ba người
ra khỏi chợ.
Người khách lạ đi trước, Kỳ và Tâm thong thả theo sau.
Đi được chừng ba chục mét, người khách lạ tách ra khỏi đám đông, đưa Kỳ và Tâm
đến chỗ gốc cây me có bóng râm. Hai chiếc xe máy Hon-đa 70 và một anh thanh
niên đang đợi sẵn.
Người lạ chìa tay mời Kỳ và Tâm lên xe, ôm ngang lưng
người lái. Tâm ôm lưng anh bạn trẻ. Trần Kỳ ôm lưng người khách lạ có dáng cao
cao.
Hai chiếc xe lao đi trong nắng và bụi mù. Nửa giờ sau,
hai chiếc xe máy dừng lại trước cửa tiệm buôn tạp hoá Phước An đường Lê Lợi.
Bốn người cùng bước vào tiệm. Bà chủ tiệm nhận ngay ra
người khách quen thân có dáng cao cao:
- Kìa chú Bảy!
- Xin chào chị Chín!
Bà Chín đưa mắt nhìn cả bốn người, cái nhìn hàm một
câu hỏi “chú Bảy”, ba người cùng đi là những ai đây?
Chú Bảy không để chị Chín phải chờ lâu, chú đã giới
thiệu: Xin giới thiệu với chị: ba chú em đây đều là bạn hàng cả: chú Năm Dũng,
chú Sáu Tâm, và chú Mười Kỳ...
Tiếp đó, chú Bảy lại giới thiệu chị Chín với ba chú
em:
- Đây là chị Chín chuyên bán hàng xịn thứ thiệt, giá
phải chăng, mua sỉ càng có lời hơn nơi khác. Các chú tha hồ chọn lựa hoá mỹ phẩm...
Bà Chín mời khách vào phòng khách sang trọng phía trong
quầy hàng, mời khách dùng trà thuốc rồi mới nói:
- Chú Bảy sao lâu đến chị?
- Dạ, thưa chị:
em mắc nhiều công chuyện quá. Ban ngày thì chạy loanh quanh. Ban đêm lại sợ mấy
ông Giải Phóng bắn pháo, đi chơi lỡ lại bị tên bay, đạn lạc thì phiền...
Bà Chín cười:
- Mấy bữa nay, trung đoàn 44, 45 cấm trại rồi, cậu con
trai tôi có được về nhà đâu. Có một mình tôi với con bé giúp việc, bận lắm...
Chú Bảy nói vừa nghiêm trang, vừa thân mật:
- Chị cho mấy chú em ở lại đây mấy ngày chờ mua hàng
có được không ạ?
- Được! Được
mà! Khách đến mua hàng ở tiệm nhà này, nghỉ lại là chuyện bình thường…
Chú Bảy quay sang ba người bạn trẻ:
- Đó. Các chú nghe: chị Chín xởi lởi và mến khách lắm
mà! Chị cho phép lên lầu 1, lầu 2. Khi nào có đủ hàng tôi sẽ tin cho các chú
làm hoá đơn, thanh toán và nhận hàng về Kon Tum, nghe!
Ba anh bạn trẻ đều “dạ” một tiếng. Chị Chín hướng dẫn
khách lên lầu, rồi nói nhỏ với Bảy Hùng:
- Nhiều chuyện hay lắm đó! Chúng nó đang rối tinh, rối
mù. Ban ngày thì tập trung quân, sửa soạn xe pháo, đi tuần tiễu. Ban đêm thì cấm
trại vừa bắn pháo cầm canh ra bốn phía rừng núi, vừa lo đề phòng mấy ông Giải
Phóng đánh vào Plây Cu. Cứ nhìn thấy, nghe thấy cũng đủ tức cười! Còn về phía
ta, có gì mới hơn mà chú cứ bí mật với chị thế?
- Dạ, có, có nhiều cái mới lắm. Em sẽ bàn với chị dần
dần. Chị cho phép em lên làm việc với tổ 3 người này. Anh em đang còn đợi em
trên lầu 2.
- Chú cứ họp
đi. Ở đây chị bảo đảm yên tĩnh trăm phần trăm cho mấy chú...
Bảy Hùng lên lầu 2, ngồi vào bàn họp. Anh nói: Ta hội ý
một chút...
Trần Kỳ hỏi:
- Có cần phải
giới thiệu không nhỉ?
- Thôi khỏi cần dài dòng. Ba chú thì biết nhau cả rồi.
Còn tôi? Tôi hiểu được Lê Văn Tâm là trinh sát vào cùng với Nguyễn Văn Sĩ. Sĩ bị
hy sinh. Tâm bị bắt làm tù binh, bị chúng dụ dỗ, vẫn kiên định lập trường của
người lính, lại gặp dịp may, cùng với Huỳnh Văn Hoà vượt ngục trở về căn cứ, có
phải không?
Trần Kỳ:
- Đúng như thế!
- Còn tên trung sĩ An vì say xỉn để cho tù trốn thoát,
đã bị tên thiếu tá Cang tra tấn và bắn bỏ. Con Tuyết thì bị tống xuống trại con
gái làm đồ chơi cho lính Thượng! Có đúng không?
- Dạ! Đúng như thế.
Trần Kỳ và Tâm đều cảm phục Bảy Hùng:
- Anh Bảy nắm vững tình hình lắm!
Bảy Hùng lại nói:
- Còn một chuyện nữa: thằng Cang chụp hình cậu Tâm, định
in lên truyền đơn, bịa đặt rằng: Lê Văn Tâm cán binh Việt Cộng đã trở về quy
thuận chánh phủ quốc gia. Nó chưa kịp in truyền đơn xuyên tạc, gieo rắc hoang
mang, đã bị ta cảnh cáo...
Trần Kỳ và Tâm đều háo hức muốn biết tên Cang đã bị cảnh
cáo như thế nào?
Bảy Hùng cười tươi, giục Năm Dũng:
- Chú Năm kể cho mấy chú nghe chơi đi!
Năm Dũng kể lại:
- Tối chủ nhật trước, khi được anh Bảy giao nhiệm vụ cảnh
cáo tên thiếu tá Cang, em đã đột nhập khách sạn Cao Nguyên, và qua tay một cô
vũ nữ, bỏ được vào túi áo của tên thiếu tá Cang bức thư cảnh cáo có nội dung
như sau:
“Gửi Ngài thiếu tá!
Ngài canh giữ tù
binh đã để anh ta vượt ngục. Ngài lại bịa chuyện anh ta xin hồi chánh để gây
hoang mang trong dân chúng. Lần thứ nhất, chúng tôi yêu cầu Ngài dẹp bỏ cái trò
vu cáo hèn mạt ấy đi. Nếu Ngài không dẹp bỏ thì lần thứ hai, Ngài sẽ nhận được
không phải bức thư, mà là... một tiếng nổ!
Ký
tên: Biệt động Plây Cu"
Lời cảnh cáo thật hiệu nghiệm, khiến cho tên thiếu tá
ác ôn phải... êm re! Y tâm sự, than thở với chiều đãi viên: “Chưa hết Việt Cộng
nằm vùng đâu, hãy cảnh giác!”
Nghe Năm Dũng kể, Trần Kỳ và Lê Văn Tâm tấm tắc khen:
- Anh Năm giỏi
thiệt!
- Năm Dũng nói
tiếp:
- Từ hôm ta bắn
phá Plây Cu, những tên tai to mặt lớn ở đây từ Phạm Văn Phú trở xuống đều phải
thay đổi chỗ ở, ít dám lui tới vũ trường. Các cuộc họp đều phải tổ chức bên
ngoài thị xã.
Bảy Hùng bổ sung thêm tình hình và nhiệm vụ mới: anh
em chúng tôi là cán bộ cơ sở nội thị sẽ hết lòng giúp đỡ anh em trinh sát nắm vững
tình hình địch để báo cáo ra ngoài căn cứ. Hoạt động của Quân Giải Phóng càng mạnh
lên thì địch càng đối phó điên cuồng. Chúng có thể quây ráp, khủng bố, phá hoại
phong trào cơ sở. Ta phải hoạt động khôn khéo, bí mật, để bảo toàn lực lượng,
giữ vững phong trào. Tiệm buôn Phước An của chị Chín ở đây là cơ sở vững chắc
vì chị Chín có con là binh sĩ trong trung đoàn 45 (ngụy) địch không nghi ngờ.
Chồng chị Chín - anh Mười Nhật - là một phú thương ở Sài Gòn, có quan hệ với
Quân tiếp vụ của quân lực Việt Nam Cộng hoà được nhiều quan chức kính nể….
Bảy Hùng kết luận:
chúng ta cứ sắm vai thương lái cho ngon là sẽ ổn cả. Việc đối ngoại để che mắt
kẻ địch thì chị Chín sẽ lo. Anh em ta đi lại, ra vào nên cẩn thận để khỏi bị lộ.
Điều gì chưa biết thì phải hỏi chị Chín, chị hướng dẫn cho...
Trần Kỳ và Lê Văn Tâm cùng với Bảy Hùng quan sát, nắm
tình hình, có phân tích đánh giá từng ngày. Năm Dũng nhận nhiệm vụ giao liên,
chuyển tải tài liệu, báo cáo ra ngoài căn cứ...
XII
BUỔI SÁNG NGÀY ĐẦU THÁNG 3 DƯƠNG LỊCH năm 1975, cũng
là ngày đầu tháng 2 âm lịch, tại nhà riêng của chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, phó tư
lệnh Vùng 2 chiến thuật, một cuộc họp khẩn cấp được triệu tập.
Phạm Văn Phú mở đầu với giọng nói giận dữ khác thường:
- Các ông có biết không? Tại sao ta lại phải họp với
nhau ở đây? Ở ngôi biệt thự này, sự an toàn mới được đảm bảo chắc chắn, ở vùng
ngoại vi này, pháo binh Việt Cộng, pháo binh đối phương chưa bắn tới được! Các
ông bàn bạc đi, tha hồ tự do phát biểu ý kiến, tôi nghe hết! Phải nói cho hết sự
thật, không cần e ngại, giấu giếm nhau điều gì thì mới có cách đối phó thật hữu
hiệu với đối phương, họ đang “quậy” rất mạnh và có thể sau các trận nã pháo vào
Kon Tum và Plây Cu là những trận tập kích bằng bộ binh để phá phách gây tổn thất
về của, về người cho Quốc Gia, rồi họ lại rút, để làm yếu quân lực Việt nam Cộng
hoà, cản trở bình định, phá kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của Quốc Gia! Xin mời
các ông phát biểu ý kiến đi! Hôm nay có đủ đại diện: ông Lý, tham mưu trưởng,
ông Cẩm phó tư lệnh thay mặt cho ba trung đoàn 44, 45, 53, ông đại tá Phạm Duy
Tất, thay mặt cho 7 liên đoàn quân biệt động và ông thiếu tá Cang đại diện An
ninh quân đội. Pháo binh của hai sư đoàn quân Bắc Việt bắn phá cả tuần lễ nay,
các ông đều đã biết...
Trần Văn Cẩm nhìn khắp lượt cả mấy khuôn mặt ngồi
chung quanh chiếc bàn tròn khá rộng, đặt giữa một phòng khách lớn được dùng làm
phòng họp rất cơ mật hôm nay, Cẩm nói:
- Theo tôi: đây là một quy luật của chiến tranh. Đối
phương thường đánh và mở chiến dịch theo mùa khô. Năm nay, có thể họ sẽ đánh lớn.
Nhưng ta đối phó cũng rất tốt: tôi cho hai liên đoàn biệt động số 4, số 6 đánh
sâu vào rừng và máy bay ta đã giội bom xuống nhiều mục tiêu quan trọng trong
vùng đất của đổi phương ở phía Tây Kon Tum, phía Tây Plây Cu. Chắc chắn là hai
sư đoàn Bắc Việt đã bị tổn thất lớn...
Phạm Duy Tất đưa mắt nhìn Phú, làm bộ kiêu hãnh nói:
- Quân biệt động của tôi đã thọc sâu, đã chạm súng với
quân của đối phương, đẩy lùi được bộ binh của họ. Biệt kích, thám báo của ta
cũng phong toả, mai phục trên các con đường mòn. Tôi đề nghị thiếu tướng xin
máy bay trinh sát ban đêm để phát hiện hoả lực của pháo binh Bắc Việt từ rừng
sâu bắn vào Plây Cu và Kon Tum. Ta phải tìm diệt pháo binh địch nhiều hơn nữa!
Phạm Văn Phú ngắt lời Phạm Duy Tất:
- Tôi sẽ làm theo đề nghị của các ông và tiên đoán chắc
chắn rằng đối phương sẽ dùng bộ binh tập kích ban đêm vào Kon Tum và Plây Cu. Nếu
ta sơ hở, không tích cực phòng thủ và ngăn chặn từ xa thì hậu quả sẽ rất khó lường
trước được. Binh lực của ta ở đây có cả 3 trung đoàn với 2 liên đoàn quân biệt
động, 4 thiết đoàn, xe tăng thiết giáp đầy đủ, lại có hơn trăm máy bay của sư
đoàn không quân mà ta lại chịu bó tay hay sao? Bộ tổng tham mưu, Hội đồng tướng
lĩnh và tổng thống đang yêu cầu chúng ta phải chủ động tiến công, đánh phủ đầu,
làm cho đối phương phải giãn ra, trước mắt ta phải bảo vệ con đường 14, con đường
huyết mạch của Cao Nguyên từ Kon Tum qua Plây Cu đến Buôn Mê Thuột! Ông Tất nhớ
cho xe về Buôn Mê Thuột chở tân binh lên bổ sung cho số lính thương vong ở hai
liên đoàn biệt động, nghe!
Phạm Duy Tất:
- Chiều nay, tôi sẽ cho xe về chở 500 tân binh, thiếu
tướng cứ yên tâm.
Văn Phú quay sang Trần Văn Cẩm:
- Ông nhớ cho phân tán các thiết đoàn và số quân của cả
3 trung đoàn, vì đóng tập trung, co cụm lại nếu bị pháo kích thì sẽ thiệt hại lớn
lắm.
Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm xoa xoa cái cằm có râu lởm chởm:
- Tôi đã lệnh
cho anh em kết hợp hành quân với phân tán binh lực, không đóng tập trung như
trước nữa đâu ạ.
Phú gật đầu:
- Thế là rất tốt!
Không khí cuộc họp chưa kịp lắng xuống thì Phạm Văn
Phú đã lại nghiêm giọng nói:
- Còn về mặt an ninh nội thị thì thật bất ổn. Bấy lâu
Việt Cộng nằm vùng đã án binh bất động, nay lại nổi lên rồi đó. Ông thiếu tá
Cang có quá chủ quan không mà lại giao cho thằng trung sĩ An canh giữ hai tên
tù binh bị chúng nó mua chuộc, cho uống rượu say xỉn rồi hai tên tù binh trốn
thoát: một tên là lính cộng hoà, một lại là trinh sát của quân Bắc Việt. Hai
tên này có thể đã cung cấp bản đồ thị xã này cho đối phương để họ nã pháo vào địa
bàn của ta. Ta chưa bắt lại được hai tù binh này. Có thể chúng còn lẩn quất
ngay trong thị xã! Tôi lệnh cho ông Cang chiều nay, cho bắt hết các gia đình Việt
Cộng có chồng con đi tập kết để tập trung chúng lại, truy nã cho ra hai tên tù
binh xem chúng nó còn đang ở đâu? Ngoài ra có kẻ nào mới đến đây, công khai đi
lại hay sống bất hợp pháp mà có hành vi đáng ngờ đều phải bắt giữ để tra xét. Bắt
nhầm còn hơn bỏ sót! Một tên nằm vùng còn nguy hiểm gấp trăm ngàn lần kẻ địch
bên ngoài...
Chờ cho cử toạ chăm chú lắng nghe, một lúc sau, Phạm
Văn Phú mới mở tập hồ sơ đặt trước mặt, rút ra hai tờ giấy, giơ cao lên trước mặt
mọi người:
- Tôi phải giới thiệu với các ông cái tài liệu này đã
chứng tỏ bàn tay bí mật của Việt Cộng nằm vùng đang là mối lo của tất cả chúng
ta! Một là: bức thư ký tên “Biệt động Plây Cu” đã được bỏ nằm gọn trong túi áo của
ông thiếu tá Cang khi ông Cang đến nhảy ở vũ trường Cao Nguyên tuần trước! Ông
Cang đã nộp lá thư này cho tôi. Lời lẽ trong thư rõ ràng là cảnh cáo, hăm doạ
ông thiếu tá! Hai là: bức thư thứ hai gửi cho một chiêu đãi viên với lời khuyên:
“Cô còn ở lại Plây Cu làm gì nữa khi mà ở đây đêm nào cũng có đạn nổ? Vũ trường
đóng cửa rồi, cô còn nhảy nhót với ai?”. Đây là những đòn tâm lý chiến của Việt
Cộng nằm vùng! Hiện tượng này nói lên tình hình nội thị Plây Cu, Kon Tum còn có
nhiều điều đáng lo ngại! Ông thiếu tá Cang phải đánh mạnh vào bọn nằm vùng này
và báo cáo cho tôi biết kết quả sớm! Liệu có làm được không?
Cang đỏ bừng cả mặt, nói lúng búng:
- Dạ, trình thiếu tướng. Tôi có thể làm được ạ. Hoạt động
của bọn nằm vùng đã lộ liễu, truy quét bọn này không khó!
Phú nhấn thêm
- Cứ làm thật mạnh tay! Trách nhiệm tôi chịu.
*****
Tan cuộc họp, Cang ngồi xe Jep về nhà, còn thấy nỗi lo
canh cánh bên lòng. Lệnh của thiếu tướng tư lệnh như thế, nhưng vây ráp, bắt bớ
lung tung, lại làm bùng nổ cuộc đấu tranh, biểu tình của “Đội quân tóc dài” như
mấy năm trước thì sẽ lại ra sao? Từ vấn đề quân sự lại chuyển thành vấn đề
chính trị, tội vạ lại đổ cả lên đầu hẳn, chứ đâu phải chỉ có Phạm Văn Phú đứng
ra chịu trách nhiệm mà đã xong? Bức thư cảnh cáo của quân biệt động Play Cu còn
kia, mấy anh Việt Cộng nằm vùng đã nói là làm thì sao? Bàn tay bí mật nào đã
dám bỏ vào túi hắn cả bức thư ấy? Nếu không phải là thư nữa mà lại là một quả lựu
đạn hoặc một quả mìn thì sao?
Trời! Mấy cha nằm vùng này sao “quậy” dữ thể?
Chưa kịp bước vào nhà, Cang đã nghe có tiếng gọi:
- Thiếu tá.
Cang nhìn ra: Ngọc Ngà, “người đẹp” của thiếu tướng hiện
ra bên cửa ra vào, hắn kêu lên khe khẽ:
- Cô Ngà! Đi đâu đấy? Tìm tôi có chuyện gì vậy?
Ngọc Ngà hạ thấp giọng, thân mật:
- Anh cho em biết: vì sao từ hôm qua đến hôm nay, ông
Phú không về tư dinh?
Cang hiểu ra ngay sự vắng mặt của Phú. Hắn nói với Ngọc
Ngà:
- Tình hình sôi động rồi, cô Ngà không biết sao? Chộn
rộn lắm. Đêm nào đối phương cũng bắn pháo vào đây...
Ngà băn khoăn lo lắng:
- Em có nhận được bức thư của tay biệt động nào đó gửi
đến khuyên em nên bỏ đây mà đi, vì ở đây đã rất nguy hiểm. Em đã đưa bức thư ấy
cho ông Phú.
Cang gật đầu:
- Tôi biết! Tôi biết rồi. Ông Phú vừa họp với các vị
chỉ huy, ông Phú có nói và giao cho tôi bắt hết những tên nằm vùng!
Ngọc Ngà:
- Anh Cang! Nhờ
có anh đưa em đến Plây Cu, em mới được ông Phú che chở, nay đến tình thế này,
em có nên trở về Nha Trang không?
Cang lộ vẻ kinh ngạc:
- Sao cô lại hỏi
tôi điều đó? Đi hay ở thì phải hỏi ông Phú chứ?
- Em có hỏi, ông Phú nói: có lẽ em nên tạm thời về lại
Nha Trang, khi nào ở đây yên ổn thì anh lại đón em lên.
- Ý kiến cô thế nào?
- Ông Phú cho em về thì em sẽ về!
Cang chợt hiểu ra:
- À ra thế? Vậy
thì tối nay, ông Phú sẽ về chỗ cô đấy. Cô cứ nói ông Phú hạ lệnh cho tôi, mai
tôi sẽ đưa cô về Nha Trang rất lẹ, không có gì phiền đâu.
Ngọc Ngà nói nhỏ:
- Em cám ơn anh nhiều!
- Không có gì đâu! Tôi chỉ có thể giúp cô Ngà sau khi
ông Phú ra lệnh cho tôi! Vậy, đúng 8 giờ sáng mai, cô Ngà sẽ “phôn” cho tôi,
tôi sẽ đem xe đến đón cô đi!
- Dạ!
*****
Trận pháo kích đêm qua thật dữ dội, làm cho cả thị xã
Plây Cu lo lắng, bồn chồn.
Suốt đêm, xe nhà binh chạy rầm rập. Sáng nay, bà con vẫn
còn ngơ ngác hỏi nhau:
- Mấy ông Giải
Phóng làm dữ quá. Cũng may cho dân là đạn chỉ rơi về phía sân bay và rơi vào
doanh trại của liên đoàn biệt động quân số 4, số 6...
Phố xá vẫn đông vui, nhưng nếu ai để ý quan sát, sẽ thấy
mấy nhà buôn lớn đã đóng cửa, bỏ về Sài Gòn, coi như đi lánh nạn.
Cang trình lên với Phú:
- Dạ, trình thiếu tướng: dân chúng đã hoang mang lắm.
Nhiều nhà giàu bỏ về Sài Gòn.
Phú cười gượng gạo:
- Khi có chiến sự thì anh giàu thường lo chạy trước.
Ông giúp tôi, đưa cô Ngà tạm về Nha Trang ít ngày. Chiều ông lại phải về đây ngay
nhé! Đối phương đang muốn tập kích Plây Cu. Tôi đã sẵn sàng đối phó. Hôm nay,
không lực của ta sẽ tiếp tục ném bom chung quanh Kon Tum...
Phú không quên đưa cho Cang một bọc tiền lớn: Ông cầm
tạm để chi tiêu từ đây về Nha Trang. Phần của cô Ngà, tôi đã đưa rồi, ông khỏi
lo!
- Dạ!
*****
Mới năm giờ chiều, bà
Chín - chủ tiệm buôn Phước An đã chuẩn bị đóng cửa, nghỉ bán hàng.
Một chiếc xe Jep từ xa phóng tới,
đỗ sịch trước nhà. Từ trên xe bước xuống là thiếu tá Cang.
- Chào chị Chín!
Bà Chín nhìn ra, vui
vẻ thản nhiên:
- Kìa chú Cang! Đi đâu mà
oai phong lắm vậy?
- Dạ em lâu nay bận nhiều
công việc quá, nay mới tới bà chị được. Mong chị tha lỗi cho nhé!
- Có gì đâu nào!
Nhà binh như chú, hồi này bận rộn là phải. Mời chú vào đây!
Cả chú tài xế nữa, vào đây uống nước đã nào!
Tên lính lái xe “dạ” một tiếng và bước vào theo tên Cang vào tiệm.
Mời hai vị khách ngồi
xong, bà Chín mới rót đầu hai ly nước ngọt:
- Chú có chuyện gì
nào?
Cang nhìn quanh nhà:
- Chị lại sắp đóng cửa
hàng sớm thế?
Bà Chín làm bộ lo âu:
- Đêm nào, các ông Giải
Phóng cũng bắn pháo vào, chị sợ lắm, tên bay, đạn lạc lỡ ra lại thiệt thân. Chị
là dân thường, chậm chạp, có đâu lanh lẹ như mấy chú nhà binh?
Sau mấy câu thăm hỏi,
Cang hạ giọng:
- Chị Chín ơi! Em đến
với chị hôm nay là do có mấy nguồn tin nói về cái nhà này của chị...
- Tin gì? Lành hay dữ, chú?
- Chúng nó nói: bữa hôm
qua, nhà này có khách lạ từ xa đến có phải không?
- Khách lạ? Không phải đâu! Khách Sài Gòn về
bán hàng cho tôi đó. Toàn là khách cỡ bự thôi. Mấy ông bạn của Ba Tàu chợ Lớn.
Ai nghi ngờ, thắc mắc nói với các chú là nhà tôi có khách lạ? Đã là tiệm buôn
thì ai cũng có thể vào, quen hay lạ có sao đâu nhỉ? Người ngay thì tôi tiếp. Kẻ
gian đáng phải xét giấy tờ thì các chú cứ xét, cứ bắt, có phải không?
Cang giảng giải:
- Như chị đã biết, mấy
bữa nay chộn rộn lắm. An ninh quân đội sẽ thu gom, xét hỏi một số người lạ mặt,
đề phòng bất trắc cho dân chúng thôi mà!
Bà Chín thấy cần phải
nghiêm giọng nói:
- Thế thì chú dễ tin thật!
Tin vịt, tin thất thiệt mà cũng tin chúng nó hay sao? Tôi nói cho chú biết:
khách nhà tôi nhiều lắm. Khách xa có thể ngủ lại vài ngày. Tôi chịu trách nhiệm
hết. Con tôi, thằng Hai là thượng sĩ của sư đoàn 45, ông xã tôi quen hết viên
chức cao cấp ở Sài Gòn! Nhà này chứa chấp Việt Cộng sao? Khách của tôi đấy, chú
muốn bắt ai thì bắt đi! Bắt thì dễ thôi, thả ra mới khó chứ! Có phải chú thực
thi lệnh của ông Phạm Văn Phú không? Việc quan thì chú cứ... phép công thi
hành!
Cang thấy rát mặt, muốn
xuống thang:
- Dạ. Bà chị lại hiểu lầm em rồi. Chả là có tin mật báo thì em phải thông báo cho chị đề phòng kẻ
gian trà trộn trong đám khách hàng, làm phiền cho chị…
Bà Chín lắc đầu:
- Đứa nào rục rịch,
tôi sẽ gọi mấy chú bắt liền! Nếu cần thì tôi điện cho ông Chín ở Sài Gòn, ông ấy
sẽ đến gõ cửa ông Trần Thiện Khiêm, tổng trưởng Bộ quốc phòng, đến giờ nào cũng
được! Chú về nói lại với ông Phạm Văn Phú như thế nhé!
- Dạ.
Tên Cang không ngờ lại
gặp một đối thủ già dặn như bà Chín. Hắn muốn đánh bài chuồn, liền quay sang
tên lính lái xe:
- Chú uống nước đi rồi
ta về thôi. Chị Chín nói có lý lắm...
Nửa giờ sau chiếc xe
Jep lại chở tên Cang về Sở chỉ huy của Phạm Văn Phú. Trên khuôn mặt lơ láo của
Cang còn in rõ những toan tính, lo âu.
Bà Chín nhìn theo tên
ác ôn, mỉm cười kiêu hãnh vì đã đuổi khéo được tên trùm mật vụ để bảo vệ an
toàn cho tổ công tác của Bảy Hùng, Năm Dũng, Trần Kỳ và Lê Văn Tâm.
Buổi tối, cơm nước
xong, bà Chín khoe ngay với Bảy Hùng về cuộc tiếp xúc với tên Cang. Bảy Hùng cười:
- Đối sách của chị là rất
kịp thời, em xin bái phục!
- Có chi đâu mà chú lại
quá khen chị? Làm cho chị mắc cỡ lắm!
Trần Kỳ nói chen vào:
- Bọn chúng nó đang sợ
quân ta đánh vào Play Cu nên bố ráp bừa bãi. Chúng nó bắt giữ một số người,
nhưng toàn là... vớ vẩn cả!
Lê Văn Tâm nhìn dì
Chín bằng một cái nhìn cảm phục, một người đàn bà bề ngoài chỉ là một bà chủ tiệm
buôn, mà bên trong lại tiềm ẩn một năng lực khác thường, có thể ứng phó với những
hoàn cảnh éo le, chuyển bại thành thắng. Sự che chở của dì Chín với cả tổ công
tác làm cho mọi người rất yên tâm. Riêng đối với Tâm, anh đã suy ngẫm và nhớ lại
tất cả một tháng trời bị tên Cang giam lỏng trong phòng biệt giam số 1, số 2A.
Lúc ấy là cá chậu, chim lồng, cái sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.
Còn lúc này, cũng ở Plây Cu, trong vòng vây của địch mà sao anh thấy yên ổn lạ
thường?
Cách mạng thật là kỳ
diệu! Người tổ chức đường dây này không ai khác ngoài Bảy Hùng, một con người
ngang ngạnh có sức thuyết phục, lôi cuốn được cả dì Chín... Dì Chín không thiếu
gì của cải, địa vị, danh lợi, vậy mà lại tự nguyện phục vụ cách mạng...
Có lẽ dì Chín đã tận
mắt nhìn thấy bộ mặt thật của các quan chức trấn ải Cao Nguyên này từ bao năm
nay, từ Dư Quốc Đống đến Nguyễn Văn Toàn và ngày nay là Phạm Văn Phú, họ đã tác
oai, tác quái, ném bao nhiêu sinh mạng thanh niên vào cuộc chiến tranh phi
nghĩa này! Cho đến khi đứa con trai độc nhất - thằng Hai - của dì Chín bị bắt
vào quân dịch thì dì Chín đã không thể bàng quan được nữa. Dì hiểu được mình sẽ
phải làm gì để giữ lấy đứa con cũng như còn có thể cứu giúp được nhiều người
khác nữa. Dì được Bảy Hùng giác ngộ cách mạng với lời hứa; lúc nào cần thiết phải
đưa thằng Hai ra vùng căn cứ kháng chiến thì chỉ cần một đêm đi theo đường của giao liên là coi như mọi chuyện sẽ được
an bài. Song, nước cờ ấy chưa phải đi tới. Dì Chín vẫn còn đứng được ở cái thế
rất vững vàng!
Càng cảm phục những con người kỳ lạ ở đây, Tâm
càng cảm thấy trách nhiệm của mình được giao, càng thấy cần phải làm việc hết
mình cho pháo binh ta đánh trúng, đánh mạnh hơn nữa gây khiếp đảm cho địch ngay
trong sào huyệt của chúng. Bên cạnh Tâm bây giờ còn có trung đội trưởng Trần Kỳ,
một con người quả cảm. Trần Kỳ vừa là chỗ dựa của Tâm, lại vừa là người luôn động
viên, cổ vũ cho Tâm vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ...
XIII
PHẠM VĂN PHÚ CHĂM CHÚ
LẮNG NGHE TÊN PHA Cang báo cáo rất dè dặt:
- Trình thiếu tướng, tôi đã cho bắt hết 19 tên
nghi vấn (loại A) có chồng con tập kết. Còn lại một gia đình bà Chín, khách cứ
vào nườm nượp, tôi muốn gom luôn, nhưng lại sợ đụng đến ông chồng bà ta đang ở
Sài Gòn...
Phú xua tay:
- Ấy, anh đừng có động
đến bà này. Chứng cớ đâu mà bắt? Phải là Việt Cộng nằm vùng. Tốt nhất là anh cứ
răn đe và cho mấy thằng lính ngày đêm bao vây thật chặt. Có đứa nào lén lút
cũng không dám hành động. Phải giữ cho Plây Cu yên tĩnh. Nếu đối phương có tập kích đánh vào đây thì họ cũng không có thể
quấy rối hậu phương của ta được!
- Dạ.
Cang đứng lên, ra khỏi phòng làm việc của Phú.
Một lát sau Lê Khắc Lý tham mưu trưởng đẩy cửa vào. Phú ngửng lên:
- Ông Lý! Đại tá tham
mưu trưởng có ý kiến gì mới không?
Lý ngồi xuống, đối diện
với Phú:
- Nhất định đối phương
sẽ đánh vào Kon Tum rồi sẽ đánh vào Plây Cu! Ở cả hai nơi, ta đều có bố trí, đề phòng. Vì vậy, đối phương còn phải tính toán...
Phú nhếch mép cười:
- Đụng vào đây, đâu
có dễ? Ba trung đoàn chủ lực, bảy liên đoàn quân biệt động, bốn thiết đoàn sẽ
giáng trả những đòn đích đáng!
Lý lại hỏi:
- Nhưng, tại sao họ rậm rịch cả tháng nay rồi
mà chưa đánh?
Phú tỏ ra cao kiến
hơn:
- Họ cứ pháo kích, buộc ta phải mất ăn, mất ngủ,
quân tướng đều mệt mỏi, lúc ấy họ đánh vào mới “ngon” chứ!
Lý gật gù:
- Anh nói có lý!
Phú lại thao thao:
- Thế nào họ cũng
đánh, chỉ có sớm hoặc muộn thôi, mà họ thường đánh ban đêm. Ta đề phòng cẩn thận
thì sẽ tiêu diệt và đẩy lùi được bất cứ mũi tấn công nào. Điều quan trọng là đừng
có để cho họ luồn sâu vào đường phố, phải chặn đánh từ xa nếu họ xâm nhập. Tôi
đã lệnh cho ông Phạm Duy Tất phải đảm trách việc này!
Ngừng một phút, Phú lại
hỏi:
- Anh có biết vì sao họ
vẫn pháo kích sân bay Cù Hanh của ta?
Lý đáp:
- Vì họ rất sợ máy bay
của ta. Họ muốn phá huỷ máy bay của ta càng nhiều, càng tốt...
- Anh nói đúng! Ta có
thế hơn họ vì ta có nhiều máy bay có thể cất cánh bất cứ lúc nào... Cho nên,
tôi vẫn yêu cầu máy bay ném bom, chủ động tấn công đối phương, để họ đánh ta rồi
ta mới bị động đối phó là hạ sách!
Lê Khắc Lý nghe lời
bàn của Phú và cảm thấy thời gian trôi thật chậm chạp, nặng nề trong tình hình
căng thẳng. Hắn cười gượng gạo:
- Đối phương muốn
“tra tấn" chúng ta thêm ít ngày nữa rồi bất chợt sẽ đánh mạnh. Nếu ta
không tích cực đề phòng thì ta sẽ bị tổn thất đau đớn!
Phú nói kiêu căng:
- Đối phương muốn thắng
một vài trận để tuyên truyền, nhưng đánh ta đâu có dễ!
*****
Ngồi lại một mình,
Phú bỗng nhớ đến Ngọc Ngà. Cô gái đã về Nha Trang được mấy hôm rồi. Nếu không
vì những trận pháo kích dữ dội thì Ngọc Ngà vẫn có thể còn ở lại đây, song tình
thế đã buộc Phú phải tìm nơi an toàn cho Ngà lánh nạn. Suốt mấy tháng trời, cuộc
tình của Phú với Ngọc Ngà mang đầy tính chất lãng mạn cũng như cuộc tình của
Lãng Tử với Lệ Ninh. Dù sao hai cô gái cũng giúp cho Phú và Lãng Tử khuây khoả
nỗi buồn và tìm được thú vui rất “trần thế”.
Trong phút giây trống
vắng, Phú gọi dây nói về Đà Lạt, gặp Lãng Tử:
- Lãng Tử! Ông vẫn khoẻ
đấy chứ? Lệ Ninh đâu? Có nhớ Plây Cu không?
Từ đầu dây nói bên
kia, Lãng Tử trả lời sôi nổi:
- Rất vui! Tôi và em
Ninh rất nhớ ông và cô Ngà! Ngà có khoẻ không?
- Khoẻ cả! Nhưng tôi
phải đưa em về Nha Trang rồi. Ở đây, đêm nào Việt Cộng cũng pháo kích, làm sao
mà có thể yên ổn được?
Lãng Tử kêu lên:
- Thế thì quả là bất hạnh!
Tôi và em Ninh chẳng dám về. Tôi về chẳng giúp được gì cho ông mà lại làm vướng
cẳng ông trong lúc ông còn đang lo đối phó với tình thế, có phải không?
Phú gật gù:
- Ông nói đúng! Cứ ở
Đà Lạt, khi nào Plây Cu thật yên ổn, tôi sẽ cho xe lên đón ông và em Ninh về!
- Cám ơn ông! Nhưng mà
nếu có tin tức gì mới nhất, ông nhớ “phôn” cho tôi nhé, ở trên này mù mịt lắm!
- Yên tâm! Tôi không
quên Lãng Tử đâu!
Phú đặt ống nghe, xoa
tay đứng dậy đi từng bước một trong phòng khách. Hắn nghĩ đến công việc ngày
mai, chắc chắn là sẽ bận rộn hơn hôm nay, làm thế nào đẩy được các cuộc tấn
công của đối phương đang có thể xảy ra bất cứ lúc nào?...
XIV
KỂ TỪ ĐẦU THÁNG 3,
ĐÊM NAY LÀ ĐÊM thử mười Plây Cu bị pháo kích dữ dội.
Theo lệnh của Phạm
Văn Phú, thiếu tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, các sĩ quan chỉ huy dưới quyền
đều túc trực tại nhiệm sở để có thể ứng phó kịp thời nếu đối phương tập kích bất
ngờ vào Plây Cu và Kon Tum.
Chuẩn tướng Trần Văn
Cẩm đôn đốc cả ba trung đoàn bộ binh số 44, 45 và 53 đang đồn trú ở Play Cu.
Đại tá Phạm Duy Tất
chỉ huy 7 liên đoàn biệt động Hà quân chốt chặn tất cả các ngả đường dẫn vào thị
xã.
Ngồi trong Sở chỉ huy
quân khu 2 lúc này, ngoài Phạm Văn Phú, còn có Lê Khắc Lý, đại tá tham mưu trưởng,
người luôn đi cùng Phú như hình với bóng.
Từ chiều, các chốt tiền
tiêu trên đường 14, 19 đều báo cáo về: mặt trận vẫn yên tĩnh. Một vài cuộc chạm
súng lẻ tẻ có tính chất thăm dò. Từ 9 giờ tối đến 11 giờ đêm, sân bay Cù Hanh lại
bị pháo kích dồn dập.
Lý nói với Phú:
- Tôi cho rằng Việt Cộng
sẽ đánh cùng một lúc ở cả hai nơi: Kon Tum và Plây Cu để chia sẻ lực lượng
phòng thủ của ta. Khác với việc đánh chiếm Phước Long ở đây họ chỉ có thể đánh
phá rồi lại rút lui. Nếu thế, ta sẽ bao vây, tiêu diệt gọn tất cả những tốp lọt
vào thị xã, không cho chúng rút lui trước khi trời sáng...
Phú tỏ ý tán thành:
- Tôi cho rằng họ sẽ
dùng lực lượng tiểu đoàn gọn nhẹ để đánh nhanh, rút gọn...
Nghe Phú nói, Lý hiểu
thêm được rằng: những cuộc tập kích của đối phương nay mai là không thể tránh
được và nhất định đối phương sẽ đánh vào hai thị xã lớn là Kon Tum và Plây Cu.
Sẽ có tổn thất, nhưng làm thế nào để không bị tổn nặng nề. Điều đó hoàn toàn phụ
thuộc vào sức chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hoà.
Hai ly cà-phê nóng, một
hộp thuốc lá và một chai rượu mạnh để chống buồn ngủ cho cả hai người. Phú giụi
điếu thuốc lá cháy dở vào chiếc gạt tàn, chưa kịp nói thêm điều gì thì chuông
điện thoại đã đổ hồi. Phú cầm ống nghe, lẩm bẩm:
- Lại có chuyện chi đây?
Bỗng, Phú hỏi đồn dập:
- Buôn Mê Thuột hả? Sư
đoàn 23 hả? Vũ Thế Quang hả? Có gì khẩn cấp thế? Nói đi!
Từ đầu dây nói đằng
kia, đại tá Vũ Thế Quang sư đoàn phó sư đoàn 23
báo cáo dồn dập:
- Việt Cộng tấn công
vào đây rồi! Tấn công đại quy mô, có bộ binh cỡ tiểu đoàn, có xe tăng, xe bọc
thép, pháo bắn dữ dội vào sân bay Hoà Bình và Sở chỉ huy sư đoàn, vào tiểu khu,
vào dinh tỉnh trưởng...
- Ta phòng thủ thế
nào, chống cự thế nào?
Có đẩy lùi được các mũi tấn công không?
- Ta đang đánh trả
quyết liệt nhưng đối phương đánh rất bất ngờ, lại đánh lớn, nhiều đơn vị đang
tràn vào các đường phố. Không phải họ quấy rối mà là đánh lớn. Súng nổ bắt đầu
lúc 2 giờ sáng, bây giờ đã 15 phút rồi, yêu cầu quân khu tăng viện cho chúng
tôi và chuẩn bị khi trời sáng thì cho máy bay bắn phá, yểm qua trợ cho chúng
tôi!
Phú quay sang Lý:
- Buôn Mê Thuột đang bị
tấn công! Vũ Thế Quang đang kêu cứu và xin tiếp viện, đây anh nghe!
Lý đón ống nghe từ
tay Phú, áp vào tai:
- Quang đấy hả? Nói
đi! Nói tiếp đi! Sân bay Hoà Bình và kho Mai Hắc Đế đang bị đánh dữ dội à? Xe
tăng T.54 đang tràn vào à? Được, cứ giữ vững vị trí chiến đấu. Khi trời sáng sẽ
có máy bay và bộ binh chi viện. Nếu địch phá rồi rút thì ta phải chặn đánh, không
cho chúng rút, nghe! Giao cho tổng đài giữ nguyên máy nói để báo cáo tiếp,
nghe! Lý ngửng lên nhìn thấy rõ nét mặt đang tái đi của Phú. Phú nói qua hơi thở
dốc:
- Thế là Việt Cộng
đã tấn công bất ngờ vào Buôn Mê Thuột, nơi mà cả tôi và anh đều không ngờ đến.
Anh phát lệnh báo động khẩn cấp cho cả Kon Tum và Plây Cu, đề phòng Việt Cộng có thể đồng loạt tấn công!
Lý đã làm theo lệnh
Phú, gọi cho Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật. Cẩm vừa nghe tin sét
đánh, đã rụng rời chân tay:
- Trời ơi! Nếu kho hậu
cần Mai Hắc Đế mà bị mất thì quân trang, quân dụng, vũ khí đạn dược của cả Cao
Nguyên này coi như đã.... “cúng” cả cho Việt Cộng rồi còn gì! Tình báo của các
ông làm ăn thế nào mà mù tịt thế?
Đại tá Phạm Duy Tất,
chỉ huy 7 liên đoàn biệt động quân đã lặng người đi một hồi lâu rồi mới nói:
- Các ông lệnh cho tôi đồn hết cả quân về giữ
Plây Cu và Kon Tum để cho Việt Cộng đánh vào Buôn Mê Thuột! Thế là các ông
trúng kế “giương Đông, kích Tây” của Việt Cộng rồi! Làm sao bây giờ?
Lý đành phải dịu giọng:
- Sớm mai sẽ cho máy
bay ném bom, bắn phá vào đội hình Việt Cộng. Nếu chúng không rút thì sẽ có quân
dù nhảy xuống tái chiếm Buôn Mê Thuột!
Phạm Duy Tất la lên:
- Việt Cộng thường
dùng cách đánh quân tiếp viện đấy! Các ông tính đến khả năng này chưa? Rơi vào
lưới lửa phục kích của Việt Cộng là “rồi đời ” đấy!
Nghe Lý nói lại ý kiến
của chuẩn tướng Trần Cẩm và đại tá Phạm Duy Tất, Phú càng lo lắng:
- Tôi là tư lệnh, anh
là tham mưu trưởng, chúng ta phải chịu trách nhiệm về tổn thất này, nếu Việt Cộng
không rút lui mà còn trụ lại Buôn Mê Thuột như họ đã trụ lại Phước Long thì thật là nguy kịch. Anh gọi lại cho Vũ Thế Quang,
yêu cầu nó báo cáo tiếp. Tôi sẽ gọi về Sài Gòn cho ông Cao Văn Viên tổng tham
mưu trưởng và sau đó phải gọi về Phủ tổng thống. Ông Viên, ông Thiệu sẽ chẳng
hài lòng đâu, nhưng phải báo động để yêu cầu chi viện tối đa cho Cao Nguyên, chứ
còn biết làm sao bây giờ?
Đêm càng gần về sáng, tin từ Buôn Mê Thuột
càng đồn dập gọi về: sau Vũ Thế Quang, lại đến đại tá tỉnh trưởng Nguyễn Công
Luật.
1) Xe tăng tràn vào
càng nhiều!
2) Không có đơn vị Việt
Cộng nào rút lui, chứng tỏ họ muốn chiếm đóng, muốn ở lại...
3) Quân ta đã bỏ kho
Mai Hắc Đế, bỏ sân bay, co cụm lại giữ sư đoàn bộ, toà nhà tỉnh trưởng, căn cứ
tiểu khu Đắc Lắc...
4) Chúng tôi đang bị
bao vây chặt, đang bị tấn công, trời sắp sáng rồi, yêu cầu cho máy bay bắn phá,
giải vây, yêu cầu cho quân dù nhảy xuống cứu ngay!
Phú càng nghe càng hoảng
sợ! Tình hình đã nguy
ngập đến thế rồi sao?
Đêm đã qua rồi, Kon
Tum, Play Cu chưa bị tập kích tức là đối phương chỉ đánh Buôn Mê Thuột...
7 giờ sáng ngày
11-3-1975.
Tin cấp báo của Vùng
2 chiến thuật đã có hồi âm từ Sài Gòn. Bộ tổng tham mưu nói:
- Hãy dùng tất cả không
quân để ném bom, bắn phá, thả lính dù xuống chung quanh Buôn Mê Thuột, tiêu diệt,
đẩy lui Việt Cộng ra ngoài thị xã
Tổng thống thì ra lệnh:
- Bằng bất cứ giá nào cũng phải tái chiếm Buôn
Mê Thuột, quét sạch Việt Cộng, truy kích tìm diệt tàn quân của chúng, giữ vững
đường 14, đường 21 và đường 19!
Cùng lúc ấy chuẩn tướng
Trần Văn Cẩm phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật được Phú mời về:
- Anh về đây. Tôi với anh cùng lo cái vụ này...
Cẩm lại gọi dây nói
cho Vũ Thế Quang: không có ai trả lời. Cẩm hỏi Phú:
- Sao lại lặng im thế
này?
Phú nói:
- Anh quay sang tổng
đài của toà tỉnh trưởng xem sao?
Năm phút sau, Cẩm nhận
được tiếng trả lời từ toà tỉnh trưởng:
- Tôi, Nguyễn Công Luật
đây, toà tỉnh trưởng đây!
- Anh Luật à? Nói đi, sao tôi gọi cho Vũ Thế Quang mà không có ai trả lời?
- Việt Cộng tràn vào Sở chỉ huy sư đoàn 23 rồi!
Có lẽ Quang đã bị bắt sống cùng với cố vấn Mỹ, ông Pôn-xtru-ha-rích.
- Còn các anh?
- Việt Cộng đang bắn về
phía toà tỉnh trưởng đây. Chúng tôi đang ở dưới hầm ngầm và đang chống đánh quyết
liệt! Như vậy là Việt Cộng không rút mà ở lại chiếm đóng Buôn Mê Thuột?
- Phải rồi, các anh cho
máy bay và quân đổ bộ xuống chưa? Mong lắm! Mong lắm! Sao chưa thấy máy bay đến
giải vây? 7 giờ rồi!
- Hãy đợi chút nữa thôi. Máy bay cất cánh rồi
đó. Có cả ông Tường, đại tá sư đoàn trưởng cũng sẽ cùng nhảy xuống với quân đổ
bộ đó.
- Thế à? Lẹ lên, trời
sáng lâu rồi. Nếu không có quân tiếp viện thì chúng tôi sẽ rất nguy ngập ở đây!
Cẩm đưa ống nghe cho
Phú:
- Anh nghe đi! Hỏng! Hỏng
hết rồi!
- Phú gọi như hét:
- Alô! Alô! Toà tỉnh trưởng đâu? Alô! Anh Luật đâu?
Anh Luật đâu?
Không có tiếng trả lời
Phú đưa lại ống nghe cho Cẩm: Không thấy Luật trả lời nữa rồi! Có thể lại có nguy biến mất rồi!
Cẩm gọi lại một lần nữa,
nhưng sau những tiếng lai “Alô! Alô! Toà tỉnh trưởng đâu?” vẫn là sự im lặng.
Cẩm đặt ống nghe xuống
bàn:
- Có thể Việt Cộng lại
tràn vào toà nhà tỉnh trưởng và ông đại tá Nguyễn Công Luật bị ngụp rồi! Nếu
ông Luật cũng bị bắt với Vũ Thế Quang và ông cố vấn Mỹ thì Buôn Mê Thuột đang một
thảm kịch!
Đúng 8 giờ sáng; Plây
Cu đã mất liên lạc hoàn toàn với Buôn Mê Thuột!
Phú nói với Cẩm những
tiếng rời rạc:
- Không phải Việt Cộng
chỉ chiếm Phước Long mà bây giờ họ chiếm cả Buôn Mê Thuột, rồi họ sẽ chiếm cả
Plây Cu và Kon Tum! Biết làm sao bây giờ?
Cẩm nhìn rõ nét tuyệt
vọng trên khuôn mặt của Phú, hắn cố làm ra vẻ bình tĩnh:
- Để tôi gọi dây nói
mời ông chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6...
Phú gật đầu:
- Anh gọi đi! Mời ông Sang đến đây ngay bây giờ...
Cẩm đã gọi dây nói
cho Sang theo lệnh của Phú.
Mười lăm phút sau, Phạm
Ngọc Sang đã có mặt tại sở chỉ huy của Phú.
Sau khi báo cho Sang biết tình hình nghiêm trọng
ở Buôn Mê Thuột, Phú nói:
- Anh xem còn bao
nhiêu trực thăng, cho tập trung lại, chở quân của các trung đoàn 53, 45, 44 đổ
xuống Phước An để từ đó tiến vào Buôn Mê Thuột, tái chiếm lại thị xã này! Ông
Lê Trương Tường đại tá, tư lệnh sư đoàn 23 cũng sẽ bay đến Phước An để chỉ huy
cuộc tái chiếm Buôn Mê Thuột. Anh phải cho máy bay ném bom, bắn phá vào các vị
trí đóng quân của Việt Cộng nhiều hơn nữa, trong khi chờ Sài Gòn bay lên tiếp
viện...
Sang trầm ngâm một
lát rồi nói:
- Việt Cộng đánh lớn
mà không rút lui, lại có cả xe tăng T.54 nữa thì họ sẽ có cả pháo cao xạ. Máy
bay của ta phải bay cao và thật cẩn thận, nếu không sẽ bị bắn rớt đó…
Phú nói:
- Tất cả, tôi trông cậy
vào tài chỉ huy thao lược của anh đó! Có thể là cho máy bay bắn phá dọn đường
trước rồi trực thăng sẽ đổ quân sau...
Rồi, để cho Phạm Ngọc
Sang yên tâm, tin tưởng hơn, Phú nói tiếp:
- Các anh ngồi chờ đây
một lát, tôi gọi về Sài Gòn, gọi cho ông Đặng Văn Quang hỏi xem quyết định mới
nhất của tổng thống như thế nào?
Chỉ mười phút sau, Phú đã nghe rõ tiếng nói của
Đặng Văn Quang từ Sài Gòn:
- Ông Phú, phải không?
Chào tư lệnh chiến trường! Buôn Mê Thuột khó giữ lắm hả? Tôi đã trình tổng thống.
Tổng thống nói: Chánh phủ sẽ tăng viện không quân. Còn các anh phải lo đưa quân
chủ lực từ Plây Cu trở lại, tái chiếm Buôn Mê Thuột! Anh cho biết tin tức mới
nhất xem nào?
Phú nói rành rọt:
- Ngồi trước mặt tôi
đây là hai ông chuẩn tướng: chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh và chuẩn tướng
Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6. Chúng tôi đang bàn việc tái chiếm
Buôn Mê Thuột nhưng từ 8 giờ đã mất liên lạc với tỉnh trưởng và sư đoàn 23 rồi.
Có tin mấy ông này đều đã bị Việt Cộng bắt sống, kể cả ông cố vấn Mỹ
Pôn-xtru-ha-rích. Đường số 14 đã bị băm nát rồi. Có thể Việt Cộng ngăn chặn
quân ta từ Plây Cu đánh xuống để rồi họ sẽ củng cố Buôn Mê Thuột và tiếp tục
đánh lên Plây Cu. Chúng ta đã mắc sai lầm lớn khi nói rằng Plây Cu bị uy hiếp, thực tế là Việt Cộng nghi binh, hoạt động nghi binh của họ quá giỏi,
đùng một cái, họ đã đánh Buôn Mê Thuột là nơi ta bố trí lực lượng mỏng nhất,
ít nhất và họ đánh rất ngon! Chúng tôi kém cỏi đã bị đánh, Bộ tổng tham mưu của
ông Cao Văn Viên mà cũng không biết gì, cũng cứ nói rằng Việt Cộng sắp đánh
Plây Cu, có ai nói đến Buôn Mê Thuột đâu! Bây giờ thì đã quá muộn rồi! Sân bay
Hoà Bình mất, kho Mai Hắc Đế mất, toà tỉnh trưởng mất, sư đoàn bộ cũng mất. Tướng
tá bị bắt, quân lính bị chết, xe tăng T.54 tràn ngập, làm thế nào đây? Chúng
tôi cố gắng đã đành, nhưng các ông không yểm trợ tối đa, không chi viện tối đa
thì làm sao mà tái chiếm lại Buôn Mê Thuột? Đó, tin tức mới nhất là như thế đó!
Yêu cầu của chúng tôi là như thế đó! Ông trình lên ngay với tổng thống giùm
tôi, nghe! Cám ơn, cám ơn...
Phú đặt ống nghe và
nói với Sang, với Cẩm và Lý:
- Ta cứ hành động khẩn
trương, tích
cực, thực thi nhiệm vụ ở đây. Trách nhiệm đối với Buôn Mê
Thuột còn có cả phần chủ quan của ông Cao Văn Viên nữa! Việt Cộng có mưu sâu, kế hiểm mà Bộ tổng tham mưu lại không giúp được gì
cho Vùng 2 chiến thuật! Thật là tồi tệ quá chừng! Anh Sang trở lại sân bay, thực
thi nhiệm vụ đi. Còn anh Cẩm ở lại đây với tôi, ta sẽ lấy quân ở các trung đoàn
44, 45, 53 đổ xuống Phước An ngay trong buổi sáng hôm nay, cả anh Lý nữa!
*****
Sang đi rồi, còn lại
có Phú, Lý và Cẩm. Phú nói như muốn đứt hơi với Cẩm và Lý:
- Ông Đặng Văn Quang hứa
đẹp thế thôi, chứ tôi chắc là ông Thiệu chưa huy động đến mấy sư đoàn tổng dự bị
chiến lược đâu... Có phải không, anh Lý?
Lý ngồi im.
Cẩm hỏi:
- Vì sao?
Phú giải thích:
- Vì ở đây ta còn cả ba
trung đoàn ở Plây Cu. Ông Thiệu muốn ta tung cả về Phước An để tái chiếm Buôn
Mê Thuột. Không quân ta còn nguyên vẹn cả một sư đoàn số 6 của ông Sang kia mà!
Ông Thiệu muốn ta cứ dùng hết số lực lượng ta đang có, rồi ngày một, ngày hai,
nếu có nao núng thì chánh phủ trung ương mới chi viện tiếp tục. Thế nhưng ta có
một khó khăn rất lớn...
- Khó như thế nào? - Cẩm hỏi lại.
- Khó vì Buôn Mê Thuột
thất thủ rồi. Mấy ông chỉ huy kể cả cố vấn Mỹ cũng bị bắt rồi. Việt Cộng ở lại
chiếm đóng chứ không phải phá phách rồi rút đi, cho nên tất cả hiện tượng ấy
đang làm nản lòng binh sĩ của ta. Nhiều người ở đây nhưng vợ con lại đang kẹt lại
ở Buôn Mê Thuột, còn hoang mang, lo sợ, còn bụng dạ nào nữa mà chiến đấu để tái
chiếm Buôn Mê Thuột?
Cẩm gật đầu:
- Đúng như thế đấy.
Nhưng, ta cứ thử tung về Phước An trung đoàn 53 xem sao. Thêm một số biệt động
quân của liên đoàn số 4, số 6. Mỗi đơn vị góp một ít, dùng trực thăng vận đưa về
Phước An... Anh là tư lệnh anh ở lại đây, còn lo phòng thủ cả Kon Tum, cả Plây
Cu nữa và nhận lệnh của Sài Gòn nếu ông Thiệu có chủ trương gì mới. Tôi sẽ về
Phước An cùng với ông Lê Trương Tường sư trưởng sư 23 của ta. Tướng mà không xuất
tướng thì quân cũng co vòi lại, đánh đấm gì trong lúc căng thẳng này? Thôi, cứ
thế nhé! Tôi đi đây!
Phú siết tay Cẩm thật
chặt:
- Thượng lộ bình an
nhé! Chúc mã đáo thành công!
Cẩm đi rồi, còn lại một
mình với Lý, Phú thấy lòng như lửa đốt. Thế là hắn phải đương đầu với một địch
thủ rất mạnh. Rõ ràng hắn đang ở một cái thế bất lợi. Việt Cộng chiếm đóng Buôn
Mê Thuột sau nửa đêm đánh chiếm. Vũ Thế Quang, Nguyễn Công Luật và cố vấn Mỹ bị
bắt thì Buôn Mê Thuột như rắn mất đầu... Từ thâm tâm, hắn thấy tim mình thắt lại:
“Nếu hôm qua mồng 10 tháng 3, lớ ngớ mình có mặt ở Buôn Mê Thuột, chỉ ngủ qua
đêm 10-3 thôi thì cũng đã bị bắt sống cùng với Quang và Luật rồi còn gì! Thật
là hú vía! Năm 1954 bị Việt Minh bắt ở Điện Biên Phủ rồi được trao trả tù binh,
nay bị bắt đến lần thứ hai thì sẽ bị họ treo cổ, chết trăm phần trăm thôi!
Nhưng mà ở đây nữa, đâu đã yên thân? Sau Buôn Mê Thuột, sẽ đến lượt Plây Cu và Kon Tum,
họ cứ đánh theo đường 14 lên, ta sẽ giữ
làm sao? Chống chọi làm sao với xe tăng T.54 và đại bác hạng nặng? Hai sư đoàn
thiện chiến 320 và 10 đang thừa thắng xốc tới... Ta có ưu thế về không quân,
nhưng họ lại có pháo phòng không bắn lên..." Phú thấy run sợ thực sự. Nếu
quân lính bỏ chạy như vịt thì tướng tá chỉ huy ai? Không biết giờ này, vợ hắn -
bà Lâm Đệ xinh đẹp - ở Chợ Lớn đã biết tin tức gì chưa? Để vợ con ở lại Sài
Gòn, lên đây trấn ải vùng Cao Nguyên, đến nước cờ bí này, biết làm sao dây?
Hắn muốn quên đi tất
cả, song tâm trí lại cứ bị khuấy động mãi lên. Đêm qua đã thức trắng…
Lê Khắc Lý hiểu rõ
tâm tư của Phú và trách nhiệm làm tham mưu trưởng của mình, càng cảm thấy bẽ bàng... Không dự đoán được âm mưu của đối phương: họ đã chơi trò nghi
binh, doạ đánh Plây Cu rồi lại độp một đòn quá mạnh, đánh chiếm Buôn Mê Thuột,
có thể họ sẽ dùng Buôn Mê Thuột làm một bàn đạp, theo đường 14 đánh thốc lên
Plây Cu. Phú, Cẩm và cả mình nữa sẽ đối phó ra sao?
Thời gian nặng nề
trôi.
Phú rót đầy hai ly rượu
mạnh và cụng ly với Lý:
- Uống đi anh! Tôi là
tư lệnh, anh là tham mưu trưởng, ta là linh hồn của trận chiến đấu quyết liệt
này, không thể bị thua nhục nhã được! Ta phải thắng đối phương!
Lý uống cạn ly rượu
và biết Phú đang động viên mình. Lý không thể lặng im mãi, hắn nói:
- Nhất định là... phải
chiến thắng!
Ba giờ chiều.
Bóng nắng đổ dài
ngoài sân Sở chỉ huy, Phú nhận được điện thoại của Cẩm từ Phước An gọi về:
- Anh Phú, anh Lý! Tôi, Cẩm đây! Có nghe rõ không?
- Rõ! Nói đi, anh Cẩm!
- Ta mới đổ xuống Phước
An có một tiểu đoàn, đang bị Việt Cộng đánh rất dữ. Lính giạt cả vào rừng! Anh
Lê Trương Tường ngồi trên trực thăng, chưa kịp đáp xuống đã bị cao xạ của đối
phương bắn lên. Anh Tường bị thương, phải bay trở lại rồi! Tôi sẽ trở về Plây
Cu tối nay. Ngày 11 tháng 3, hôm nay, coi như ta chưa có thể đánh về Buôn Mê
Thuột được! Các anh gọi về Sài Gòn, nói ông Đặng Văn Quang và ông Cao Văn Viên
biết nhé, để hai ông này trình lên tổng thống để sớm mai, tổng thống có quyết định
gì mới cho chúng ta không?
Phú buồn rầu nói:
- Thôi được. Rõ cả rồi.
Tối nay, anh về đây, ta lại bàn tiếp...
Phú đặt ống nghe, nói
với Lý:
- Có dễ “ăn” đâu kia
chứ! Sai một ly, đi một dặm. Mới chỉ có một đêm, một ngày mà cục diện đã thay đổi
nhiều quá! Lý lắc đầu ngao ngán:
- Cơ đen, vận bĩ rồi
đây...
Phú đứng lên:
- Anh nói giùm tôi với
thằng đầu bếp: chuẩn bị cho tôi với anh bữa ăn chiều đi thôi. Có lẽ ta ăn cháo
cho đỡ mệt. Từ sáng tới giờ chưa có hột cơm vào bụng, chỉ thấy khát mà không thấy
đói...
XV
BUỔI TỐI THÁNG BA Ở
ĐÀ LẠT, TRỜI VẪN còn lạnh.
Ngồi bên máy thu
thanh, Lãng Tử nghe bản tin buổi tối của đài BBC, anh giật thót mình, gọi ông Đạt,
chủ tiệm ăn Hoàn Mỹ:
- Anh Đạt ơi! Vào
đây!
Biết là có tin mới lạ.
Ông Đạt xăm xăm bước tới:
- Tin gì đó? Việt Cộng
đánh Buôn Mê Thuột rồi!
- Thật à?
- Thật chứ! Đài Sài Gòn
chưa nói gì, đài Hà Nội và đài Giải Phóng cũng chưa nói gì, nhưng BBC thì nói rất
rõ: 2 giờ sáng hôm qua 10-03-1975, Việt Cộng sau nhiều ngày pháo kích Plây Cu
và Kon Tum để nghi binh, làm cho ông Thiệu, ông Phú tưởng rằng họ sẽ đánh Plây
Cu - Kon Tum, rồi bất ngờ đêm qua tấn công dữ dội chiếm được Buôn Mê Thuột bằng
xe tăng T54 của Nga Xô, bằng đại bác và nhiều sư đoàn chủ lực. Quân ông Phú bị
đánh tan tác, tỉnh trưởng bị bắt, phó tư lệnh sư
đoàn 23 cũng bị bắt, cố vấn Mỹ cũng bị bắt. Kho Mai Hắc Đế, sân bay Hoà Bình,
toà tỉnh trưởng, tiểu khu Đắc Lắc, tất cả đã lọt vào tay Việt Cộng. Chiều nay,
11 tháng 3, quân ông Phú phản kích định tái chiếm Buôn Mê Thuột lại bị đánh
tan, sư đoàn trưởng sư đoàn 23, ông chuẩn tướng Lê Trương Tường ngồi trực thăng
cũng bị pháo cao xạ của Việt Cộng bắn bị thương, phải rút chạy rồi!
Ông Đạt ngao ngán;
- Chết! Chết thôi. Việt
Cộng đánh ác như thế thì ông Phú sẽ mất Cao Nguyên! Chú thử gọi điện cho nó xem
sao?
Lãng Tử lắc đầu hoài:
- Phú chắc là đang
còn “tang gia bối rối”, không nên hỏi thăm hắn làm gì! Anh để em gọi điện cho một
thằng bạn thân làm phóng viên báo TRẮNG ĐEN ở Sài Gòn, hỏi
nó thì có tin sốt dẻo, chính xác thôi.
Bà Lan Hương, cô Lệ
Ninh đang trò chuyện ở phòng bên cạnh, nghe tin chiến sự cũng kéo nhau vào ngồi
bên cạnh ông Đạt và Lãng Tử để nghe ngóng và góp chuyện.
Bà Lan Hương nói với
Ninh:
- May cho cô chú nhé.
Còn ở Plây Cu hôm nay thì cũng đến hết vía, hết hồn!
Lệ Ninh ngồi nép vào
lòng bà Hương:
- Rối ren như thế này
thì em về làm sao?
- Thôi cứ ở lại đây với anh chị. Có yên ổn thì mới
về được chứ!
Lãng Tử đã gọi được
điện thoại về Sài Gòn. Ở đầu dậy nói đằng kia có tiếng đàn ông nói oang oang:
- A lô! Lãng Tử đấy hả?
Tôi đây, Võ Tùng đây. Ở toà báo Trắng Đen đây! Buôn Mê Thuột thất thủ rồi! Việt
Cộng chiếm hết rồi! Cả Sài Gòn nghe đài phương Tây đều biết, ấy thế mà ông Thiệu,
ông Kỳ lại cho “me-xừ” Lê Trung Hiền, phát ngôn nhân của các ông ấy họp báo nói
bai bải rằng: đó là tin thất thiệt! Việt Cộng có đánh Buôn Mê Thuột, song bị
thiệt hại nặng nề đã rút chạy. Chánh phủ vẫn giữ được Buôn Mê Thuột và đang
truy kích quân Cộng Sản chạy tán loạn vào rừng!
- Báo chí Sài Gòn có
loan tin này không?
- “Me - xừ” Lê Trung
Hiền nói: chánh phủ cấm đưa tin! Không may cho một anh nhà báo Pháp, phóng viên
AFP tên là Pôn Lê-ăng-đơ-ri lại nhanh nhảu phát tin ra nước ngoài, rằng Việt Cộng
đã chiếm được Buôn Mê Thuột và đang còn chiếm đóng như đã chiếm đóng Phước
Long. Thế là ông Thiệu điên tiết, hạ lệnh cho Tổng nha cảnh sát gọi phóng viên
AFP đến chất vấn. Đôi bên cãi lộn một hồi rồi cảnh sát trưởng nổi khùng lên, đã
rút súng lục bắn chết ngay ông Pôn Lê-ăng-đơ-ri tại Sở cảnh sát đô thành!
- Chà! Họ làm dữ quá!
- Nhà báo Pháp còn bị bắn
chết. Mấy anh nhà báo “lô-can”, “bản xứ” này thì hãy liệu hồn, vớ vẩn là... ăn
đạn như chơi! Dân chúng chạy loạn về nói ầm ĩ lên rồi. Tôi biết là Buôn Mê Thuột
đã thất thủ! Chắc là mấy ông Vi-si sẽ còn đánh lớn! Ông đi ngao du miền sơn cước
bao giờ mới về Sài Gòn?
Lãng Tử cười, trả lời
Võ Tùng:
- Còn đi lan man,
chưa có tác phẩm gì hay thì chưa về được đâu! Ở đây với anh chị Hoàn Mỹ trên Đà
Lạt vui lắm mà! Thôi chào nhé! Có gì hay, vui, mới, lạ thì gọi cho tôi, nghe.
Cám ơn ông nhiều!
Lãng Tử đặt ống nghe,
nói với ông Đạt, bà Hương:
- Thế là chính xác rồi,
anh chị ạ. Ngày mai ta nghe tiếp. Chắc rồi đài Sài Gòn, đài Hà Nội sẽ nói thôi...
Ông Đạt trầm ngâm một lát rồi nói:
- Thế này là có dấu
hiệu bất ổn cho Quốc Gia rồi! Làm chính trị thời nay đâu có dễ! Anh em Ngô Đình
Diệm có cái đảng Cần Lao Nhân Vị, nghe thật quái đản, rồi cũng chết nhục nhã
như hai con chó. Tên Ngô Đình Cẩn lãnh chúa Miền Trung - dân Huế thường gọi là
“ông cố Trầu” vì y thường nhai trầu cau bỏm bẻm, y có cả bộ máy mật vụ đồ sộ,
lúc thất thế, cũng bị ông Thiệu đem vào khám lớn Chí Hoa kết án tử hình, bắn bỏ.
Bây giờ ông Thiệu lại có một cái Đảng chính trị tên là Đảng Dân Chủ, có quân đội
đang “tràn ngập lãnh thổ”. Nghe thì có vẻ hung hăng đấy, nhưng mới có hơn hai
tháng mà lại thất thủ đến hai thị xã quan trọng: mất Phước Bình (tỉnh Phước
Long) nay lại mất thêm Buôn Mê Thuột! Còn gì nữa để mà huênh hoang, khoác lác?
Tướng lĩnh mà đi buôn thuốc phiện lậu, tướng lĩnh mà tham nhũng để mấy ông ký
giả phải xuống đường, “ký giả đi ăn mày!” Loạn, loạn to rồi chú ạ. Cái mầm loạn
đã nhú lên. Thế nào cũng có thay quân, đổi quan, thay trời, đổi đất! Nắng sớm, chiều mưa, ai mà biết được? Chuyện nhãn
tiền thì quá rõ: Bắc Việt sẽ đánh lớn với nhiều sư đoàn
chủ lực có xe tăng, thiết giáp, đại bác đàng hoàng.... Việt Cộng dựa vào rừng
núi đánh Cao Nguyên trước, rồi sẽ đánh ven biển sau. Cứ lo đối phó với Việt Cộng,
ông Thiệu, ông Phú cũng đã mệt. Tôi e cứ cái đà tiến công như thế này thì Huế,
Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt cũng khó giữ lắm. Mỹ lại cắt mất viện trợ mấy trăm
triệu đô-la, thử hỏi ông Thiệu lấy đâu ra tiền mà phòng thủ Nam Việt Nam?
Bà Lan Hương nghe ông
Đạt nói chuyện thời cuộc, lại thấy bồn chồn, bà thở dài hỏi:
- Liệu rồi nay mai có
phải chạy loạn một lần nữa không?
Ông Đạt lắc đầu:
- Ở Đà Lạt là yên ổn rồi,
chẳng phải chạy đi đâu nữa. Ông nào lên nắm chính quyền thì tôi cũng chỉ là thường
dân, làm ăn lương thiện và đóng thuế cho... Nhà Nước!
Rồi ông Đạt lại quay
sang Lãng Tử:
- Tôi nói thế có phải
không, chú?
- Dạ, anh nói... chí phải! Cũng như em, em là
nhà văn, nhà báo trung lập, chẳng ôm chân phe phái nào hết. Em sống với bạn bè,
với độc giả và sống bằng tác phẩm của em, bằng chính những trang viết của em!
Nhà quân sự, nhà chính trị nào biết đến em, có lòng ưu ái thì em. .. xin ngả
mũ, em chào! Nếu chẳng may gặp phải bạo chúa nào như... bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng
bên Tàu ngày xưa, căm thù nho sĩ nên đã “đốt sách vở, chôn học trò” thì em đành
phải chịu!
Ông Đạt:
- Ngày xưa mới có Tần
Thuỷ Hoàng, chứ ngày nay văn minh rồi, làm gì có bạo chúa như thế, phải không
chú?
Lãng Tử chua chát
hơn:
- Thời đại văn minh
cũng vẫn có kẻ ác đấy, anh ạ. Ví như bạn em vừa nói qua điện thoại đấy: anh nhà
báo Pháp Pôn Lê-ăng-đơ-ri mới bị bắn chết hôm qua đó. Cảnh sát đô thành làm theo lệnh ông
Thiệu, bắn chết ký giả ngoại quốc, đó không phải là bạo chúa hay sao? Nhưng… tức
nước thì phải vỡ bờ! Như anh nói: cái mầm loạn đã nhú lên rồi. Ông Thiệu, ông Kỳ
đang ngồi trên đống lửa! Ta hãy cứ chờ xem... những tấn trò đời, những con rối
chính trị đang múa máy, quay cuồng đó!
Lệ Ninh ngồi nghe
chuyện của anh em ông Đạt, chẳng hiểu gì mấy, cứ cảm thấy mình như một đứa trẻ
ngồi nghe chuyện của người lớn, cô muốn nhắm mắt lại, phó mặc thân mình cho số
phận...
Ông Đạt không giấu được
nỗi buồn vừa nhen nhóm:
- Ở đời này, chú ngẫm
thử mà xem, nếu ai cũng biết sống nhân hậu thì làm gì còn có cảnh xâu xé, chém
giết lẫn nhau? Chẳng qua chỉ vì mưu bá, đồ vương, muốn ăn trên, ngồi trốc,
làm... cha thiên hạ nên mới có chuyện đì đòm, khổ dân, hại nước!
Lãng Tử nhìn mái đầu
bạc trắng của người anh lớn tuổi, chạnh lòng nghĩ đến bản thân, một lúc lâu mới
thốt lên: Em đã chui vào cái tháp ngà của riêng em mà chẳng biết có được yên thân
hay không?
Ông Đạt an ủi:
- Chú cứ tin như tôi
đã tin: ở hiền thì sẽ gặp lành. Mình có tranh giành quyền lực với ai đâu mà ngại?
Nhưng chú đã ở cái tuổi “đứng bóng” rồi, phải có bàn tay nội trợ giúp chú thì
chú mới yên ổn được, có phải không cô Ninh?
Lệ Ninh được ông Đạt
nhắc tới, lại thấy yên tâm. Có cúi đầu nói se sẽ:
- Dạ, thưa anh chị,
em cũng nghĩ như thế.
Lãng Tử nói nốt suy
nghĩ của mình:
- Mặc cho thời thế đổi thay. Em và Ninh cũng quyết...
cùng nhau đi đến cùng trời, cuối đất! Và không thể không nhờ anh chị!
Ông Đạt cười xoà: Chỉ
sợ cô chú chế anh chị nghèo thôi, chứ nếu cô chú ở lại đây thì anh chị sẵn sàng
vì cô chú mà sẽ giúp đỡ cô chú bằng tất cả tấm lòng... Còn như mối quan hệ bè bạn
của chú với Phạm Văn Phú thì chú cứ cho phép anh nói: đã đến lúc chú phải xem lại,
nếu là thời bình thì Phú có thể vì mến mộ tài năng của chú mà làm một Mạnh Thường
Quân được. Còn như bây giờ thì Phạm Văn Phú khó có thể giúp thêm cho chú được
cái gì nữa? Có thể, chú phải dừng lại ở đây vì tôi thấy Phú đang rất lao đao...
XVI
BUỔI TRƯA NGÀY 12
THÁNG 3 NĂM 1975, thị xã Plây Cu nhốn nháo hẳn lên vì xe quân cảnh chạy rầm rập
trên đường phố. Nhiều tiệm buôn lớn đã đóng cửa. Tin thất thủ Buôn Mê Thuột đã
lan truyền ầm ĩ, không còn ai bưng bít được nữa. Binh lính thoát chết chạy về, dân chúng bồng
bế nhau đi lánh nạn ngược đường 14 lên phía Bắc mỗi lúc một đông.
Tiệm buôn Phước An của
bà Chín vẫn mở cửa bán hàng, song ít có ai mua hàng hôm nay. Bà Chín đã được
chú Bảy Hùng nói nhỏ vào tai từ hôm qua:
- Chị cứ mở cửa bán
hàng như thường ngày. Em đã bảo thằng Hai Tiến trưa mai phải đi Kon Tum ngay.
Em đã ghi địa chỉ trên đó cho nó lên tá túc ít ngày... Nếu không đi ngay là
chúng nó bốc lên trực thăng để ném xuống Buôn Mê Thuột tái chiếm thị xã đang nằm
trong tay mấy ông Giải Phóng đó!
Huỳnh Văn Tiến - đứa
con trai độc nhất của chị Chín - từ doanh trại của trung đoàn đã rảo bước về
nhà, nó gọi:
- Má! Chú Bảy bảo con
phải đi Kon Tum ngay bây giờ? Bà Chín gật đầu:
- Má biết rồi! Lẹ lên
con, lên lầu, thay bộ đồ xi-vin và mang theo hai bộ, má đã bỏ trong cái túi
xách tay đó. Má cho con hai trăm ngàn, cũng đã bỏ vào đó cả rồi. Hai cái nhẫn,
một đồng hồ Ra-đô con mang theo, khi cần cứ bán đi mà xài ít ngày rồi má cho
thêm nghe!
Nửa giờ sau, chú Bảy
đã đón thằng Tiến, đèo xe máy cho nó ra bến xe, đi tắc-xi lên Kon Tum. Tiến đi
rồi, chú Bảy quay về tiệm Phước An, nói với bà Chín:
- Chị yên tâm. Cháu
đi rồi! Trên đó rất bình yên...
Thằng Tiến bỏ ngũ, trốn
lính trong lúc nhộn nhạo như thế này, chỉ có má nó và chú Bảy biết mà thôi.
Hai giờ chiều, một tiểu
đoàn được đưa lên trực thăng bay về phía Buôn Mê Thuột. Không phải chỉ có Tiến
là người duy nhất trốn trại. Vài chục tên đã vắng mặt nhưng chỉ huy chưa buồn hỏi
tội ai. Hắn thừa biết có lính trốn đi, nhưng gấp gáp quá rồi, lùa được bao
nhiêu tên lên trực thăng hãy cứ lùa đi một chuyến đầu tiên. Ngờ đâu, năm chiếc trực thăng vừa bay tới Phước An đã đổ vội
quân xuống và bay trở lại cho nhanh để tránh đạn của đối phương. Cả tiểu đoàn vừa
chạm mặt đất đã bị chặn đánh quyết liệt. Hơn mười tên bị bắn hạ, số còn lại vứt
súng, chạy giạt vào rừng.
Buổi tối, chú Bảy lại
đến gặp bà Chín!
- Chị ơi! Lính chạy
như vịt. Buôn Mê Thuột vẫn nằm trong tay Quân Giải Phóng! Chị thấy không? Bây
giờ thì tướng Phú và ông Thiệu mới biết: bấy lâu Việt Cộng bắn phá Plây Cu chỉ là... nghi binh vậy thôi. Đánh vào Buôn Mê
Thuột mới là đánh thật! Đòn trời giáng đó. Bây giờ quý vị mới biết thì đã quá
muộn! Tướng Phú đang kêu gào, xin Sài Gòn cứu viện, nhưng chưa thấy gì. Bom đạn
từ Plây Cu đổ xuống chung quanh Buôn Mê Thuột hai ngày hôm nay có ăn nhằm gì
đâu? Chỉ toi mạng thêm một số lính.,..
- Bà Chín hỏi chú Bảy:
- Theo nhận định của
chú thì bao giờ Quân Giải Phóng mới đánh về Plây Cu?
- Theo em dự đoán thì sớm
muộn quân ta cũng sẽ đánh, nhưng mỗi trận mỗi khác. Chỉ biết rằng quân lính của
Phạm Văn Phú hoang mang, dao động đến cực độ rồi đó!
Bà Chín nói nhỏ: xuốn:
- Hàng ngày, có gì biến
động, chú phải cho chị biết tin sớm nhé.
- Chị cứ yên tâm. Chú
Trần Kỳ, chú Tâm, chú Dũng đang chờ chỉ thị của cấp trên để hành động đúng
lúc...
Bà Chín nhìn lại Bảy
Hùng từ đâu đến chân.
Bữa nay chú Bảy lanh
lợi khác thường. Bà Chín vẫn phải dặn:
- Coi chừng thằng Cang
ác ôn đó, nghe!
Bảy Hùng chỉ “Dạ” một
tiếng rồi bước vội ra đường, ngược lên phía chợ.
***
Buổi tối ngày 12 tại
Sở chỉ huy Vùng 2 chiến thuật, Phạm Văn Phú, Lê Khắc Lý và Trần Văn Cẩm cũng ngồi
chờ ý kiến trả lời của Đặng Văn Quang từ Sài Gòn. Cả ba khuôn mặt đều đăm
chiêu, suy nghĩ trong không khí căng thẳng.
Phú nói chậm rãi:
- Đến hôm nay đã là
ngày thứ ba, ta mất Buôn Mê Thuột. Cuộc tái chiếm bằng trực thăng vận lại làm tổn
thất thêm một số quân nữa. Phi cơ ta ném bom, bắn phá chung quanh Buôn Mê Thuột
chưa giải quyết được vấn đề gì. Kon Tum và Plây Cu vẫn còn bị pháo kích. Đường
14 bị cắt đứt nhiều đoạn, ta không đem quân xuống được nhưng đối phương thì lại
đang có thể đánh lên. Anh Vũ Thế Quang, anh Nguyễn Công Luật và ông cố vấn Mỹ bị
Việt Cộng bắt sống chưa biết số phận còn mất ra sao? Cả kho dự trữ chiến lược
Mai Hắc Đế cũng đã lọt vào tay đối phương. Không có hy vọng tái chiếm nữa mà Việt
Cộng lại không rút. Họ có thể dùng Buôn Mê Thuột làm bàn đạp để đánh rộng ra.
Anh Lê Trương Tường tư lệnh sư đoàn 23 bị thương, nằm lại đây rồi. Ta sẽ phản
kích ra sao? Các anh chuẩn bị ý kiến giúp tôi tổ chức lại cuộc chiến đấu sau
khi có ý kiến của tổng thống...
Cẩm hỏi Phú:
- Anh có nghe đài BBC và Tiếng Nói Hoa Kỳ
không?
- Sao?
- Hai dài này đều loan
tin thất thủ Buôn Mê Thuột trong khi ông Lê Trung Hiền họp báo ở Sài Gòn vẫn
nói ta chưa mất Buôn Mê Thuột để trấn an dư luận.
Phú buồn rầu:
- Ta có cái dở là Cảnh
sát đô thành lại bắn chết thằng nhà báo Pháp Pôn Lê-ăng-đơ-ri về cái tội thằng
này đưa tin mất Buôn Mê Thuột.
Lý chép miệng:
- Đụng đến hãng AFP
cũng phiền quá! Sớm muộn gì thì đài Sài Gòn cũng phải loan tin thật. Đài Hà Nội
chưa đưa tin rồi cũng sẽ đưa tin...
9 giờ tối.
Có chuông điện thoại
báo từ Sài Gòn. Cả ba cái đầu đều chụm lại, nghe rõ tiếng Đặng Văn Quang truyền
đạt ý kiến của Nguyễn Văn Thiệu:
- Anh Phú! Nghe tôi nói đây: ý kiến của tổng thống:
các anh chuẩn bị đầy đủ tình hình mới nhất để trình lên tổng thống, Bộ tổng
tham mưu và Bộ quốc phòng. Sẽ có cuộc họp...
- Ở đâu? Lúc nào?
- Rất gấp đấy. Ngày giờ và địa điểm họp ngày mai
sẽ báo!
- Còn gì nữa không, anh
Quang?
- Hết. Sớm mai tôi sẽ gọi
lại cho các anh.
Phú đặt ống nghe:
- Thế là đã rõ. Ta đành
phải chờ đến sáng mai. Các anh cứ về nhiệm sở. Đêm nay Việt Cộng vẫn còn pháo kích đó. Nhớ báo cho các đơn vị trực chiến: tất cả phải sẵn sàng ứng phó nếu
có tình huống xấu xảy ra!
*****
8 giờ sáng ngày
14-03-1975.
Sau khi nhận được lệnh
từ Sài Gòn, Phạm Văn Phú gọi Phạm Duy Tất đến, căn dặn:
- Lệnh của tổng thống
triệu tập tôi, anh Lý, anh Cẩm ra Cam Ranh họp khẩn cấp. Anh ở nhà thay tôi giải
quyết mọi công việc. Có gì mắc mớ thì điện cho tôi biết. Các liên đoàn biệt động
quân dưới quyền chỉ huy của anh cứ phải giữ nguyên vị trí phòng thủ chung quanh
Plây Cu.
Tất hỏi:
- Các anh đi Cam Ranh
bao lâu?
- Chỉ một buổi sáng thôi. Chậm nhất là 2 giờ
chiều, chúng tôi sẽ có mặt ở đây rồi.
Phú bắt tay Phạm Duy
Tất và vội vã bước lên trực thăng cùng với Lê Khắc Lý, Trần Văn Cẩm bay ra Cam
Ranh.
Phạm Duy Tất túc trực
ở Sở chỉ huy suốt buổi sáng và đến một giờ chiều thì chiếc máy bay trực thăng HU-1A đậu xuống trước dinh của Phú.
Phạm Duy Tất bước ra
chào đón, bắt tay từng người: Nét mặt nghiêm trọng của ba người từ Cam Ranh trở về làm cho
Phạm Duy Tất thêm hồi hộp.
Phú nói với Tất:
- Tôi về sớm hơn một giờ
đấy nhé! Có nhiều công việc mới. Anh gọi dây nói mời thêm chuẩn tướng Sang tư lệnh
sư đoàn không quân số 6 về đây, ta họp một chút rồi phân công nhau mà làm theo
lệnh của tổng thống!
Nửa giờ sau, hội nghị
nhóm họp với năm thành viên quan trọng: thiếu tướng Phạm Văn Phú, chuẩn tướng
Trần Văn Cẩm, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, đại tá Lê Khắc Lý, đại tá Phạm Duy Tất...
Phú trịnh trọng tuyên
bố:
- Với tư cách tư lệnh vùng 2 chiến thuật, thừa lệnh
tổng thống tôi tuyến bố khai mạc cuộc họp bất thường này với một yêu cầu: các
anh đều phải chịu trách nhiệm giữ bí mật hoàn toàn. Ngoài năm thành viên chúng
ta ở đây, không thể phổ biến cho bất cứ ai khác. Đây là lệnh của tổng thống và
cũng là lệnh của Hội đồng tướng lĩnh, phải tuyệt đối phục tùng!
Chờ cho mọi người
chăm chú lắng nghe, Phú nói tiếp:
- Buôn Mê Thuột thất
thủ. Việt Cộng lại gia tăng áp lực với Plây Cu và Kon Tum. Giao chiến với mấy
sư đoàn quân Bắc Việt ở đây là không có lợi. Vì thế tổng thống quyết định chúng
ta dời về Nha Trang, lập Bộ tư lệnh tiền phương, rút toàn bộ lực lượng của ta
trên Cao Nguyên về ven biển, củng cố, bổ sung lực lượng rồi mới tái chiếm lại tất
cả Cao Nguyên với sự yểm trợ tối đa của Chánh phủ trung ương. Đây là cuộc rút
quân to lớn do quân lực vùng 2 chiến thuật tự đảm nhiệm, bí mật, nhanh chóng.
Rút quân xong rồi mới thông báo cho bên dân sự biết sau. Ta chỉ rút quân chủ lực,
còn địa phương quân là người Thượng thì không rút. Ta sẽ bỏ đám lính này lại để một vài ngày nữa họ sẽ tự giải tán, về với núi rừng. Để dân chúng khỏi hoang mang, gây nên cảnh hỗn loạn khi ta
rút quân, yêu cầu các anh phải tuyệt đối bí mật. Ai để lộ kế hoạch rút quân sẽ
phải xử lý theo quân pháp! Các anh cứ làm từng bước theo kế hoạch của tôi và
anh Cẩm là phó tư lệnh. Hôm nay là ngày 14, các anh về chuẩn bị thu xếp, đóng gói công văn, tài liệu và tư trang
hành lý, không được để lộ kể cả với vợ con. Chiều mai: tôi, anh Lý, anh Cẩm bay
ra Nha Trang. Anh Sang dùng máy bay ở Cù Hanh và xin thêm C.130 từ Sài Gòn lên để đưa hết lực lượng phi công, thợ máy, bay về
Sài Gòn, về Nha Trang từ chiều 15 đến hết ngày 16 phải làm xong. Bộ binh, thiết
giáp và các liên đoàn biệt động quân do anh Phạm Duy Tất chỉ huy, đôn đốc sẽ
rút từ chiều tối ngày chủ nhật 16 tháng 3, rút theo đường số 7 qua Cheo Reo,
Phú Bổn. Phải rút nhanh, rút gọn. Tôi và anh Cẩm sẽ đón các anh ở Nha Trang.
Chúng ta lập Bộ tư lệnh tiền phương ở đó. Kế hoạch rút bỏ Cao Nguyên chỉ là tạm
thời, khi ta củng cố xong lực lượng, sẽ tái chiếm lại cũng chưa muộn. Ta phải
biết lùi một bước để rồi sẽ tiến lên nhiều bước!
Nghe Phú nói xong, cử
toạ đều lo lắng. Vừa lo cho trách nhiệm của mình, vừa lo cho gia đình, vợ con
mà chưa ai dám nói ra.
Phú gặng hỏi:
- Các anh có ý kiến
gì không?
Phạm Ngọc Sang nói:
- Tôi phải đưa hết
anh em ở sân bay đi, lại cả gia đình họ nữa, làm sao mà không lộ?
Phú nói:
- Sĩ quan đi trước, mấy
ông Mỹ đi trước. Vợ con đi theo thì giữ lại ở sân bay rồi bốc đi sau, bốc cho gọn,
cho nhanh!
Phạm Duy Tất băn
khoăn:
- Phần tôi là gay nhất,
nào người, nào xe pháo, súng ống lủng củng, lại đi qua đường số 7, con đường bỏ
quên đã lâu, khó đi lắm.
Phú nói:
- Đi đường ấy mới an
toàn và không bị đối phương truy kích. Sĩ quan, binh lính đi rồi nếu sau đó dân
chúng có biết thì ta cũng đã rút xong, còn lại bên dân sự thì họ sẽ... tuỳ nghi
di tản. Các anh khỏi phải lo cho họ. Họ sẽ tự tìm lấy xe cộ và đường đi về phía
ven biển. Ta sẽ đón họ ở Nha Trang, Tuy Hoà, cũng không có muộn đâu mà! Các anh
cứ làm đi. Làm sao xong trước đêm 16 là hay nhất. Có gì khó khăn, tôi và anh Cẩm
sẽ giúp các anh giải quyết từ chiều nay, ngày mai và cả ngày 16 nữa, nghe!
Mọi người đứng dậy,
không khỏi bàng hoàng về cuộc di tản lớn này. Riêng với Phú thì quyết định của
tổng thống như một gáo nước lạnh giội xuống đầu tư lệnh vùng 2 chiến thuật:
Nhớ lại sáng hôm qua ở
Cam Ranh, Thiệu hỏi:
- Anh có thể giữ được
Cao Nguyên được bao lâu nữa?
- Dạ, nếu được chi viện
tối đa thì tôi có thể giữ được một tháng!
Thiệu nói, giọng quả quyết!
- Rút! Rút về giữ vùng
ven biển, đông dân...
Thấy Phú còn ngần ngại,
Thiệu nhấn mạnh:
- Chỉ có rút hoặc là
anh sẽ bị thay thế!
Phạm Văn Phú không
dám cưỡng lại ý kiến của Thiệu đành phải cúi đầu tuân thủ. Phú cũng thấy những
người có mặt ở Cam Ranh sáng hôm qua chẳng ai dám có ý kiến gì ngược lại ý kiến
của tổng thống, đó là đại tướng Cao Văn Viên, đại tướng Trần Thiện Khiêm và cả
trung tướng Đặng Văn Quang - cố vấn an ninh của tổng thống.
Cho nên, về đến Plây
Cu, nói với tướng tá cho “phải phép” thế thôi, thực lòng Phú rất hoang mang, lo
lắng như chưa bao giờ phải lo toan đến thế! Rút bỏ Cao Nguyên rồi sẽ ra sao? Chắc
chắn tình hình sẽ xấu đi ghê gớm. “Phải rút bỏ Cao Nguyên!” Nghe như sét đánh
ngang tai, ai mà không choáng váng? Quyết định này lại được nói ra từ miệng ông
Thiệu, người đang có quyền cao nhất Việt Nam cộng hoà! Ông Thiệu sao bữa hôm
qua lại lạnh lùng đến thế? Và còn tàn nhẫn nữa? Phú không được tranh luận dài
dòng. Những người khác có mặt cũng cứ răm rắp tuân theo. Chỉ có Đặng Văn Quang
là có vẻ cảm thông với nỗi khổ tâm của Phú, ngồi bên cạnh mình, Phú đưa mắt dò hỏi ý kiến của Quang, Quang nói nhỏ
cho Phú đủ nghe:
- Tổng thống đã quyết định
như thế rồi, anh phải tuân thủ trước đã. Đó mới là thượng sách. Đừng có cãi lại,
đừng có chống lệnh mà... dại !
Giờ phút ấy thật là
nghiêm trọng. Thấy Phú đã chịu tuân thủ mệnh lệnh của mình, Thiệu đứng lên
ngay:
- Thôi nhé! Anh Phú là
tư lệnh, anh Cẩm là phó tư lệnh, về Plây Cu cứ thế mà làm!
Phú chợt hiểu ra: cuộc
họp này không có mặt
cả Nguyễn Cao Kỳ, phó tổng thống? Sao vậy? Một quyết định quan trọng như thế này mà chỉ do một người quyết định: ông Thiệu!
Bước lên trực thăng
trở lại Cao Nguyên, Phú thấy buồn rười rượi... mới có tám tháng làm tư lệnh
Vùng 2 chiến thuật, chưa kịp thi thố tài năng đã bị mất Buôn Mê Thuột, nay lại
bỏ cả Plây Cu, Kon Tum để co về vùng ven biển. Cả cái phòng tuyến Cao Nguyên
phút chốc lọt vào tay đối phương? Họ sẽ dùng Cao Nguyên làm bàn đạp để đánh về
Nha Trang thì sao? Ông Thiệu có cứu nguy được không? Quyết định này có phải là
sự sáng suốt không? Hay chỉ là một cuộc phiêu lưu, mạo hiểm?
Hơn hai mươi năm, trong cuộc đời làm sĩ quan rồi
lên tá, lên tướng, chưa bao giờ Phú phải chịu một sức ép, một “cú sốc” như hôm
nay! Ông Thiệu còn nói thêm:
- Chúng ta đã chọn con đường số 7 để rút cho
nhanh cho gọn. Các anh phải bảo toàn lực lượng. Nếu để lộ ra, bị đối phương ngăn chặn đón đánh, gây nên tổn thất là rất... nguy
hiểm!
Chỉ có bấy nhiêu câu
nói mà trách nhiệm đã nặng như núi đá đè lên vai. Phú cắn răng chịu đựng suốt dọc
đường bay từ Cam Ranh về Plây Cu, truyền đạt lại cho các tướng tá dưới quyền của
mình với tất cả lo âu:
- Khó lắm! Khó mà giữ
được toàn vẹn bấy nhiêu trung đoàn, liên đoàn, thiết đoàn! Tuỳ nghi di tản tức
là mạnh ai nấy chạy, chạy đi đâu thì chạy? Đến nước này thì sẽ giày xéo lên
nhau mà chạy. Nếu Việt Cộng lại đón đánh bằng xe tăng, đại bác thì coi như là hết
sống! Cho nên Phú cứ phải lặp đi lặp lại là:
- Rút về Nha Trang để thành lập Bộ tư lệnh tiền
phương trước đã, để củng cố, bổ sung lực lượng rồi sẽ tái chiếm Cao Nguyên.
Một sự chuyển động
ghê gớm, Phú tự nhủ:
- Nếu là sự chuyển động
âm thầm thì mới là hay, là tốt, song nếu chuyển động trở thành náo động thì lại
là cả một sự bất hạnh, dẫn đến náo loạn, hỗn loạn từ ngày mai, ngày mốt...
Thời gian chẳng còn
nhiều nữa để mà lo toan công việc rút lui. Phú nói với Cẩm và Lý là hai chiến hữu
tâm phúc nhất:
- Ý ông Thiệu là ý trời!
Chúng ta phải lo lấy cái thân mình trước đã. Đúng 2 giờ chiều 15, ba chúng ta sẽ
bay về Nha Trang, trước hết, nghe! Hành lý phải gọn, nghe chưa?
Lý và Cẩm gật đầu:
- Cứ như thế mà làm!
Sắp xếp mọi việc xong
xuôi, Phú lại gọi thiếu tả Cang đến truyền đạt mệnh lệnh riêng. Cang tròn xoe
hai mắt:
- Rút thật à, anh?
- Thật chứ! Lệnh của tổng
thống, ai cãi lại thì... xin cứ đi tù! Ba chúng tôi đi trước. Anh ở lại thu xếp,
công việc nặng nề đấy. Sớm tối ngày 16 sẽ có trực thăng bay về đón anh!
Sau phút giây choáng váng, Cang trấn tĩnh lại
để nghe nốt mệnh lệnh của Phú:
- Cứ rút êm khỏi Plây
Cu đã! Về đến Nha Trang sẽ lại bàn công chuyện khác. Anh cứ yên tâm. Đừng có thắc
mắc nhiều nữa. Tôi sống được thì anh cũng sống được! Sợ quái gì! Chỉ có quân sự
là được rút, còn dân sự thì mặc kệ chúng nó. Anh phải tuyệt đối bí mật, lộ ra
thì khó mà rút được đấy, hiểu không?
Cuối cùng thì Cang đã
nói lắp bắp:
- Dạ, dạ, tôi đã rõ!
Nhưng mà khó, khó lắm...
Phú phải nhắc lại:
- Thì... tôi có nói là
dễ dàng đâu! Chưa bao giờ có cuộc rút lui lớn như thế này, lại phải làm ngay,
làm gấp rút mới chết chứ. Nhưng mà ta cứ phải làm, anh rõ chưa?
- Dạ. Tôi đã rõ!
Cang đáp lại như một
cái máy. Trong đầu hắn vừa loé lên một tia sáng mới. Hắn bậm môi, nghĩ đến những
mưu toan táo bạo mà hắn không thể nói ra với bất cứ ai, kể cả với Phú..
XVII
LÃNG TỬ THỨC DẬY SAU
MỘT HỒI CHUÔNG điện thoại đổ đồn. Anh cầm ống nghe:
- Ai đó? Tôi, Lãng Tử
đây, tôi nghe!
A! Trời ơi! Ông Phú đấy
hả? Tôi đang rất mong tin tức của ông..
Từ đầu dây nói đằng
kia, Phú nói:
- Ông Lãng Tử thân mến
của tôi! Chắc ông nghe tin chiến sự rồi? Buôn Mê Thuột thất thủ rồi, nhưng
chúng tôi sẽ tái chiếm. Phải có thời gian chuẩn bị kỹ. Do đó tôi và Bộ tư lệnh
tạm thời phải chuyển về Nha Trang. Đại bản doanh sẽ đóng ở Nha Trang, ở đó như
ông đã biết, tôi có một biệt thự. Tôi muốn ông đưa cô Lệ Ninh về Nha Trang với
tôi...
- Tôi ở Đà Lạt không được sao?
- Không nên ở Đà Lạt,
bởi vì Việt Cộng sẽ quấy rối, ông lại phải chạy loạn. Tôi và ông Đặng Văn Quang
đã bảo lãnh cho ông thì ông nên về Nha Trang với tôi. Ông ở Đà Lạt, nếu cảnh
sát đô thành lại làm phiền ông thì sao? Ông cứ về Nha Trang với tôi là hơn cả.
Nha Trang, bờ biển thơ mộng, tha hồ cho ông Lãng Tử viết văn, làm thơ với cảm hứng đôi dào nhất! Ô kê đi nào.
Lãng Tử nghe nói đến
cảnh sát đô thành, lại giật thót mình. Chẳng cần suy nghĩ gì thêm, anh nói ngay
với Phú:
- Ô kê! Ô kê!
Phú nói tiếp qua dây
nói:
- Tôi quá bận, ông
thông cảm cho tôi. Ngày mai 15-03-1975 tôi bay đi Nha Trang rồi. Tôi sẽ cho tài
xế đưa xe Méc-xê-đéc của tôi lên Đà Lạt đón ông và cô Ninh về Nha Trang. Phải đi lên Kon Tum, qua đường số 19 về Quy Nhơn rồi theo quốc
lộ 1 về Nha Trang. Xe của tôi chạy êm ru, ông và cô Ninh sẽ đến Nha Trang lúc 4
giờ chiều mai. Lẹ lên, tôi chờ ông đó! Nếu muốn nghỉ lại Plây Cu cũng được.
- Cám ơn! Cám ơn!
Lãng Tử đặt ống nghe,
vừa lúc Lệ Ninh tung chăn, ngồi nhỏm dậy:
- Lại về Nha Trang, phải
không, anh?
Lãng Tử vuốt tóc
Ninh:
- Ừ, về Nha Trang. Ông Phú rất tha thiết, rất
nhiệt tình mời anh và em về. Anh sẽ nói với anh chị Đạt để cho chúng mình đi
Nha Trang.
Lệ Ninh gục đầu vào
vai Lãng Tử:
- Anh đi đâu, em đi đó.
Về Nha Trang đẹp quá, có kém gì Đà Lạt đâu, phải không, anh?
- Ra Nha Trang, hưởng
tuần trăng mật ở đó. Sẽ lại gặp ông Phú và em Ngọc Ngà!
- Tha hồ tắm biển, phải
không, anh?
Mười hai giờ trưa
ngày 15, Lãng Tử và Lệ Ninh đã chia tay với vợ chồng ông Đạt, lên xe của Phú, rời
Đà Lạt, về Nha Trang.
Ông Đạt không quên dặn
dò Lãng Tử:
- Thời thế có thể còn đổi thay nhiều, chú nên thận
trọng. Phú là nhà
võ, chú là nhà văn. Suy nghĩ và hành động sẽ không
giống nhau. Chú phải cố gắng giữ mình, đừng để mình sa đà
vào lầm lỗi! Tôi
tin là chú có bản lĩnh vững vàng, chú sẽ gặp lại được mọi sự tốt
lành...
- Dạ, em cám ơn anh chị!
- Nhớ biên thư và điện thoại về đây nhé!
- Dạ.
*****
Chiếc xe Méc-xê-đéc
chở Lãng Tử và Lệ Ninh về đến Plây Cu lúc trời đã xế chiều.
Người lái xe, trung
sĩ Lâm nói với Lãng Tử:
- Thưa anh, mời anh ghé
lại Sở chỉ huy của thiếu tướng, thiếu tá Cang hẹn đợi em ở đó.
Chiếc xe dừng lại trước
dinh của Phú.
Trung sĩ Lâm hỏi tên
lính gác:
- Ông thiếu tá có ở đây
không? …
- Dạ, ông thiếu tá có dặn
lại: nếu anh về thì mời anh xuống biệt thự Dạ Lan Hương…
Lâm lại hỏi thêm:
- Thiếu tướng tư lệnh
đi chưa?
- Dạ, thiếu tướng vừa
bay đi họp ở Nha Trang.
- Cùng đi còn có ai?
- Dạ, có chuẩn tướng Cẩm
phó tư lệnh và đại tá Lê Khắc Lý, tham mưu trưởng,...
- Thôi được rồi. Nếu
ông thiếu tá về đây hỏi tôi thì nói tôi đã đưa vị thượng khách của thiếu tướng
về Dạ Lan Hương rồi nhé!
- Dạ! Trung sĩ Lâm
quay ra xe, nói với Lãng Tử:
- Xin mời anh chị đi
cùng em về biệt thự Dạ Lan Hương ở ngoại ô phía Nam thị xã...
Lãng Tử hỏi:
- Có phải đó là nhà khách của quân khu?
- Dạ. Phải. Nhà khách
của thiếu tướng, có các vị thượng khách mới được nghỉ ở đây...
Tháng trước, khi mới tới
Plây Cu, Lãng Tử có nghe Phú nói đến cái biệt thự này với câu nói thật hóm
hình:
- Hôm nào thật rảnh,
tôi sẽ mời ông đến nghỉ và xem vũ khúc “Nghê Thường” ở Dạ Lan Hương….
Lãng Tử hiểu ngầm rằng
đó là nơi hành lạc của các vị tướng lĩnh Sài Gòn khi đến kinh lý vùng Cao
Nguyên này, chẳng hạn như tướng Đặng Văn Quang, Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm.
Những đêm “nhất dạ đế vương” sẽ được tổ chức ở Dạ Lan Hương...
Hôm nay, Phú bay đi
Nha Trang rồi. Còn ở lại có thiểu tá Cang. Trung sĩ Lâm giải thích:
- Ở Dạ Lan Hương yên
tĩnh hơn, xa trung tâm thị xã thì khỏi lo bị pháo kích.
- Mấy đêm nay vẫn còn
bị pháo kích?
- Dạ. Các ông Việt Cộng
vẫn bắn vào khu sân bay và doanh trại trung đoàn 44, 45...
Chiếc xe Méc-xê-đéc lại
quay mũi về hướng Nam, lăn bánh về biệt thự Dạ Lan Hương.
Lãng Tử nói nhỏ với Lệ
Ninh:
- Mấy anh này lại muốn
mời ta nghỉ lại qua đêm ở đây chăng? Cũng được, anh và em nghỉ lại rồi sớm mai
đi Nha Trang cũng chưa muộn.
Con đường rải đá cuội
hơn ba trăm mét dẫn vào biệt thự Dạ Lan Hương toạ lạc trong khu vườn có nhiều
cây cối xanh um. Biệt thự được xây theo kiểu nhà của người Pháp: có tầng trệt
và tầng lầu 1 với hai phòng khách lớn có thể mở tiệc chiêu đãi và làm vũ trường
cho các vị vương tôn công tử, những phu nhân, lệnh ái..
Từ ngoài đường vào
khuôn viên này đã có hai trạm gác, ngày đêm có lính canh phòng cẩn mật.
Khi chiếc xe
Méc-xê-đéc lăn bánh từ từ vào khu biệt thự thì những người lính gác ở dây đều
biết: đây là xe của ông thiếu tướng. Trong xe nếu không có ông thiếu tướng ngồi
bên cạnh tài xế thì ắt hẳn cũng đều thượng khách của quân khu.
Họ đều đứng nghiêm
chào theo nghi lễ của nhà binh.
Xe dừng lại trong
sân. Lãng Tử và Lệ Ninh được trung sĩ Lâm hướng dẫn lên lầu 1.
Ra đón khách là một
người đàn bà đứng tuổi, được anh tài xế gọi bằng cái tên “chị Ba”.
- Chị Ba! Theo lệnh của thiếu tướng tư lệnh, em
đi Đà Lạt đón anh Lãng Tử là nhà báo, bạn của thiếu tướng về Nha Trang. Anh
Lãng Tử ghé qua đây nghỉ tối nay ở đây để sớm mai mới đi Nha Trang. Cùng đi,
còn có cô Ninh...
Chị Ba đã quá quen với
công việc lễ tân, trà thuốc được bày lên bàn. Chị đon đả mời chào:
- Mời anh và cô Ninh lại
đây... Đây là phòng khách, kề bên là phòng nghỉ...
Lãng Tử nói lời cảm
ơn chị Ba. Anh đưa mắt nhìn toàn bộ cơ ngơi Dạ Lan Hương, nơi chỉ dành cho các
vị thượng khách của quân khu 2. Từ thời các ông tướng cũ đã coi Cao Nguyên như
một vương quốc với dê béo, rượu nồng, hầu non, gái đẹp, từ tướng Dư Quốc Đống đến
tướng Nguyễn Văn Toàn, nay lại là thiếu tướng Phạm Văn Phú...
Ở đây, chẳng phải chỉ
có thiên nhiên ưu đãi con người, mà cả con người cũng ưu đãi con người. Hội đồng
tướng lĩnh của Nguyễn Văn Thiệu đã cho phép các ông tướng trẻ được tự do cát cứ
một vùng để nói rằng: “Chánh phủ không tiếc gì Anh. Vậy Anh phải xả thân vì
chánh nghĩa quốc gia! Phải chống cộng đến cùng, phải “tìm diệt” và được quyền bắn
bỏ bất cứ phần tử nghi vấn nào!" Vì vậy, qua mỗi nhiệm kỳ, các vị tư lệnh
qua đây, ngoài bổng lộc do các quan chức bản địa cống nạp, còn phải làm chức năng trung chuyển ma tuý từ thủ đô Lào
qua đây, về Sài Gòn. “Cơm đen” được đóng hòm có dán nhãn như những hòm đạn, hòm
vũ khí của quân lực Việt Nam cộng hoà chuyển vận bằng những đoàn xe quân sự có
tiền hô, hậu ủng đi rầm rập mà không một ai có quyền kiểm soát. Quân cảnh cũng
phải kính nể khi những xe này có giấy thông hành đặc biệt của Bộ quốc phòng hoặc
Bộ tổng tham mưu.
Sau khi nhận một
phòng ngủ có gắn máy lạnh, xếp bỏ hành lý, Lãng Tử và Lệ Ninh lại ung dung xuống
sân đi dạo một vòng chung quanh biệt thự. Nếu chỉ ở đây, ít ai đã nghĩ đến Plây
Cu đang nằm trong tầm đạn pháo của đối phương. Dạ Lan Hương ngày ngày yên tĩnh
trong khuôn viên thoáng mát. Khi có khách, ở đây mới nhộn nhịp kẻ ra, người
vào. Tiếng nhạc, tiếng cười nói và tiếng mở sâm banh lốp bốp. Sau giờ nhảy của
từng cặp nam, nữ, là yến tiệc linh đình và những màn múa được gọi là vũ khúc
“Nghê Thường” trong những đêm hoan lạc thâu đêm, suốt sáng. Chủ nhân là tư lệnh
và khách là các vị “danh tướng” từ Sài Gòn lên. Vũ nữ như một bầy tiên trẻ đẹp
được huấn luyện thành thạo từ “nghề chơi cũng lắm công phu” sẵn sàng phục vụ hết
mình dưới quyền điều khiển của “chị Ba”.
Lãng Tử dắt tay Lệ
Ninh đi dọc hành lang qua một dãy mười phòng được trang hoàng lộng lẫy, bữa nay
không có phòng nào có khách vì Plây Cu đang bị đặt trong tình trạng bị pháo
kích, được báo động 24 giờ trên 24 giờ liền.
Lãng Tử chợt nhìn thấy
một cô gái trẻ tuổi chừng 17-18 ngồi sụt sùi khóc ở phòng số 2. Anh dừng lại hỏi:
- Em là chiêu đãi viên ở
đây?
Cô gái mếu máo:
- Thưa ông, con...
con... mới bị bắt vô đây...
Thấy cách xưng hô lạ tai,
đầy vẻ sợ sệt của cô gái, Lãng Tử hỏi tiếp:
- Em mới bị bắt vô
đây? Nhà em ở đâu?
Lệ Ninh cũng tỏ vẻ
kinh ngạc, hỏi tiếp;
- Em kể lại đi nào? Vì
sao em bị bắt? Vì sao mà phải khóc?
Cô gái giàn giụa nước
mắt, nói qua tiếng nấc:
- Cả nhà em bị bắt, ông thiếu tá Cang nói ba má
em là... Việt Cộng nằm vùng!
Lãng Tử lại hỏi: Cả
ba má em nữa?
- Dạ. Ba má em từ xưa đến
nay chỉ biết làm ăn buôn bán, chứ có là Việt Cộng bao giờ đâu! Ba má em ở đường
nào?
- Dạ ở đường Trần
Hưng Đạo, tiệm buôn Đại Thành đó, thưa ông.
Lãng Tử hỏi tiếp:
- Giờ này ba má cô
đâu rồi?
- Dạ. Thưa ông: ba má
em bị giam dưới hầm rượu kia! Cô gái chỉ tay về phía bên trái, nơi có một tên
lính gác vác súng lăm lăm.
Cô gái nói tiếp:
- Ba má em bị ông thiếu
tá còng tay từ chiều. Còn anh trai em thì bị bắt giải về đâu, em cũng không biết
nữa...
Lãng Tử hỏi:
- Nhà cô có bị lục
soát?
- Dạ, thưa: có ạ. Hòm,
tủ đều bị cạy hết. Tài sản bỏ đầy 10 va-li, chuyển lên xe, đưa về đây tất cả...
- Để ở đâu?
- Dạ, thưa: ở phòng kề
bên phòng giam ba má em đó.
Lãng Tử giơ tay:
- Thôi được rồi. Để
tôi hỏi lại ông thiếu tá, nếu bị oan thì ông thiếu tướng tư lệnh sẽ xem xét...
Lãng Tử dắt tay Lệ
Ninh lên lầu:
- Lên đây em! Anh sẽ hỏi lại cô Ba xem cái vụ
này là thế nào đây? Rắc rối quá. Đây có phải là trại giam đâu mà lại giam giữ cả “Việt Cộng” ở đây?
Bước vào phòng khách
trên 1,
Lãng Tử hỏi ngay cô Ba:
- Chị Ba! Sao lại có
mấy người bị giam ở dưới kia?
Cô Ba cười:
- Dạ, thưa anh: đó là
một gia đình bị nghi vấn là tiếp tay cho Việt Cộng nằm vùng bị ông thiếu tá
Cang bắt nhốt từ chiều...
- Sao lại nhốt ở đây?
- Dạ, vì ở trại giam
trung tâm thì có thể bị pháo kích nên ông thiếu tá đem về đây cho an toàn.
- Giờ này, ông thiếu tá
đi đâu rồi?
- Dạ, ông lại đi công vụ
rôi.
- Ông ấy có hẹn giờ
nào về không?
- Dạ, thưa không. Nhưng cũng chỉ tới tối là ông ấy
về thôi ạ.
Lãng Tử cắn răng suy
nghĩ một lát mới nói nhỏ với Lệ Ninh:
-Tội nghiệp cho mấy
người này quá. Nếu họ bị oan thì sao?
Suốt trong bữa ăn tối,
Lãng Tử vẫn chưa hết băn khoăn về lời kêu cứu của cô gái. Lệ Ninh phải gắp thức
ăn bón cho Lãng Tử và giục:
- Anh ăn đi đã nào!
Lãng Tử nói:
- Ăn xong, anh phải tiếp
xúc với mấy người bị bắt này mới được!
Rồi anh gọi cô Ba:
- Chị Ba! Tôi là nhà
báo, là bạn của thiếu tướng. Chị cho tôi gặp mấy người mới bị giam giữ ở đây. Nếu
họ đúng là Việt Cộng nằm vùng thì tôi phải viết một bài biểu dương thành tích
truy bắt Việt Cộng của ông thiếu tá Cang…
Cô Ba đã vui vẻ đưa
Lãng Tử đến phòng giam vợ chồng nhà tư sản Đại Thành. Đèn bật sáng, soi rõ hai
người bị còng tay ngồi dựa lưng vào tường.
Lãng Tử nói thẳng thắn:
- Tôi là ký giả Sài
Gòn, nghe nói ông bà bị bắt về tội che giấu Việt Cộng nằm vùng, tôi muốn ông bà
nói rõ sự thật vụ này như thế nào?
Ông Đại Thành khuôn mặt
nhăn nheo, nhìn thật lâu người vừa tự giới thiệu là ký giả rồi nói:
- Dạ, thưa quý ông,
tôi là Đại Thành xưa nay có biết Việt Cộng là ai đâu mà lại bị bắt oan như thế
này. Con trai tôi 20 tuổi bị đánh ngã gục, bị trói giải đi đâu rồi. Con gái tôi
18 tuổi bị giam riêng, còn vợ chồng tôi bị còng tay ở đây... Thưa quý ông, thật
tình là gia đình tôi bị bắt oan...
Lãng Tử đắn đo:
- Nếu ông không bị oan thì sao?
- Thì tôi xin chịu tội
nặng nhất ạ.
- Ông có thể nói lại
lúc ông bị bắt được không?
- Dạ. Trưa nay,
ông thiếu tá đi xe đến và đọc lệnh khám xét nhà rồi bắt hết mọi người đưa đi
cùng với toàn bộ vàng, bạc của gia đình tôi.
- Có lập biên bản và kiểm
kê không?
- Dạ. Có. Trước khi
ký biên bản, tôi có ghi: gia đình tôi bị oan, xin được cứu xét lại...
Lãng Tử chưa hiểu rõ
sự thật về vụ bắt bớ này, song cứ nhìn vẻ mặt phúc hậu của ông già, anh phân
vân tự hỏi: “Hay là thiếu tá Cang lại bắt nhầm còn hơn bỏ sót?” Nếu ông già này
lại là nạn nhân của một vụ bắt nhầm thì sao? Xưa nay, chờ được vạ thì má đã
sưng. Anh dự định sẽ hỏi lại thiếu tá Cang và có thể hỏi lại Phạm Văn Phú khi gặp
lại Phú ở Nha Trang vào ngày mai. Anh nói lại với ông Đại Thành:
- Tôi chỉ là ký giả có
công chuyện đi qua đây. Ông nói vậy, tôi đã ghi nhận để xác minh giùm ông. Còn
việc bắt giữ hoặc tha bổng lại là quyền của ông thiếu tá. Ông hãy chờ sự giải
quyết của ông thiếu tá.
Ông già chắp tay vái ba vái:
- Thưa quý ông, tôi
không may gặp cái nạn này. Tôi đã lạy ông thiếu tá nhưng ông ấy cứ bắt tôi và
nói tội tôi là tội đáng chết vì có chứa chấp Việt Cộng nằm vùng. Nay nếu vì hồng
phúc nhà tôi gặp quý ông ở đây, xin quý ông làm phúc, minh oan cho gia đình
tôi. Tôi không bao giờ quên ơn quý ông...
Lãng Tử an ủi ông
già:
- Ông cụ phải đợi ông
thiếu tá về thôi. Tôi
sẽ nói lại để ông thiếu tá cứu xét...
Ông già lại vái lạy
ba vái rồi cúi đầu đi về chỗ cũ, ngồi thụp xuống bên cạnh bà vợ.
Lãng Tử lại lên lầu,
ngồi vào ghế cùng với Lệ Ninh và cô Ba.
Cô Ba hỏi:
- Ông già nói sao,
anh?
- Ông ta một mực kêu
oan, đề nghị ông thiếu tá cứu xét...
Cô Ba lắc đầu:
- Mấy bữa nay nhộn nhạo
lắm. Nhà giàu bỏ về Sài Gòn nhiều lắm. Ông Đại Thành giàu có vào loại nhất nhì ở
đây, sao còn ở lại. Có lẽ có liên lạc với phía bên kia nên mới bị bắt. Theo em
thì có thể không bị oan đâu!
Lệ Ninh nhún vai nói với cô Ba:
- Em thấy thời này
sao mà... dễ sợ? Nghèo thì khổ đã đành. Giàu có mà cũng không thoát được tai vạ.
Sống làm sao bây giờ?
Lãng Tử hỏi thêm:
- Tháng trước tôi ở đây
với ông Phú thì Plây Cu còn yên ổn lắm mà? Bữa nay sao lại nhộn nhạo quá?
Cô Ba làm ra vẻ thành
thạo:
- Việt Cộng đánh vào Buôn Mê Thuột rồi! Em nghe
họ làm dữ lắm. Pháo kích vào đây nhiều hơn. Dân chạy loạn về đây, ai cũng sợ sẽ
lại phải chạy nữa.
- Theo chị Ba hiểu thì liệu rồi nay mai ở đây có
phải chạy loạn
không?
- Có thể cũng phải chạy.
Việt Cộng chiếm giữ ở đây thì khó nhưng họ đánh vào thì rất có thể. Hai bên đánh
nhau thì tên bay, đạn lạc. Dân không chạy mà bị chết thì kêu ai?
- Chị Ba có chạy
không?
Cô Ba cười rất có
duyên:
- Em ấy à? Em nhẹ gánh
lắm. Lúc nào cần đi, em vẫy xe là mấy anh cho quá giang đi liền!
Ba người nói chuyện
lai rai cho đến lúc có tiếng còi xe inh ỏi ngoài cổng.
Cô Ba thảng thốt kêu
lên:
- Xe ông thiếu tá đã về
đó!
Cô Chín lật đật xuống
lầu, bước ra sân đã thấy thiếu tá Cang từ trên xe bước xuống, phía sau xe Jép là một chiếc xe tải
phủ bạt bịt bùng.
Cô Ba nói ngay:
- Anh đi công vụ, ở nhà
có khách đó.
- Ai?
- Ông Lãng Tử và cô Lệ
Ninh.
- Họ đâu rồi?
- Đang ở trên lầu!
Tên Cang giật mình:
- Tôi quên không dặn cô
Ba. Ông Lãng Tử là thượng khách của thiếu tướng, phải đón tiếp chu đáo, nhưng
sao không mời nghỉ ở biệt thự Phong Lan mà lại đưa về đây? Ở đây, hôm nay tôi tạm
giữ mấy tên tình nghi Việt Cộng, còn phải xét hỏi kia mà!
Cô Ba lại khoe:
- Ông Lãng Tử thấy con bé con lão Đại Thành khóc
lóc lại hỏi vân vi rồi lại hỏi chuyện cả lão Đại Thành Ba nữa đó.
Cang trố mắt:
- Thôi chết rồi!
Mấy ông ký giả là lôi thôi lắm, lại viết báo về vụ này thì rắc rối quá! Ông
Lãng Tử có nói gì không?
- Ông ấy nói: họ kêu oan, chờ ông thiếu tá về sẽ
giải quyết!
Cang giãy nảy lên:
- Đó. Thật là lôi thôi
quá! Để rồi tôi lại phải giải thích cho ông ta hiểu! Yêu cầu đừng có đưa lên
báo chí làm gì!
Cô Ba nhìn chiếc xe bịt
bùng, hỏi: Xe kia chở gì đó, anh?
- Vẫn là mấy tên nghi vấn
Việt Cộng, phải bắt hết, nếu không bắt là chúng nó làm loạn, làm nội ứng cho Việt Cộng từ bên ngoài đánh vào thì rất nguy hiểm cho ta! Cô Ba mở cửa mấy
cái phòng kia, nhốt hết bọn này vào. Phòng số 5 để chứa đồ đạc, tài sản tịch
thu được của chúng! Cô bảo mấy thằng áp tải đưa hết bọn này vào. Chúng nó đã bị
còng tay hết cả. Có hai con bé cần nhốt riêng. Còn ba đứa đàn ông thì nhốt vào
một phòng!
Nói xong, Cang xồng xộc
nhảy lên lâu 1 làm bộ vồn vã với Lãng Tử:
- Trời ơi! Anh! Ông Phú
đi Nha Trang lúc 2 giờ chiều nay rồi, ông dặn lại em phải đón anh và cô Ninh,
giữ anh và cô ở lại đây rồi sớm mai cho lính đưa ra Nha Trang. Em bận mấy công
chuyện, em dã dặn cô Ba bố trí chỗ nghỉ cho anh và cô Ninh...
Lãng Tử cười thân mật:
- Có. Ông Phú có “phôn” cho tôi mà! Sớm mai đi
Nha Trang cũng được! À mà tôi nghe cô Ba nói chuyện mấy bữa nay ở đây chộn rộn
lắm phải không?
- Dạ. Như anh đã biết,
sau khi Buôn Mê Thuột thất thủ thì Plây Cu và Kon Tum bị pháo kích dữ hơn. Nhiều
nhà buôn lớn chạy về Sài Gòn để lánh nạn. Việt Cộng nằm vùng lại hoạt động, gây
rối, quậy phá. Vì vậy theo lệnh ông Phú, em đã cho bắt, thu gom mấy tên nghi vấn...
Lãng Tử hỏi:
- Sao có ông già dưới
kia kêu oan?
Cang nói luôn một hồi:
2
- Đứa nào mà chẳng kêu oan! Em bắt chúng nó phải
có đầy đủ chứng cứ từ mấy tên Việt Cộng khai ra. Nếu bắt tầm bậy thì nó đâu có chịu? Em làm rất
có bài
bản, và đề phòng mấy thằng em làm ẩu, em phải điều tra cẩn
thận rồi mới bắt chứ.
Lãng Tử đành phải rút lui ý kiến:
- Ừ, làm đúng bài bản để khỏi oan
cho dân là được!
Tên Cang khoát tay:
- Em cũng vừa bắt thêm
5 tên nữa, vừa đưa về giam dưới kia. Bữa mai, bửa mốt em sẽ còn gom hết chúng
nó. Ông Phú cho phép em được “tiền trảm, hậu tấu”. Đứa
nào chống đối chánh phủ, em bắn bỏ liền!
Ngồi chơi một lát,
tên Cang cáo lui:
- Mời anh và cô Ninh
đi nghỉ, em phải xuống xem mấy cái phòng giam này, lính canh gác ra sao?
Tên Cang xuống sân, gặp
lại cô Ba, nói nhỏ:
- Ổn rồi. Tôi phải
nói cho ông ký giả biết đừng có vội tin mấy lão già này. Nhưng có điều tôi hơi
buồn là...
- Là cái gì?
Tên Cang nháy mắt:
- Cô Ba biết không? Nếu không có ông Lãng Tử vào
đây thì tôi đã bắt con bé con gái lão Đại Thành kia phải “nộp mạng” rồi, con bé
ngây thơ đến là... ngon! Thôi đành phải chịu!
Cô Ba đấm vào lưng
thiếu tá:
- Anh mà làm dữ quá,
em sẽ nói với bà xã của anh là... anh sẽ chết!
Tên Cang cười hềnh hệch:
- Đừng có nói! Anh sẽ
cảm ơn em nhiều và sẽ hậu tạ mà!
XVIII
TÁM GIỜ SÁNG NGÀY
16-03-1975.
Lãng Tử đứng đợi xe
cùng với Lệ Ninh ở biệt thự Dạ Lan Hương.
Mười lăm phút sau,
trung sĩ Lâm mới lái chiếc xe Méc-xê-đéc đến đón. Lâm mở cửa xe và nói:
- Em xin lỗi anh chị
vì em đến trễ để anh chị phải chờ đợi....
Lãng Tử cười vui:
- Không sao mà. Từ đây đi Nha Trang, đi lúc
nào cũng vẫn cứ sớm.
Lâm khoe:
- Hôm nay, quang cảnh
phố xá Plây Cu lạ lắm anh chị ạ.
- Sao?
- Dân chúng nháo nhác
chạy loạn. Họ kháo nhau là Việt Cộng đánh chiếm Plây Cu tới nơi rồi, cũng như
đã đánh chiếm Buôn Mê Thuột. Từ chiều hôm qua đến sáng hôm nay, sĩ quan nhà
giàu ùn ùn kéo nhau đến sân bay để mua vé máy bay di tản đi Sài Gòn, đi Nha Trang. Các ông phi công đưa vợ con bay trước, giá vé máy bay lên 5 chỉ vàng
rồi lại lên tới một cây vàng một vé!...
- Có ai giữ trật tự
ngoài đường phố không?
- Quân cảnh và
“phú-lít” cũng đi đâu hết. Có mấy thằng lính cướp giật đồ của dân chạy loạn,
dân kêu cứu mà chẳng có ai cứu.
Cô Ba từ lầu 1 xuống
tiễn chân Lãng Tử nghe lỏm chuyện của trung sĩ Lâm, nói chen vào:
- Chú Lâm! Chiều
nay ở Nha Trang về đây, cho chị đi nhờ “quá giang” với nhé!
Lâm hỏi:
- Chị đi về đâu?
Cô Ba
- Thì cứ về đây đã nào!
Người ta chạy loạn, mình cứ ở đây, chờ chết à?
Lâm cười:
- Chị em mình chết
sao được mà sợ? Em sẽ về đón chị đi trước 5 giờ chiều. Anh Cang đâu, hở chị?
Cô Ba chỉ lên lầu:
- Ông thiếu tá Cang
đi công vụ suốt đêm qua, gần sáng mới về còn say xỉn nằm ngủ như chết ở trên lầu
kia...
- Còn mấy người bị bắt? Hơn mười người còn còng
tay giam đây bốn phòng kia kìa. Hôm nay, ông Cang mới lục tội từng người!
Lâm thấy cần phải đi,
nói với cô Ba:
- Em đi, chị nhé! Chiều
em về sớm!
Lãng Tử và Lệ Ninh
lên xe sau khi lưu luyến tạm biệt cô Ba.
Lâm lái xe quay ra cổng.
Lãng Tử nói với Lâm:
- Chú Lâm cho xe đi từ
từ thôi nhé, để anh quan sát phố phường xem dân chạy loạn như thế nào? Việt Cộng
chưa vào mà đã chạy rối tinh, rối mù...
- Ai cũng sợ tên bay, đạn
lạc, sợ chết...
Xe đã ra đến đường số
14. Người chạy bộ nhiều hơn hơn người đi xe đò. Có lẽ vì xe đò đã chở đầy người
chật như nêm cối, như lèn cá hộp.
Lệ Ninh lắc đầu:
- Khổ quá anh ơi! Anh
em mình mà không có chú Lâm chở chiếc xe này thì đến kẹt lại mất thôi..
Lãng Tử nói chậm chạp:
- Cũng có thể ngày một,
ngày hai, Việt Cộng sẽ đánh chiếm Plây Cu, cho nên dân tự động bỏ thị xã về quê
là có lý lắm...
Lâm cứ cho xe đi từ từ
và không hề biết đến hai chiếc xe hon đa chở mỗi xe hai người đang vọt lên phía
trước và cả hai người cầm lái đều giơ tay ra hiệu cho Lâm dừng lại.
Lâm giật mình nói với
Lãng Tử:
- Anh ơi! Họ làm gì đây
mà lại yêu cầu xe của ta dừng lại ?
Lãng Tử nhìn ra phía
trước và nói:
- Thì chú cứ dừng lại,
xem họ muốn gì nào?
Xe của Lâm dừng lại.
Người đi xe máy có
dáng cao lớn, mặc thường phục, đội mũ lưỡi trai như một anh tài xế nói với Lâm:
- Xe Méc-xê-đéc này có
phải xe của ông Phú?
- Dạ, phải...
- Ông Phú giao cho ông
Cang lái, tại sao anh lái đi anh đâu? Hai người trên xe là ai?
Lâm vặn lại:
- Xe này là xe của thiếu
tướng tư lệnh. Ở Plây Cu này ai mà không biết! Các ông là ai mà có quyền hỏi
tài xế? Tôi là trung sĩ đây...
Người đàn ông cao lớn
nói dõng dạc: của
- Chúng tôi là chiến
sĩ Quân Giải Phóng, có nhiệm vụ kiểm tra và giữ lại chiếc xe này vì xe này là
xe của tướng Phú! Nếu là xe dân sự thì cứ chạy. Nhưng là xe quân sự mà lại là
xe của tư lệnh nên bất kỳ ai lái, chúng tôi cũng giữ lại!
Xe tắt máy. Lâm và
Lãng Tử cùng Lệ Ninh đều bước xuống xe.
Người cao lớn nói:
- Mời tất cả vào quán
này đã!
Anh ta chìa tay về
phía tiệm ăn Triều Châu, lúc này còn vắng khách.
Thế là cả bốn người trên
hai chiếc xe máy cùng ba người đi xe hơi đều bước vào quán. Người cao lớn mời tất
cả ngồi chung quanh chiếc bàn ăn rồi nói tiếp:
- Bốn chúng tôi đây
là chiến sĩ thuộc lực lượng Quân Giải Phóng Plây Cu, chuẩn bị tiếp quản thị xã
này. Các anh các chị đã thấy dân đang chạy loạn. Lính sắp kéo đi hết, lại có
người còn cướp giật đồ của dân. Chúng tôi đã cảnh cáo một số người lính vô kỷ
luật và có nhiệm vụ kiểm tra chiếc xe này vì nó là xe của tướng Phú! Anh lái
xe! Anh cho biết trên xe ngoài hai anh chị này, có còn chở tài liệu, tài sản gì
của ông Phú, ông Cang?
Lâm đáp run run:
- Dạ, thưa không có
gì!
Lãng Tử tự trình bày:
- Tôi là Lãng Tử, ký
giả từ Sài Gòn lên. Tôi là bạn của ông Phú và cô bạn gái đây được ông Phú mời về
Nha Trang và giao cho anh trung sĩ này chở đi...
Người cao gật đầu:
- Tôi có nghe tên ông Lãng Tử! Hình như ông lên
đây từ tháng 2?
- Dạ. Phải?
- Rồi ông lên Đà Lạt?
- Dạ, phải. Tôi mới từ
Đà Lạt về đây chiều hôm qua. Và ông nghỉ lại biệt thự Dạ Lan Hương.
Lãng Tử không giấu nổi
kinh ngạc:
- Dạ, phải!
Lâm nói chen vào:
- Thưa ông, vì ông Lãng
Tử là thượng khách của thiếu tướng tư lệnh.
- Tôi biết! Bây giờ cảm
phiền anh cho chúng tôi làm thủ tục kiểm tra xe và hành lý...
Lâm cúi đầu:
- Dạ, xin các ông cứ
làm nhiệm vụ...
Lãng Tử cảm nhận sự đột
biến trong tư tưởng của mình khi anh được tận mắt chứng kiến hoạt động của nhóm
người tự nhận là “lực lượng đặc biệt của Quân Giải Phóng tỉnh Plây Cu”. Và cuộc
kiểm tra xe của tướng Phú nhất định sẽ cắt ngang chuyến đi của anh về Nha
Trang. Anh tự nhủ:
- Ta sẽ phải hành động
kịp thời!
Chờ cho việc kiểm tra xe của các chiến sĩ Quân
Giải Phóng đã xong với kết quả theo họ nói là “xe không có gì!”, Lãng Tử mới
nói với người cao lớn mà anh đoán chừng là đội trưởng:
- Thưa ông! Tôi muốn
được có mấy ý kiến...
Người cao lớn hỏi:
- Ông có ý kiến gì?
Xin cứ nói thẳng!
Lãng Tử nói rành rọt:
- Tôi là ký giả Sài Gòn
vừa bị cảnh sát đô thành doạ khủng bố, vì có tham gia cuộc xuống đường “ký giả
đi ăn mày”, tôi phải lánh nạn lên Plây Cu và nương nhờ sự giúp đỡ của ông Phú.
Song cho đến nay, tôi biết một sĩ quan dưới quyền ông Phú đang lộng hành, lợi dụng
24 giờ vô kỷ luật để cướp bóc, hãm hiếp dân chúng. Tôi có thể điện về Nha Trang
hoặc Sài Gòn yêu cầu can thiệp, song trong tình hình hiện nay, chắc sẽ không có
ai ngăn chặn được bàn tay độc ác của viên sĩ
quan này. May mắn thay, tôi lại gặp được các ông ở đây, nếu các ông làm được việc
cứu dân, trừng trị kẻ ác thì xin các ông hãy ra tay cứu vớt dân lành...
Người cao lớn hỏi
ngay:
- Xin ông cho biết viên
sĩ quan ấy là ai và đang ở đâu?
Lãng Tử nói ngay:
- Đó chính là thiếu tá
Cang, sĩ quan thân cận của ông Phú!
- Hành động của ông này
ra sao?
- Đêm qua ông này đã bắt
về hơn 10 người dân thuộc loại người giàu có ở đây như gia đình ông Đại Thành,
ông Tường Phát và nói rằng họ chứa chấp Việt Cộng nằm vùng. Tôi có tiếp xúc với
họ, họ một mực kêu oan và nhờ tôi minh oan cho họ. Họ còn bị còng tay và giam cả
ở Dạ Lan Hương! Tài sản của họ có nhiều vàng bạc bị tịch thu chất đầy xe chở về
đó. Thiếu tá Cang uống rượu say xỉn đang nằm ngủ li bì ở Dạ Lan Hương. Các ông
có thể đến đó mở cuộc điều tra tại chỗ để giải oan cho mấy gia đình đang bị
giam cầm...
Người cao lớn vui vẻ:
- Tôi thay mặt anh em, cám ơn ông ký giả! Rồi
quay sang anh lái xe:
- Anh có thống nhất ý
kiến của ông ký giả vừa nêu?
Lâm nói:
- Dạ, thưa ông, tôi
hoàn toàn nhất trí.
Vậy anh có thể lái xe
cho chúng tôi đến đó được chứ?
- Dạ, được ạ.
Người cao lớn, chính
là Bảy Hùng quay sang nói với ba người bạn trẻ:
- Anh Trần Kỳ, chú
Tâm, chú Dũng đi với tôi. Ta dùng ngay chiếc xe Méc-xê-đéc này để vào biệt thự
Dạ Lan Hương có lẽ thuận lợi hơn dùng xe máy. Vậy ta sẽ gửi hai chiếc xe máy ở
đây, nhờ ông chủ tiệm Triều Châu giữ giùm. Còn anh em tôi cũng xin cảm phiền
ông ký giả và cô bạn: xin tạm thời ở lại đây, chờ chúng tôi đi làm công vụ
trong vòng một giờ, sẽ có xe đến đón ông và cô....
Lãng Tử và Lệ Ninh
vui vẻ chấp thuận ý kiến của Bảy Hùng trong lúc cả bốn chiến sĩ Quân Giải Phóng
lên xe ô-tô, tạm biệt ông chủ tiệm. Trung uý Lâm mở máy, nhấn ga cho xe quay về
biệt thự Dạ Lan Hương.
Bảy Hùng không quên hỏi
Lâm:
- Ở đó, hiện nay có những ai?
- Dạ, thưa: có ông thiếu tá, cô Ba hai người gác
cổng, một ông đầu bếp nấu ăn, một cô hầu bàn và những người bị bắt về, bị giam
giữ tối hôm qua...
- Chúng tôi cần đến gấp.
Anh cho xe chạy lẹ lên!
Chiếc xe Méc-xê-đéc
lao đi rất nhanh và chỉ mười lăm phút sau đã rẽ vào biệt thự Dạ Lan Hương.
Hai tên lính gác thấy
chiếc xe quay lại, biết là có chuyện bất thường vì từ lâu lắm rồi xe của thiếu
tướng ra vào đây, có ai dám hỏi gì đâu.
Bảy Hùng thấy vẻ sợ sệt
của hai tên lính, quát ngay:
- Sao tụi bay không
canh gác mấy người bị bắt về đây? Chúng nó còn bị nhốt ở đây không hả?
Hai tên lính gác nghe
tiếng quát, sợ hãi thưa:
- Dạ, thưa: họ vẫn còn bị giam trong phòng số
3, số 4, số 5,....
- Ông thiếu tá dậy
chưa?
- Dạ, thưa: ông thiếu
tá còn nghỉ trên lầu...
Bảy Hùng vẫn quát tiếp:
- Chúng bay đưa hai khẩu súng đây, tao vào xem mấy
thằng bị giam kia, đứa nào chống đối, tao bắn bỏ ngay!
Hai tên lính gác cứ
tưởng những người ngồi trên xe là sĩ quan chỉ huy của đội cận vệ trong dinh thiếu
tướng, còn đang lúng túng thì Bảy Hùng đã mở cửa xe bước xuống, tước ngay hai
khẩu súng của hai tên lính gác. Anh cùng với đồng đội nhảy lên lầu.
Tên Cang thấy động, vừa
giụi mắt, chưa kịp ngồi dậy đã bị Năm Dũng trói nghiến hai tay.
- Các anh đã bị bắt!...
…Chúng tôi là đội đặc
nhiệm Quân Giải Phóng được lệnh đến vây bắt các anh để giải thoát cho một số bà
con, cô bác bị các anh hãm hại...!
Tên Cang hoảng sợ, chỉ
nói lắp bắp:
- Dạ, dạ... thưa các ông…
Bảy Hùng nói với Năm
Dũng:
- Các đồng chí xuống sân gom luôn hai tên lính
gác vừa bị tước vũ khí và “cô Ba”, yêu cầu ba người này lên xe để lát nữa đưa họ
về căn cứ cùng với “ngài” thiếu tá Cang!
* * *
Tất cả số người bị
tên Cang bắt về từ hôm qua đều được Bảy Hùng trả lại tự do cùng với tài sản của
từng người. Còn tên Cang được thẩm vấn ngay tại chỗ:
- Anh thu gom số người này và cướp đoạt tài sản
của họ là do lệnh của ai? Có phải theo lệnh tướng Phú?
Tên Cang trả lời đứt
quãng:
- Dạ, thưa ông, con thấy
quân lính Quốc Gia rút chạy, con liều mạng cướp bóc...
- Lính Quốc Gia đã rút hết đâu?
- Dạ, thưa ông: Bộ tư
lệnh gồm có ông Phú, ông Cẩm, ông Lý rút đi Nha Trang từ sáng hôm qua rồi. Phi
công và lính sân bay thì rút theo ông chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang bằng đường
hàng không. Còn quân bộ của 3 trung đoàn, 4 thiết đoàn và 6 liên đoàn biệt động
thì rút theo ông đại tá Phạm Duy Tất từ chiều tối hôm nay 16...
- Tại sao anh biết rõ
như thế?
- Dạ, con được ông Phú
nói cho biết như thế và từ hôm qua kế hoạch “tuỳ nghi di tản” đã được thực hiện
cho đến hôm nay còn di tản lai rai theo đường số 7 về Tuy Hoà.
- Khủng bố và cướp
bóc những gia đình giàu có này, anh có biết anh đã phạm tội như thế nào không?
Và anh sẽ bị trừng trị như thế nào không?
- Dạ, thưa ông: con
có tội... Xin ông tha cho con tội chết ạ…
Bảy Hùng nói dõng dạc:
- Chúng tôi được lệnh
bảo vệ nhân dân và ngăn chặn bàn tay tội ác của các anh, bắt giữ các anh. Còn
xét xử tội trạng của các anh sẽ có toà án nhân dân sau khi tỉnh này được hoàn
toàn giải phóng.
Tên Cang xám mặt. Nó
không nói được gì thêm và lại vô cùng hoảng sợ khi nó nhận thấy trong số bốn
người vừa bắt giữ nó có cả người tù binh bị nó bắt để dụ dỗ đầu hàng và anh ta
đã vượt trại trốn thoát. ..
* * *
Sau khi tống giam tên
Cang, Bảy Hùng bàn ngay với Trần Kỳ và Lê Văn Tâm:
- Thế là đã rõ: địch đang rút đại bộ phận theo
đường số 7 về Tuy Hoà. Các anh phải báo cáo khẩn cấp về trung đoàn để trung
đoàn báo cáo về sư đoàn. Bộ chỉ huy mặt trận sẽ ra lệnh truy kích, bao vây,
tiêu diệt địch, không cho chúng chạy thoát, co cụm về Tuy Hoà. Còn tôi và chú Năm sẽ lo việc giữ gìn an ninh, trật tự ở thị xã... .
Trần Kỳ nói với Bảy
Hùng:
- Tôi hoàn toàn nhất trí với anh Bảy. Tình
hình đang chuyển biến có lợi cho ta. Địch đang rút chạy. Tôi và Tâm xin về căn
cứ để phản ảnh tình hình kịp thời với Bộ Chỉ huy...
Mấy anh em vội vã
chia tay.
Kỳ và Tâm phóng xe
như bay về căn cứ
XIX
TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG HỒNG
NAM NHẬN lệnh từ sư đoàn 320.
- Anh Nam đó phải
không? Nghe có rõ không?
- Dạ. Tôi, Nam đây,
rõ, tôi nghe!
- Toàn bộ quân địch ở
Plây Cu gồm hai trung đoàn 45 và tàn quân của trung đoàn 53 cùng với 6 liên
đoàn biệt động và 4 thiết đoàn đang rút qua đường số 7 về Phú Bổn, Cheo Reo để
xuống Tuy Hoà! Chúng chọn đường số 7 vì con đường này gập ghềnh, hiểm trở đã bỏ
hoang phế từ lâu, lau lách, cây gai mọc đầy, cầu lại gãy, có con sông Ba chảy
qua, nhưng mùa này nước cạn, có thể lội qua sông được. Theo lệnh Phạm Văn Phú,
địch bí mật rút đi nhưng làm như một cuộc hành quân dã ngoại. Mặc dù cố bưng
bít nhưng từ chỉ huy đến lính đều biết nên chúng mang theo cả vợ con. Một số
dân chúng biết tin, cũng chạy theo lính. Chúng hành quân từ chập tối, đang ùn
ùn kéo về đường số 7. Lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch là phải chớp thời cơ tiêu
diệt địch trong lúc chúng hoang mang sau khi ta đánh chiếm Buôn Mê Thuột. Anh
chọn cho tôi một tiểu đoàn mũi nhọn đi ngay bây giờ, vượt núi, băng rừng, chốt chặn trước ở phía Đông Phú Bổn, không cho chúng
chạy thoát về Tuy Hoà. Muốn đi nhanh thì tiểu đoàn phải mang vác nhẹ và đến Phú
Bổn trước lúc trời sáng. Địch tuy đồng tới hàng chục trung đoàn, song có nhược
điểm lớn là xe pháo cồng kềnh, nặng nề, rất khó cơ động, chúng lại đem theo vợ
con, ôm đồm nhếch nhác và nhất là đang mất tinh thần chiến đấu, chỉ cần ta đánh
mạnh, đánh rát là ùn lại và dễ bị tiêu diệt. Sư đoàn dự đoán: chúng không chạy
về Tuy Hoà được, cũng không quay lại Plây Cu được vì ta sẽ đánh tập hậu, khoá
chặt đuôi chúng lại. Chúng sẽ chạy tạt sang hai bên đường số 7 để lẩn trốn vào
rừng. Ở cả hai bên đường, bên phải, bên trái tôi sẽ lệnh cho hai trung đoàn mai
phục sẵn để tiêu diệt chúng. Nhưng tiểu đoàn của các anh vượt lên chặn đầu
chúng nó ở Phú Bổn là quan trọng nhất, anh chọn đơn vị nào?
- Dạ. Trung đoàn tôi
có tiểu đoàn 9 lâu nay đang ém quân sát đường 14. Tôi sẽ cho tiểu đoàn này vượt
đường 14, cắt rừng đi cấp tốc về Phú Bổn trước khi trời sáng...
- Bí mật, bất ngờ, thần tốc đó nghe!
- Rõ. Nhất định phải là
như thế!
- Bây giờ là 18 giờ 15 phút! Cứ hai giờ một lần,
báo cáo về sư đoàn nghe!
- Rō! Hồng Nam đặt ống nghe. Anh tranh thủ thời
gian hội ý chớp nhoáng với trung đoàn phó Nguyễn Huỳnh và tham mưu trưởng Văn
Hoan.
Nửa giờ sau, tiểu
đoàn 9 đã nhận được lệnh hành quân về Phú Bổn. Cùng lúc ấy, toàn bộ quân địch
rùng rùng xe pháo đã lọt vào đường số 7, không hề hay biết gì về một “trận đồ
bát quái” của Quân Giải Phóng đang được giăng ra suốt dọc “con đường chết” của
chúng.
****
4 giờ 30 phút sáng
ngày
17-03-1975.
Đại đội pháo binh của
tiểu đoàn 9 đã đuổi kịp đơn vị đầu tiên của đoàn biệt động quân số 6 đang rút
chạy về Phú Bổn.
Đại đội trưởng Hoàng
Quân nhìn rõ ánh sáng hừng đông phía trước mặt. Anh ước tính: nếu theo đường chim bay thì pháo
binh ta chỉ còn cách Cheo Reo chừng ba ki-lô-mét, nhưng nếu
tính cự ly từ con đường mòn này đến đường số 7 thì khoảng cách giữa ta và địch
chỉ còn một ki-lô-mét. Tổ trinh sát bám sát đường số 7 quay về báo cáo: các anh
đã nhìn thấy những chiếc xe tải đầu tiên của địch chở đầy lính ầm ì lăn bánh rất
chậm chạp. Có lẽ vì đường xấu và trời tối. Ánh đèn pha cứ chập chờn theo từng
đoạn đường nhấp nhô. Tiếng máy xe tải ầm ì vang vọng trong đêm rừng tịch mịch.
Hoàng Quân báo cáo với
ban chỉ huy tiểu đoàn qua máy bộ đàm:
- Chúng tôi đã đuổi kịp
những chiếc xe đầu tiên của địch, đang vượt lên chặn đầu chúng nó trước khi
chúng nó đến được Cheo Reo.
Hoàng Quân nghe rõ tiếng
cười của tiểu đoàn trưởng:
- Hoan hô! Hoan hô
pháo binh! Hoàng Quân nghe lệnh của tiểu đoàn nhé! 4 giờ 45 phút, khẩu đội 1 sẽ
bắn cấp tập 10 phát vào đội hình xe cơ giới địch để “báo tin buồn” cho chúng nó
biết: pháo binh Quân Giải Phóng không cho chúng chạy thoát về Tuy Hoà! Hoàng
Quân nghe rõ không?
- Rō!
- Khi trời sáng rõ, có
thể có máy bay địch xuất hiện, phải cảnh giác, nghe!
- Rõ!
…4 giờ 45 phút là giờ
G. đã đến!
Tiếng nổ rung trời,
chuyển đất làm tắt ngấm những đốm sáng của đoàn xe cơ giới trên đường số 7. Tiếng
kêu thất thanh, hoảng loạn của những tên lính bị hất tung lên, rơi lả tả xuống
hai bên lề đường. Đứa chết, đứa bị thương, tiếng rên la chen lẫn tiếng súng bộ
binh bắn trả vu vơ vào rừng từ đoàn xe vừa phải dừng lại phía sau.
Đáp lại những tiếng
súng hoảng loạn của địch, Hoàng Quân nghe rõ từng tiếng súng lớn dõng dạc của đại
đội số 2, đại đội 3
đang phối hợp đánh tạt ngang sườn liên đoàn biệt động
quân của ngụy.
Anh động viên khẩu đội
1:
- Đại đội 2, đại đội 3
cũng “lên tiếng” rồi! Chúng sẽ chạy bổ sang hai bên đường. Ta phải chuẩn bị tiêu
diệt chúng, phải tận dụng từng mô đá, từng lùm cây, gốc cây làm công sự...
Cùng lúc ấy, ở Sở chỉ
huy sư đoàn 320, sư đoàn trưởng - đại tá Kim Tuấn- nhận được tin nhanh từ Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên:
- Toàn bộ quân địch
rút chạy trên đường số 7 đã lọt vào lưới lửa dày đặc, đều khắp của sư đoàn 320.
Yêu cầu các đồng chí khẩn trương, dũng mãnh xông lên tiêu diệt địch, bắt tù
binh, thu vũ khí, giành toàn thắng cho trận phục kích cực kỳ quan trọng này!
Lệnh tác chiến lại được
truyền đi từ Sở chỉ huy sư đoàn đến các trung đoàn, tiếp đến là các đại đội.
Đại đội trưởng Hoàng
Quân báo cáo về tiểu đoàn 9:
- Chúng tôi đã đánh
trúng 20 chiếc xe đi đầu. Từ những chiếc xe bị bắn cháy, những tên địch sống
sót đang chạy giạt sang cả bên trái, bên phải đường số 7, lẩn trốn vào rừng.
Chúng không dám bắn trả quân ta. Một số tên bị bắn chết ngay trên đường chạy trốn.
Đại đội vẫn bảo toàn lực lượng chiến đấu, không có thương vong…
- Rất tốt. Tiểu đoàn
báo tin vui để các đồng chí biết: Quân địch đã bị khóa chặt đuôi. Chúng không
thể quay lại đường số 14 được nữa và đang chịu chết cứng trên đường số 7. Trời
đã sáng rõ. Tiểu đoàn nhắc lại: có thể sắp có máy bay địch đến cứu nguy cho bộ
binh của chúng. Các đồng chí cần cảnh giác đề phòng máy bay bắn phá và ném bom
vào trận địa của ta!
Hoàng Quân chỉ kịp trả lời:
- Rõ!
Rồi anh quay ra hạ
lênh cho khẩu đội 1 di chuyển vị trí chiến đấu, đề phòng bọn địch từ Phú Bổn
đánh ra, cứu nguy cho những toán địch đang bị ta bao vây, tiêu diệt trên đường
số 7, đồng thời máy bay địch cũng có thể bắn phá và ném bom bừa bãi xuống hai
bên đường... Từ sáng nay, cuộc chiến đấu có thể còn diễn ra ác liệt trước khi kết
thúc với yêu cầu tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch trên đường số 7.
*****
9 giờ sáng ngày
17-03-1975.
Trong một biệt thự
trông ra bờ biển Nha Trang, nơi Phạm Văn Phú dùng làm nhiệm sở cho Bộ tư lệnh
tiền phương theo cách nói dối trá của hắn khi phải rút khỏi Plây Cu.
Đến giờ này, ngoài Phạm
Văn Phú, Trần Văn Cẩm và Lê Khắc Lý, còn có thêm chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư
lệnh sư đoàn không quân số 6 từ sân bay Plây Cu chạy ra Nha Trang trước Phú vài
giờ.
Phú nói với Sang bằng
giọng rầu rĩ:
- Anh Phạm Duy Tất vừa
điện khẩn cấp về đây báo tin: 4 giờ 45 phút sáng nay chiến đoàn của ta từ Plây
Cu rút lui từ tối hôm qua trên đường số 7 đã bị đối phương phát hiện và truy
kích, đón đánh quyết liệt ở Cheo Reo, nhiều xe bị trúng đạn bốc cháy, binh lính
bị
chết khá nhiều, số còn lại bỏ chạy tán loạn vào rừng.
Chưa biết số phận ra sao. Nguy hiểm hơn cả là binh sĩ của ta lại đem theo vợ
con, gia đình, đàn bà, trẻ con và ông bà già nên làm lộ bí mật của cuộc tuỳ
nghi di tản. Đối phương đã biết được cuộc rút lui chiến lược của ta và đuổi
theo, chặn đầu, chặn đuôi, bao vây tiêu diệt. Có thể họ huy động nhiều sư đoàn
chủ lực để ném vào trận phục kích lớn này. Vì vậy, ta chỉ còn có ưu thế về
không quân, yêu cầu anh Sang hạ lệnh cho các phi đội F.5 và A.37 bay tới đường
số 7 bắn phá, ném bom vào đội hình địch để cứu nguy, giải vây cho binh đoàn của
ta đang bị kẹt ở đó. Chậm giờ nào là chết thêm giờ ấy. Tình thế này là nước sôi, lửa bỏng, không thể chậm trễ được nữa. Ý kiến anh Sang thế nào? Có thể cứu nguy ngay được không?
Chuẩn tướng Sang bóp
trán suy nghĩ rồi trả lời chậm rãi:
- Chúng ta rút khỏi
Plây Cu quá vội vàng, theo lệnh của các anh, tôi chỉ kịp di tản những người Mỹ
về Sài Gòn cùng toàn bộ phi công, thợ máy ở sân bay cùng vợ con họ bằng mấy chục
chuyến C.130 xin từ Sài Gòn lên. Đến tối 16, ta vừa rút đi thì Việt Cộng đã
tràn vào sân bay Cù Hanh chiếm luôn 64 chiếc máy bay còn nguyên vẹn cả giàn
ra-đa mới lắp đặt trị giá cả triệu đô-la. Bây giờ chỉ còn lại mấy chục máy bay ở
Nha Trang này thôi! Để cứu nguy, giải vây cho các chiến hữu của ta, tôi hoàn
toàn nhất trí với các anh, sẽ cho mấy phi đội đến đường số 7 ngay hôm nay,
nhưng trước hết phải có máy bay trinh sát kết hợp với thám báo mặt đất thì hoạt động của các phi đội mới có kết quả, nếu bắn phá
vu vơ và ném bom bừa bãi thì ta không cứu được quân mình mà cũng không tiêu diệt
được đối phương, phí cả bom đạn!
Phú gật đầu:
- Tôi đồng ý với anh
Sang. Tôi sẽ điện hỏi lại anh Phạm Duy Tất đang bị kẹt giữa đoàn quân và sẽ hỏi
cả liên đoàn biệt động quân số 7 đang đóng ở Phú Bổn vì ta bị đánh ở đường số 7
cũng có nghĩa là sẽ bị đánh tơi bời ở Phú Bổn trong bất kỳ lúc nào! Yêu cầu anh
Lê Khắc Lý điện cho anh Tất và cho Phú Bổn báo tin sẽ có phi cơ oanh kích với
điều kiện các anh ấy phải báo về đây cho chúng ta biết những mục tiêu cần oanh
kích.
Lê Khắc Lý nói:
- Tôi sẽ điện ngay
theo yêu cầu của các anh.
Chuẩn tướng Trần Văn
Cẩm phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật từ nãy đến giờ ngồi lặng im, lúc này mới
nhìn mọi người bằng cái nhìn mệt mỏi và nói:
- Tôi đề nghị các anh
gọi một trung đoàn của sư đoàn 22 của ta đang đóng ở Quy Nhơn về đường số 7 giải
vây cho quân của anh Tất, được không nào?
Lý lắc đầu:
- Rút về một trung
đoàn thì lấy quân đâu mà phòng thủ địa bàn phía Bắc của quân khu 2?
Phú cũng nói:
- Không rút bớt quân về
đây được đâu! Muốn có quân cứu viện thì chỉ còn có cách xin Bộ tổng tham mưu và xin tổng thống tăng viện cho một vài trung đoàn thuộc lực lượng tổng
dự bị chiến lược mà thôi! Các anh đợi cho đến chiều, tôi sẽ thông báo lại sau
khi tôi “phôn” về cho ông Cao Văn Viên và cũng nhờ Đặng Văn Quang cố vấn an
ninh của tổng thống trình bày thật kỹ với tổng thống thì mới mong xin được quân
tăng viện...
Cẩm đành phải nhượng bộ Phú:
- Nếu ta được tăng viện
như ý kiến anh Phú vừa nói thì mới mong xoay chuyển được thế cờ. Nếu không được
tăng viện thì khó tránh được thảm kịch!
Phú đứng lên, ngao
ngán:
- Chỉ vì ta không giữ
được bí mật cho cuộc rút quân nên mới đến nông nỗi này! Đã lỡ thì ta phải lo
chung. Trước mắt, anh Sang chuẩn bị cho mấy phi đội F.5 và A.37 nhé!
Sang:
- Sẵn sàng! Tôi cũng
nóng lòng như các anh!
*****
Hai giờ chiều cùng
ngày, Phạm Văn Phú gọi dây nói về Sài Gòn, gặp Cao Văn Viên, trình bày hết mọi
tình hình và xin chi viện khẩn cấp. Cao Văn Viên trả lời:
- Quân khu 2 của anh
còn lực lượng nào thì hãy tung ra đường số 7. Chúng tôi rất phiền lòng về việc
các anh để mất Buôn Mê Thuột, nay các anh lại đưa cả một binh đoàn qua đường số 7 mà không giữ được bí mật để đến nỗi bị đối
phương bao vây! Chúng tôi không còn gì để giải vây cho các anh nữa! Nếu các anh
không tự phá được vòng vây thì các anh sẽ phải gánh chịu tất cả mọi thảm hoạ...
Quay sang cầu cứu Đặng
Văn Quang, trong tình cảm bạn bè, Phú năn nỉ:
- Ông có thấu hiểu hết
hoàn cảnh của tôi và mấy đứa ở đây thì ông trình bày khéo léo sao cho tổng thống
thương đến quân khu 2 mà chi viện cho chúng tôi lính dù hoặc thuỷ quân lục chiến
và máy bay nữa thì mới mong chống đỡ được với Việt Cộng đang thừa thắng xốc tới.
Nếu không được tăng viện thì Phạm Văn Phú sẽ phải... tử nạn ở đây thôi!
Đặng Văn Quang nói:
- Tôi tin là anh vẫn
coi tôi là một thằng bạn nối khố từ thủa hàn vi, nay được vinh hoa, tôi không
bao giờ quên bạn trong lúc gian nguy. Anh hãy nán lại chờ tôi trình bày với ông
Thiệu. Kết quả thế nào, được nhiều hay được ít, tôi cũng sẽ “phôn” lại ngay cho
anh biết trong buổi chiều nay...
Phú đợi câu trả lời của
Đặng Văn Quang suốt buổi chiều bên máy điện thoại.
Lê Khắc Lý và Trần
Văn Cẩm cũng kéo nhau đến, chụm đầu lại với Phú trong một tâm trạng phấp phỏng,
lo âu...
Đến 6 giờ chiều, cả
ba người mới nhận được câu trả lời của Đặng Văn Quang.
Quang rầu rĩ nói với
Phú:
- Ông Phú ơi! Tôi đã
hết lòng vì ông mà trình bày cặn kẽ với tổng thống suốt hai tiếng đồng hồ. Cuối
cùng tổng thống nói với tôi rằng:
“Anh gọi điện cho Phú
nói rằng Nguyễn Văn Thiệu còn phải lo công việc an ninh quốc gia từ sông Bến Hải
trở vào, chứ phải đâu chỉ có Vùng 2 chiến thuật? Ông Ngô Quang Trưởng tư lệnh
vùng 1 chiến thuật cũng đang kêu gào xin yểm trợ tối đa kia kìa! Cho nên ông
Phú đừng có ỷ lại vào Trung ương! Còn máy bay, còn bom đạn ở Nha Trang, hãy đưa
vào mà giải vây cho binh đoàn ở đường số 7! Bộ binh còn cả sư đoàn 22 ở Quy
Nhơn và Nha Trang, còn mấy liên đoàn biệt động quân nữa, hãy đem ra mà đánh!”
Đó, ông Phú nghe rõ chưa?
Phú đành trả lời:
- Rõ! Phần cá nhân
tôi, tôi cám ơn ông nhiều. Song, ông Quang ơi! Tất cả còn là... hạ hồi phân giải
đó! Nếu tôi bại trận thì ông thông cảm cho tôi điều này: tất cả không phải vì
tôi bất lực, bất tài mà vì tôi đã chấp hành lệnh “TÙY NGHI DI TẢN” của tổng thống
từ hội nghị Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975!
Quang nói:
- Nhất trí với ông Phú!
Thôi tạm biệt nhé! Phú đặt ống nghe, nói với Lý và Cẩm:
- Đó, các anh thấy
chưa? Ông Quang đã giúp đỡ chúng ta rất tận tình, song vẫn không có hiệu quả
gì! Để tôi “phôn” lại cho anh Sang xem ngày mai có máy bay ném bom được chưa? Phạm Duy Tất bị kẹt ở Cheo Reo đang mong đợi chúng
ta từng giờ, từng phút...
Nhận được điện của
Phú, Phạm Ngọc Sang từ sân bay Nha Trang đi xe Jép sang ngay Sở chỉ huy tiền
phương.
Sang nói giọng nghẹn
ngào:
- Thật là bất hạnh! Đại
bất hạnh! Các anh có thể tưởng tượng được không? Phi đội A.37 của ta lại giội
bom đúng vào biệt động quân của ta ở Phú Bổn! …
- Sao, sao?
Phú, Cẩm và Lý đều sửng
sốt hỏi.
Sang báo cáo lại:
- Theo lệnh của các
anh, tôi cho phi đội A.37 gồm 3 máy bay cất cánh lúc 4 giờ 30 phút chiều. Chúng
nó bay đến Phú Bổn, nhận được tin từ mặt đất báo rõ mục tiêu thế là chúng nó giội
mấy chục trái bom hạng nặng xuống nơi đóng quân của liên đoàn biệt động quân số
7, diệt gọn cả một tiểu đoàn! Chỉ huy liên đoàn vừa gọi điện cho tôi ở sân bay,
kêu la, chửi bới tôi ầm ĩ cũng là lúc 3 máy bay A.37 bay về hạ cánh xuống sân
bay. Tôi hỏi, ba thằng phi công đều nói: “- Chúng em làm đúng yêu cầu từ mặt đất
báo lên mà!”
Phú kêu lên:
- Thật là... hoạ vô
đơn chí!
Lê Khắc Lý nói:
- Mình lại giết mình rồi,
còn gì!
Trần Văn Cẩm thất vọng:
- Một hành động tự sát
trong cơn hoảng loạn tột cùng.
Phú chán nản:
- Thôi! Dẹp! Dẹp hết!
Hơn chẳng bõ hao. Hèn nào mà từ chiều đến bây giờ, ông đại tá Phạm Duy Tất không hề báo
cáo gì về đây! Cứ như thế này thì còn làm nên trò trống gì nữa chứ!
Sang giận dữ nói:
- Tôi sẽ phạt giam mấy
thằng phi công này.
Phú xua tay:
- Thôi, anh Sang đừng
làm như thế. Phi công mà bực bội thì chúng nó bất mãn và có thể giội cả bom xuống
đầu chúng ta nữa chứ! Anh Sang cứ coi đó là một chuyện không may, rồi lờ đi là
xong. Coi như không có chuyện gì xảy ra. Mặc dù ta mất cả một tiểu đoàn. Song nếu
nói ầm ĩ lên thì ông Thiệu, ông Cao Văn Viên lại rầy la chúng ta và đài phát
thanh Hà Nội làm rùm beng chuyện này, xấu hổ lắm! Ngày mai chúng ta sẽ kiểm tra
lại và giải quyết hậu quả Phú Bổn. Thật là đau đớn mà phải ngậm miệng! Các anh
đau một thì tôi đau mười... Đến giờ này coi như là lại hết ngày 17 rồi. Công việc
gì cũng phải gác lại, sáng mai đã là 18, ta sẽ lại gặp nhau ở đây đúng 8 giờ,
giải quyết tiếp. Bây giờ các anh có thể về nghỉ...
Lý, Cẩm, Sang lặng lẽ
ra về. Còn lại một mình, Phú ôm đầu suy nghĩ đến nát óc cũng không tìm ra một
giải pháp gì hữu hiệu để giải toả đường số 7.
Hắn lò dò đi từ phòng
khách vào phòng ngủ, nằm vật xuống giường.
Bên ngoài trời bắt đầu
đổ tối. Chỉ còn có tiếng sóng biển rì rào ven bờ cát trắng...
*****
Đại tá Kim Tuấn, sư
đoàn trưởng sư đoàn 320 sau hai đêm thức trắng, sớm nay 18 tháng 3 vẫn còn tỉnh
táo theo dõi trận bao vây, tiêu diệt địch trên đường số 7. Các trung đoàn liên
tiếp báo tin tin thắng trận về Sở chỉ huy. Ông biết rằng toàn sư đoàn có thể
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tiểu đoàn 9 chốt chặn những đơn vị đi đầu
của địch, không cho chúng chạy về Phú Bổn. Những toán địch đi ở đoạn giữa và đoạn
cuối lại liên tiếp bị tấn công, đã không thể quay về Plây Cu được, chúng cứ ùn
lên phía trước, càng ùn, càng tắc lại, xe pháo lổng chổng, lính chết gục xuống
bên đường, số bị thương rên la, số sống sót giạt sang bên phải, bên trái chạy
tán loạn vào rừng, bị đón đánh quyết liệt.
Điện từ Bộ tư lệnh
chiến dịch Tây Nguyên lại báo tin vui: hai tiểu đoàn quân khu 5 phối hợp với
320 đang áp sát Củng Sơn, ngăn chặn bọn địch ở đây không cho chúng toả ra ứng cứu
đồng bọn.
Đại tá Kim Tuấn hạ lệnh
cho tiểu đoàn pháo binh đang tiến gần Phú Bổn:
- Bắn cấp tập, bắn!
Ở đoạn giữa đường số
7, trung đội trưởng Trần Kỳ sát cánh cùng với Lê Văn Tâm bắn tỉa những tên địch
chạy trốn về phía rừng bên phải.
Bỗng anh kêu lên:
- Có hai tên địch giơ
tay xin hàng nữa kia kìa! Theo ngón tay chỉ của Kỳ, Tâm nhìn rõ hai tên lính địch
đang giơ tay lên trời, anh không nổ súng và chờ cho chúng thất thểu đi về phía
mình. Khi còn cách chỗ đứng của Kỳ chừng năm mét, một đứa mệt lả, ngã gục xuống,
thở dốc từng hơi. Còn một tên lắp bắp nói một câu gì đó, nghe chưa rõ. Trần Kỳ
ra hiệu cho tên địch bước lên hai bước trước họng súng của anh:
- Hàng thì sống! Chống
thì chết!
Khẩu súng của tên
lính địch đã bị ném đi từ lúc nó giơ tay xin hàng… giây phút này nó vất vả lắm
mới nói lên được một câu:
- Chúng em là lính biệt
động quân của ông đại tá Phạm Duy Tất, xin các anh đừng bắn nữa! Ông Tất cũng
xin hàng đó!
“Ông Tất” của chúng
bay đâu rồi?
- Dạ, thưa anh, ông Tất
đang núp sau chiếc xe bốc cháy kia ạ...
- Cho mày được quay lại,
báo cho đại tá của mày ra hàng, sẽ được tha tội chết!
Tên hàng binh thất thểu
quay lại. Hai phút sau, một chiếc khăn tay trắng lấp ló sau chiếc xe tăng bốc cháy. Một cái đầu mũ sắt nhô lên, rồi chiếc mũ bị lật ngược ra phía sau, để
lộ một khuôn mặt hốc hác và đổi mắt đang sợ sệt nhìn về phía Trần Kỳ và Lê Văn
Tâm. Vẫn cầm chiếc khăn tay trắng giơ cao. Tên sĩ quan chỉ huy cấp tá loạng choạng
bước theo tên lính cận vệ của hắn, từng bước đến gần hai chiến sĩ Quân Giải
Phóng. Hắn cố nói lên:
- Tôi, Phạm Duy Tất,
chỉ huy các liên đoàn biệt động quân xin... đầu hàng Quân Giải Phóng!
Trần Kỳ khoát tay về
phía sau:
- Các anh đi về phía
sau chúng tôi!
Tên đại tá Phạm Duy Tất
cùng năm tên lính “tháp tùng” thất thểu đi theo sự hướng dẫn của Trần Kỳ.
Kỳ quay sang nói với
đồng đội:
- Các đồng chí Vinh, Tấn
và Quang tiếp tục canh chừng những tên ngoan cố bên kia. Tôi và đồng chí Tâm
đưa sáu tên hàng binh này về nơi tập kết.
Phạm Duy Tất và năm
tên lính được phép dừng lại và ngồi xuống sau một mỏm đá được dùng làm công sự
của bộ đội Giải Phóng.
- Các anh được phép
ngồi xuống đây!
Trần Kỳ ra lệnh và
nói tiếp:
- Đã ra hàng, các anh
được phép ngồi nghỉ.
Tên chỉ huy nói giọng
run run:
- Thưa các ông, tôi
là Phạm Duy Tất, xin thay mặt anh em ra hàng xin được cảm ơn các ông…..
Trần Kỳ nhìn những
hàng binh địch bằng cái nhìn độ lượng:
- Mặc dù các anh đã biết,
tôi vẫn phải nhắc lại: bộ đội Giải Phóng luôn luôn thực hiện chính sách nhân đạo
của chính phủ cách mạng: Khoan hồng với tất cả những người lầm lỗi xin cải tà
quy chính, đã rời bỏ hàng ngũ địch để trở về với nhân dân.
Phạm Duy Tất ngập ngừng
vừa sợ sệt, vừa hổ thẹn chỉ biết “dạ” mà chưa biết nói thêm câu gì.
Trần Kỳ đoán biết được
ý nghĩ của người tù binh, anh hỏi ngay:
- Anh là sĩ quan chỉ
huy cả chiến đoàn này, nếu không bị vây, đón đánh, chắc anh chưa chịu ra hàng.
Bây giờ các anh không chạy thoát được về Tuy Hoà, các anh mới chịu ra hàng, có
phải không? Sao các anh không băng rừng chạy trốn như rất nhiều binh lính của
anh?
Tên sĩ quan tù binh cụp
mắt nhìn xuống đất, một lúc sau mới ngửng lên:
- Dạ, thưa các ông,
binh lính của tôi quá hoảng sợ, vứt súng, cởi quần áo lính chạy trốn, nhiều người
chỉ còn cái quần xà lỏn, khi thấy các ông ngừng bắn, gọi hàng, đã ôm cả vợ con
ra hàng và họ đều được đối xử tử tế. Hai hôm nay, các ông đã bắt mấy ngàn tù
binh rồi. Riêng tôi, nếu tôi lẩn trốn, có thể khó thoát mà có khi còn chết uổng
mạng, nên tôi quyết định ra hàng và xin các ông tha cho tội chết!
Trần Kỳ nói rành rọt:
- Như tôi đã nói:
chính sách của chính phủ cách mạng là quang minh, chính đại. Bây giờ các anh sẽ
được đưa về trại tù hàng binh, sẽ được đối xử tử tế. Về trại rồi, các anh sẽ được hướng dẫn để khai báo rõ ràng, cụ thể. Cứ yên
tâm, nghe!
Phạm Duy Tất lại “dạ”
một tiếng và cúi mặt chờ đợi.
Trần Kỳ quay sang Lê
Văn Tâm:
- Đồng chí Tâm đưa tốp
hàng binh này về phía sau và báo cáo ngay lên đại đội rằng: Phạm Duy Tất chỉ
huy của chiến đoàn này đã ra hàng, khẩn cấp đó, nghe!
Tâm nói với Tất và
năm tên lính nguy:
- Các anh đi hàng một,
rẽ bên phải theo lối mòn...
Trần Kỳ còn chỉ định
hai chiến sĩ cùng đi theo áp giải tốp hàng binh cùng với Tâm vì anh nghĩ trong
tốp hàng binh này có cả tên chỉ huy là một hàng binh quan trọng, phải dẫn giải
chúng cho thật an toàn.
Trần Kỳ chưa từng thấy hôm nào vui như
hôm nay. Mới chỉ sau hai ngày chiến đấu, ta đã đánh tan cả một
chiến đoàn của địch, xoá sổ nhiều đơn vị của Phạm Văn Phú ở Plây Cu, Kon Tum.
Trung đội của anh vừa đánh, vừa gọi địch ra hàng. Bây giờ, đến lượt Phạm Duy Tất
ra hàng giữa lúc trận đánh sắp kết thúc có nghĩa là ta đang thắng lớn và chiến dịch giải phóng Tây Nguyên đang làm tan rã từng mảng lớn phòng tuyến của địch
ở quân khu 2. Việc giải phóng Phú Bổn, Củng Sơn, Cheo Reo đã ở trong tầm tay của
cả sư đoàn 320…
XX
NGÔI BIỆT THỰ ĐƯỢC PHẠM
VĂN PHÚ TẠM thời dùng làm Sở chỉ huy của Bộ tư lệnh tiền phương hôm nay trở nên
vắng lặng khác thường. Ngoài một trung đội quân biệt động đóng ở phía sau có nhiệm vụ thay phiên
canh gác, bảo vệ 24 giờ trên 24 giờ trong ngày, ít có khách khứa ra vào tấp nập như một tuần trước đây, khi Phú còn làm việc ở Plây Cu. Mỗi sáng, mỗi chiều, lui tới làm việc
với Phú ở đây chỉ còn có chuẩn tướng Trần Văn Cẩm phó tư lệnh, đại tá Lê Khắc
Lý tham mưu trưởng Vùng 2 chiến thuật. Ba người mặc nhiên vẫn hợp thành Bộ tư lệnh
Vùng 2 chiến thuật. Còn cái tên dối trá lúc tuỳ nghi di tản được Phú đặt cho
nhiệm sở này là “Bộ tư lệnh tiền phương” thì giờ này Phú không muốn bất cứ ai
nhắc đến nữa, bởi vì hắn vừa nướng sạch cả một chiến đoàn trên đường số 7.
Người chỉ huy trực tiếp
cuộc rút quân này là đại tá Phạm Duy Tất cũng đã đầu hàng Quân Giải Phóng rồi!
Nói cách khác thì Phạm Duy Tất đã bị bắt sống cũng như những người bị bắt sống ở
Buôn Mê Thuột gồm có đại tá tỉnh trưởng tỉnh Đắc Lắc Nguyễn Công Luật, đại tá Vũ Thế Quang, sư đoàn phó sư đoàn 23, và ông cố vấn Mỹ Pôn
Xtru-ha-rích. Các sư đoàn quân Bắc Việt đánh như vũ bão với xe tăng, đại bác,
tên lửa, phối hợp với biệt động của Việt Cộng nằm vùng.... Họ đã đánh chiếm
Buôn Mê Thuột từ 2 giờ sáng ngày 10-03-1975 và đã làm chủ thị xã đông dân, bảy
ngày sau đã tiếp quản ngon lành cả Plây Cu và Kon Tum...
- Trắng tay rồi, các
anh ơi!
Chiều hôm qua, sau khi được tin đích
xác Phạm Duy Tất bị bắt sống rồi sau đó cả ba căn cứ Cheo Reo, Phú
Bổn và Củng Sơn đều thất thủ thì Phạm Văn Phú đã đập mạnh cái ống nghe trên máy
điện thoại vừa kêu lên như thế với phó tư lệnh Trần Văn Cẩm và tham mưu trưởng
Lê Khắc Lý.
Cả ba người ngồi lặng
đi, khổ đau, sầu não như trong một nhà có tang.
Phú lại nhắc lại câu
nói từng nói nhiều lần:
- Nếu ông Thiệu để cho
tôi giữ Plây Cu thì ít nhất chúng ta cũng giữ được một tháng! Ông Thiệu lại nhất
quyết buộc tôi phải rút Cao Nguyên về ven biển... Tùy nghi di tản là như thế
này đây! Không phải ba chúng ta “nướng” quân, mà chính tổng thống Thiệu đã “nướng"
quân của chúng ta. Hàng vạn con người, hàng trăm cỗ pháo lớn, hàng mấy trăm xe
cơ giới làm sao ra đi âm thầm lặng lẽ được? Mà đã lộ bí mật thì dẫn đến thảm hoạ
rồi! Bây giờ thì thật là... vô phương cứu vãn!
- Tôi nghe tin mới nhất
thì ông Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân khu 1 cũng đang lo méo mặt vì Việt Cộng lại gia tăng hoạt động chung quanh cố đô Huế. Ta chỉ còn lại có một sư
đoàn 22 và mấy tiểu đoàn biệt động lèo tèo, quan quân đang hoang mang, dao động
đến tột độ, vì Cao Nguyên sụp đổ thì còn tinh thần đâu để bảo vệ vùng ven biển
nếu Việt Cộng cứ... làm tới!?
Lê Khắc Lý cất tiếng
nói yếu ớt hơn:
- Thôi thì còn nước còn
tát, ta hãy cứ làm hết trách nhiệm của mình. Ta bảo vệ vùng ven biển miền Trung
này cũng có nghĩa là bảo vệ cho các ông cỡ bự ở Sài Gòn, ông Thiệu không tăng
viện cho chúng ta thì chúng ta lấy gì để bảo vệ ông ấy?
Phú kêu Phú nghe những
tiếng nói bực dọc của Lý và Cẩm, càng thấy bầm gan tím ruột, song suy đi tính lại,
Phú không dám chống lệnh của Thiệu, nếu để lộ ý kiến chê bai hoặc oán trách cho
nhiều người biết thì Thiệu sẽ không tha thứ và sẽ thẳng tay với Phú. Phú đành
phải cắn răng và bấm bụng nói với Lý và Cẩm.
- Các anh cũng không
nên nói rộng ra ý kiến của ba chúng ta làm gì, có khi lại bị “vạ miệng” đó. Tôi
thấy mỗi ngày một khó khăn thêm. Sau vụ bại trận này, ông Viên, ông Thiệu sẽ lại
phiền lòng lắm. Tôi phải nhờ ông Đặng Văn Quang lựa lời, che chắn cho ta, nếu
không mấy ông chóp bu lại nổi nóng, đổ hết tội vạ lên đầu ba chúng ta thì thật
là nguy hiểm!
Ý kiến của Phú được
Lý và Cẩm chấp nhận vì cả ba người đã như ba cái cột rệu rã phải chụm lại với
nhau để chống đỡ cho ngôi nhà “quân khu 2" khỏi sập. Từ chiều hôm qua, mỗi
người lại tự tìm lấy cái thú giải sầu cho mình bằng những ly rượu mạnh.
Và bây giờ, lại một
buổi sáng đầy ánh nắng của Nha Trang. Kim đồng hồ đã hoặc chỉ đúng 9 giờ, Cẩm lại
sang với Phú. Phú hỏi:
- Có tin tức gì mới không, anh?
Cẩm uể oải:
- Mấy thằng lính thoát
chết ở Cheo Reo chạy về đây, quậy phá tối hôm qua, tôi cho bắt nhốt cả rồi.
- Có nhiều không?
- Hơn một trăm thằng!
- Ừ, cứ nhốt lại, để
chúng nó khỏi chửi bới và nói năng làm hoang
mang dân chúng.
- À, có một thằng trung
sĩ lái xe riêng của anh ở Plây Cu nó đang năn nỉ lính gác xin vào đây gặp
anh đấy!
Phú sửng sốt:
- À thằng Lâm! Nó đi
bộ hay là đi xe ?
- Đi bộ!
- Anh gọi giùm tôi, cho
phép nó lên tôi hỏi luôn tình hình Plây Cu xem sao?
Cẩm ra cửa, vỗ tay gọi:
- Ê! Trung sĩ Lâm!
Thiếu tướng cho phép anh vào!
Lâm chậm chạp từ sân
bước lên thềm, được Cẩm bắt tay chặt chẽ và Phú ra đón từ ngoài cửa:
- Lâm đấy hả? Vào đây!
Xe đâu và ông Lãng Tử đâu rồi, mà em lại về một mình? Đi mệt lắm hả? Ngồi đây!
Trung sĩ Lâm tỏ ra cảm
động và rụt rè ngồi xuống ghế, đối diện với hai vị tướng:
- Dạ, xin trình thiếu
tướng và chuẩn tướng: em cũng thoát chết mới về được đến đây...
Phú nói:
- Trời! Tôi cho phép
em được báo cáo tự nhiên, cứ nói đi!
- Dạ, thưa: em đón được
ông Lãng Tử và cô Ninh từ Đà Lạt về Plây Cu thì ông Lãng Tử muốn nghỉ lại biệt
thự Dạ Lan Hương vì ông thiếu tá Cang đang ở đó. Một chuyện không may xảy ra là
ông Cang lợi dụng lúc di tản, đang lúc “hỗn quân, hỗn quan” đã bắt cóc tống tiền
mấy nhà buôn lớn, đem họ về giam giữ ở biệt Dạ Lan Hương, bị ông Lãng Tử phát
hiện. Sáng hôm sau xe của em đưa ông Lãng Tử về Kon Tum nhưng vừa ra đến trung
tâm Plây Cu đã bị mấy ông Việt Cộng nằm vùng phát hiện chiếc xe Méc-xê-đéc của
thiếu tướng. Họ giữ lại xe để kiểm tra, ông Lãng Tử đã tố cáo ngay với mấy ông
Việt Cộng rằng: có mấy vụ bắt cóc của ông Cang. Thế là ba ông Việt Cộng trưng dụng
ngay chiếc xe buộc em lái quay trở lại Dạ Lan Hương. Họ bắt ngay hai tên lính
gác, tước hai khẩu súng rồi lên lầu bắt luôn thiếu tá Cang và cô Ba. Họ trả tự
do ngay cho hơn mười người bị bắt cóc cùng với tài sản được mang về. Ông Cang,
cô Ba và hai người lính gác bị họ bắt đem về căn cứ. Em và chiếc xe cùng với
ông Lãng Tử và cô Ninh được phép ở lại biệt thự. Sáng hôm sau ông Lãng Tử đưa
cô Ninh về Sài Gòn. Em giao xe lại cho cô hầu bàn và ông bếp trưởng ở Dạ Lan
Hương rồi tìm đường về đây bằng xe đò. Dọc đường đi, em nghe lính đào ngũ kháo
nhau rằng Việt Cộng đã tràn vào Kon Tum, Plây Cu sau khi
bên ta tuỳ nghi di tản. Việt Cộng chỉ dẹp mấy vụ lính đi ăn cướp và hãm hiếp phụ nữ, còn dân chúng treo cờ kết hoa, đón bộ đội Giải
Phóng về tiếp quản rất là phấn khởi, ồn ào, vui như ngày hội. Em chẳng biết bấu
víu vào đâu nên tìm về đây xin thiếu tướng và chuẩn tướng cho em được tiếp tục lái
xe hoặc gác cổng cũng được thì em mừng lắm. Chiều hôm qua, em còn nghe mấy toán
lính từ Phú Bổn về đây nói là ông đại tá Phạm Duy Tất cũng bị Việt Cộng bắt sống
ở gần Cheo Reo. Xe pháo và binh lính thì tan rã hết. Em ngủ trọn một đêm ở
ngoài quán, hôm nay em tìm về đây...
Phú gật đầu:
- Thằng Cang làm bậy
thì nó phải chịu tội. Nếu tôi bắt được tôi cũng không tha tội. Đối với Việt Cộng
thì tội bắt cóc, tống tiền của thằng Cang lại càng nặng, họ sẽ xử tử hình đó.
Lưu manh, đại lưu manh rồi! Còn oan nỗi gì, mà kêu xin? Còn em, em cứ ở đây,
lái xe Jép cho tôi, nghe!
Lâm chớp chớp mắt:
- Dạ. Em xin cảm ơn
thiếu tướng!
Phú rút từ túi mấy tờ
giấy bạc đưa cho Lâm: Cho em ít tiền xài. Em xuống nhà bếp báo cơm ăn với anh
em gác, tắm giặt, nghỉ ngơi vài ngày cho khoẻ đã, rồi tôi sẽ giao xe cho, nghe!
- Dạ.
- Thôi, xong rồi. Em có
thể xuống nhà dưới...
Lâm lui ra khỏi phòng
khách. Phú nói với Cẩm:
-Thằng Lâm rất trung
thành, rất có nghĩa với tôi, Lúc này ta rất cần những người như nó. Anh có thể
dùng nó lái xe cũng được. Lúc này mà gặp phải những thằng lính quay quắt thì
phiền lắm. Đó, anh xem thằng Cang làm bậy,
nó sẽ biết thế nào là cái giá nó sẽ phải trả!
Cẩm lắc đầu, ngao ngán:
- Đúng là loạn lạc thật!
Phú như chợt nhớ ra một
điều quan trọng, hắn nói với Cẩm:
- Anh hạ lệnh cho các
nơi: thiết quân luật vẫn duy trì cho nghiêm, từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng!
Lính thì phải cấm trại không có nhiệm vụ, không được ra phố. Lính các nơi đào
ngũ về đều phải tập trung, giam riêng, phân loại, đề phòng Việt Cộng lợi dụng
tình thế này, trà trộn vào đây, quấy rối, phá hoại... Đối với Việt Cộng nằm
vùng, nếu phát giác được thì thẩm vấn và báo cáo về đây ngay. Nếu đúng là Việt
Cộng cài lại thì tôi và anh sẽ ra lệnh cho chúng nó bắn bỏ ngay những tên phiến
loạn!
Cẩm gật đầu:
- Nhất trí với anh.
Tôi sẽ “phôn” ngay cho tất cả các nơi để cấp dưới thi hành không chậm trễ!
Cẩm đứng lên, bước ra
cửa.
Phú còn lại một mình,
đã gọi dây nói cho “cô Năm” ở vũ trường Ha-oai.
- Cô Năm đó phải không?
Tôi, Phú đây, cảm phiền cô Năm một việc nhé: cô Năm cho em Ngọc Ngà qua đây làm
tiếp tân ít ngày nhé!
- Dạ, xin tuân lệnh
thiếu tướng!
- Cảm ơn! Cảm ơn cô
Năm nhiều!
XXI
TÂM NGỒI CHỜ ANH TRẦN
KỲ ĐI HỌP TRÊN tiểu đoàn, đã hơn một giờ mà anh vẫn chưa về. Buổi sáng anh chỉ
dặn lại bằng một dòng thư để lại ở trong lán: "
“Tâm chờ anh đi họp về
sẽ bàn về công tác mới nhé. Có thể anh về muộn một chút”
Tuần lễ này, đơn vị của
Tâm đã hai lần chuyển nơi đóng quân, từ rừng sâu, bộ đội đã ra ở gần con đường
số 14. Không có đơn vị nào chuyển lên phía Bắc, mà ngược lại chỉ có từng đoàn
xe kéo pháo xuôi về phía Nam mà theo anh Kỳ tiết lộ bí mật với Tâm thì đó là những
binh đoàn mới đang rầm rộ đi vào Nam Bộ để chuẩn bị cho những trận đánh mới trước
mùa mưa.
Chiến thắng lừng lẫy
của chiến dịch Tây Nguyên năm nay, chỉ nghe trên đài, trên báo cũng đã thấy nức
lòng: ngày 10-03-1975 đánh chiếm Buôn Mê Thuột, Ngày 16-17 tháng 03 đã vào tiếp
quản Kon Tum - Plây Cu, ngày 18 đã xoá sổ cả một chiến đoàn quân nguỵ trên đường
số 7, bắt sống tên đại tá Phạm Duy Tất, giải phóng luôn thị xã Phú Bổn, Cheo
Reo và Củng
Sơn... Tên thiếu tướng nguy Phạm Văn Phú chuồn ra Nha
Trang cùng với một bộ sậu gọi là “Bộ tư lệnh Vùng 2 chiến thuật” sẽ chẳng bao
giờ còn trở lại Cao Nguyên. Mới một tháng trước đây, Phú còn chưa biết sư đoàn
320, sư đoàn 10 ém quân ở đâu mà “tìm diệt” thì nay đã mấy phen “giáp mặt” với
hai sư đoàn này. Trận phục kích trên đường số 7 của sư đoàn 320 đã giáng cho
Phú một đòn đau nhớ đời. Tên đại tá Phạm Duy Tất nằm trong trại tù binh của
quân ta đã khai: “pháo binh của các ông bắn dữ dội chưa từng thấy, làm cho
chúng tôi không ngóc đầu lên được và khi tôi hạ vũ khí ra hàng thì tôi chẳng
còn thấy gì để mà chỉ huy; quân lính xe pháo tanh bành, vợ con bám theo la khóc
như ri. Vào đến trại tù hàng binh tôi mới thấy toàn là lính của đoàn 23 của ông
Phú và lính các liên đoàn biệt động quân của tôi, chúng tôi đã bị các ông
đánh... gãy xương sống rồi còn gì! Ở Tuy Hoà, Nha Trang, Cam Ranh ông Phú đang
nơm nớp lo sợ ngày đêm...”.
Những ý nghĩ vui vui
cứ chen vào cả giấc ngủ của Tâm và những anh lính trinh sát pháo binh từ hôm
nào còn len lỏi vào Plây Cu trong vòng vây của địch, vậy mà hôm nay Play Cu đã
được tiếp quản, lính trinh sát và biệt động Plây Cu của anh Bảy Hùng có thể đi
thênh thang khắp các phố phường Plây Cu mà không còn phải cảnh giác với “thiếu
tá Cang” nữa...
Bỗng tiếng còi xe
Hon-đa của Trần Kỳ bóp inh ỏi đã làm cho Tâm giật mình, quay ra. Kỳ tươi cười
bước vào lán:
Em đợi anh lâu chưa?
- Dạ. Em mới tới, biết
thế nào anh cũng về...
Trần Kỳ ném chiếc xắc-cốt
xuống bàn nói như reo:
- Sư đoàn nhiệt liệt
biểu dương pháo binh đấy nhé. Anh với em là lính cũng được thơm lây! Em biết
không: tấm bản đồ Plây Cu của em vẽ với anh lính cộng hoà trốn trại có tên là
Huỳnh Văn Hoà, anh cứ tưởng là bình thường, ấy thế mà các cụ nhà ta ở sư đoàn bộ
lại cứ khen nức nở là vẽ khá chuẩn, giúp cho pháo binh “rót” đạn xuống sân bay
cứ... “đâu ra đấy”! Và rồi kết quả sau cùng là “tuỳ nghi di tản”, ngài tư lệnh
Phạm Văn Phú bỏ lại cả 64 máy bay nguyên vẹn kèm với một giàn ra-đa trị giá
không dưới một triệu đô-la Mỹ! Chưa hết, pháo binh còn nện... gãy xương sống
quân đoàn 2 của nguy trên đường số 7 nữa chứ và bây giờ xe pháo của ta có thể
đi như nước chảy từ Cao Nguyên về vùng biển qua ba con đường 14, 21 và số 7 nữa!
Thú thật, chưa có chiến dịch nào ta thắng lớn như vậy.
Tâm lây thêm cái vui
của anh
- Dạ, với em thì chiến
dịch này là chiến dịch đầu tiên em được tham gia...
- Ấy thế nhưng mà,
anh em mình lại phải vắt chân lên cổ mà chạy vào phía nam đó. Còn địa bàn này sẽ
giao lại cho địa phương...
Tâm hỏi:
- Mình lại phải đi? Nay hay mai?
- Cứ chuẩn bị sẵn sàng,
các cụ cứ “ới” một tiếng là phải đi ngay!
- Em thích đi lắm anh
ạ. Em chưa hề
biết Nam bộ kia mà!
Trần Kỳ đặt bao thuốc
lá 3 số 5 lên bàn:
- Quà của sư đoàn trưởng
cho đấy! Hút đi, các cụ nói là “chiến lợi phẩm”, cho mỗi anh mấy điếu hút cho
vui chứ có ai nghiện ngập gì đâu! Riêng với Lê Văn Tâm thì đại đội trưởng còn
ưu tiên tặng em một gói chưa bóc tem nhé!
Tâm lộ nét vui hồ hởi:
- Thế kia ạ?
- Ừ, vì em còn phải ở
lại làm một nhiệm vụ đặc biệt, hết sức quan trọng. Anh sẽ đi trước em. Em ở lại
làm xong công việc sẽ đi vào sau. Ta sẽ gặp nhau ở Lộc Ninh Dầu Tiếng gì đó...
Yên tâm đi! Lúc này thì khó lạc nhau lắm. Từ chiến thắng Plây Cu - như lời sư
đoàn trưởng vừa nói- chiến tranh cách mạng
giải phóng miền Nam đang chuyển sang bước ngoặt lớn, cho nên ta phải thừa thắng
xốc tới đẩy cho quân địch lún sâu vào thất bại, vì vậy sẽ có những trận đánh lớn,
những quả đấm thép quyết định trong chiến dịch Xuân Hà, đi trước mùa mưa đấy
nhé!
Sư đoàn trưởng nhấn mạnh:
“Vì vậy, yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch đặt ra là rất cao, phải có quyết tâm
lớn thì mới có chiến thắng lớn. Cấp trên yêu cầu ĐI là ĐI, không một chút chần
chừ, lại phải khắc phục tư tưởng chủ quan khinh địch mà phải tìm ra cách đánh
sao cho đạt hiệu quả cao!
- Dạ, em thấy ý kiến
của sư đoàn trưởng là rất sâu, rất sát...
- Này nhé, tối nay,
anh sẽ bàn kỹ với em về nhiệm vụ em được giao, hơi dài đây, cho nên em về ăn
cơm cho chắc bụng đã, rồi hai anh em mình mới có thể lai rai nói chuyện với
nhau được!
Tâm đứng lên, vừa vui
vừa hồi hộp chưa hiểu là nhiệm vụ gì mà anh Kỳ chưa nói hết, vui thì vui rồi
nhưng liệu có nặng nề quá sức mình không?
*****
Sau bữa cơm tối, Tâm
đã được ngồi trong lán nghe trung đội trưởng Trần Kỳ giao nhiệm vụ mới:
- Buổi chiều, anh có
nói lại ý kiến của lãnh đạo và chỉ huy sư đoàn khen ngợi em về bức bản đồ Play
Cu mà em và Huỳnh Văn Hoà vẽ được, giúp cho pháo binh ta bắn phá vào sân bay Cù
Hanh. Hôm nay, sau chiến thắng đường số 7 của ta, địch rút về giữ vùng ven biển,
ta sẽ không để cho chúng co cụm lại ở đấy. Ta sẽ tiếp tục đánh vùng ven biển. Cấp
trên nhận định: địch sẽ củng cố Phan Rang để bảo vệ cho Sài Gòn từ xa. Phan
Rang có sân bay Thành Sơn, sẽ là địa bàn rất quan trọng của địch nằm gần quốc lộ
số 1, thuận tiện cho việc phòng thủ của địch. Chúng có thể dùng bộ binh, không
quân, lại có thể dùng cả hải quân từ ngoài biển bắn vào nếu ta đánh Phan Rang.
Đánh Phan Rang sẽ rất khó, sẽ rất gay go, quyết liệt. Thế nhưng, sau chiến thắng
Buôn Mê Thuột và Plây Cu, sức ta đã mạnh, quyết tâm càng cao, lại có thêm nhiều
binh chủng: xe tăng, đại bác, tên lửa, bộ binh hợp thành những quả đấm thép rất
quyết liệt... Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh theo yêu cầu của chiến dịch
đã chi viện cho miền Nam nhiều sư đoàn mạnh từ Bắc hành quân thần tốc vào Nam,
sẽ đánh địch trong thế chẻ tre. Vì thế, em có biết không? Một bản đồ Phan Rang
lúc này là rất cần thiết cho chiến dịch. Em phải trở lại Phan Rang, cùng với Huỳnh
Văn Hoà thực hiện nhiệm vụ quan trọng là vẽ cho được một tấm bản đồ chi tiết về
địa hình Phan Rang, có các vị trí phòng thủ của địch kể cả sân bay Thành Sơn để
phục vụ cho những trận đánh mới nay mai của quân ta. Cấp trên đã xác minh: Hoà
là anh lính cộng hoà phản chiến tích cực, gia đình Hoà ở Sài Gòn là gia đình
làm ăn lương thiện, và nhất là gia đình chú Tám, dì Tám ở Phan Rang lại là gia
đình cơ sở của ta, của cách mạng đó. Vợ chồng chú Tám - dì Tám lại là bạn hàng
của bà má cậu Hoà, một nhà buôn đô cổ ở đường Tự Do (Sài Gòn), Dì Tám đi lại với má cậu Hoà đã lâu, rất thân thiết, lại đang đùm bọc cậu
Hoà ở Phan Rang và đã lo cho em đủ giấy tờ công khai hợp pháp, cho Lê Văn Tâm
trở về đơn vị cũ an toàn. Ngày mai em sẽ trở lại với gia đình chú Tám, dì Tám với giấy tờ cũ đó. Ăn mặc bảnh bao như một thanh niên vùng địch còn tạm thời kiểm
soát, để làm nhiệm vụ của anh trinh sát địa bàn. Thời gian cấp trên quy định
cho em và Hoà là một tuần lễ, phải hoàn thành nhiệm vụ để em có thể mang về nộp
lên cấp trên tấm bản đồ Phan Rang tỉ mỉ nhất, chính xác nhất. Em có thể làm được
chứ?
Tâm chú ý lắng nghe
anh Kỳ nghĩ, anh đã gật đầu:
- Em xin nhận nhiệm vụ
và sẽ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cùng với Hoà và chú Tám, dì Tám ở Phan
Rang. Song như anh vừa nói ban chiều: không chủ quan khinh địch và phải có quyết
tâm cao. Em thấy nhiệm vụ này là nặng và không dễ ăn. Nhưng có dì Tám, chú Tám và Hoà giúp đỡ thì em có thể làm được! Xin anh cứ báo cáo với
cấp trên là: cấp trên đã giao nhiệm vụ cho em, em sẽ cố gắng hoàn thành với hiệu
quả cao!
Trần Kỳ tươi cười nắm
chặt tay người bạn trẻ:
- Rất hay! Anh rất yên lòng vì quyết tâm và lời hứa danh dự của em, của người
chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam! Em uống nước, hút thuốc đi! Hai anh em
mình cố gắng để khỏi phụ lòng mong mỏi của đồng đội và cấp trên. Anh vẫn phải
nói lại, tưởng cũng không thừa, đó là: nếu chuẩn bị được tốt thì khi ta đánh
vào Phan Rang sẽ tiết kiệm được xương máu chiến sĩ và sẽ tiêu diệt được kẻ địch
nhanh hơn, nhiều hơn, góp phần thắng lợi to hơn, lớn hơn cho chiến dịch này.
Tâm chưa hết băn
khoăn:
- Thời gian em được sử
dụng là một tuần cho cả đi và về thì hơi ít, nhưng em sẽ cố gắng!
- Đó. Em phải nói cho
Hoà và chú Tám, dì Tám biết được yêu cầu rất cấp bách nên thời gian làm việc và
đi về là rất căng thẳng. Song anh tin là em và Hoà, có sự giúp đỡ của chú Tám,
dì Tám thì em sẽ làm được đúng thời hạn quy định
của cấp trên. Bàn tay vàng của Hoà và của em sẽ vẽ nên những đường đi lối lại của
Phan Rang, của sân bay Thành Sơn nhanh nhất, chính xác nhất, anh tin là em và
Hoà sẽ làm được công việc khó khăn này! Anh nhấn mạnh lại là công việc sẽ rất
khó khăn đó. Kẻ địch sẽ rất gian ngoan, tàn ác. Gián điệp biệt kích, mật vụ, cảnh
sát, quân cảnh đã và đang canh phòng cẩn mật ở Phan Rang, ở chung quanh sân bay
Thành Sơn. Lọt được vào đấy thật không phải là chuyện dễ ăn như em vừa nói. Anh
và em ngồi ở đây làm sao hình dung hết được khó khăn cản trở, song em sẽ cố gắng
làm cùng với Hoà và gia đình chú Tám. Bí mật, bất ngờ, khôn khéo, khẩn trương.
Em cố gắng lên nhé!
- Dạ.
Ánh mắt long lanh và
lời nói nhẹ nhàng thấm sâu của Tâm thực sự làm cho anh Kỳ yên lòng tin tưởng.
Tâm thì lại thấy hiển hiện lên rất rõ nét hình ảnh của Hoà, của chú Tám, dì
Tám, những người mới quen, mới thân ít ngày mà sao lại dễ thương đến vậy? Suy
cho cùng thì đó chính là một trong muôn ngàn nhân tố dẫn đến thắng lợi. Những con người tố Việt Nam bình dị, những tấm lòng yêu nước
nồng nàn, sẵn sàng hy sinh cho kháng chiến, cho cách vững bền, không có vàng bạc
nào mua được, không có bạc nào mang, thầm lặng và sức mạnh nào lay chuyển được!
Tâm muốn nói với anh Kỳ: mọi người sẵn sàng giúp em như thế, bằng cách nào em
cũng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tâm ngồi im, nhưng anh Kỳ hiểu được sự
xao xuyến trong lòng Tâm. Anh Kỳ nói tiếp:
- Cố gắng lên, nếu có
thư của cô Hằng Hà Nội gửi vào, anh sẽ giữ và chuyển cho em! Lòng người xứ Bắc
gửi vào phương Nam!...
Tâm lại thấy rộn lên
trong lòng nỗi nhớ khôn nguôi với cô bạn là ca sĩ không chuyên mà có giọng hát
nữ trung đầm ấm lạ thường. Anh muốn nói riêng với Hằng “- Hằng ơi! Cho anh trồng cây
si trước nhà em nhé! Em đừng cười anh! Anh “quê” quá phải không em? Song yêu em
thì đâu phải là anh có tội? Em cười với trăm ngàn thính giả song có phải em đã
dành cho anh một nụ cười đẹp nhất? Hằng ơi! Anh nhớ hai câu thơ của Phạm Huy Thông
trong bài “Tiếng địch sông Ô” đã được tuyển chọn trong Thi Nhân Việt Nam (của
Hoài Thanh) Nhà thơ tả đôi mắt nàng Ngu Cơ trong đêm vĩnh biệt Hạng Võ của lịch
sử Trung Hoa cổ đại:
“Ôi! đôi mắt sâu xa, ảo huyền và sán lạn
Mà ngàn thu còn sáng mãi đêm nay!..."
Anh lãng mạn quá, phải không em? Hằng ơi! Ngày
chiến thắng đang đến gần, em hãy chờ anh nhé! Ngày anh trở về Hà Nội với em
không còn xa vời vợi nữa đâu, em!
Nhìn vẻ trầm ngâm
trên nét mặt của Tâm, anh Kỳ vỗ vai Tâm:
- Nhớ Hà Nội lắm phải
không?
Tâm nói khe khẽ:
- Dạ, nhớ lắm anh ạ.
XXII
TÂM ĐẾN TRƯỚC QUÁN
HÀNG CỦA DÌ TÁM lúc 9 giờ sáng. Giờ này đã hết khách ăn. Tâm nhìn vào trong:
đây rồi, anh bạn Huỳnh Văn Hoà đang dọn dẹp bàn ghế. Tâm lên tiếng gọi:
- Hoà!
Nghe tiếng gọi, Hoà
nhìn ra rồi reo lên:
-Trời! Anh Tâm! Anh
Tâm!
Hoà chạy vội ra và ôm
chầm lấy Tâm:
- Em biết thế nào anh
cũng trở lại Phan Rang mà! Sao không biên thư cho em trước?
Tâm siết chặt tay người
bạn trẻ:
- Vội quá mà! Gấp quá
nữa nên anh không kịp biên thư cho em. Dì Tám đi đâu rồi?
- Dì Tám đi chợ, cũng sắp về. Anh ơi! Nghe tin
quân ta chiến thắng lớn quá mà. Chúng nó phải bỏ Plây Cu, Kon Tum để tuỳ nghi
di tản, lại bị chặn đánh ở Cheo Reo, Phú Bổn, chết như rạ, có phải không anh?
- Đúng! Em nghe thế nào?
- Đài báo Sài Gòn, Hà Nội
và BBC nói cả mà. Rồi những tên lính thoát chết chạy về đây kháo nhau nữa! Hôm
nay, anh sẽ kể lại em nghe thêm nhé!
- Được, anh sẽ kể mà!
- Nhưng anh chưa nói:
anh nghỉ phép về qua đây hay là anh đi công tác? Trời em nhớ anh Tâm lắm. Chưa
biết bằng cách nào để gặp lại anh, mà nay anh lại đến. Em sướng quá, anh ơi!
Anh ngồi xuống đây, Em lấy nước anh uống...
- Giữa hai ly nước,
Tâm đã kể lại lời khen ngợi của sư đoàn về tác dụng tấm bản đồ Plây Cu của Hoà
vẽ cho Tâm, giúp cho những trận pháo kích nghi binh của Quân Giải Phóng đạt hiệu
quả chiến đấu cao như thế nào. Hoà nghe chuyện kể mỗi lúc một vui hơn. Hay nhất
là cái đoạn anh Bảy Hùng trưng dụng chiếc xe Méc-xê-đéc của ông nhà văn Lãng Tử
quay trở lại biệt thự Dạ Lan Hương tóm gọn tên Cang ác ôn, giải thoát cho hơn
mười người dân bị nó bắt cóc, tống tiền. Tâm phải nói
lời khen ngợi Hoà:
- Nếu hai anh em mình
không bàn nhau chuyện vượt trại giam của tên Cang ác ôn, cứ ngồi chờ nó “hành”
mình thì đâu có chuyện bắt nó, trừ được cái đại hoạ cho dân lành?
Hoà thổ lộ:
- Em có ngờ đâu mấy
anh, mấy chú lại làm lẹ đến thế?
- Đấy là thành tích của
nhiều người, nhưng không thể không kể đến công đóng góp của em và chú Tám, dì
Tám... À anh chưa hỏi: em đã lần nào về Sài Gòn thăm ba má chưa?
Hoà lắc đầu:
- Chưa. Em vẫn sống ở
đây nhờ chú Tám che chở như một người giúp việc chạy bàn. Và dì Tám đã về Sài
Gòn thông tin cho ba má em biết rồi. Má gửi cho tiền và dặn em cứ ở Phan Rang với
dì Tám. Hôm trước nhận được thư anh, em mừng lắm... Anh còn ở đây được bao lâu
nữa?
- Một tuần là tối đa
và lại phải nhờ đến bàn tay vàng của em và chú Tám, dì Tám. Để chút nữa dì, chú
Tám về, anh sẽ nói chuyện cả nhà cùng nghe...
Hoà nói rất hồn nhiên:
- Thế thì vui quá!
Niềm vui của Hoà cũng
là niềm vui chung của vợ chồng chú Tám. Song chú Tám lại nói:
“- Rất khó!”
Sau khi đã nghe hết
yêu cầu của Tâm. Chú nói rõ hơn:
- Sau khi tuỳ nghi di tản
ở Plây Cu và bị đánh tả tơi trên đường số 7 thì Bộ tổng tham mưu ngụy ở Sài Gòn
đã cử Nguyễn Xuân Trang, thiếu tướng tham mưu phó đến Phan Rang và Nha Trang phủ
dụ Phạm Văn Phú trước khi bay ra gặp Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân khu 1 ở Huế.
Anh em ta ở thị đội Phan Rang (bộ đội địa phương) đã thông báo cho chú Tám biết
để đê phòng bọn mật vụ của địch được tăng cường hoạt động ở Phan Rang. Chú nói với Tâm:
- Cháu hãy tạm ở trên
lầu, hạn chế đi lại và chưa nên xuất hiện ngày hôm nay. Cháu có giấy tờ hợp
pháp nhưng lại là người lạ mặt mới tới đây....
Tâm phải vâng lời chú
Tám, lên lầu để tránh những con mắt xoi mói của mật vụ địch thường đóng vai
khách ăn ra vào quán của chú.
Tâm được nghỉ ngơi và
kể nhiều chuyện vui với Hoà, song không giây phút nào không lo toan công việc mới.
12 giờ trưa ngày 26
tháng 3, áp tai vào chiếc máy thu thanh loại nhỏ, Tâm nghe đài phát thanh Tiếng
Nói Việt Nam (từ Hà Nội) phát tin chiến thắng lớn:
“Cố đô Huế đã hoàn
toàn giải phóng, cờ cách mạng phấp phới bay trên Ngọ Môn!
Tâm gọi chú Tám và
Hoà lên cùng nghe tin. Chú Tám vỗ đùi, thích chí nói:
- Mới hôm trước tên
trung tướng nguy Ngô Quang Trưởng tư lệnh vùng 1 chiến thuật còn huyênh hoang:
- Tôi sẽ tử thủ ở Huế.
Việt Cộng muốn vào cố đô sẽ phải bước qua xác tôi!
Quân sĩ của hắn chưa
kịp nức lòng thì quân dân Trị Thiên đã nổi dậy, tiến công vây hãm và đẩy lùi địch.
Chúng bị đánh thiệt hại nặng và rút bỏ Huế chạy về Đà Nẵng. Ngô Quang Trưởng bỏ
Huế, lại hô hào “Tử thủ Đà Nẵng” nhưng hàng vạn tên lính từ Huế chạy vào còn
tinh thần đâu nữa để mà tử thủ?
Tâm nói:
- Sau Plây Cu, đây là sự
sụp đổ dây chuyền của địch và như vậy thì Đà Nẵng cũng quá rung rinh rồi, có phải
không chú?
Chú Tám gật đầu:
- Vì vậy mà suốt một
dải miền Trung từ Đà Nẵng đổ vào qua Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết sẽ là những
điểm nóng với những hoạt động của quân nguy. Tên Nguyễn Xuân Trang thay mặt Cao
Văn Viên chắc chắn là sẽ tăng viện cho Trưởng và Phú đó. Mấy anh ở thị đội dự
đoán không sai!
Tâm thiết tha nói với
chú Tám:
- Cháu xin chú bố trí
cho cháu được tiếp xúc với một vài anh ở thị đội Phan Rang có được không ạ?
Chú Tám ngập ngừng:
- Để chú xem tình hình
có thuận lợi thì mới gặp được, không phải dễ đâu! Đi lại phải thận trọng lắm mới
được. Chủ quan để lỡ một chút là rất nguy hiểm!
Tuy nói vậy, song vừa
lúc 8 giờ tối, lựa lúc phố xá đông người qua lại, chú Tám đã “bốc” Tâm lên ngồi
sau xe Hon-đa của chú để “xuất kích”. Hai chú cháu đã mau chóng hoà vào dòng
người tấp nập trên đường và biến dạng vào trung tâm thị xã Phan Rang.
*****
Sau ba buổi tối “vi
hành” cùng chú Tám, Lê Văn Tâm đã thu vào trí nhớ tất cả cái thị xã Phan Rang,
tuy không lớn lắm, song lại nằm bên quốc lộ 1 và kề sát bờ biển, nơi chiến thuyền
địch có thể đổ quân lên tiếp ứng hoặc rút rất nhanh. Sân bay Thành Sơn có đường
băng dài rộng có thể cho các loại máy bay chiến đấu lên xuống dễ dàng. Về quân
bộ, ngoài ba tiểu
đoàn biệt động thường xuyên có mặt, Phan Rang mới được
tăng cường một lữ đoàn dù, một sư đoàn thuỷ quân lục chiến thuộc lực lượng tổng
dự bị chiến lược từ Xuân Lộc, Biên Hoà phái tới. Xe tăng, xe bọc thép M.113 của
hai thiết đoàn được bố trí bảo vệ sân bay. Sau thất bại ở đường số 7, Phan Rang
cấm trại suốt ngày đêm. Ban ngày thì cảnh sát, mật vụ rải ra đều khắp trên mọi
đường phố, từ bảy giờ tối đến bảy giờ sáng xe quân cảnh đi tuần tiễu trên các
ngả đường lớn quanh thị xã. Chung quanh sân bay Thành Sơn đèn pha cực sáng soi
như ban ngày. Các chòi canh, bốt gác sẵn sàng báo động cùng với mười xe quân cảnh
sẵn sàng nổ súng…
Tâm đã “nhập tâm” tất
cả những điều chú Tám nói lại cùng với số liệu, tình hình hoạt động quân sự mới
nhất của địch qua ba buổi tiếp xúc với các chú ở ban chỉ huy thị đội Phan Rang.
Về nhà chú Tám, lên lầu 1 Tâm còn được chú Tám, dì Tám và Hoà kể lại cho nghe
những mẩu chuyện “lộ bí mật quân sự” của cảnh sát, mật vụ khi chúng la cà ở
quán ăn này, có tên say xỉn còn ba hoa nữa. Tất cả đều nói lên tâm trạng bạc
nhược, chán chường của quân ngụy. Sự hoang mang, lo
lắng tột cùng của những tên thoát chết ở Plây Cu, Kon Tum mau chóng lan sang những
đơn vị tăng cường mới tới như một bệnh dịch làm cho ban sĩ quan chỉ huy luôn
luôn khuyến dụ:
-Tụi bay hãy chờ xem:
quân lực Việt Nam sẽ tái chiếm Buôn Mê Thuột, Plây Cu và Kon Tum... Bộ tư lệnh tiền phương đã được thiết lập tại Phan Rang này, sẽ giáng trả cho Việt
Cộng những đòn đích đáng. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi mới được bổ nhiệm làm tư
lệnh ở đây, sẽ nghiền nát Việt Cộng cho tụi bay coi!
Buổi sáng ngày 28
tháng 3, Tâm lại được chú Tám đưa ra bên xe đò ung dung trở lại Nha Trang với
giấy tờ tuỳ thân hợp lệ và ba bịch hàng mỹ phẩm như một anh chàng thương lái
quá giang về Quy Nhơn.
XXIII
CHIẾC XE JÉP MÀU VÀNG
CHỞ TRẦN VĂN CẨM phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật dừng lại trước ngôi biệt thự của
thiếu tướng tư lệnh Phạm Văn Phú tạm dùng làm sở chỉ huy Bộ tư lệnh tiền
phương.
Từ trên xe bước xuống,
chuẩn tướng Cẩm xồng xộc đẩy cửa vào sân đúng lúc tên lính gác cũng vừa kịp ra mở cổng!
Cẩm rảo bước lên thềm
và Phú đã mở cửa ra đón. Cánh cửa phòng khách được khép lại ngay. Cẩm ngồi đối
diện với Phú, rút khăn lau mặt đẫm mồ hôi:
- Đà Nẵng thất thủ rồi
anh ạ. Việt Cộng tràn vào 7 giờ sáng nay. Ông Ngô Quang Trưởng đã lên trực
thăng bay ra tàu chiến để về Sài Gòn. Thế là ngày 26 Việt Cộng vào Huế rồi hôm
nay 29, đúng 3 ngày sau họ lại vào Đà Nẵng mà không phải bước qua xác ông Ngô
Quang Trưởng! Thật là mỉa mai và cay đắng cho một ông trung tướng, một thời được
coi là người hùng của nền đệ nhị cộng hòa đó!
Phú sửng sốt:
- Sao anh nói cứ như là
luận điệu của đối phương vậy?
Cẩm xót xa:
- Đối phương nói đúng
và hay nữa, ta nhắc lại cũng không thừa! Anh đi họp với Ngô Quang Trưởng, anh
còn lạ gì tính hắn! Bây giờ co giò mà chạy cho nhanh, ấy mới là đại... hài kịch
vậy!
Phú hỏi lại:
- Anh nghe tin Đà Nẵng
thất thủ từ đâu?
- Từ lãnh sự Mỹ ở Nha
Trang chứ đâu! Mấy ông Mỹ “phôn” cho tôi biết nguồn tin chính xác từ sứ quán Mỹ
ở Sài Gòn và từ Phủ đầu rồng nữa! Họ yêu cầu ta bố trí cho họ di tản về Sài
Gòn!
Phú mở tập hồ sơ trên
bàn:
- Ông Thiệu, ông Viên
cũng vừa “phôn” cho tôi đây! Nghe còn buồn não ruột hơn nguồn tin của anh!
- Thế nào?
- Lệnh ông Thiệu: sáp
nhập tất cả phần đất ven biển miền Trung còn lại của Vùng 2 chiến thuật (cũ) kể
cả Ninh Thuận, Bình Thuận vào Vùng 3 chiến thuật của ông trung tướng Nguyễn Văn
Toàn để làm một vành đai thép bảo vệ cho Sài Gòn từ xa! Vùng 3 chiến thuật lại
lấy Phan Rang làm nơi đóng Bộ tư lệnh tiền phương (tử thủ Phan Rang đấy nhé) và
các quý ông lại cử trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm tư lệnh ở Phan Rang!
Nghe giọng nói vừa
cay đắng, vừa bất mãn của Phú, Cẩm hỏi:
- Thế nghĩa là quân
khu 2 của anh và tôi bị xoá sổ?
- Đúng! Còn gì nữa đâu!
- Ta ngồi đây trở thành
vô vị?
- Phải rồi! Tôi là thiếu
tướng tư lệnh, anh là chuẩn tướng phó tư lệnh ở Plây Cu, còn ở lại đây thì hai
chúng ta là tướng... Không quân, không còn một tấc đất cắm dùi!
- Anh có hỏi ông Viên
về việc bàn giao cho ông Vĩnh
Nghi không?
- À ông Viên bảo phải
giữ bí mật với ông đại tá Lê Khắc Lý, giao cho ông Lý ở lại coi số quân ở Bình
Định (sư đoàn 22) và số lính ở Nha Trang nữa. Còn tôi và anh bay về Sài Gòn rồi
sẽ tính sau!
- Còn ông chuẩn tướng
Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6 ở Nha Trang?
- Ấy, ông Sang lại phải
mang tất cả máy bay còn lại về sân bay Thành Sơn ở Phan Rang cho an toàn và để ứng
phó với Việt Cộng! Lát nữa tôi sẽ tin cho ông Sang biết quyết định này và sẽ
xin một chuyến C.130 từ Sài Gòn ra đây để bốc mấy ông Mỹ về Sài Gòn chiều nay.
- Còn tôi và anh sẽ về
Sài Gòn lúc nào? Ta sẽ thông báo cho ông Lý, ông Sang biết: sáng mai tôi và anh
về họp ở Bộ tổng tham mưu và ta sẽ đi xe hơi sớm từ 6 giờ sáng. Chỉ cần vài cái
va-li là xong, gọn nhẹ. Còn tối nay ta cứ vui vẻ với em út ở vũ trường Ha-oai..
Trần Văn Cẩm chớp chớp mắt:
- "Xừ” Quang cố vấn an ninh của ông Thiệu
có nói thêm gì không?
- Có. Hắn nói: tôi với
anh cứ về Sài Gòn, hắn sẽ giúp. Tình xưa, nghĩa cũ, dân Bắc Kỳ không bỏ nhau
đâu!
Cẩm ngậm ngùi:
- Một cơn ác mộng!
Phú chua chát:
-Tuỳ nghi di tản là một
tấn thảm kịch! Có lẽ mai đây ông Thiệu mới sáng mắt ra! Nếu cứ để tôi và anh giữ
lấy Cao Nguyên thì đâu đến nỗi bị đát như thế này?
- Ừ, mất Plây Cu thì
đã mất luôn Huế, nay lại mất Đà Nẵng! Ngày mai, ngày mốt sẽ còn mất những đâu?
Có trời mà biết!
- Còn gì nữa nhỉ?
- Anh về sửa soạn để
sáng mai đi sớm với tôi. Còn bây giờ tôi sẽ “phôn” cho Lý và Sang. Phải bí mật
đó, nghe!
- Anh cứ yên tâm, mà!
Phú mời Cẩm một điếu
thuốc lá thơm:
- Tôi và anh bị Việt
Minh bắt làm tù binh một lần ở Điện Biên Phủ năm 1954 rồi lại dắt díu nhau vào
đây. Tưởng là yên thân làm ăn, ngờ đâu lại đến bước long đong thế này?
Cẩm rít một hơi thuốc thật dài:
- Về Sài Gòn, ta sẽ tâm sự
nhiều hơn. Chỉ biết rằng: ta không thể để Việt Cộng bắt làm tù binh một lần nữa
được!
- Nhất định sẽ là như
thế!
*****
Chờ cho Cẩm bước lên
xe, Phú mới quay vào gọi dây nói cho Lý và Sang dặn dò công việc để... “sớm mai
tôi và anh Cẩm về Sài Gòn họp”. Phú nói thật bình
tĩnh, thật rõ ràng nên Lý và Sang đã tin và răm rắp nghe theo.
Phú cũng biết rằng: mọi
chuyện đã xảy ra coi như số phận đã an bài, có rối ruột lên cũng vô ích. Chi bằng
cứ nén chặt nỗi đau xuống và làm từng việc. Chiến hữu thân thiết nhất còn lại
không có ai ngoài Trần Văn Cẩm. Sau những ngày thất bại ê chề, choáng váng tưởng
không đứng lên được, bây giờ nỗi đau ấy lại thành một chai sạn nữa rồi! Con đường
binh nghiệp có lẽ dừng lại ở đây sao? Phải hỏi Đặng Văn Quang xem sao? Quang sẽ
hiến “kế Khổng Minh” gì đây? Hắn nói cứ về Sài Gòn rồi sẽ hay mà! Bạn bè nhờ
nhau lúc hoạn nạn là chuyện bình thường!
Nghĩ đến sáng mai về
Sài Gòn thì chiều mai sẽ được gặp lại vợ con, Phú gọi dây nói cho Lãng Tử:
- Ông Lãng Tử thân mến! Tôi Phú đây, Phú ở Nha
Trang đây. Tôi thành thật xin lỗi ông là chưa đón được ông và cô Lệ Ninh vì chiến
sự xảy ra ác liệt trên đường số 7…
Tiếng Lãng Tử từ đầu
dậy nói đằng kia:
- Không có gì đâu! Lẽ
ra tôi phải xin lỗi ông vì tôi còn nấn ná ở lại Plây Cu, lại gặp mấy ông biệt động
nằm vùng, rồi lại chứng kiến cảnh thằng Cang lợi dụng lúc tuỳ nghi di tản đã bắt
cóc tống tiền mấy tiệm buôn giàu có ở Plây Cu, rồi nó bị mấy ông Việt Cộng bắt
đi. Chưa biết sống chết ra sao. Tôi và cô Ninh phải cáo lỗi với ông để về Sài
Gòn, thằng Lâm có nói lại với ông không?
- Rồi, nó nói rằng ông
và cô Ninh đã về Sài Gòn. Tôi rất mừng. Mai tôi với ông Trần Văn Cẩm sẽ về Sài
Gòn họp đấy. Sẽ đến thăm ông. Ở Nha Trang nhộn nhạo lắm rồi. Tôi sẽ đem Ngọc
Ngà về Sài Gòn lánh nạn. Tôi không muốn bà Lâm Đệ của tôi phải ghen tuông, tôi
sẽ gửi Ngọc Ngà tạm ở chỗ ông với cô Ninh được chứ?
- Được! Xin sẵn sàng!
Xin mời cô Ngà cứ về đây ở với Ninh cho vui! Tôi đã cho Ninh mở một tủ thuốc lá
bán lẻ trước nhà tôi, còn tôi vẫn viết lai rai đó.
- Cám ơn trước nhé!
Còn chuyện Huế thất thủ, Đà
Nẵng thất thủ ông biết rồi chứ?
- Mới biết sớm nay,
nghe BBC mà!
- Thôi, hẹn ông với
cô Ninh chiều mai sẽ... tái ngộ nhé!
Buổi tối, Phú đưa Ngọc
Ngà đến vũ trường Ha-oai không phải để nhảy mà thể theo lời năn nỉ của Ngà:
- Em về Sài Gòn, chưa
biết bao giờ mới trở lại Nha Trang. Anh cho em gặp lại mấy đứa bạn để sau này đỡ
nhớ chúng nó…
Khi hai người đến vũ
trưởng Ha-oai thì vũ trường đã đóng cửa im ỉm. Cô Năm - bà
chủ Ha-oai - nói giọng buồn buồn:
- Mấy ông Mỹ tuỳ nghi
di tản hết rồi! Mấy chú phi
công cũng trở về Phan Rang. Em út ngơ ngác hỏi tôi, tôi đầu có biết!
Phú hỏi bà chủ:
- Ông Cẩm có đến đây
không, chị?
-Có đến và “lĩnh” một
em út đi đâu đó rồi!
- Em út tên chi?
- Huệ!
- Chị cứ mở cửa, ngại gì?
- Không có khách thì
mở cửa làm gì! Với lại đang nhộn nhạo thế này, lính nó “quậy” thì chả bõ!
Trên đường về nhiệm sở,
Phú nói với Ngà:
- Vũ nữ cũng mạnh em
nào, em ấy chạy. Rõ thật buồn...
Ngà nhún vai:
- Em linh cảm thấy:
hình như anh và em sẽ ở lại Sài Gòn mất thôi, cũng như khó lòng trở lại Plây
Cu, Nha Trang mà không giữ được thì ở đây sẽ rất nguy hiểm, anh ạ.
Phú hôn lên mái tóc bồng
bềnh của Ngọc Ngà.
- Hãy cứ về Sài Gòn,
khi nào tình hình ổn định thì ta lại về đây, lo gì!
Ngọc Ngà hiểu mà chẳng
dám nói ra: “Khi nào mới ổn định?”
Sự im lặng của Ngọc
Ngà làm cho Phú chạnh buồn; hắn thầm nghĩ: “- Nàng
nói đúng! Tình hình thế này, phải về Sài Gòn thì chưa biết ngày nào mình mới trở
lại Nha Trang, cũng như chẳng bao giờ còn hy vọng trở lại Plây Cu!”
***
Về đến Sài Gòn, Phạm
Văn Phú chỉ ghé qua nhà thăm vợ con rồi lại hấp tấp đến gặp Đặng Văn Quang tại
nhà riêng.
Quang đón Phú rất nồng
nhiệt:
- Vào đây! Tôi đang
mong ông.
Phú bình thản nói:
- Tôi là tướng thất
cơ, lỡ vận. Ông có kế gì hay thì giúp tôi với. ..
- Có chứ! Tôi với ông
là chỗ chí cốt, tôi mới nói: trước hết việc sáp nhập phần đất còn lại của quân
khu 2 và quân khu 3 chỉ là tạm thời để cuộc chiến đấu có hiệu quả hơn. Ông đã
biết: Huế, Đà Nẵng đã thất thủ, Việt Cộng đang uy hiếp Nha Trang, Cam Ranh, nếu
không ngăn chặn được thì Sài Gòn cũng sẽ bị uy hiếp. Cho nên lập Bộ tư lệnh tiền
phương ở Phan Rang là rất cần thiết. Ông Thiệu đã bàn kỹ trước khi quyết định.
Còn ông và ông Cẩm, ông Lý thì sẽ về quân khu 3 hoặc về Bộ tổng tham mưu...
Phú chán nản:
- Có lẽ mấy đứa chúng
tôi chẳng còn giúp được gì cho ông Thiệu nữa đâu?
Quang lắc đầu:
- Đừng có bị quan như thế. Ông biết không? Tướng
Uây-en tham mưu trưởng lục quân Mỹ đến Sài Gòn ba hôm nay rồi đó. Ông ta đã làm
việc với ông Thiệu, đã điện về Mỹ xin tăng viện vũ khí cho ta và đích thân vạch
kế hoạch phòng thủ từ xa. Bắc Việt không đủ khả năng giữ được ven biển miền
Trung đâu. Ta sẽ “chơi” trận địa chiến, huy động hải, lục, không quân tái chiếm
Đà Nẵng, Huế trở ra đến vĩ tuyến 17. Sau đó sẽ tái chiếm Cao Nguyên...
Phú nghe Quang nói đến
tướng Mỹ Uây-en đã hỏi ngay:
- Liệu rồi ông Uây-en
có thể lật ngược thế cờ được không?
Quang cười thật tươi:
- Ta thiếu vũ khí, khí
tài hiện đại, thiếu máy bay F.5, A.37 cần bổ sung
gấp thì Mỹ đã lập cầu hàng không từ Băng Cốc đến Tân Sơn Nhất rồi và nguồn viện
trợ này đã đến Việt Nam từ chiều hôm qua. Thế là đẹp quá rồi, còn gì phải phàn
nàn?
Đặng Văn Quang nổi tiếng
trong đám tướng trẻ với tài thuyết phục người khác phải nghe theo mình. Phú
không thể không tin Quang, hơn nữa Phú đang cần có một chỗ dựa, một nguồn an ủi
trong cơn đen, vận bĩ. Quang lại nói thao thao:
- Có thêm máy bay, xe
tăng, đại bác, súng ống thừa thãi thì sẽ cứu vãn được tình thế. Ông Thiệu quyết
định cho bế giảng sớm trước thời hạn tất cả các trường huấn luyện tân binh ở
Sài Gòn, ở Nha Trang để đưa số lính mới
này bổ sung cho các quân đoàn, bù vào số bị thương vong ở quân đoàn 1, quân
đoàn 2. Mỹ là nước đồng minh lớn. Sự giúp đỡ của Mỹ sẽ rất có hiệu quả. Về quân
số của ta từ chủ lực đến địa phương ta sẽ có đủ một triệu người. Ta có dư sức để
chặn đứng và đẩy lùi đối phương. Ông Cao Văn Viên - tổng tham mưu trưởng - hẹn
với tôi sẽ đến đây làm việc ngay bây giờ!
Phú sửng sốt:
- Ông Viên sắp đến
đây?
- Phải, ông
Viên sẽ nhờ tôi báo cáo với ông Thiệu về khả năng phòng thủ ở Phan Rang. Ông cứ
ngồi yên ở đây, ông Viên đến, cùng bàn. Có gì là bí mật đâu...
Ít phút sau, Cao Văn
Viên đã đẩy cửa bước vào nợ phòng khách của Quang;
- Xin chào! Ơ kìa! Lại
cả anh Phú nữa! Mới về hả?
Quang và Phú bắt tay
Viên rồi cùng ngồi xuống ghế. Viên nói tiếp:
- Ông trung tướng Nguyễn
Vĩnh Nghi vừa điện cho tôi biết: Việt Cộng đã tràn vào Nha Trang và Cam Ranh,
hai nơi này coi như bỏ ngỏ!
Phú kêu lên:
- Thế là hai nơi này
đều thất thủ!
Quang khoát tay, cố
giấu sự sợ hãi:
- Đành vậy thôi.
Nhưng đối phương không thể nào dụng đến Phan Rang được! Và sớm muộn thì ông
Vĩnh Nghi cũng sẽ quét sạch đối phương, tái chiếm suốt dải ven biển miền Trung!
Đó mới là sự thật. Đó mới là đáp số sau
cùng. Trong chiến tranh, từ cổ chí kim, lệnh tiến thoái là chuyện bình thường.
Việt Cộng đang rơi vào cái bẫy của ta mà không biết!
Nghe Quang nói, Cao
Văn Viên chỉ ầm ừ cho qua, bởi lẽ là bao nhiêu năm ngồi ở ghế tổng tham mưu trưởng
mà tài tham mưu của Viên chưa có gì là xuất sắc, thậm chí còn “mù tịt” nữa! Một
tháng trước đây, Viên nói: “Việt Cộng đánh Plây
Cu và Kon Tum, phải tăng cường phòng thủ hai nơi này!” Đùng một cái, Việt Cộng
lại đánh Buôn Mê Thuột! Còn Phạm Văn Phú vẫn tin lời Quang nói vì ai dám bảo
quân lực Việt Nam cộng hoà hùng hậu như thế mà lại chịu thua Việt Cộng? Cho đến
lúc này, sau khi đánh chiếm được Cao Nguyên, đối phương đã tràn ngập Huế, Đà Nẵng
rồi Nha Trang, Cam Ranh thì thực lực của họ không phải chỉ có một vài sư đoàn,
mà phải kể đến hàng chục sư đoàn. Đối phương còn tung ra trận nhiều xe tăng,
thiết giáp, đại bác tầm xa và tên lửa phòng không. Muốn đánh bại được đối phương, nhất thiết phải có thêm vũ khí Mỹ và phải củng
cố lại các quân đoàn mạnh.
Cao Văn Viên từ hai hôm nay
được Thiệu yêu cầu phải trình lên một kế hoạch phòng thủ từ xa, bắt đầu từ Phan
Rang trở vào lấy hai điểm nóng làm hai cái chốt mạnh đó là thị xã Phan Rang và
Xuân Lộc ở Phan Rang có trung tướng Vĩnh Nghi, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang. Ở
Xuân Lộc có trung tướng Nguyễn Văn Toàn, chuẩn tướng Lê Minh Đạo. Về quân lực,
Bộ tổng tham mưu và Bộ quốc phòng có thể chi viện tối đa cả hải, lục, không quân theo yêu cầu của các tư lệnh chiến trường.
Cầm bản kế hoạch
phòng thủ trong tay, Đặng Văn Quang nói với Viên:
- Đây là cách “bài
binh, bố trận” của ta, song còn tùy thuộc vào thực tế chiến trường.
Viên hỏi lại Quang:
- Ý kiến của tổng thống
như thế nào?
- Ông Thiệu rất hài
lòng với cách bổ nhiệm các tư lệnh chiến trường và tin tưởng rằng: ông Vĩnh
Nghi sẽ làm nên công chuyện. Tổng thống nói: ta không thể lui được nữa. Nếu ta
lui nữa thì Việt Cộng sẽ tràn vào và... sẽ là thảm hoạ! Và trách nhiệm sẽ thuộc
về Bộ tổng tham mưu đó.
Viên nghe Quang nói,
đã thấy lạnh cả người. Vì chỉ nguyên cái việc đánh giá sai các hoạt động của đối
phương ở Plây Cu đã gây nên thảm hoạ rồi. Đáng lẽ Viên đã bị mất chức và bị tống
về vườn, song Thiệu chưa tìm được ai thay Viên, nên tạm thời cứ phải để Viên điều
hành công việc và bên cạnh mình, Thiệu có Đặng Văn Quang - một cố vấn đáng tin
cậy nhất. Theo Thiệu thì Quang có tài nắm giữ và điều hành bộ máy tình báo, được
CIA kính nể, Quang lại tuyệt đối trung thành với Thiệu. còn với Phú, Thiệu nói
cho Quang hiểu hết ý mình: Phú là một tướng… tồi nên mới để mất Cao Nguyên và
bây giờ lại mất luôn cả Quy Nhơn, Nha Trang. Cam Ranh. Phú đã là tướng bại trận
thì y không còn có thể chỉ huy được nữa. Y được tha tội chết, nhưng y buộc phải
về với vợ con ở Chợ Lớn.
Quang hiểu được ý của
Thiệu như vậy, nên Quang phải lựa lời nói với Phú cho Phú yên lòng. Quang nghĩ:
dù sao thì cũng không nên xử lý phũ phàng với một con người đã từng là bạn của
mình - kể cả trong binh nghiệp cũng như chuyện làm ăn trong đường dây buôn bán
ma tuý từ Tam giác vàng - vì vậy, Quang nói với Phú:
- Ông đã tin tôi thì
ông phải làm đúng bài bản của tôi, đừng vội vàng mà lại hỏng hết đại sự. Ông cứ
chờ ít ngày nữa thôi, khi chúng tôi xoay chuyển được tình thể thì ông lại vinh
thăng! Còn Đặng Văn Quang thì còn Phạm Văn Phú, đừng có ngại!
Phú lại vui vẻ siết
chặt tay Quang:
- Tôi tin ông, tôi chờ
đợi một ngày mai tốt đẹp!
- Nhất định sẽ là như
thế!
Cao Văn Viên nghe
Quang nói chuyện với Phú, biết rằng Quang còn o bế viên tướng bại trận này, nên
cũng góp một ý kiến để yên lòng Phú:
- Huế và Đà Nẵng thất
thủ, ông Ngô Quang Trưởng chạy về Sài Gòn, còn đang nằm trong viện quân y, nay
đến lượt Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh thất thủ, anh Phạm Văn Phú lại chạy về đây.
Các anh cứ yên tâm, ông Uây-en tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã đến Sài Gòn thị
sát tình hình tại chỗ, Mỹ đang viện trợ thêm vũ khí tối tân để quét sạch Việt Cộng,
tái chiếm lãnh thổ Việt Nam cộng hoà trong một vài tuần tới. Việt Cộng chớ vội
rùm beng, tưởng là ngon xơi, mà chết! Cái Tết Mậu Thân (1968) Việt Cộng đã tổng
tiến cống và nổi dậy và đã bị đánh như thế nào, các anh còn nhớ đó! Lần này, cũng sẽ như vậy thôi, mà họ sẽ còn thất bại nặng nề
hơn, cho coi!
Quang rót ba ly rượu
mạnh:
- Xin mời các chiến
hữu!
Ba người cụng ly và cùng “dô” trăm phần trăm.
Uống cạn một hơi cả ly rượu đầy.
*****
Buổi sáng hôm sau,
lúc 9 giờ, nhận lời mời của Phạm Văn Phú, Đặng Văn Quang đã đến khách sạn
Pa-lát-xơ (Palace) đường
Tự Do.
Trong phòng 301 trên
lầu 3, Quang hỏi:
- Có chuyện chi nữa mà
ông làm long trọng thế này?
- Chuyện tôi với ông
thì... trước sau như một...
Giọng nói thân mật của
Phú làm cho Quang càng thấy Phú dễ thương hơn:
- Ừ. Ông cứ nói đi!
Phú chìa tay lên bàn:
rượu vang và đồ nhậu bày la liệt, lại có cả 3 cái ly, 3 chiếc chén, ba đôi đũa:
- Khỏi phải nói chi
nhiều, ông hiểu cho: đây là lòng thành của tôi đối với riêng ông mà thôi. Vì có
chiến sự ác liệt nên Buôn Mê Thuột, Plây Cu rồi đến cả Nha Trang đã bị thất thủ.
Và tôi đang là thiếu tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, bỗng mất hết tất cả. Còn
lại chỉ có chút tình bạn thủa hàn vi của ông dành cho tôi. Suốt đời tôi, dù thể nào, tôi cũng không thể quên án nghĩa đối với ông. Cho
nên bữa tiệc nhỏ hôm nay ở đây tôi mời ông chỉ cũng như bao nhiêu lần trước từ
20 năm nay ta ngồi nhậu với nhau mà thôi. Hôm nay có khác là tôi đang gặp bước
trầm luân, ông lại ra tay nâng đỡ. Cho nên lần cuối năm ngoái khi ông lên Plây
Cu thăm tôi, ta có cùng nhau làm một “phi vụ” từ Tam giác vàng. Kết quả rất là
mỹ mãn, tôi đã cho thằng Cang thiếu tá mang hàng về Sài Gòn, bán trôi chảy cho
Tây đem về Mác-xây (Pháp). Sau đó, nhờ ảnh hưởng của ông, tôi làm luôn hai chuyến
nữa, cũng rất trôi chảy, chưa kịp gặp lại ông thì chiến sự xảy ra, tôi bận tối
mắt, tối mũi. Hôm nay tôi phải thân chinh mang về biếu ông một nửa số lời của
hai chuyến ấy. Tôi đã chuyển thành vàng và đô-la Mỹ, để cả trong cái cặp này.
Ông cứ vui lòng nhận cho tôi để tôi được yên tâm. Còn phần nửa của tôi, tôi đã
nhận rồi và giao cho vợ tôi - cô Lâm Đệ - giữ dự phòng khi loạn lạc phải tuỳ
nghi di tản cũng đủ xài...
Quang làm bộ sửng sốt:
- Ông bày vẽ ra như thế
này, tôi khó nghĩ, khó nói quá!
Phú xua tay;
- Ô hay! Tôi đã nói rất
chân thành, đây chỉ là sự “phân phối công bằng” mà thôi, tiền lời từ ma tuý mà
ra thì cứ yên tâm mà nhận, tôi cũng vậy. Và ông nên nhớ: Phạm Văn Phú bao giờ
cũng thuỷ chung cũng chơi đẹp với chiến hữu - nhất là đối với ông là bạn thuở
hàn vi ở ngoài Bắc của tôi thì tôi càng phải quý trọng! “Người là vàng, của là ngãi!” Các cụ ngày xưa nói như thế mà!
Quang đã xiêu lòng:
- Ông nói như thế mà
tôi còn từ chối thì hoá ra tôi lại phụ cả lòng ông...
Phú vẫn thiết tha:
- Ông yên tâm đi! Biết
đâu sau này, có lúc ông lại cho tôi gấp đôi ba lần số này thì sao?
Quang nhận chiếc cặp
da nặng ký từ tay Phú rồi lại hỏi:
-Tiệc vui hôm nay, ông
còn có khách nữa sao mà có tới 3 cái ly?
Phú thấy Quang đã nhận
số tiền và vàng trị giá hàng trăm lượng đựng trong chiếc cặp rồi thì rất yên
tâm và hoan hỉ lộ ra nét mặt. Hắn giải thích về chiếc ly thứ ba:
- Có một người dự tiệc
thứ ba, song không phải là... nam giới, mà lại là một... giai nhân khuynh quốc,
khuynh thành!
Nghe nói đến “giai
nhân”, Quang sáng mắt lên:
- Chà! Lại nghiêng nước,
nghiêng thành? Ai đây?
Phú được thể, càng chậm
rãi:
- Tôi biết tính ông,
cũng như tính tôi - chúng mình đều là đàn ông cả mà - lại đều là “nhà võ” suốt
đời trận mạc, cũng như Na-pô-lê-ông ngày xưa phải có Giô-giê-phin. Anh hùng phải
sánh với thuyền quyên đó. Người mà ông sắp gặp ở bữa tiệc hôm nay, đang ngồi chờ
ở phòng 304 đây thôi. Đó là một “em út” 20 tuổi, vũ nữ số 1 của vũ trường
Ha-oai ở Nha Trang, đã lên Plây Cu hồi tháng 8 năm ngoái khi tôi tổ chức dạ hội
“Đêm màu Hồng”. Trong cuộc tuỳ nghi di tản lúc này, các cô vũ nữ khác thì tán lạc
mỗi người một phương, kể cả chủ nhân là cô Năm cũng di tản, tôi qua Nha Trang
và nhận được lệnh của ông gọi về Sài Gòn, tôi gọi luôn em út này về cùng tôi. Về
đây thì tôi lại vướng bà Lâm Đệ, bà ta biết được thì phiền nên tôi nghĩ đến
ông, tôi “ký gửi” luôn em ở khách sạn này và xin tặng cho ông làm một món quà đặc
sản có một không hai ở Nha Trang đó! Tôi cũng lại mong ông vì tấm lòng thành thật của tôi mà đừng từ chối!
Càng nghe Phú nói,
Quang càng cảm thấy thèm khát cô gái, song vẫn làm bộ băn khoăn:
- Ông quá yêu tôi, cho tôi nhiều thứ quá! Biết lấy gì mà đáp lại thịnh tình của ông được?
Phú xua tay:
- Ông lại khách khí rồi! Tất cả mọi nguồn vui
tôi mang đến với ông hôm nay, xin cứ coi như là cái lộc của trời cho Phạm Văn
Phú, Phú xin nhường cho ông! Và xin nói lại để ông yên tâm: chuyện làm ăn này
là chuyện riêng của Phú và Quang! Sống để dạ, chết mang đi, không có ai là người
thứ ba có thể biết được! Quý phu nhân cũng như bà Lâm Đệ của tôi lại càng mù tịt.
Ông Thiệu còn có cô bồ nhí tên là Kim Anh để bí mật ở Vũng Tàu kia mà, tại sao
ông Quang lại không có một nàng Ngu Cơ hay một nàng Tây Thi nhỉ?
Quang đành phải xoa
tay tỏ vẻ mãn nguyện, đồng tình:
- Ông đã nói như thế,
thì tôi còn từ chối làm sao? Vậy xin mời nàng qua đây, à, ông chưa giới thiệu
quý danh của nàng? Nàng có cái tên đẹp như cả tấm thân của nàng: tên nàng là Ngọc Ngà! Ngọc Ngà còn có đôi mắt luôn bâng khuảng, ngơ
ngác như con nai vàng ngơ ngác của Lưu Trọng Lư, nên tài tử ở vũ trường Ha-oai
thường gọi nàng là “Cô gái có đôi mắt nai”. Ngọc Ngà mồ côi cha, có một bà má
nghèo ở Đà Lạt, nàng là con một, rất hiếu thảo, theo bạn bè đi làm vũ nữ để có
tiền nuôi mẹ, thế thôi. Trong buổi loạn ly này, nàng bơ vơ quá theo tôi về Sài
Gòn, cũng có ý sẽ tìm chỗ làm việc. Tôi hứa giúp đỡ. Nàng tin tưởng tôi và tôi
đã nói thật: tôi sẽ giới thiệu nàng với ông, ông có đầy đủ khả năng bao dung,
giúp đỡ tận tình...
- Thôi, được rồi. Ông
có thể đưa nàng qua đây, coi thử xem nào!
Phú đứng lên mở cửa,
sang phòng 304. Cánh cửa mở sẵn. Ngọc Ngà ngồi chờ đợi, có vẻ sốt ruột.
Phú vui vẻ:
- Em đợi có sốt ruột
không? Anh còn phải giới thiệu em tỉ mỉ với ông trung tướng Đặng Văn Quang.
Ngọc Ngà tỏ vẻ sợ sệt,
e ngại:
- Anh nói về em những
gì với ông Quang?
- Anh chỉ nói em là đứa
em út rất là ngoan, vì ở Nha Trang phải di tản, em mất việc làm nên về đây. Anh
không nói là em đã ở Plây Cu mấy tháng đâu nhé, nói cho tế nhị mà... Ông Quang
có hỏi lại lịch gì thì em cứ bảo là “anh Phú đã nói rồi, anh hỏi thì em khó trả
lời lắm. nhà em nghèo nên em mới phải đi làm vũ nữ, anh giúp em thì em xin tình nguyện... chiều anh hết mình, thế thôi!” Em
nhớ chưa?
- Dạ, em nhớ!
- Thế thì đi với anh
sang phòng 301, ngồi nhậu lai rai rồi anh giới thiệu em với ông Quang. Nhậu xong thì anh về
vì có công chuyện ở gia đình. Em ở lại đây. Cận vệ của ông Quang và chủ khách sạn
này sẽ bảo đảm an toàn tuyệt đối cho em..
Ngọc Ngà đứng lên, chỉ
cầm theo một túi xách tay, thong thả theo Phú sang phòng 301.
Quang mở cửa. Ngọc
Ngà cúi đầu chào:
- Em xin chào
trung tướng!
Mặc dù Quang và Phú
hôm nay đều mặc thường phục, có dáng công chức cao cấp. Song Ngọc Ngà cũng cứ
chào Quang là trung tướng. Quang đáp: “Chào em!”
Ba người ngồi vào bàn
nhậu, Năm phút sau một cô tiếp viên đã bưng đồ nhậu vào, toàn là món ăn Tàu
nóng bốc hơi nghi ngút. Chờ cho tiếp viên quay ra, Phú khép chặt cánh cửa ra
vào và ân cần giới thiệu:
- Giới thiệu với anh
Quang: đây là em Ngà ở Nha Trang di tản cùng với tôi về Sài Gòn, hoàn cảnh của
Ngà tôi đã nói rõ với anh rồi. Và giới thiệu với em Ngà: đây là anh Đặng Văn
Quang, trung tướng làm việc tại phủ tổng thống đã hiểu hoàn cảnh của em. Hôm
nay, mừng buổi hội ngộ đầu tiên, tôi mời anh Quang và em dự bữa ăn thân mật
này. Em cứ coi bữa cơm này là bữa cơm gia đình và em xưng hô với các anh ở đây
như anh em trong gia đình cho tự nhiên, em hiểu không?
- Dạ, em đã hiểu?
Phú rót đầy ba ly rượu. Quang nâng cốc, cụng
ly:
- Nào, xin mời anh Phú,
mời em Ngà! Chúc sức khoẻ và mọi điều may mắn, tốt lành!
Vừa bón thức ăn cho
Quang, Ngọc Ngà vừa nhắp từng chút rượu. Đôi má của cô cứ ửng đỏ dân lên, khiến
cho khuôn mặt thêm hồng hào. Thấy Quang cứ nhìn mình chăm chắm, Ngọc Ngà cúi mặt
e thẹn, rồi lại ngước mắt nhìn lên bằng đôi mắt nai ngơ ngác, bâng khuâng. Bộ đồ
Ngà mặc hôm nay là bộ đồ “xoa rê” màu lam làm nổi những
đường cong tuyệt mỹ với một thân hình dong dỏng cao và cân đối đến mức hoàn hảo.
Quang nhìn Ngà từ đầu đến chân rồi lại quay nhìn Phú như muốn nói với Phú rằng:
“Anh có con mắt tinh đời thật! Quả là danh bất hư truyền, hoa khôi Sài Gòn cũng
chỉ đẹp đến thế này thôi!”
Ngọc Ngà thừa thấy
cái nhìn thèm khát của tên trung tướng này. Còn Phú, hắn rất đắc ý là đã làm vừa
lòng Quang vừa là bạn vừa là thượng cấp của hắn. Như thế này thì chắc chắn
Quang sẽ không tiếc sức mình mà “xả thân” cứu Phú trong bước gian nạn...
Mười hai giờ trưa,
Phú rời khách sạn Pa-lát-xơ. Đặng Văn Quang híp mắt cười:
- Cám ơn! Cám ơn anh
nhiều! Rồi Quang quay vào dìu Ngọc Ngà sang phòng 304, tay gã không quên xách
theo chiếc cặp da căng phồng đô la và vàng của Phú chuyển giao.
XXIV
THƯỢNG TÁ BÙI HUY BỔNG,
CHÍNH UỶ Sư đoàn 320 nhận được tin quân địch đã rút chạy khỏi Nha Trang và Cam
Ranh đúng lúc Bộ Tổng tư lệnh thành lập quân đoàn 3 bao gồm ba sư đoàn mạnh:
320, 10 và 316. Ông càng thấy hiệu quả to lớn của chiến dịch giải phóng Tây
Nguyên: chỉ một đòn đánh trúng huyệt vào Buôn Mê Thuột (ngày 10-03-1975) đã làm
cho quân địch phải choáng váng, vội vã rút bỏ Plây Cu và Kon Tum (ngày
16-03-1975) tháo chạy qua con đường số 7 để về Tuy Hoà. Sư đoàn 320 được giao
nhiệm vụ chặn đánh địch trên đường số 7, không cho chúng rút về tăng viện cho
ven biển miền Trung. Sau ba ngày đêm chặn đánh quyết liệt, sư đoàn 320 đã xoá sổ
toàn bộ chiến đoàn của địch, giải phóng thêm Cheo
Reo, Củng Sơn và Phú Bổn, bắt sống tên đại tá Phạm Duy Tất, chỉ huy trưởng các
liên đoàn biệt động quân của Vùng 2 chiến thuật. Chưa có chiến dịch nào mà số
tướng tá địch bị ta bắt lại nhiều như chiến dịch Tây Nguyên: từ đại tá tỉnh trưởng
Đắc Lắc Nguyễn Công Luật, sư đoàn phó sư đoàn 23 Vũ Thế Quang, rồi cố vấn Mỹ và
nay là đại tá Phạm Duy Tất! Tên thiếu tướng tư lệnh Phạm Văn Phú, chuẩn tướng Trần Văn Cẩm phó tư lệnh, đại tá Lê Khắc
Lý bay vội về Nha Trang rồi lại chuồn khỏi Nha Trang khi quân ta đánh tới. Thế
là cả quân đoàn 2 của địch gồm 2 sư đoàn bộ binh, 6 liên đoàn biệt động quân, 4
thiết đoàn bị xoá sổ. Số tàn binh còn lại chạy về Phan Rang, tập hợp dưới trướng
của tên trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi... Niềm vui của chính uỷ được nhân lên gấp
bội khi đại tá sư đoàn trưởng Kim Tuấn mang về quyết định thành lập quân đoàn 3
do thiếu tướng Vũ Lăng làm tư lệnh và đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính uỷ.
Đại tá Kim Tuấn nói:
- Anh Vũ Lăng cho biết: Bộ Tổng tư lệnh và
Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập 5 quân đoàn, trong đó quân đoàn 3 đã có
2 sư đoàn 320 và 10 là 2 mũi chủ công góp phần tiêu diệt một bộ phận quan trọng
sinh lực địch ở Plây Cu rút chạy trên đường số 7. Tàn quân địch đã rút chạy khỏi
Nha Trang, Cam Ranh để co cụm về Phan Rang. Ngày 28-03-1975 tướng Uây-en tham
mưu trưởng lục quân Mỹ đã đến Sài Gòn, đang bày mưu tính kế cho Nguyễn Văn Thiệu
đối phó với cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta. Chúng đã chọn Phan
Rang để “tử thủ” bảo vệ Sài Gòn từ xa. Nhiều sư đoàn chủ lực, lữ đoàn dù, máy
bay, xe tăng, đại bác và cả hạm đội hải quân ngoài biển sẵn sàng yểm trợ cho
quân bộ ở Phan Rang. Phan Rang được đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Vĩnh Nghi
trung tướng ngụy cùng với tên chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6 vừa
rút chạy từ Plây Cu về đây. Bộ chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm tiêu diệt cứ điểm Phan Rang để giải phóng nốt thị xã Phan Thiết,
mở đường cho quân ta áp sát Sài gòn. Ở Phan Rang, địch mới được tăng viện, sẽ
chống trả quyết liệt, nhưng nhược điểm cơ bản của chúng là tinh thần của binh
lính và sĩ quan chỉ huy hết sức bạc nhược. Về phía ta thì có nhiều cái mạnh hơn
hẳn. Bộ đội sau chiến thắng lớn đều hăng hái và có quyết tâm cao. Xe tăng, đại
bác, tên lửa, vũ khí đạn dược đủ để tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Phan Rang
càng tiêu diệt được nhiều sinh lực địch ở đây thì càng đỡ được “gánh nặng” khi
ta đánh vào miền Đông Nam Bộ và đánh vào Sài Gòn.
Đó, anh thấy không?
Nhiệm vụ của sư đoàn 320, sư đoàn 10 trong quân đoàn 3 còn nặng nề. Ta chuẩn bị
nốt những phần còn lại để ngày mai có thể nổ súng đánh vào Phan Rang phối hợp với
sư đoàn 3 của quân khu 5 đó!
Chính uỷ Bùi Huy Bổng
cười sảng khoái:
- Nghĩa là chuyến này,
anh em mình sẽ “làm ăn lớn” rồi. Khi đánh Buôn Mê Thuột thì Bộ chỉ huy chiến dịch
dùng kế nghi binh, nay thì thế cờ đã khác, từ vĩ tuyến 17 vào đến Cam Ranh đã
hoàn toàn sạch bóng quân thù. Chúng cụm lại ở Phan Rang trong thế trận hết sức
bị động, phòng ngự. Ta lại chủ động đánh công kiên, đánh theo kiểu trận địch
chiến, đánh ban đêm và cả ban ngày với hoả lực mạnh và bộ binh thiện chiến. Tôi
đề nghị dùng pháo binh bắn cấp tập dọn đường cho thiết giáp và bộ binh tiến vào
tiêu diệt hoàn toàn cả cứ điểm này.
Đại tá tư lệnh sư đoàn gật đầu:
- Anh nói đúng. Tôi xin bổ sung một ý: trận
này thì với địch không còn có yếu tố bất ngờ, chỉ nghe tiếng súng nổ là chúng
nó biết ta đánh vào rồi. Tuy vậy, ta cứ đánh và chú ý theo dõi diễn biến trận
đánh, bọn đầu sỏ ở Sài Gòn sẽ yểm trợ và ứng cứu cho Phan Rang như thế nào?
Chúng ỷ vào ưu thế không quân. Ta sẽ trừng trị máy bay của chúng bằng tên lửa
phòng không. Cứ bắn rơi mấy chiếc F.5 hoặc A.37 là chúng sẽ phát hoảng lên. Còn
chiến hạm của chúng, ta sẽ dùng pháo tầm xa, tầm gần.
Chính uỷ:
- Tiểu đoàn 9, trung
đoàn 1 lại sẽ ra quân, làm mũi đột phá?
- Tôi cũng có dự kiến
như thế. Anh và tôi sẽ xuống làm việc với anh em để làm công tác tư tưởng đối với
từng chiến sĩ. Thuận lợi ta có nhiều, song trong trận này, kẻ địch cũng sẽ quậy
rất mạnh trong cơn giẫy chết của chúng. Nếu ta không lường hết được khó khăn
thì khi gặp khó khăn sẽ lại rất lúng túng...
Chính uỷ:
- Tôi hoàn toàn nhất
trí với anh.
***
Tâm được trở về đơn vị
pháo tầm xa sau khi bản báo cáo địch tình ở thị xã Phan Rang được nộp lên cấp
trên. Anh Trần Kỳ nói lại nhận xét của trung đoàn: bản báo cáo của Tâm được đánh giá là đầy đủ, chi tiết
lại có kèm cả sơ đồ cụ thể về các điểm đóng quân, các cụm pháo dã chiến của địch
và sân bay Thành Sơn.
Theo anh Kỳ nói lại
thì cả sư đoàn chưa hành quân vào miền Đông Nam Bộ, mà còn phải ở lại để chuẩn
bị đánh Phan Rang. Quân đoàn 3 đã thành lập, sư đoàn 320 là một đơn vị mạnh của quân đoàn, được
tham gia trận đánh Phan Rang.
Trận đánh này theo
yêu cầu của cấp trên là trận phải thắng để giải phóng Phan Rang với quyết tâm
cao “đánh địch mà tiến, mở đường mà đi”
Phan Rang!
Ở đó có vợ chồng chú
Tám, có Huỳnh Văn Hoà, người bạn tâm tình đã giúp đỡ Tâm thật tận tình...
Nhớ lại hôm đến Phan
Rang làm nhiệm vụ trinh sát chuẩn bị chiến trường, Tâm đã nói cho chú Tám biết:
địch chốt lại ở Phan Rang để “tử thủ” thì quân ta sẽ đánh. Chúng co cụm lại
càng đông, càng nhiều thì ta đánh càng lớn, tiêu diệt sinh lực chúng càng nhiều.
Bom đạn sẽ tơi bời, tên bay, đạn lạc, dân chúng sẽ phải di tản để tránh tai
bay, vạ gió. Chú Tám chỉ cười:
- Hãy cứ để xem tình
hình biến chuyển ra sao? Nếu cần phải chạy ra ngoại ô hoặc xa hơn chút nữa thì
chú sẽ tính sau. Chú đi đâu thì Hoà cũng đi theo đó....
Giờ này thì đã rõ: ta
đang chuẩn bị đánh lớn, đánh vào Phan Rang. Địch cũng sẽ chống trả quyết liệt. Bom rơi, đạn nổ, nhà cửa, phố xá khó tránh khỏi đổ nát... Tâm mong sao cho
chú Tám, dì Tám và anh bạn Hoà đóng cửa tiệm, tạm lánh về quê thì hay biết mấy.
*****
Giờ G được chọn để
đánh vào Phan Rang là 5 giờ sáng ngày 14 tháng 4. Sư đoàn 3 đã nổ súng. Đơn vị pháo tầm xa của Trần Kỳ được bắn phối hợp vào sân bay Thành Sơn. Tiếp
theo là từng loạt đạn bắn cấp tập vào những mục tiêu mà ta đã chọn.
Đứng cạnh Trần Kỳ,
Tâm muốn reo lên khi từng cụm khói và chớp lửa ánh lên sáng cả một góc trời
phía Đông. Quân địch ở Phan Rang sau một đêm căng thẳng đã bắt đầu náo loạn. Những
ổ đề kháng của chúng cũng bắn ra như vãi đạn. Thấy rõ sự hồi hộp, bồn chồn của
Tâm, Trần Kỳ đã nói với Tâm:
- Em khỏi lo! Pháo ta bắn
rất khéo, rất trúng đích. Bắt đầu là sân bay Thành Sơn, rồi tiếp đến là các điểm
đóng quân của lữ đoàn dù, sư đoàn lính thuỷ đánh bộ và liên đoàn biệt động
quân. Ta cứ giội bão lửa cho chúng nó hoảng loạn lên rồi chờ xem không quân của
chúng phản kích ra sao trước khi ta tung bộ binh ra đánh chiếm các mục tiêu.
Khu dân cư không thể trúng đạn được. Gia đình chú Tám và cậu Hoà có thể vẫn an
toàn. Điều đáng lo ngại là khi hai bên còn đánh nhau trong khu phố thì khu dân
cư có thể bị trúng bom đạn. Rồi nếu địch rút chạy, chúng có thể cướp bóc bừa bãi…
Những khẩu đội pháo tầm
xa của ta bắn đến loạt thứ mười thì trời đã sáng rõ. Mặt trời lên từ phía biển.
Không khí mát dịu lúc ban đêm bây giờ mỗi lúc một nóng dần lên. Nắng đầu tháng
tư ở đây không thua gì cái nắng nóng ở Đà Nẵng.
Trần Kỳ nhìn trời cao
rồi nói với Tâm:
- Trời đẹp thế kia
thì máy bay địch sẽ bay đến tức thì! Pháo của ta nguỵ trang cẩn thận cả rồi,
song từ đây đến Phan Rang cự ly tính theo đường chim bay cũng không xa lắm, ta
vẫn phải cẩn thận, trận địa hôm nay không còn là rừng núi nữa rồi...
Ở sở chỉ huy sư đoàn
320, đại tá Kim Tuấn nhận được tin từ phía trước báo về: bộ binh địch chưa thấy
đánh ra, song pháo binh của chúng bắn rất dữ dội, chừng như để đề phòng quân ta
đánh vào và cũng có thể để chờ không quân của chúng từ Sài Gòn bay tới chi viện.
Sân bay Thành Sơn có lẽ đã bị tổn thất nặng nề nên không có một chiếc máy bay
nào cất cánh. Chắc chắn là pháo binh của ta đã bắn nát đường băng khiến cho máy
bay của chúng được cất giấu cẩn thận cũng không bò ra đường băng được nữa. Pháo
binh ta khống chế được sân bay Thành Sơn, làm tê liệt luôn cả sư đoàn không
quân số 6 của địch. Tên chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh không quân ở đây chịu
bó tay chăng?
Ít phút sau đại tá
Kim Tuấn đã nhận được điện thoại của thiếu tướng Vũ Lăng tư lệnh quân đoàn 3:
- Anh Tuấn! Sư đoàn 3
quân khu 5 mới nổ những loạt đạn đầu tiên vào Phan Rang, các anh ấy sẽ tung trung đoàn 25 bộ binh vào thị xã Phan Rang đó. Ta đánh ban ngày nên phải
dùng cả tên lửa phòng không để đánh máy bay địch đến ném bom. Pháo tầm xa của
ta còn phải đánh cả tàu chiến của chúng có năm chiếc đang lảng vảng ngoài
khơi... Anh chuẩn bị đạn cho đầy đủ nhé!
Đại tá Kim Tuấn giọng
phấn chấn khác thường:
- Báo cáo tư lệnh! Tư lệnh
yên tâm. Tôi và anh Bổng chính uỷ sư đoàn đã tính đến khả năng đánh lớn rồi. Đã
đánh lớn thì phải thắng lớn!
*****
Ở khẩu đội pháo tầm xa, Trần Kỳ
được lệnh tạm ngừng bắn cấp tập để bộ binh sư đoàn 3 bắt đầu đánh vào thị xã.
Tiếng súng bộ binh xen lẫn tiếng trọng pháo của địch bắn ra rộ lên cùng với tiếng
bom nổ ầm ầm: máy bay địch từ Biên Hoà bay đến thả bom vào phía trận địa quân
ta ven quốc lộ 1 về phía Tây.
Trần Kỳ nói với Tâm:
- Tên lửa phòng không
của ta sắp bay lên đó!
Quả nhiên, khi chiếc
A.37 vừa cắt bom xuống trận địa quân ta thì một quả tên lửa của ta vút lên. Chiếc
A37 tránh được, vội vã chao nghiêng rồi vút lên cao quay đầu về hướng Nam và...
mất hút trên bầu trời xanh.
Đến chiều, khẩu đội
pháo tầm xa của Trần Kỳ được lệnh chuyển vị trí và phải “im lặng” để chuẩn bị
cho trận chiến đấu mới. Kỳ nói với Tâm:
- Anh nghe “các cụ”
trên trung đoàn nói: ta phải thay đổi cách đánh, chứ cứ dánh kiểu bóc vỏ từ
ngoài vào như cách đánh của sư đoàn 3, trung đoàn 25 sáng nay thì không “ăn”.
Trung đoàn còn cho biết: cùng với việc thành lập quân đoàn 3 của thiếu tướng Vũ
Lăng, quân đoàn 2 của thiếu tướng Nguyễn Hữu An cũng đã hành quân thần tốc vào
đây rồi. Chiều mai, trung đoàn ta sẽ phổ biến kế hoạch tác chiến mới. Anh em
mình tha hồ lập công!
Tâm lại thấy trong
lòng rạo rực một niềm vui mới.
5 giờ chiều ngày 15
tháng 4, anh Kỳ họp về, gọi Tâm đến ngay lán tạm của trung đội, anh nói:
- Ngày mai 16 tháng 4
quân ta sẽ mở đợt tấn công lớn vào cứ điểm Phan Rang với sự phối hợp tác chiến
của quân đoàn 2 với quân đoàn 3 và một sư đoàn Tây Nguyên. Ta sẽ chia làm 3 mũi
tiến công: một mũi từ phía Bắc đánh vào, một mũi từ phía Nam đánh ra, một mũi từ
phía Tây quốc lộ 1 đánh vào. Pháo cao xạ, tên lửa phòng không đón đánh máy bay
địch từ Sài Gòn, Biên Hoà bay đến, pháo tầm xa không rút xuống tàu biển được.
Anh phải đi cùng khẩu đội pháo tầm xa khống chế ven biển. Tâm được trưng dụng
đi cùng một đoàn xe tăng T.54 thọc sâu vào trung tâm thị xã Phan Rang rồi toả
ra đánh chiếm sân bay Thành Sơn, Sở chỉ huy tiền phương,
sở chỉ huy tiểu khu Phan Rang và các sư đoàn bộ binh, liên đoàn biệt động lữ
đoàn dù số 2... Tâm đã thuộc đường vào Phan Rang làm nhiệm vụ hướng dẫn cho mũi
chủ công thì còn gì hay bằng? Em là người đã vẽ sơ đồ Phan Rang, nay lại trực tiếp dẫn đường
cho bộ đội thiết giáp thọc sâu thì trận
đánh sẽ chắc thắng và sẽ đạt hiệu quả cáo, có phải không?
Tâm cảm động nói:
- Dạ, trên đã giao nhiệm vụ, em sẽ có gắng làm tròn.
Anh Trần Kỳ vỗ vai Tâm nói vui: - Thế là em có vinh dự
làm một trong “5 anh em trên một chiếc xe tăng” như bài hát rất hay của binh
đoàn xe tăng đó! Chuẩn bị gọn nhẹ để 8 giờ tối nay, anh sẽ đưa em lên địa điểm
tập trung của đơn vị thiết giáp…
XXV
ĐẶNG VĂN QUANG ĐẾN BỘ
TỔNG THAM MƯU lúc 10 giờ sáng ngày 16 tháng 4 . Hắn không giấu nổi vẻ hoang
mang, lo lắng trước mặt Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng:
- Ông Thiệu rất nóng
lòng muốn biết tin Phan Rang đến giờ này?
Viên mở tập hồ sơ,
rút ra một tờ giấy ghi những tin điện cấp báo từ Phan Rang của Nguyễn Vĩnh
Nghi. Quang đọc:
“5 giờ sáng ngày 16
tháng 4.
Phan Rang lại bị đánh
lần thứ hai kể từ ngày 14 tháng 4. Việt Cộng có nhiều xe tăng, xe bọc thép từ
ba mũi tiến công vào thị xã. Bộ binh Việt Cộng có khoảng một trung đoàn ở mỗi
hướng tiến công. Chừng một sư đoàn tràn vào thị xã, đang tiến đánh sân bay
Thành Sơn, sở chỉ huy tiền phương, sở chỉ huy sự đoàn không quân số 6, sở chỉ
huy tiểu khu, sở chỉ huy sư đoàn 2, lữ dù 2, liên đoàn biệt động quân số 36....
Xin tăng viện thêm bộ
binh.
Xin máy bay ném bom
vì 40 máy bay ở dây không cất cánh được. Sân bay Thành Sơn đang bị pháo kích dữ
dội, đường băng bị bắn hỏng hết! A lô! Xin cấp cứu Phan Rang!"
“7 giờ sáng ngày 16
tháng 4
Việt Cộng tiếp tục
đánh phá dữ dội, đã chiếm được sở chỉ huy tiểu khu Phan Rang, đang đánh vào sở
chỉ huy Bộ tư lệnh tiền phương và sở chỉ huy sư đoàn không quân số 6. Xin tăng
viện máy bay ném bom nhiều hơn nữa. Có 3 lần chiếc ném bom ít quá. Tên lửa
phòng không của Việt Cộng đang bắn lên khống chế bầu trời. A lô! Nếu không tăng
viện gấp thì Phan Rang rất nguy ngập! Xin cho ngay một lữ dù!"
“8 giờ sáng ngày 16
tháng 4
Phan Rang chưa được
tăng viện gì hết! Việt Cộng đánh rất ác liệt, rất nhiều xe tăng và bộ binh tràn
ngập thị xã. Quân lực Việt Nam cộng hoà bị thương vong nhiều. Lính đang bỏ chạy.
Rất khó tử thủ nếu không được kịp thời tăng viện ngay bằng đường không vận...
A lô! A lô! Phan Rang
xin được cấp cứu ngay!"
Quang hỏi Viên:
- Từ sáng tới giờ,
Phan Rang đã 3 lần xin cấp cứu?
Viên đáp:
- Đúng như thế! Nhưng
lấy gì nữa mà cấp cứu? Tôi đã điện hỏi ông trung tướng Nguyễn Văn Toàn tư lệnh
Vùng 3 chiến thuật đang “tử thủ” ở Xuân Lộc, ông Toàn cũng chịu bó tay! Ý kiến
anh thế nào? Tổng thống có ý kiến gì mới để cứu nguy cho Phan Rang?
Quang buồn rầu nói từng
tiếng một:
- Ông Thiệu nói: tăng
viện nhiều rồi, sao không giữ nổi? Không quân thì phải hạn chế xuất kích, sau vụ
Nguyễn Thành Trung phi công phản chiến (Việt Cộng nằm vùng) giội bom xuống dinh
Độc Lập sáng ngày 8 tháng 4 làm cho cả Sài Gòn hoảng loạn, chúng tôi may mắn vẫn
an toàn, nay đều dời về biệt khu thủ đô. Dinh Độc Lập coi như bỏ ngỏ, chưa biết
còn có phi công nào giội bom như Nguyễn Thành Trung nữa hay không?
- Ông Uây-en tham mưu trưởng lục quân Mỹ có ý
kiến gì nữa không?
Quang lắc đầu:
- Ông ta đến Sài Gòn
ngày 28 tháng 3, có điện về Mỹ xin tổng thống Pho cho thêm đại bác và bom đạn. Ông Uay-en giúp
ta tận tình đấy nhưng lính tráng của ta đánh tồi quá. Nói thật với anh, cứ cái đà này thì Xuân Lộc cũng khó “tử thủ ” lắm! Anh gọi lại cho ông Toàn một
lần nữa hỏi về Phan Rang xem sao? Mười giờ mười lăm phút rồi!
Cao Văn Viên gọi dây
nói cho Nguyễn Văn Toàn. Từ đầu dậy nói bên kia, Toàn hốt hoảng báo cáo:
- Chúng tôi tư lệnh Vùng 3 chiến thuật dây! Đã
mất liên lạc với Phan Rang rồi. Có thể là Phan Rang đã thất thủ!
- Viên đặt ống nghe,
nói với Quang:
- Bi đát quá anh ơi!
Ông đại sứ Mỹ và ông Thiệu đang muốn có một giải pháp chính trị với đối phương
nhưng đối phương lại yêu cầu gạt bỏ ông Thiệu! Nghe đài Hà Nội, tôi ngán quá trời!
Quang đứng lên:
- Thôi thế này là tạm
đủ! Ông Toàn nói là Phan Rang có thể thất thủ, tôi chắc là đã thất thủ rồi! Nếu
bị thất thủ chỉ chiều nay thôi, đài phát thanh Hà Nội sẽ loan tin, ta hãy nghe
họ nói xem sao?
Tiễn Quang ra đến
công, Viên đã thấy ba chiếc xe Méc-xê-đéc chờ đón Quang rồi. Xe đi giữa là xe của
Quang, xe đi trước và xe đi sau đều là xe quân cảnh hộ tống. Quang nói nhỏ với Viên:
- Tình hình này đi lại
nên cẩn thận. Việt Cộng nằm vùng có thể ném lựu đạn
hoặc xả súng bắn vào ta đó!
Viên gật đầu:
- Lúc này, cảnh giác
đâu có thừa!
Đoàn xe đưa Đặng Văn
Quang về nhiệm sở của biệt khu Thủ Đô, ở đó Nguyễn Văn Thiệu đang đỏ mắt chờ.
Quang rảo bước đi vào phòng làm việc của Thiệu. Thiệu hỏi:
- Bi đát lắm rồi, phải
không?
Quang hạ thấp giọng
nói vừa đủ nghe:
- Dạ, tướng Toàn, tướng
Viên đều mất liên lạc với Phan Rang từ lúc 8 giờ sáng nay. Việt Cộng dùng xe
tăng trọng pháo, tên lửa và hàng sư đoàn bộ binh đánh như đánh Buôn Mê Thuột.
Chắc chắn là Phan Rang đã thất thủ. Chưa ai rõ số phận của Nguyễn Vĩnh Nghi và
các tướng, tá khác ra sao? Có thể bị chết thảm hại hoặc đầu hàng, nếu không thì
cũng bị bắt sống làm tù binh…
Thiệu lại hỏi:
- Hoạt động quân sự của
đối phương theo tin tình báo anh nắm được đến đêm qua và rạng sáng hôm nay có
gì mới?
-Tình hình mới có nhiều
điều đáng lo ngại: nhiều sư đoàn của đối phương sau khi tràn ngập Plây Cu, Kon
Tum đang rầm rập tiến theo đường 14 vào phía Nam, họ hành quân công khai ban
ngày cả ban đêm, Xe tăng, thiết giáp, xe vận tải, tên lửa phòng không đi đây đường,
đầy lối. Bộ binh phải tính đến hàng chục sư đoàn đi về hướng Tây Ninh. Ở phía
Đông, sau khi họ tràn ngập Phan Rang, có thể tiến theo quốc lộ 1 về Phan Thiết,
Hàm Tân, uy hiếp Xuân Lộc của ta. Máy bay của ta hoạt động rất yếu vì mấy thằng
phi công rất sợ tên lửa bắn rơi. Các sân bay Biên Hoà và Tân Sơn Nhất đều nằm
trong tầm súng của Việt Cộng. Tôi đề nghị di tản số máy bay còn lại về sân bay
Trà Nóc (Cần Thơ) cho an toàn...
- Hai ông tướng chạy
dài là Ngô Quang Trưởng và Phạm Văn Phú nằm ở đâu rồi?
- Dạ, Ngô Quang Trưởng
nằm viện ở Sài Gòn còn Phạm Văn Phú về với cô vợ Ba Tàu ở Chợ Lớn.
- Dương Văn Minh, Trần
Văn Đôn thế nào?
- Hai ông này đang
rêu rao: “Sẽ có giải pháp chính trị với phía bên kia!” và rằng “Ông Thiệu rút bỏ
Cao Nguyên là độc đoán cá nhân, không tranh thủ ý kiến của Hội đồng tướng lĩnh,
cũng không tham khảo ý kiến của đại sứ Mỹ và CIA nên dẫn đến thảm hoạ là mất cả
Vùng 1 chiến thuật và Vùng 2 chiến thuật, tạo điều kiện để đối phương tràn ngập lãnh thổ, uy hiếp mạnh mẽ Sài gòn - Gia Định,
kể cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ..”.
- Còn dư luận báo chí
phương Tây?
- Dạ, họ nói: ông Thiệu
đã đi “một nước cờ định mệnh”!
Nguyễn Văn Thiệu
buông thông hai tay, khuôn mặt chảy dài, lộ vẻ thất vọng:
- Hừm! Tất cả là tại
tôi? Tại tổng thống? Sao các ông ấy không nói là: “Ông Thiệu đang bị bỏ rơi”? Mấy
ông muốn tôi từ chức, ra đi để mấy ông lên thay tôi nói chuyện với Mỹ và phía
bên kia nữa? Xin mời! Nếu tình hình ngày một xấu đi như vậy thì chỉ còn có tôi
và anh, chúng ta sẽ thống nhất hành động. Tôi đi đến đâu, anh đi đấy! Anh có nhất
trí không?
- Dạ, tôi hoàn toàn
nhất trí.
- Thế thì được. Tôi sẽ
bàn kỹ với anh vài ngày tới. Không nên nói gì thêm với Cao Văn Viên, Nguyễn Văn
Toàn kể cả với Nguyễn Cao Kỳ nữa! Ai có thân, người ấy lo... Tôi với anh phải gặp
nhau từng giờ, từng ngày vì tình hình đang biến chuyển rất nhanh.
Quang hỏi:
- Còn việc “tử thủ” ở
Xuân Lộc?
- Cứ phải làm găng
lên như lệnh của tôi. Còn như cuối cùng không giữ được thì sẽ tính sau. Ngồi
đây chưa thể nói trước được điều gì. Có điều rất đáng bị quan là đối phương
đang có gây sức ép tối đa về quân sự, có lẽ để họ đạt đến những tham vọng về
chính trị là thành lập chính phủ liên hiệp có lợi nhiều hơn cho họ chăng? Anh cố
gắng theo dõi thật sát và cho tôi biết tin tức mới nhất nghe!
- Dạ.
6 giờ chiều cùng
ngày, Đặng Văn Quang lại cùng với Thiệu ngồi bên cạnh ra-đi-ô đón nghe buổi
phát tin thời sự, mở đầu bằng tin chiến sự miền Nam tiếng phát thanh viên rành
rọt:
“- Mời các bạn nghe
tin chiến thắng! Sau khi giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh ven biển miền Trung,
Quân Giải Phóng miền Nam tiếp tục truy kích tàn quân địch rút chạy về Phan
Rang.
Rạng sáng ngày 16 tháng 4, bằng các binh chủng
hợp thành, Quân Giải Phóng tổ chức tấn công thị xã Phan Rang. Trước sức uy hiếp
nặng nề của pháo binh và lối đánh thọc sâu táo bạo của các đơn vị thiết giáp và
bộ binh Quân Giải phóng, quân địch bị thiệt hại nặng nề và bỏ chạy. Kết quả: ta
đã tiêu diệt Bộ tư lệnh tiền phương, Bộ tư lệnh sư đoàn không quân số 6, Bộ tư
lệnh sư đoàn số 2, lữ đoàn dù số 2, liên đoàn biệt động số 3, bắt sống tên
trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tên chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang thu 40 máy bay
nguyên vẹn ở sân bay Thành Sơn."
Thiệu ra hiệu cho
Quang tắt máy thu thanh:
- Hết! Thế là hết tất cả!
Thiệu bực bội nói với
Quang:
- Tướng Toàn cũng là đồ bị thịt, ăn hại, đái nát cả thôi! Tôi chẳng còn có thể tin tưởng y được nữa!
Không khí nặng nề
trong phòng làm cho cả Thiệu và Quang đều cảm thấy ngột ngạt. Thiệu đứng lên:
- Thôi ta tạm nghỉ.
Anh về đi, có gì cần thì “phôn” cho tôi ngay.
- Dạ.
Quang bước nặng nề ra
cửa. Đường phố đã lên đèn. Ba chiếc Méc-xê-đéc lại đón Quang đi.
XXVI
KỂ TỪ HÔM TRỐN CHẠY TỪ
NHA TRANG VỀ Sài Gòn, hôm nay lần thứ hai Phạm Văn Phú lại gõ cửa nhà báo Lãng
Tử với vẻ mặt rất tươi tỉnh:
- Nhà báo có nhà không?
Cánh cửa vừa mở, Phú
đã reo lên:
- Đây rồi! Ông Lãng Tử!
Tôi chỉ lo ông đi vắng.
Lãng Tử ôm chầm lấy
Phú:
- Vào đây! Lại có chuyện
gì vui chăng?
- Vui thì có vui mà
buồn thì cũng thật buồn.
- Sao vậy?
Phú ngồi xuống ghế, nói chậm rãi:
- Ông còn chai
Na-pô-lê-ông đó, đưa ra đây. Hôm nay tôi phải cụng ly với ông mới được! Uống để
mừng tôi không bị bắt làm tù binh một lần nữa! Nguyễn Vĩnh Nghi và chuẩn tướng
Phạm Ngọc Sang cũng bị bắt sống ở Phan Rang rồi! Tôi mà chậm chân thì cũng đã
vào tù rồi. May sao, tôi và Trần Văn Cẩm, Lê Khắc Lý đều thoát nạn! Hãy biết giờ
này còn được tự do ở đây. Ngày mai số phận rồi sẽ ra sao, ai mà đoán trước được? Ông nghe đài Hà Nội, đài BBC, Tiếng Nói Hoa Kỳ rồi chứ gì?
- Rồi! Rất may cho
ông, xin chúc mừng ông! Hai ly rượu mạnh rót đây và cả hai đều được uống cạn.
Có chút men say, Phú
thêm hăng hái:
- Tôi xin giữ Plây Cu,
ông Thiệu buộc tuỳ nghi di tản và bây giờ thực tế chiến trường chứng tỏ tôi
đúng, ông Thiệu sai hoàn toàn. Sai lầm này là sai lầm chiến lược. Mất sạch cả
quân khu 1, quân khu 2 rồi. Đối phương đang áp sát Xuân Lộc rồi. Sư đoàn 18 của
Lê Minh Đảo đang bị đánh tả tơi. Nguyễn Văn Toàn câm họng, hết nói khoác lác rồi!
Xuân Lộc sẽ thất thủ chiều nay hoặc sáng mai thôi... Ông là nhà báo trung lập,
ông nghe dư luận giới báo chí và giới chính khách có gì hay không?
- Hay lắm! Các giới
cánh tả, cánh hữu và cánh trung lập đều muốn phế truất ông Thiệu vì tội tham
nhũng và “nướng quân”! Xương máu của hàng vạn anh lính cộng hoà đâu phải là bùn
đất để che chắn cho các ông nhậu nhẹt tối ngày? Các ông thi nhau đánh cắp viện
trợ Mỹ và đua nhau buôn lậu ma tuý thu lợi từng vali vàng, chẳng làm nên trò trống
gì lại còn giả vờ kêu la: “chúng tôi bị Mỹ bỏ rơi!”. Ông có biết không? Lão Xnép cố vấn Mỹ, đại diện CIA ở toà đại sứ Mỹ đã nói
chua chát rằng: “Mỹ đã cho các anh tất cả máy bay, xe tăng, đại bác và đô-la,
thậm chí đã hy sinh cả sinh mạng của 56.000 lính Mỹ, còn các anh? Các anh đánh
chác ra sao? Các anh hãy tự trả lời!”. Ông Thiệu, ông
Quang trả lời như thế nào đây với người Mỹ và với quốc dân, đồng bào?
Phủ cười gằn:
- Cúi mặt xuống mà ăn bẩn chứ còn trả lời ra
sao nửa? Quang là bạn tôi, y tốt với tôi nhưng y cũng đang ráo riết chuẩn bị đi
di tản sang Ca-na-đa rồi!
Lãng Tử thốt lên:
- Đặng Văn Quang sẽ
ra đi?
Phú gật đầu:
- Hôm qua Quang đã thổ lộ với tôi rằng: Ông
Thiệu sẽ tự... “thoái vị”. Ngài sẽ đọc một bài “đít-cua” chắc là sẽ nổi khùng
nói tầm bậy, tầm bạ rồi xách va-li chuồn sang Đài Bắc với ông anh đang làm đại
sứ ở đó! Bà vợ ông Thiệu, bà Mai Anh đã đi Hồng Kông để chuẩn bị cho ông chồng
đi Đài Loan đó! Ông Khiêm, ông Kỳ sẽ đi Mỹ, ông Cao Văn Viên cũng sẽ đi Mỹ qua
đường Băng Cốc...?
- Ô hay! Thế còn giải pháp chính trị?
- Có thể có, mà nếu Việt
Cộng đại thắng, tràn vào Sài Gòn thì làm gì còn có giải pháp chính trị?
- Tôi nghe lao xao là đại
sứ Mỹ Ma-tin muốn dùng lại Dương Văn Minh hoặc Trần Văn Hương, hoặc Nguyễn Bá Cổn
kia mà?
- Ăn nhằm gì đâu? Tất cả là... đồ bỏ!
- Còn những người Mỹ?
- Từ đại sứ Mỹ đến mấy
ngàn quân nhân Mỹ, cố vấn Mỹ, tình báo CIA cũng sẽ về nước...
- Còn các tướng tá và
công chức của Sài Gòn?
- Sẽ lần lượt di tản
nếu muốn di tản. Người Mỹ sẽ thâu nhận hết, song phải lần lượt, cấp cao đi trước,
cấp thấp đi sau, ông Đặng Văn Quang nói với tôi như thế! Quang rất thân với CIA
nên hắn ra đi lúc nào cũng được.
Phú im lặng. Lãng Tử
hỏi tiếp:
- Còn ông? Ông cũng sẽ
ra đi?
Phú gật đầu:
- Ngày mai tôi cho cô
Lâm Đệ và hai đứa con tôi đi trước với ông bà già. Cứ bay đi Mỹ rồi sẽ đón tôi
sang sau. Tôi đã nhận lời hứa đi tháp tùng cho Đặng Văn Quang...
- Vậy, không có ông
nào ở lại?
Phú nhún vai:
- Ở lại làm gì? Sài Gòn
sẽ tắm máu! Ông có muốn đi cùng chúng tôi không?
Lãng Tử lắc đầu:
- Tôi là anh nhà báo
quèn, ra nước ngoài sẽ không sống nổi!
- Ông khiêm tốn thế
thôi chứ! Ông nổi tiếng ở Sài Gòn, lại thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, đi đâu
mà chẳng sống?
- Tôi cứ ở lại đây,
Quốc gia đã không treo cổ được thì Việt Cộng cũng chẳng làm gì đối với tôi!
Phú bật cười:
- Ừ cứ trung lập như ông
mà lại hay! Suốt đời ở trong Tháp Ngà, một thế giới riêng biệt của mình!
Lãng Tử tỏ vẻ đắc ý:
- Tôi rất tâm đắc với
quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” của Hoài Thanh trước 1945 vì nghệ thuật
không bao giờ có biên giới và không phân biệt màu da. Có người chê Hoài Thanh.
Song nếu không có Hoài Thanh thì làm sao có cuốn Thi Nhân Việt Nam với giá trị
rất cao của nó trong nền văn học Việt Nam vốn còn quá non trẻ này?
Phú vẫn còn băn
khoăn:
- Nhưng ông có nghe
chuyện Khơ-me đỏ rồi chứ? Pôn-Pốt với những tên lính áo đen vào Nông Pênh hôm
17 tháng 4 vừa qua đã xua hết dân thủ đô ra ngoài để bắn giết và thực hiện “cướp
sạch, phá sạch”. Vậy mà trước đây Pôn-Pốt cũng rêu rao “vì nước, vì dân"
đó! Thật dễ sợ cho cái luận điệu tuyên truyền xảo quyệt của Pôn-Pốt!
- Tôi vẫn cho rằng sẽ
không có tắm máu ở Sài Gòn sau khi Việt Cộng tràn vào! Việt Cộng khôn ngoan lắm!
Phú vẫn không chịu
thua Lãng Tử:
- Dù sao thì ông cũng
là nhà báo trung lập. Còn tôi trót đã đứng về phía Mỹ thì phải theo Mỹ đến
cùng. Tôi ở lại đây thì Việt Cộng có tin dùng tôi đâu? Tôi lại là sĩ quan cấp
tướng bị họ lên án là “có nợ máu với quốc dân đồng bào”, nợ máu thì phải trả bằng
máu. Cho nên, tôi chọn con đường di tản là hay hơn cả!
Lãng Tử lại rót đầy
hai ly rượu mạnh:
- Ông uống đi! Đến bước
đường cùng, ông lại còn nhớ đến thằng bạn nhà báo kiết xác này, ta hãy uống cho
say trong buổi chiều vàng úa này. Có thể tôi sẽ nói được với ông đôi điều vì chuyến này ông đi Mỹ chắc còn lâu lắm ta mới lại tái ngộ...
Phú lộ vẻ sung sướng:
- Hay lắm! ngày xưa bên
Tàu có chuyện Bá Nha - Tử Kỳ, tôi muốn được nghe ông như nghe tiếng đàn tri kỷ ấy.
Ông cứ nói ra và xin ông cho tôi một lời khuyên cuối cùng!
Lãng Tử nhắp một ngụm
rượu và đốt thêm một điếu
thuốc lá:
- Tôi không phải là nhà
viết sử nhưng mấy tháng qua ngẫu nhiên tôi lại được chứng kiến một tấn thảm kịch
của “nền Đệ nhị cộng hoà” của các ông. Khi ông lên trấn ải Cao Nguyên tháng
8-1974, ông cứ tưởng là sẽ ăn nên làm ra ở đó. Tôi cũng mù tịt tình hình nên
không biết lúc đó ông đang ngồi trên một miệng núi lửa. CIA và tình báo của Đặng
Văn Quang không nắm được bao nhiêu sư đoàn Bắc Việt và Việt Cộng đang chuẩn bị
tấn công Buôn Mê Thuột! Nếu ví cuộc chiến ở Việt Nam là một cuộc chơi cờ thì
các ông đã đi một nước cờ quá thấp: đó là rút bỏ Cao Nguyên bằng một cuộc tuỳ
nghi di tản đầy mạo hiểm qua đường số 7. Mấy cha phóng viên hãng UPI gọi nước cờ
ấy là “NƯỚC CỜ ĐỊNH MỆNH” của Nguyễn Văn Thiệu! Các ông đã…tự sát rồi đó. Tôi
chẳng hiểu tại sao người Mỹ lại đem nửa phần đất nước Việt Nam này trao cho anh
em gia đình Ngô Đình Diệm rồi lại lật đổ Diệm để trao lại cho Nguyễn Văn Thiệu
và các ông? Một lũ người tham nhũng và buôn lậu ma tuý mà đứng ra điều hành đất
nước bằng dùi cui! Mười năm trời “chấp chính” của các ông đã để lại núi xương,
sông
máu và bây giờ các ông lại cuốn gói ra đi với vàng và
đô-la! Tôi chưa kịp viết về cuộc tình của Phạm Văn Phú với bà Lâm Đệ thì đã phải
“tuỳ nghi di tản” về Sài Gòn. Các ông sẽ sống lưu vong ở nước ngoài, chắc sẽ
làm đủ nghề: buôn gian, bán lậu, lừa bịp kiều bào ta vân vân và vân vân... Với
ông, một thiếu tướng có chút vốn liếng rồi đó, là bạn bè, tôi khuyên ông khi chạy
ra nước ngoài thì nên làm ăn lương thiện để có thời gian sám hối về những tội
ác mình đã làm, đã phạm phải. Hơn 20 năm theo Pháp rồi theo Mỹ, Phạm Văn Phú từ
gã lính trơn leo lên đến thiếu tướng, binh nghiệp của ông đã đến lúc tàn! Không
phải là Cộng Sản thì Lãng Tử cũng đủ tri thức để nhìn ra điều đó. Bản cáo trạng
số 1 và rồi số 2 của mấy thằng cha nhà báo Sài Gòn khá súc tích, nhưng vẫn chưa
nói hết tội của các ông. Nếu là nhà chép sử, tôi chỉ cần chép lại “tấn thảm kịch
Plây Cu” của các ông cũng đủ là một điều lý thú lắm rồi!
Nhìn khuôn mặt của
Phú đỏ lựng rồi lại tái đi, Lãng Tử chợt thấy ân hận vì anh đã hơi nặng lời với
hắn, anh đặt ly rượu và nói:
- À, mình xin lỗi nhé!
Ông hỏi tôi về một lời khuyên mà tôi lại quá say nên bộc bạch lời hơi khó nghe
có phải không? Nếu tôi nói với ông Thiệu thì có lẽ ông ấy sẽ kêu cảnh sát bắn
chết tôi như đã bắn chết anh chàng phóng viên hãng AFP của Pháp, song với Phạm
Văn Phú, nếu không chê tôi là gàn dở thì hãy lắng nghe vì tôi không nghiêng về
Cộng Sản, cũng chẳng ngả về phía Quốc Gia, lời nói của tôi, tôi tin là đúng đắn
không vì danh, vì lợi, không vì cơm nặng, áo dày như ai!
Phú nghe hết câu nói
của Lãng Tử, đã ngẩng mặt lên và nói:
- Xin cám ơn Lãng Tử!
Tôi sẽ xin sám hối!
Lãng Tử thở phào một
khói thuốc:
-Tôi cũng lưu ý ông: đừng
vì Lãng Tử nói thẳng mà miễn cưỡng nghe theo, nói sám hối rồi lại chẳng sám hối
vì ngồi lại để tính sổ tội ác đâu có dễ, phải không ông?
Đôi mắt Phú đã đục ngầu
và có ngấn nước, hắn nói giọng bùi ngùi:
- Lãng Tử nói rất đúng!
Thà rằng ăn cơm rau, mặc áo vải như người xưa thường dạy thì cuộc đời thanh thản
biết bao nhiêu! Tôi đã lên xe, xuống ngựa, xây sự nghiệp trên xương máu của đồng loại, chưa biết
tôi có sám hối được không, nhưng ít nhất ở đây, hôm nay tôi cũng đã được Lãng Tử
nói cho nghe về cái đạo làm người! Ác giả thì ác báo, đó là cái lẽ thường tình
theo kinh nhà Phật, các tướng tá của ông Thiệu bị bắt sống, bị cầm tù như Nguyễn
Vĩnh Nghi, Phạm Ngọc Sang, Phạm Duy Tất có nghĩ đến điều đó không? Lãng Tử! Ông khiêm tốn quá,
nhưng quả thật, ông đã cho tôi một lời khuyên bổ ích. Thôi cảm ơn nhé! Tôi phải về để thu xếp cho vợ con di tản ngày mai!
- Ông say xỉn rồi, để
tôi đưa ông về!
Phú gạt đi:
- Thôi cám ơn ông, khỏi
cần đưa tôi, tôi kêu xích-lô về được mà!
Phú loạng choạng bước
ra cửa, xuống đường vẫy xích-lô:
- Cho về Chợ Lớn, nghe!
Lãng Từ nhìn theo
“ông bạn quý”, lắc đầu hoài, ngán ngẩm...
*****
Lệ Ninh vừa đẩy tủ
thuốc lá ra trước cửa nhà, đã nghe tiếng gọi:
- Chị Ninh! Chị
Ninh ơi!
Ninh ngửng lên: từ
bên kia đường, một cô gái mặc váy ngắn đang tươi cười rảo bước ngang đường.
Ninh nhận ra ngay:
- Ngà! Ngà đấy à?
Ngọc Ngà nắm chặt tay
bạn:
- Em định đến chị mấy
lần, nay rảnh, mới đi được. Anh Lãng Tử có nhà không?
- Anh ấy đi uống cà phê
với ông bạn nhà báo Võ Tùng rồi! Đi vào đây đã, có gì vui không em?
Ninh khoá tủ hàng lại
và đưa Ngà vào phòng khách:
- Ngồi xuống đây! Em đẹp
hơn hồi còn ở Plây Cu nhiều...
- Chị quá khen em thế
thôi. Có gì đâu. Ông Phú di tản rồi mang em về Sài Gòn, khéo léo giới thiệu em
với ông trung tướng Đặng Văn Quang, cho em ở khách sạn được mấy bữa, rồi ông
Quang cũng “gút bai” em luôn!
- Ô hay! Ông ấy đi đâu?
- Chị không biết sao?
Việt Cộng sắp tràn vào Xuân Lộc rồi. Ông Minh Lớn sắp hất cẳng ông Thiệu rồi. Ông Quang không chạy nhanh chân thì lại bị bắt sống như
ông Nguyễn Vĩnh Nghi thôi, cho nên trước đây ba hôm, ông Quang “gút bai”
luôn... Em nghe hình như ông Phú cũng sẽ đi Mỹ với ông Quang đó. Mấy ông ấy
nói: Việt Cộng vào Sài Gòn thì sẽ có “tắm máu” nên ông nào cũng sợ!
Ninh hỏi:
- Còn em, em có sợ
hông?
- Em là dân đen cũng
như mọi người khác, vô thưởng vô phạt mà!
- Bây giờ em vẫn ở khách sạn Pa-lát-xơ?
- Tiền đâu mà ở! Lão
Quang đi rồi, em cũng trả phòng, đi luôn.
- Ở đâu? Em thuê một
phòng nhỏ ở hẻm đường Nguyễn Du, số 15/2. Em mời chị đến chơi nhé, cả anh Lãng
Tử nữa. Làm ăn gì bây giờ?
- Bà Sáu Lan muốn em
về vũ trường Hương Lan của bà ấy, em còn phân vân, hỏi ý kiến chị có nên về đấy
không? Còn chị buôn bán vặt vãnh thế này, có đủ xài không? Hay là cùng về vũ
trường Hương Lan với em cho vui?
- Phải suy nghĩ thêm.
Chị làm bạn với anh Lãng Tử thì nghèo quá. Sống chật vật lắm. Ông này chẳng xu nịnh ai, Quốc Gia ông ấy chê, Cộng Sản ông ấy cũng chê nốt. Thế là chỉ
nghêu ngao thơ phú suốt ngày rồi lại ghi ghi, chép chép, chả thấy in sách, in
báo nào. Cũng đến chết đói mất!
Ngà được thể, lại tấn
công thêm:
- Đó, chị coi, lấy chồng
nhà văn, nhà báo thì chỉ được cái tiếng thôi. Đời này thực dụng lắm. Người ta vẫn
cần miếng chứ ai cần tiếng? Nay mai chị có con nữa thì ôm con ngồi đó mà khóc
à?
- Chắc là chị sẽ
không có con sớm đâu!
- Tội gì mà phải khổ
chị ơi! Chị còn trẻ, còn đẹp, đừng giam hãm đời mình nữa. Hãy về với em, hai chị em ở chung rồi cùng về với bà Sáu Lan.
- Nhưng anh Lãng Tử rất
thương chị, bỏ đi không đành lòng đâu!
- Thì cứ là bạn, một tuần
gặp nhau một lần không được sao? Em nghe ông Phú nói: Lãng Tử rất lãng mạn kia
mà, sống rất “Tây” chứ có cổ hủ đâu mà chị ngại?
- Lãng Tử nói rằng muốn
giúp chị “hoàn lương” anh ấy khuyên chị từ giã cuộc đời gió mưa vì mai đây nhan
sắc phai tàn thì sao?
Ngọc Ngà nhún vai:
- Tuỳ chị thôi. Em rất
quý chị nên lúc nào cũng ngỏ cửa đón chị về. Với em thì ông Phú, ông Quang hay
ông Lãng Tử, tất cả chỉ là đàn ông mà thôi, chỉ nên “vui vẻ” mà chớ nên vồ vập,
gắn chặt đời mình vào thì sẽ... hệ luỵ và mất hết tự do!
Lệ Ninh cười:
- Em rất thông minh, biết
sử dụng nhan sắc và “quyền lực” của riêng em. Chị phải suy nghĩ thêm cho chín
chắn...
- Chị còn trẻ, còn đẹp,
chị cứ nghe em, đừng để đến khi đã quá muộn... Chiều nay em đi ăn
một mình thì buồn quá. Chị đi ăn tiệm với em cho vui. Hãy dẹp cái tủ thuốc này đi một buổi có sao đâu! Lão Quang cho em mấy
trăm “đổ” còn xài mệt nghỉ?
Lệ Ninh nghe Ngọc Ngà
nói lai rai, thấy vui vui. Cô lại đẩy tủ thuốc lá vào trong nhà, khoá cửa lại
và đi với Ngọc Ngà.
Hai cô gái lại thấy
tưng bừng rạo rực như hồi còn ở vũ trường Ha-oai...
Chương chót cùng
PHAN RANG NGÀY 16
THÁNG 4 NĂM 1975
Gửi Hoà thân mến!
Tôi viết thư này cho
Hoà giữa thị xã Phan Rang vừa được giải phóng. Trận đánh vùng ven thị xã bắt đầu
từ sáng ngày 14, ta đánh rồi lại rút làm cho địch tưởng lầm ta đánh để quấy rối
chứ chưa dám đánh một cứ điểm quan trọng mà chúng vừa chọn để đóng “Bộ tư lệnh
tiền phương” của Vùng 3 chiến thuật để phòng thủ Sài Gòn từ xa. Hai ngày căng
thẳng nặng nề trôi qua, sáng sớm hôm nay 16 tháng 4, ta đã mở cuộc tấn công lớn
vào Phan Rang bằng ba mũi tiến công từ Nam đánh lên, từ Bắc đánh xuống, từ Tây
đánh sang. Một tiểu đoàn xe tăng T.54 được tung vào mũi chủ công cùng với một đại
đội tên lửa phòng không. Ba trung đoàn bộ binh từ ba mặt đánh vào.
Hoà có biết không?
Tôi được ngồi trong một chiếc xe tăng xung kích làm nhiệm vụ hướng dẫn cho mũi
thọc sâu, đánh thẳng vào Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương của trung tướng nguy
Nguyễn Vĩnh Nghi. Cùng một lúc Sở chỉ huy sư đoàn không quân số 6 của chuẩn tướng Phạm Ngọc
Sang cũng bị tấn công dữ dội. Bộ binh theo xe tăng tràn vào tiêu khu Phan Rang,
đánh chiếm Sở chỉ huy liên đoàn biệt động quân, sư đoàn 2 và lữ đoàn dù 2 của
nguy mới được tầng viện. Cảnh hỗn loạn chưa từng thấy đã hiện ra: tướng, tá, sĩ
quan cao cấp chui xuống hầm ngầm kêu gọi binh lính “tử thử”. Binh lính quá nửa
là tàn quân từ Nha Trang, Plây Cu rút về được tập hợp vá víu thành sư đoàn 2 đã
tháo chạy tán loạn, vứt súng đạn, cởi bỏ giày mũ áo quần trà trộn vào dân chúng
cho đến lúc một lá cờ trắng được phất lên ở Sở chỉ huy Bộ tư lệnh tiền phương
và xung kích của ta ập vào bắt sống Nguyễn Vĩnh Nghi. Y chắp tay xin Quân Giải
Phóng tha cho tội chết. Đến 12 giờ trưa thì toàn thị xã Phan Rang đã im tiếng
súng. Tù binh, hàng binh lũ lượt theo sự hướng dẫn của anh bộ đội Giải Phóng
vào trại tạm giam dưới trời nắng gay gắt.
Hoà ơi! Thế là trong
trận này ta bắt sống tên trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn tướng Phạm Ngọc
Sang cùng tất cả sĩ quan cao cấp của chúng, thu 40 máy bay nguyên vẹn ở sân bay
Thành Sơn, hơn 3 ngàn khẩu súng và một kho đạn. Nếu kể cả số máy bay 64 chiếc
nguyên vẹn ta thu được ở sân bay Cù Hanh (Plây Cu) nữa thì một tháng qua, ta đã
thu được 104 máy bay của Sư đoàn không quân số 6 (nguy).
Hoà ơi! Tôi nghe các
anh trung đội trưởng Trần Kỳ, đại đội trưởng Hoàng Quân kể lại thì chưa có chiến
dịch nào lại thắng lớn như chiến dịch giải phóng Tây Nguyên: trận mở màn là trận
đánh vào Buôn Mê Thuột lúc 2 giờ sáng ngày 10-03, kết thúc 10 giờ sáng cùng ngày. Trận đánh “trời long, đất lớ” này làm tan rã luôn hệ thống
phòng thủ Tây Nguyên của dịch: ngày 16 tháng 3 chúng “tuỳ nghi di tản" rút
qua đường số 7 về Tuy Hoà, bị ta phục kích đánh tan cả một chiến đoàn, đốt cháy
hơn một trăm xe tăng. thiết giáp, bắt sống tên đại tá chỉ huy cuộc hành quân Phạm
Duy Tất. Các ngài thiếu tướng Phạm Văn Phú tư lệnh và Trần Văn Cẩm chuẩn tướng
phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật cùng đại tá tham mưu trưởng Lê Khắc Lý chuồn về
Nha Trang, ngồi chưa nóng chỗ đã bị đánh tơi bời, cả “Bộ tư lệnh” dông một mạch
về Sai Gòn bỏ mặc lũ tàn quân tơi tả co cụm lại ở Phan Rang dưới quyền trung tướng
Nguyễn Vĩnh Nghi và bây giờ câu chuyện “tử thủ Phan Rang để phòng thủ Sài Gòn từ
xa trở thành tấn thảm kịch lớn của tổng thống Thiệu!
Hoà ơi! Tôi vừa được
nghe tin chiến thắng của đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam phát đi từ Hà Nội: “
giải phóng Phan Rang, quân ta đã kết thúc chiến dịch giải phóng Tây Nguyên với
thắng lợi chưa từng có, tạo ra một bước ngoặt mới cho cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mau tới thắng lợi hoàn toàn...”
Hoà ơi! Lần thứ ba
tôi được đến Phan Rang. Giờ này Phan Rang đã im tiếng súng. Uỷ ban quân quản thị
xã bắt đầu hoạt động, giữ gìn an ninh trật tự, đồng bào sơ tán từ ba hôm nay
đang lục tục kéo về. Tôi được phép về thăm chú Tám, dì Tám, nhưng dì và chú Tám chưa về. Nhà còn đóng cửa. Bà con hàng xóm nói rằng: cậu Hoà
cũng đã về Sài Gòn từ tuần trước rồi. Thế là tôi phải tranh thủ thời gian viết
thư này cho Hoà báo tin vui chiến thắng, thư này tôi sẽ bỏ qua khe cửa nhà chú
Tám, nhờ dì Tám chuyển về Sài Gòn cho Hoà. Đêm nay, bộ đội ta lại tiếp tục hành
quân rầm rộ trên quốc lộ 1 tiến đánh Phan Thiết, tiếp tục truy kích tàn quân địch
đang chạy về Xuân Lộc, Biên Hòa. “Vùng 2 chiến thuật”
của địch bao gồm Tây Nguyên và các tỉnh ven biển miền Trung từ Bình Định trở
vào đã được giải phóng cùng với Huế, Đà Nẵng (thuộc Vùng 1 chiến thuật)!
Hòa ơi! Buổi chiều
nay tuy còn bề bộn công việc nhưng thật yên ổn, nơi đây tôi lại không gặp được
Hoà và gia đình chú Tám để cụng ly mừng chiến thắng? Một bữa cơm rau hay một ly
rượu đế trên đường hành quân với bao nhiêu kỷ niệm của tình quân dân cá nước!
Chúng mình gặp nhau trong nhà tù “biệt giam” của tướng Phú ở Plây Cu, từ ngỡ
ngàng mặc cảm đến thân thiết và tin yêu. Hoà đã đưa tôi về Phan Rang sau khi
chúng mình vượt trại, Hoà và chú Tám giúp tôi trở về đơn vị cũ. Bản sơ đồ thị
xã Plây Cu cùng với bản sơ đồ thị xã Phan Rang của tôi mang về đơn vị đều có
chung nét vẽ của Hoà. Hai đứa chúng mình đã thuộc từng góc phố, con đường từ thị
xã đến sân bay, từ sở chỉ huy của chúng đến các ổ đề kháng đã được ghi chi tiết
trên hai bản sơ đồ. Pháo tầm xa của Quân Giải phóng đã đánh trúng từng mục tiêu
và hôm nay các sư đoàn “gió lốc” của ta đã xoá sổ cả Bộ tư lệnh tiến phương của
địch ở Phan Rang!
Sau những ngày bị động
viên “quân dịch” vào lính cộng hoà, Hoà đã cưỡng lại số mệnh, trốn lính rồi bị
bắt lại, bị giam cầm rồi trốn trại trở về với gia đình chú Tám. Giờ này thì Hoà
đang có mặt ở gia đình, đoàn tụ với ba, má và chị Hiền! Xin cho tôi được gửi lời
thăm ba má và chị Hiền nhé! Sài Gòn giờ này chưa được giải phóng nhưng Sài Gòn
đang đi qua đêm tối để bước sang buổi bình minh. Tôi được biết: sáng ngày 8
tháng 4, anh phi công yêu nước Nguyễn Thành Trung lái chiếc máy bay F.5 từ sân
bay Biên Hoà vút lên bay đi “ném bom vào đội hình Quân Giải Phóng đang tiến về
Tây Ninh”, đã bất tuân thượng lệnh để bay trở lại giội bom xuống dinh Độc Lập rồi
lại bay về Phước Long hạ cánh an toàn xuống sân bay của Bình Long vừa giải
phóng. Tiếng bom Nguyễn Thành Trung làm rung chuyển cả Sài Gòn, hoà cùng tiếng
súng của quân Giải phóng khắp nơi đang dội về Sài Gòn làm nức lòng đồng bào,
chiến sĩ ta ở nội thành, đồng thời cũng làm tăng thêm nỗi lo âu hoảng loạn
đến tột cùng của bọn đầu sỏ nguy quyền và tay sai. Tin từ nội thành báo ra: mật
vụ, ác ôn, cảnh sát, quân cảnh đã bớt hung hăng, lùng sục. Nhiều tên thăm dò
thái độ của chính quyền cách mạng sẽ đối xử với chúng ra sao? Nhiều tên đang lặng
lẽ lo lót cho vợ con về quê và di tản ra nước ngoài. Tôi tin là Hoà và gia đình
có thể sống yên ổn trong những ngày này ở Sài Gòn.
Hoà ơi! Trong đời
lính của Tâm, chưa có hôm nào vui như hôm nay, được làm lính của sư đoàn “Gió Lốc”
tiến về miền Đông Nam Bộ trong đội hình của quân chính quy, tôi làm sao quên được
những miền
đất tôi đã đi qua? Tôi làm sao quên được chú Tám, di Tám
và cả Huỳnh Văn Hoà nữa! Nhớ đến Hoà cũng là nhớ đến những ngày cam go, đầy thử
thách ở Plây Cu với “ bàn tay sát bọc nhung” của tên tướng ngụy Phạm Văn Phú với mọi thủ đoạn nham hiểm của tên Cang thiếu tá ác ôn sẵn
sàng bắn bỏ tất cả những ai rơi vào tay hắn! Và nhớ Play Cu cũng là để nhớ những
cô nàng chiêu đãi viên bốc lửa sẵn sàng đưa hai đứa chúng ta vào “mê hồn trận”
để được hồi chánh, trở về với “chánh nghĩa quốc gia” đúng bài bản của Sở chiêu
hồi!
Nhưng thật là may!
Hoà và tôi đã tỉnh táo để phòng và đã vượt qua được tất cả mọi sự cám dỗ thấp
hèn để dắt díu nhau cùng tiến bước! Hôm nay, giữa Sài Gòn đang sôi động những đợt
sóng ngầm trước giờ giải phóng, Hoà đã gặp lại bạn bè là sinh viên Văn Khoa hoặc
là nữ sinh Trưng Vương, Đồng Khánh? Lại nhớ đến những buổi xuống đường, những
“Đêm không ngủ”, những bài hát “Hát cho đồng bào tôi nghe"? Trong đêm lửa
trại... Tâm cũng như Hoà có cả cuộc đời học sinh thơ mộng, may mắn hơn, Tâm được
rời ghế nhà trường, tình nguyện vào bộ đội và trở thành anh Giải phóng quân với
đôi dép lốp và chiếc mũ tai bèo! Hoà biết không? Ngày lên đường đi chiến đấu
vui nhộn không thể tưởng tượng: các bạn nam thì siết tay nhau hứa hẹn “cậu đi trước,
mình sẽ di đợt sau, hẹn gặp nhau ở Trường Sơn nhé!”. Còn các cô bạn gái thì tặng
hoa. Ôi! Những bông hoa tươi đủ mẫu rực rỡ, nhưng đẹp sao bằng những ánh mắt, nụ cười? Mình xin tiết lộ với Hoà: ngày lên đường của mình, mình được bốn cô
nàng tặng những bốn bông tươi làm cho mình cảm động vô
cùng. Mình đã khao cả bốn cô bạn ấy một chầu bánh tôm Hồ Tây ngon có tiếng.
Trong không khí tiễn biệt có vẻ đầy hào khí ấy, Tâm đã liều mạng nói rằng:
- Tôi được nhận những
bông hoa này đã thấy hạnh phúc lắm rồi, nhưng các bạn đã biết: tôi vốn tính rất
là... tham lam. Tôi xin được trồng trước ngõ nhà bạn một “cây si”! Được nhé?
Các bạn không đồng ý thì tôi cũng đã... trồng rồi kia mà! Thế là bốn cô bạn cười
ầm cả lên. Còn mình thì cũng liều, mặt trơ, trán bóng, nói vậy cho vui, nào ngờ
cả bốn cô bạn đều gật đầu lia lịa và nói rằng:
- Khỏi phải trồng
“cây si” hãy cứ chiến đấu tốt, lập chiến công thì năm năm, mười năm em cũng chờ!
Ồn ào, ríu rít bữa ấy rồi lên đường, ấy thế
mà, Hoà biết không? Thật không ngờ mình lại có chút xíu duyên thầm mới chết chứ!
Tháng nào, ở Tây Nguyên mình cũng nhận được thư của cả bốn cô bạn Hà Nội:
Thứ nhất là Lê Nghĩa,
còn được gọi là “Nghĩa mắt xanh” hoa khôi số 1 trường Trưng Vương đó. Cái nhìn
của đôi mắt xanh ấy là cái nhìn nghiêng nước nghiêng thành, đi suốt Trường Sơn,
mình không bao giờ quên đôi mắt ấy.
Thứ hai là Lệ Hằng,
tiếng hát nữ trung làm xao xuyến lòng người với bài hát “Hà Nội, niềm tin và hy
vọng” trong bao đêm hội diễn...
Thứ ba là cô bé Ninh
em ruột Lệ Hằng với đôi mắt bâng khuâng và tiếng ca dịu ngọt trên sân khấu nhà
hát lớn...
Thứ tư là Lê Quyên da trắng, tóc dài, dáng cao mảnh khảnh rất hiền mà mình rất sợ vì cái
nhìn lung linh cứ bám mãi hồn mình. Và bây giờ Quyên đã là cô gái thanh niên
xung phong đang nghe “ào ào lá đỏ và hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn!” (như lời ca bài
hát nhạc Hoàng Hiệp, thơ Nguyễn Đình Thi)
Hoà ạ, chỉ ngày mai
thôi, Tâm sẽ đặt chân lên mảnh đất “Miền Đông gian lao và anh dũng” áp sát Sài
Gòn. Bộ chỉ huy chiến dịch cho biết: sẽ có những đơn vị đặc công tinh nhuệ đặc
biệt chốt chặn những cây cầu quan trọng như cầu Đồng Nai, cầu Sài Gòn, cầu Bến
Lức (Long an) để bảo vệ cầu, đón Quân Giải Phóng tiến vào Sài Gòn. “Biệt Động
Sài Gòn” của ta một thời gây kinh hoàng cho địch trong các trận đánh cư xá,
buyn-đinh, diệt ác, trừ gian cũng sẽ hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy. Ngàn, vạn lá
cờ cách mạng đã được bí mật may sắm để trưng lên chào mừng Quân Giải Phóng! Ai
sẽ dẫn đường cho bộ đội đánh vào dinh Độc Lập? Chiếc xe tăng nào sẽ húc đổ cánh
cổng vào dinh Độc Lập? Ai sẽ được vinh dự cắm lá cờ cách mạng lên dinh luỹ cuối
cùng của ngụy quyền Sài Gòn?
Ngày về Sài Gòn không
còn xa nữa. Tâm hy vọng sẽ gặp lại Hoà trong lực lượng nổi dậy của thanh niên,
sinh viên nội thành, cùng đồng bào và chiến sĩ lập công xuất sắc!
Đêm Phan Rang đã yên
tĩnh hơn những đêm hôm trước. Thư này Tâm viết đã hơi dài mà sao chưa nói hết
được những điều cần nói với Hoà? Sài Gòn đang trải qua “cơn sốt vỡ da” của cô
gái vào tuổi trăng rằm, Sài Gòn sẽ thay da, đổi thịt, đang vươn vai đứng dậy
như chàng trai Phù Đổng...
Một anh lính xe tăng
ngồi bên tôi đang gõ tay nhịp cùng cô ca sĩ trên đài phát thanh hát lại với câu
hát thiết tha:
“... Hẹn gặp nhé, giữa
Sài Gòn!”
Hoà cho tôi tạm dừng bút ở đây. Chúc Hoà và gia đình mạnh giỏi, an khang và hẹn ngày gặp lại."
NGUYỄN THIỆN THUẬT

No comments:
Post a Comment