04 May 2022

ĐƯỜNG ĐI RA BIỂN

 


I

 

Cô gái rụt  rè bước vào từ phía cánh cửa khép hờ sau khi đã gõ nhẹ tay "cạch, cạch" theo thói quen lịch thiệp và đã được người ngồi trong phòng đáp lại uể oải:

 - Xin mời vào!

Cô gái nhỏ nhẹ:

- Em chào anh Sĩ...

Người thanh niên chừng như miễn cưỡng phải đáp lại:

- Chào cô...

Cô gái nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế bành bọc nhung xanh đối diện với anh thanh niên. Cô đặt hai bao thuốc lá 3 số 5 lên bàn:

- Thưa anh, ông thiếu tá cho em mang thêm thuốc lá cho anh...

 - Cám ơn cô... à quên, xin lỗi, cô tên chi nhỉ? Cô thì nhớ tên tôi, mà tôi lại cứ quên tên cô…

Cô gái khép nép:

- Dạ, thưa: em tên là Lệ Ninh.

Anh thanh niên trầm lặng gật đầu:

- À. Lê Ninh! Lệ Ninh, cái tên hay thật đấy.

- Dạ, có hay chi đâu, anh! Ba má em đặt cho em, anh cứ quá khen...

Anh thanh niên chừng như đã cảm thấy dễ chịu hơn nghe lời giãi bày của cô gái. Anh nói vui vẻ:

- Khi còn ở Hà Nội, đi học phổ thông, tôi có được đọc một cuốn tiểu thuyết của Nga từ thời trước cách mạng được nhà văn Vũ Ngọc Phan dịch sang tiếng Việt có tên là An-na-kha Lệ Ninh (từ nguyên bản An-na Ka-rê-ni-na). Nay tình cờ tôi lại gặp cô, cô có cái tên Lệ Ninh, tên hay thật đó mà, hay mà lại đẹp nữa!

Cô gái lộ vẻ mắc cỡ, chớp chớp hàng mi dài, làm cho đôi mắt càng bâng khuâng.

Anh thanh niên bắt gặp cái nhìn của cô gái, vội quay đi, nhìn qua song cửa. Ngoài trời, nắng buổi sáng đã bừng lên trên những ngọn cây cao.

Lệ Ninh nhìn theo rồi nói:

- Ở ngoài Bắc có lẽ trời đã trở lạnh còn ở đây vẫn là nắng nóng. Cái nắng Plây Cu đến dễ sợ, phải không anh? Anh Sĩ có sợ nóng không?

Sĩ quay lại, nhìn cô gái:

- Tôi cũng đã quen. Với lại tôi đang là tù binh thì nóng sao cũng phải chịu!

Lệ Ninh mim cười:

- Anh Sĩ là tù binh, nhưng là tù binh hạng đặc biệt được ưu đãi mà!

Sĩ không bỏ lỡ cơ hội, khai thác:

- Nay ưu đãi thì mai sẽ là cực hình, đó là điều tôi biết chắc chắn...

Lệ Ninh khe khẽ thở dài:

- Em nghe ông thiếu tá nói: theo lệnh của thiếu tướng tư lệnh, không ai được phép động đến người anh...

Sĩ lắc đầu: Không phải như thế đâu! Tôi đã sa cơ, lỡ rơi vào tay ông thiếu tá thì sớm muộn tôi cũng phải hy sinh vì tôi là người lính của phía bên kia! Tôi chỉ là anh lính quèn, anh binh nhì làm nhiệm vụ trinh sát, các ông ấy bắt được tôi, sẽ thẩm vấn, khai thác xong thì bắn bỏ.

Cô gái lắc đầu:

- Đó là suy nghĩ của anh. Em nghe mấy ông nói thì lại khác kia...

- Khác sao?

- Thiếu tá nói: bắn bỏ anh thì dễ, nhưng khai thác anh mới là khó, mà nếu thuyết phục được anh tình nguyện xin hồi chánh, trở về với chánh nghĩa quốc gia thì mới thật là tuyệt vời!

Sĩ làm bộ ngạc nhiên: Lại thế nữa kia ư!

- Dạ, em nghe ông thiếu tá nói, em tin...

Sĩ cười nhạt:

- Thế thì cô đích thực là Thiên Nga, Phượng Hoàng, chứ đâu phải chỉ là chiêu đãi viên? Lệ Ninh lắc đầu:

- Dạ. Cũng lại là suy nghĩ của anh về em đó thôi. Em đầu có xạo? Em chỉ là chiêu đãi viên câu lạc bộ Phượng Hoàng, chưa một lần nào là Thiên Nga. Thiên Nga là lính của bà Trần Lệ Xuân thời ông Diệm, ông Nhu. Các ông ấy chết, bà Lệ Xuân đi Mỹ, lính Thiên Nga tan tác. Có nhiều cô gia nhập đội quân chiêu hồi đi với cán bộ bình định về xã ấp. Công việc của lính Thiên Nga không phải là công việc của tụi em ở đây...

Sĩ làm ra vẻ thông cảm với cô gái:

- Xin lỗi, bây giờ tôi mới rõ ... Lệ Ninh làm chiêu đãi viên đã lâu chưa?

- Dạ, thưa: em làm ở đây đã hai năm. Năm 20 tuổi em làm ở vũ trường Ha-oai của bà Năm ở Nha Trang. Vũ trường Ha-oai đêm đêm toàn sĩ quan Mỹ đến nhảy, em sợ lắm. Khi được lên Plây Cu, em coi như thoát nạn ...

- Sĩ quan cộng hòa và sĩ quan Mỹ ở đây cũng dữ dằn lắm chứ?

- Không đâu anh! Đây là đất Cao Nguyên, tụi em được cưng lắm mà!

Một phút im lặng.

Cô gái bóc một gói thuốc lá:

- Em mời anh!

- Cám ơn cô ...

Sĩ nhìn lại cô gái từ đầu đến chân. Từ trang điểm đến áo quần, Lệ Ninh có nét đẹp thùy mị, đoan trang khác hẳn cô gái đầu tiên vào phòng này từ tuần lễ trước: cô ấy có tên là Tuyết, lẳng lơ, ăn mặc lòe loẹt, hở hang, khêu gợi làm cho Sĩ vừa có cảm giác ghê ghê, vừa có cảm giác mình bị xúc phạm. Tuyết đã mang đến dây cả một tập dày báo chí Sài Gòn các loại như tờ Tiền Tuyến của quân lực Việt Nam cộng hòa, tờ Trắng Đen của phái đối lập và cả mớ tạp chí phương Tây với những hình ảnh khỏa thân của những cô gái giang hồ. Ngay lúc ấy, Sĩ đã chép miệng quay đi, làm cho Tuyết phải thất vọng rồi cô ta che miệng cười và hỏi:

- Lính Bắc Việt các anh không quen xài mấy thứ báo này sao?

Sĩ đáp, giọng khô khốc:

- Tôi mới bị bắt vào đây, còn nhiều thứ phải lo, phải nghĩ, còn bụng dạ nào mà xem báo?

Tuyết vẫn nhởn nhơ:

- Anh cứ coi báo đi, cho khuây khỏa mà! Ông thiếu tả nói với em thế!

Ông thiếu tá nào đây? Có lẽ không ai khác là một tên ác ôn hay một tên cán bộ chiêu hồi. Sĩ nghĩ thế và nhìn thẳng vào mắt cô gái:

- Nhờ cô nói lại với ông thiếu tá, tôi còn mệt mỏi lắm, còn cần giấc ngủ hơn...

Và anh đã hết nằm lại ngồi ngả người vào lưng ghế, khi ngủ đã đành mà khi thức cũng lại nhắm nghiền hai mắt... Anh đang chuẩn bị cho mình những câu trả lời chất vấn của kẻ địch và cả những sự chịu đựng, thử thách của những trận đòn thù rất man rợ, và có thể anh sẽ phải hy sinh.

Thái độ lạnh nhạt của anh với cô gái nhảy có tên là Tuyết khiến cho ông thiếu tá thay đổi ngay kế hoạch thăm dò: Lệ Ninh đã xuất hiện từ ba hôm nay với anh lính Bắc Việt này với phong cách khác hẳn cô Tuyết, và Ninh đã trò chuyện được với anh lính Bắc Việt này.

Giờ đây, để cô gái có tên là Ninh được yên lòng, Sĩ đã rút một điếu thuốc đặt lên môi và bật ngọn lửa ga rít một hơi dài. Ninh pha một ấm trà nóng, rót ra chén:

- Mời anh!

Sĩ đỡ chén nước từ tay cô gái:

- Cám ơn!

Cô gái nhìn anh thật trìu mến:

-  Ngoài Bắc lạnh nhiều, mấy anh ưa uống trà nóng. Vào Nam, anh nên tập thói quen dùng trà đá đi ...

Sĩ lắc đầu:

- Có lẽ tôi chẳng dám nghĩ đến một thứ trà nào lúc này. Khi ở rừng thì có bi - đông nước lạnh, khi hết, bị khát thì lại uống nước suối. Còn bây giờ, như cô nói: tôi đang được ưu đãi, ngồi ở đây uống chén nước nóng này, hãy biết có ngày hôm nay. Còn ngày mai có lẽ tôi sẽ bị treo ngược lên, bị tra tấn và sẽ “được uống” từng xô nước dơ bẩn ...

Câu nói của Sĩ làm cô gái giật mình:

- Sao anh cứ bi quan thế?

- Đó là sự thật, sự thật sẽ còn tàn nhẫn hơn thế!

Lệ Ninh ái ngại:

- Em biết nhiều người tù bị tra tấn, gầy rạc đi, ốm ho, hộc máu ra mà chết nhưng với anh, em lại có linh cảm rằng anh sẽ không bị ngược đãi như thế!

Sĩ lắc đầu ngao ngán:

-  Có lẽ tôi không lầm đâu. Chỉ ngày mai, ngày kia thôi, tôi sẽ phải lần lượt trả lời những câu hỏi của ông thiếu tá và sẽ phải ăn đòn. Và nếu điều đó xảy ra thì cô Ninh sẽ hết ngạc nhiên...

Cô gái khép nép:

- Dạ. Em đến đây là theo lệnh ông thiếu tá, thấy anh vui vui là em mừng. Còn nếu anh chưa vui được thì em cũng chịu, biết làm sao?

Sĩ gật đầu:

- Cô nói đúng đấy! Người ta còn để tôi yên có nghĩa là sẽ hành hạ tôi tới chết. Tôi nói dăm ba câu cho tạm thời khuây khỏa để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu quyết liệt ngày mai thôi. Với người lính như tôi, đã đến bước này thì sự hy sinh là không tránh khỏi... Thôi nhé xin thứ lỗi, cô Ninh có thể trở về nhiệm sở được rồi. Xin cô khép giùm tôi cánh cửa lại. Tôi muốn được yên tĩnh....

Cô gái đứng lên:

- Dạ. Em xin chào anh! Cô lui bước ra khỏi phòng sau khi đã khép lại cánh cửa thật nhẹ nhàng.

Còn lại một mình với ấm trà, khói thuốc, Sĩ lại nhắm nghiên hai mắt, chìm đắm trong suy tư, song hôm nay, anh không thể quên được hình dáng của Lệ Ninh, một cái tên gợi nhớ đến một cái tên Hà Nội của anh: Lệ Hằng! Phải rồi, Lệ Hằng, cô bạn hay hát, hay cười đã làm anh say đắm. Bây giờ Lệ Hằng có hiểu được không, anh đã là một người lính bị địch bắt làm tù binh giam lỏng ở đây ...

Sĩ bồi hồi xúc động, muốn kêu lên: “Lệ Hãng ơi! Biết bao giờ anh mới nhận được thư em? Và biết bao giờ ta mới lại gặp nhau? Hay là sẽ chẳng có bao giờ?”

***

 Sĩ đang ngồi đối diện với một người được biết là thiếu tá Cang trong phòng 1, phòng thẩm vấn những người bị bắt làm tù binh.

Cang có khổ người thấp, đậm với nước da đen sạm và đôi mắt trắng dã. Cái nhìn sắc lạnh của Cang xoáy vào gương mặt cương nghị của người thanh niên. Hắn mở tập hồ sơ để sẵn trên bàn, hất hàm hỏi:

 - Anh là Nguyễn Văn Sĩ?

- Thưa vâng.

- Nếu anh khai man, anh phải chịu trách nhiệm trước tòa án binh, nghe chưa?

- Dạ.

- Tôi đọc lại, nghe đây: Họ và tên: Nguyễn Văn Sĩ, 21 tuổi, địa chỉ: số ... Phố Nguyễn Du, Hà Nội, là học sinh học hết cấp 3 phổ thông, vào bộ đội tháng 8 năm 1971, cấp bậc: binh nhì, đơn vị: đội trinh sát thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 2, trung đoàn 1, sư đoàn 320, có đúng không?

 - Dạ, phải.

- Anh xâm nhập Plây Cu cùng với một đồng đội bị chết, y có tên là Tâm, có phải không?

- Dạ, phải.

- Từ hôm bị bắt đến nay đã mười ngày, anh có bị đánh đập không? Có được chăm sóc chu đáo không?

- Dạ thưa: tôi bị biệt giam để chờ thẩm vấn.

Cang cười nhạt:

- Biệt giam hay là ưu đãi đặc biệt cũng thế. Rất may cho anh, anh đã bị bắt sống, nếu đội tuần tiễu quá tay, đã bắn chết như bạn của anh rồi. Song, chúng tôi cần bắt sống. Mười ngày qua, anh thấy chánh sách của Chánh phủ quốc gia có nhân đạo không?

Sĩ im lặng.

Cang lại gặng hỏi:

- Khó trả lời lắm sao?

- Thưa ông, tôi là người lính đi làm nhiệm vụ trinh sát, đã bị bắt. Sự hy sinh đối với tôi là có thể xảy ra. Mười ngày qua chưa đủ để tôi có ý kiến trả lời ông được!

- Hừ! Anh cũng cứng cỏi đấy, nhưng mà anh nên nhớ, đã bị bắt thì chớ có dại dột, chớ có bướng bỉnh để rồi lại phải ân hận. Nếu tôi ra tay thì… thép cũng phải chảy ra nước, chứ đừng nói chi đến bản lĩnh, đến lập trường như anh thường nghe Cộng Sản tuyên truyền...

Cang đứng lên, đi di lại lại, nói chậm rãi:

- Anh đã là tù binh, bây giờ chỉ có hai con đường: một là khai báo thành thật, phản tỉnh để trở về với chánh nghĩa quốc gia thì sẽ được đối đãi thật tử tế như những người đã hồi chánh. Hai là còn chống lại Quốc thì sẽ bị bắn bỏ hoặc bị tống ra đảo Phú Quốc làm tù khổ sai! Tôi sẽ cho anh thêm thời giờ để suy nghĩ, nghe!

Sĩ vẫn im lặng cho đến lúc thiếu tá Cang đứng sững trước mặt anh, dõng dạc:  

- 21 tuổi đời, trẻ người, non dạ quá mà! Hãy suy nghĩ kỹ đi ... Em! Trở về với chánh nghĩa quốc gia, em sẽ có tương lai sán lạn... Nếu không thì em sẽ ân hận suốt đời! Còn nhiều thời giờ để em suy nghĩ để có thể… làm lại cuộc đời!

Sĩ vẫn ngồi như bất động.

Lại còn những ngày dài chờ đợi trong lo âu, thấp thỏm. Lại những đêm thức trắng trong phòng biệt giam sang trọng như một phòng khách để mỗi sáng, mỗi chiều lại thấy xuất hiện cô gái có tên là Lệ Ninh.

Sĩ không khỏi ngạc nhiên khi kẻ mang quân hàm thiếu tá kia lại gọi mình là em bằng giọng ngọt xớt! - Mi đang muốn gì ở ta? Lừa phỉnh, hù dọa đề thử gân một anh lính Bắc Việt? Sĩ biết chắc rằng dự đoán của anh không nhầm. Sau lời nói ngọt ngào là những giọng gay gắt trước khi bước vào phòng tra tấn nhục hình?

 Sĩ tự nhủ: “Ta sẽ chỉ là ta, còn tụi bay, bay cứ làm công việc của chúng bay. Ta đâu có sợ?”

 

II

 

SAU BUỔI ĐỐI THOẠI VỚI TÊN THIẾU TÁ Cang, được trở lại phòng biệt giam, Sĩ đã thấy mình sẽ phải làm gì trong những ngày tới. Không thể đắm chìm trong suy tư đằng đẳng, không thể bị quan để dẫn tới thất bại trước kẻ thù gian manh, xảo quyệt!

Thế là đã rõ: chúng đang muốn anh quy thuận hoàn toàn, anh sẽ rời bỏ trận tuyến để trở thành một tên mật vụ, một tên cán bộ bình định, chiêu hồi hay một tên lính cộng hòa?

Sĩ mừng thầm là mình vẫn còn tỉnh táo để có thể đối đáp với tên Cang bằng những lời nói vừa có văn hoá, lịch sự, ôn hoà, lại vừa giữ được tư thế của người lính Bắc Việt, trong lúc tên Cang mặt sắt đen sì, môi thâm, mắt trắng dã tuôn ra những lời hăm dọa đểu cáng. Hãy tỉnh táo hơn, cứng rắn hơn để bước vào cuộc chiến đấu mới không cân sức này. Không có vũ khí trong tay, chỉ còn lại một cái đầu ...

Sĩ mỉm cười một mình. Nhớ lại những dòng chữ anh đã viết trong bản tự khai báo sau khi bị bắt làm tù binh, anh tự nhủ mình: “Hãy giữ nguyên lời khai báo, kể cả khi bị đánh đập tàn nhẫn! Lời tự khai đó là: cái tên thật của anh là Lê Văn Tâm đã được thay bằng cái tên Nguyễn Văn Sĩ là tên của người đồng đội đã bị địch bắn chết và vứt xác xuống khe sâu. Tâm muốn mình sẽ mãi mãi được mang tên đồng đội, người bạn ra đi từ Hà Nội, đã anh dũng hy sinh trong cái đêm hai anh em xâm nhập ngoại vi thị xã Plây Cu. Kể cả địa chỉ của gia đình Sĩ ở Hà Nội (số .... phố Nguyễn Du), Tâm cũng đã ghi rất rõ ràng, đề phòng địch sẽ thẩm tra qua mạng lưới điệp viên của chúng... Một bản “Sơ yếu lý lịch” của Sĩ đã được Tâm chép lại nguyên văn để đánh lừa kẻ địch, và mai đây, nếu anh được toàn vẹn trở về, anh có thể thay mặt Sĩ (người đã hy sinh) kể lại cho cha mẹ Sĩ về cái chết của bạn mình lúc 12 giờ đêm ngày 22 tháng 12 năm 1974 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944). Hai anh lính trẻ của sư đoàn 320 làm nhiệm vụ trinh sát chuẩn bị cho những trận đánh mùa khô. Chưa kịp hoàn thành nhiệm vụ thì một đã bị hy sinh và một bị bắt làm tù binh. “Ta chưa trả thù được cho bạn thì ta quyết không được làm bất cứ một điều gì làm tủi vong linh của bạn!”. Tâm tự hứa với lòng mình như thế và anh coi đó là một lời nguyền.

Ôi! Cái đêm không trăng sao - 22 tháng 12 - Sĩ đã trườn người lên trước khi phải băng qua con đường rải đá để vào Plây Cu, Tâm bò sau cái bóng nhấp nhô của bạn, cách nhau một cự ly 10 mét...

- Đoàng! Một tiếng nổ làm cho Tâm giật mình và hai bóng đen nhảy tới: hai tên biệt kích quật Tâm ngã sấp khi anh vừa kịp dứng dậy sau tiếng súng nổ bất ngờ...

- Bắt sống thằng này, nộp thiếu tá, lấy thưởng, mày!

Tên biệt kích thứ hai giật phắt khẩu súng của Tâm và bẻ quặt hai cánh tay anh ra phía sau lưng. Tên thứ nhất bấm đèn pin soi vào mặt Tâm rồi cười hô hố:

- Lại một tên Bắc Kỳ Sắp chết đói hả? Vào đây làm gì? Mày tưởng chúng tao không có mặt sao? Thằng bò lên phía trước kia đã bị chúng tao bắn tan xác rồi. Còn mày thì tao phải bắt sống, nghe chưa? Tên biệt kích thứ ba, tên vừa nổ súng bắn chết Sĩ đã chạy về phía anh bộ đội hy sinh, nó nhặt một khẩu súng và nắn hai túi áo ngực của người vừa ngã xuống. Nó ngửng lên vừa lúc tên cầm đèn pin bước tới:

- Chú mày bắn khá lắm. Ta có lời khen. Ta sẽ trình lên thiếu tá để có trọng thưởng cho chú mày!

- Dạ, thưa trung uý: tên này đã chết, em bắn trúng lưng nó, đạn xuyên qua ngực, chết ngay lập tức. Ngoài khẩu súng và bi - đông nước, nó không còn giấy tờ gì khác...

-  Hãy lục soát thật kỹ quanh người nó.

- Dạ, em đã lục kỹ, hai cái túi áo rỗng không.

- Vứt xác nó xuống khe kia rồi quay lại chỗ thằng kia áp giải nó về nộp cho thiếu tá, nghe!

- Dạ.

Trong đêm tối Lê Văn Tâm bị ba tên biệt kích, thám báo lôi về bốt gác tiền tiêu của chúng.

Tên cầm đèn pin ra lệnh cho hai tên đi theo: Tao cấm chúng bay không được đánh đập thằng này. Đã bắt sống được nó thì cứ đem nộp lấy thưởng, không cần phải đấm đạp chi hết, nhưng phải trói chặt nó lại, đề phòng nó chạy hoặc đánh lại chúng mày khi nó liều mạng.

- Dạ, anh Hai nói chí phải. Để em trói nó lại bằng sợi dây dù này rồi sẽ giải nó sang dinh thiếu tá!

Miệng nói, tay làm, tên biệt kích thứ hai có cái đầu trọc lốc đã nhanh tay trói Tâm bằng sợi dây dù và ấn cổ buộc anh ngồi xuống:

- Ngồi xuống đây cha nội! Đừng có quậy mà lại xơi kẹo đồng đấy!

Tâm ngồi sụp xuống và lại nghe chuông điện thoại reo. Tên đội trưởng ác ôn cầm ống nghe:

- Dạ, tôi đây. Dạ, trình thiếu tá, chúng tôi đã nổ súng bắn chết một thằng và bắt sống một thằng. Dạ, dạ, tôi sẽ mang nó lên nộp ngay ạ.

Nó đặt ống nghe và ra lệnh cho tên vừa trói tù binh:

- Lệnh của thiếu tá: ta phải mang nộp tên Việt Cộng này ngay bây giờ! Đi, chú mày dẫn giải nó đi ngay!

Khi đến trước mặt tên thiếu tá, Tâm nghe tên này ra lệnh:

- Cởi trói cho anh bạn ngay!

Khi Tâm được cởi trói, tên thiếu tá cười:

- Anh bạn ngồi xuống đây! Mệt và đói lắm hả? Yên tâm, vào đến đây rồi thì chắc sống lắm. Không ai còn đánh đập anh bạn nữa đâu! Anh bạn là lính của sự đoàn nào? 10 hay 320? Cứ chuẩn bị tinh thần, khai cho rõ! Chánh phủ quốc gia có chánh sách tù binh rất rộng rãi...

Một ly nước lạnh và một gói thuốc lá được đặt lên bàn.

Tâm vẫn ngồi im lặng.

Tên thiếu tá nhìn người tù binh từ đầu đến chân một lần nữa rồi lại ra lệnh:

- Trung úy mang y xuống phòng biệt giam số 1 cho tắm giặt, thay quần áo, cho ăn uống đầy đủ. Đề phòng y tự sát hoặc chạy trốn, nghe!

Tên trung uý “dạ” một tiếng rồi xách tay Tâm đứng dậy:

- Theo tôi, đi!

Tâm bị đẩy đi trước, trước mặt anh là ngôi nhà sáng ánh đèn: phòng biệt giam số 1 ở đó.

 

***

 

Cửa phòng bật mở. Tên mật vụ bước vào:

- Nguyễn Văn Sĩ! Lệnh thiếu tá: anh phải chuyển sang trại số 2, phòng biệt giam số 2A!

Tâm nhìn tên mật vụ, không chút ngỡ ngàng rồi yên lặng bước đi theo nó.

Nó không quên nói tiếp:

- Mang theo cái túi đựng quần áo nữa!

Tâm xách chiếc túi. Tên mật vụ nhếch mép cười.

- Khai báo hết đi rồi trở về hồi chánh là sung sướng ngay thôi mà! Đừng có dại dột chống lại ông thiếu tá mà lại chết uổng mạng!

Thấy Tâm vẫn không hé răng, tên mật vụ vẫn dai dẳng nói:

- Tôi là người đi bước trước. Anh là người đi bước sau. Tôi nói thật nhé: đã vào đến đây thì chỉ có hai cách: một là về với Quốc Gia, hai là nhận lấy cái chết đau đớn, ê chề, nhục nhã! Đi Côn Đảo, đi Phú Quốc là mấy thằng già, còn trẻ trung như anh thì không ai cho đi ở chuồng cọp đâu! Chỉ có bắn bỏ nếu không chịu đầu hàng! Tôi nói thật nhé: lập trường của các anh là... cái đếch gì? Hãy vứt nó vào sọt rác, nghe chưa?

Thấy Tâm vẫn trơ như đá, nó đi lui lại vài bước và nói: Thôi nhé! Cha nội chắc còn nhiều điều mặc cảm, phân vân nên chưa dám quyết định về với Chánh nghĩa Quốc Gia? Cũng không ai ép buộc đâu. Cứ suy nghĩ kỹ rồi sẽ trả lời cho ông thiếu tá!

Tên mật vụ mở cửa phòng biệt giam số 2A. Đèn bật sáng. Tâm nhìn căn phòng: hẹp hơn phòng số 1 và lại có kê hai chiếc giường. Trên một chiếc giường đã có một người tù ngồi chồm hỗm. Thoáng nhìn người này, Tâm biết là hắn còn rất trẻ. Thấy Tâm bị đẩy vào, hắn chỉ nhìn chòng chọc mà không nói được câu nào.

Tên mật vụ gọi:

- Huỳnh Văn Hoà!

- Dạ.

- Từ hôm nay, anh có thêm một người bạn mới nhé. Tôi giới thiệu luôn: đây là Nguyễn Văn Sĩ lính Bắc Việt, trinh sát của sư đoàn 320 xâm nhập trái phép, bị Quốc Gia bắt làm tù binh. Hai người ở chung phải giữ trật tự, không được cãi cọ, không được quậy phá, nghe!

- Dạ.

Tên mật vụ lui ra sau khi khóa cửa lại. Tâm ngồi xuống mép giường, bắt đầu làm quen với anh bạn mới.

- Cậu cũng là tù binh?

 - Dạ. Em là lính cộng hòa, lính bị động viên quân dịch ở Sài Gòn đó anh.

 - Tên cậu là Huỳnh Văn Hòa?

- Dạ. Người dẫn anh vào đây vừa giới thiệu tên em rồi đó!

- Cậu quê ở Sài Gòn hay lục tỉnh miền Tây?

- Dạ. Em ở quận 1 Sài Gòn, đường Tự Do, tức là đường Ca - ti - na cũ đó ...

- Ba má làm gì? Có nhiều anh chị em không?

- Dạ, ba em dạy học. Má em buôn đồ cổ có một tiệm buôn nhỏ. Em có hai chị em em là trai. Chị em hơn em hai tuổi, tên là Hiền, đang học Văn khoa ...

 - Sao cậu bị bắt vô đây?

- Dạ, em bị động viên quân dịch trong cái chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ” của ông Thiệu đó. Khi Hòa ước Pa - ri được ký kết rồi, ai cũng tưởng hoà bình sẽ được lập lại, song ông Thiệu, ông Kỳ không chịu, cho rằng người Mỹ ký với Bắc Việt là sai lầm và vì thế ông Thiệu phải gia tăng hoạt động quân sự, lấn đất, giành dân để nống ra vùng giải phóng của Việt Cộng. Quân lực Việt Nam cộng hòa có một triệu lính cũng vẫn chưa đủ, cho nên ông Thiệu phải bắt thêm lính. Em bị bắt vào lính vì thế!

- Sao ba má không chạy tiền lo lót?

- Dạ. Có đấy. Nhưng tiền mất, tật mang. Người ta lấy của ba má em cả cây vàng hứa sẽ giúp đỡ để em làm “lính kiểng” ở Sài Gòn, không phải ra trận. Thế mà em vẫn bị đẩy lên Cao Nguyên, ở Vùng 2 chiến thuật này. Em sợ quá, bỏ trốn mới đi được nửa đường về Sài Gòn thì bị bắt trở lại từ hơn một tháng nay.

- Có bị đánh đập gì không?

- Dạ, không. Ông thiếu tá chỉ doạ dẫm thôi và cho ăn uống đầy đủ, lại cho em được viết thư về gia đình.

- Thế là thế nào nhỉ? Lính đào ngũ như cậu thì phải bỏ tù chứ?

 - Em thấy mấy thằng nhà nghèo thì bị bạt tai, tống vào trại số 3 chật chội như cá hộp. Có thằng bị phơi nắng cả tuần lễ.

- Cậu thử ngỏ ý muốn lo lót, xem ông thiếu tá nói ra sao?

-  Dạ. Em sợ lắm. Nhưng nếu ba má em được thăm nuôi, lên đây gặp em thì em sẽ nói để ba má em lo lót...

- Ừ, có khả năng vàng bạc thì nên lo lót mà về chứ!

Đến lượt Huỳnh Văn Hòa hỏi thăm về Tâm:

- Anh là bộ đội Bắc Việt, sao anh lại để cho chúng nó bắt làm tù binh?

- Tôi làm nhiệm vụ trinh sát, phải đột nhập Plây Cu, mạo hiểm, nên bị bắt.

- Có một mình anh?

- Không. Có hai người. Tôi và bạn tôi. Bạn tôi đã bị hy sinh ...

-  Trời!

Tâm nhìn rõ nét mặt Hoà biến sắc. Hắn hỏi tiếp:

- Nó bắn bạn anh?

Tâm gật đầu:

- Một phát súng nổ. Bạn tôi đã chết và bị vứt xác xuống khe. Còn tôi, tôi không kịp trở tay vì quá bất ngờ. Chúng nó tước mất vũ khí của tôi và bắt về đây...

- Nó có đánh đập anh không?

- Không. Nó chỉ trói rồi lại cởi trói và theo chúng nói: chúng phải bắt sống tôi để được lĩnh thưởng của ngài thiếu tướng tư lệnh Phạm Văn Phú.

- Rồi chúng nó cứ giam anh hoài?

- Chúng biệt giam tôi đã hai tuần rồi, có hai lần thẩm vấn, có hăm doạ mà không đánh đập. Có lẽ chúng nó còn dụ dỗ, nếu tôi không khuất phục thì chúng nó sẽ tra tấn và có thể sẽ bắn bỏ thôi!

Hoà ngậm ngùi:

- Khó khăn cho anh quá, anh ơi!

Tâm nhìn lại vẻ mặt còn măng sữa của Hoà, giọng nói của anh đã đanh lại!

- Không sao! Với tôi thì tôi đã sẵn sàng chấp nhận hy sinh. Đã là lính thì phải chiến đấu với kẻ thù và trong chiến đấu thì sự hy sinh, mất mát là chuyện thường tình. Bao nhiêu bạn tôi đã ngã xuống. Người sống sẽ trả thù cho người chết. Nói vậy, không phải là sách vở đâu, và tất cả đều đã trở nên bình thường.

- Vì thế mà không còn gì phải e ngại?

- Đúng. Tôi đang chờ đợi xem họ sẽ còn những trò gì nữa đối với tôi. Giờ đây, tôi không có một tấc sắt trong tay, cũng không có một đồng xu nhỏ ...

Hòa tỏ vẻ khâm phục:

 - Anh cứng cỏi lắm, nhưng mà em vẫn cứ lo lo cho anh.

- Cậu lo cho tôi không chịu nổi đòn tra tấn chứ gì?

- Dạ, em cứ thấy mấy anh bị đánh đến chết mà em sợ quá. Có thể cũng chẳng còn gì để khai báo, làm cho họ tưởng là mình ngoan cố không khai thế là họ đánh chết! À, anh cho phép em hỏi anh được không?

- Cậu cứ hỏi!

- Anh quê Hà Nội?

- Phải. Nhà tôi ở số ... phố Nguyễn Du, Hà Nội. Ba má còn khoẻ cả. Tôi tình nguyện vào bộ đội đã hai năm nên không vào đại học. Kể ra thì cũng thiệt thòi, nhưng cũng không sao, để sau này hết chiến tranh thì xuất ngũ và học lại cũng không muộn...

Hoà hơi sửng sốt:

- Hết chiến tranh? Bao giờ thì hết chiến tranh hả, anh?

- Mỹ đã rút rồi. Ông Thiệu làm sao đứng vững nổi nếu không thực hiện hoà hợp dân tộc như Mặt trận dân tộc giải phóng đã ra lời kêu gọi?

- Dạ. Em thấy ông Thiệu, ông Kỳ chừng như không muốn chịu nhượng bộ?

- Họ không thể đừng được!

- Trời! Còn gian nan lắm anh ạ! Máu xương còn phải đổ ...

Nghe người bạn tù trẻ tuổi hơn mình nói bấy nhiêu câu, Tâm đã nhìn lại khuôn mặt còn đầy những lông tơ của cậu ta, anh tự nhủ thầm: “Có thể tin được những lời bộc bạch của Hòa chưa? Hòa có thật là một anh lính cộng hòa đào ngũ hay lại là một thứ mật vụ được cài vào đây để dò xét ta? Cũng như cô gái có tên là Ninh hiền dịu kia được cử đến để thay thế cô gái có tên là Tuyết lẳng lơ mà ta không thèm bắt chuyện? Ta đang sống giữa một bầy sói, không thể nhẹ dạ, cả tin để mất cảnh giác, dẫn đến tai họa được”. Nghĩ vậy, Tâm liền nói với Hòa:

- Này, cậu có nghĩ rằng: chúng ta ở đây là đang nằm trong tay ông thiếu tá Cang?

- Dạ, có chứ ạ!

- Ừ, cậu có biết ngoài hai chúng ta còn có ai đang ở trong cái phòng giam này nữa?

- Dạ, còn có ai đâu ạ?

Tâm cười:

- Thế thì cậu quả là ngây thơ! Tôi nói cho cậu biết: ở đây đâu phải chỉ có hai đôi tai của tôi và của cậu, mà còn có một cái tai nữa của ông thiếu tá Cang! Họ đặt nghe ở nơi nào đó quanh đây để thu hết mọi lời sự của anh em ta đó. Cái máy ghi âm nhỏ xíu thậm chí đến hai, ba cái - đặt sau những lỗ cửa tò vò trên cao kia, hoặc dưới hốc bàn, đã thu hết mọi tiếng động, lời nói ở đây rồi. Hàng ngày những cuốn băng ghi âm hiện đại ấy sẽ được gửi về phòng khai thác để khuếch đại, tăng âm và sẽ lọt vào tai ông thiếu tá Cang. Ta bàn tính chuyện gì, ta lo sợ đến đâu họ đều biết cả. Họ để ta sống, hay thủ tiêu, bắn bỏ lúc nào cũng được!

Hòa như vỡ lẽ ra:

- Dạ, anh nói có lý lắm!

- Rồi mai đây cậu sẽ lại thấy xuất hiện cô Tuyết, cô Ninh ở cái phòng này. Cậu và tôi sẽ “rơi” vào vòng tay của cô nào? Ông thiếu tá cũng sẽ biết hết! Chưa kể hàng ngày, hai cô này còn phải tường trình với họ tất cả mọi nhận xét, mọi thu hoạch của hai cô ấy về thái độ của hai đứa chúng ta! Ta đã muốn đầu hàng chưa? Có sắp hồi chánh chưa? Hay còn ngoan cố chống lại Quốc Gia? Họ cần phải biết để “đánh” trúng! Ta là cái gì đâu mà họ phải ưu đãi cho tốn công, tốn của?

Hòa ngồi thần mặt ra suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Dạ, em đã hiểu. Nhưng em cứ nghĩ: anh là lính Bắc Việt, lại là trinh sát, họ cần lôi kéo anh về hàng ngũ Quốc Gia để phản kháng với đối phương, chứ em chỉ là thằng hèn nhát, đào ngũ thì họ lôi kéo em làm gì?

Tâm lắc đầu:

-  Hãy cứ để xem sao! Họ tinh quái lắm chứ không đơn giản như cậu nghĩ đâu! Nếu quả thật cậu không phải là mật vụ, không phải là người của ông thiếu tá thì cậu cứ phải chuẩn bị sẵn sàng một sự đối phó với họ.

Hòa kêu lên:

- Dạ. Anh hãy tin em đi! Em không phải là mật vụ đâu! Em có thế nào thì em đã nói hết với anh rồi đó.  

- Ừ thì tôi cứ tin cậu. Vì dù sao ta cũng đã là đôi bạn tù binh rồi kia mà! Sở dĩ tôi nói với cậu như thế vì kinh nghiệm bản thân không cho phép tôi được mất cảnh giác. Với tôi thì ở đây hay ngồi trước mặt ông thiếu tá, tôi cũng vẫn nói như thế. Tôi là tôi! Tôi là người lính của phía bên kia. Tôi dấn thân vào đây, tôi đâu có sợ cái chết? Sự hy sinh của người lính là lẽ thường xảy ra cũng như người đồng đội của tôi đã bị bắn chết và bị vứt xác xuống khe sâu. ...

Đến lượt Hoà lại nhìn Tâm thật lâu để cảm nhận thêm ở người bạn lớn tuổi dạn dày kinh nghiệm này một cái gì như là sức mạnh đề kháng rất quyết liệt, như gang, như thép. Con người này có thật là cây tùng, cây bách trước phong ba? Còn mình, mình chỉ là chú học sinh bị ép buộc vào lính, nghe súng nổ đã giật mình, trông máu chảy đã vội nhắm mắt, bóp cổ súng còn run tay...

Hòa muốn ôm anh Sĩ vào lòng: “Anh Sĩ ơi! Cuộc đời của anh và em sẽ ra sao đây? Họ sẽ để ta sống hay bắt ta phải chết uổng mạng ở cái nhà tù này? Anh còn gia đình ngoài Bắc, em còn ba má và chị ở Sài Gòn. Thương lắm, anh ơi!". Hòa chớp mắt để giấu đi nỗi xúc động lo âu. Tâm thoáng thấy đôi mắt đỏ hoe của người bạn nhỏ tuổi. Anh phải an ủi:

- Số phận đã đưa đẩy ta đến đây, không thể một sớm, một chiều đã ra khỏi được nơi đây. Phải can đảm lên và sẵn sàng đón nhận những sự thử thách mới được! Kêu than, khóc lóc cũng vô ích! Mình phải tự cứu lấy mình thôi! Nếu quả thật, cậu là lính cộng hoà đào ngũ bị giam, rồi trốn trại, rồi bị bắt trở lại, rồi lại được biệt giam ở đây thì cậu càng cần phải cảnh giác, để rồi xem họ còn làm gì đối với cậu? Còn tôi, tôi đã sẵn sàng.…

 

***

Sự chuẩn bị tư tưởng của Tâm đã không thừa.

Giờ này anh lại ngồi trước mặt tên Cang. Nó làm bộ niềm nở, đẩy gói thuốc 3 số 5 về phía người tù binh.

- Cậu vẫn khoẻ chứ? Tôi được mấy thằng lính gác và mấy cô chiêu đãi viên báo cáo lại rằng cậu và cậu Hòa sống vui vẻ ở phòng 2A phải không?

- Dạ.

- Thế là được. Mấy tuần nay, sống trong bốn bức tường, buồn lắm phải không? Tôi sẽ cho các cậu đi du ngoạn quanh đây, đi xa hay đi gần, tuỳ các cậu. Thích đi thì cứ nói...

- Dạ.

Tâm tự nhủ: “Tao hãy cứ nghe mày nói, để xem mày sẽ còn làm gì nữa? Sự căng thẳng lúc này chưa cần thiết..."

Tâm vờ như người mới tỉnh ngộ với thái độ thụ động, ngồi nghe lời chỉ dẫn của ngài thiếu tá.

Tên Cang lại nói ôn tồn:

- Hôm nay cậu nói kỹ cho tôi nghe nhé: cậu và thằng bạn đã chết vào đây làm nhiệm vụ trinh sát nhưng cụ thể là làm cái gì? Làm bao lâu? Sẽ liên lạc với cơ sở Việt Cộng nằm vùng nào, trong thị xã Plây Cu? Cứ nói thật đi, nói hết đi! Tôi cho cậu nói thoải mái, sai thì sửa lại, nói lại. Có sao đâu? Không rõ cho đến giờ phút này, cậu nghĩ gì về tôi? Có tin tôi hay chưa tin tôi? Thực tình mà nói, tôi chỉ coi cậu như một cậu em ít tuổi, bồng bột, có lòng yêu nước nhưng lại sai lầm mà mua lấy cái khổ vào thân. Sao không trốn lính ở Hà Nội mà đi học? Sao không đút lót để đi học ở Nga Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc, có sướng đời không? Lại vào nơi rừng thiêng, nước độc này để cho khổ cả một đời thanh niên? Không chết là may cho cậu đấy! Tôi có thể bắn bỏ, nhưng nhìn cậu đẹp trai thế kia, tôi nỡ lòng nào? Tôi không phải là kẻ tàn bạo mà tôi có lòng nhân hậu chứ! Tôi chỉ bắn bỏ những ai dám dại dột chống lại tôi thôi!

- Dạ.

- Ừ, thế bây giờ đủ thời gian bình tĩnh suy nghĩ kỳ rồi, cậu nói cho tôi nghe: các cậu lén lút vào đây định trinh sát những nơi nào? Thời gian bao lâu?

- Dạ, thưa ông, chúng tôi có nhiệm vụ quan sát con đường từ Sở chỉ huy của quân đoàn 2 ra tới sân bay Cù Hanh...

- Để vẽ sơ đồ?

- Dạ, để sẽ vẽ thôi ạ.

- Sao không vẽ ngay mà lại sẽ, lại sẽ vẽ?

- Tôi có thói quen là nhập tâm tất cả những gì tại đã nghe, mắt đã thấy... để khi trở về căn cứ sẽ nhớ ra và vẽ lại thành sơ đồ báo cáo với cấp chỉ huy. Cho nên tôi chỉ được phép mang theo lương khô và nước uống Giấy bút ghi chép và các loại giấy tờ khác đều là thừa đối với tôi ...

Tên Cang gật gù:

- Ừ, cậu nói tiếp đi! Rồi sao nữa? Cậu sẽ hoạt động ở đây bao lâu?

- Dạ, một ngày. Nếu các ông không bắt được tôi, thì sớm hôm sau, tôi lọt vào thị xã, chờ lúc dân chúng đi lại tấp nập trên đường, tôi sẽ cải trang, trà trộn vào đám đông dân chúng đi qua khu Sở chỉ huy của quân đoàn 2 ra đến sân bay Cù Hanh rồi quay trở lại bìa rừng trước khi trời tối... Chờ cho đến tối hẳn, tôi sẽ tìm về lối mòn hôm trước để về đơn vị. Sẽ có người đón ở giữa rừng vào lúc nửa đêm...

- Không sợ bị lạc sao?

- Không thể lạc được. Lối mòn đã được đánh dấu bằng cành cây khô và một vài cây cao. Cứ theo hướng tây, nói đúng mật lệnh là sẽ gặp được đồng đội...

- Ừ. Còn việc trinh sát, chỉ đi qua bên ngoài thì cậu sẽ thu lượm được gì?

- Dạ. Tôi chỉ cần biết con đường từ Sở chỉ huy của các ông ra sân bay to, nhỏ, rộng, hẹp, dài, ngắn thế nào là đủ. Hệ thống tháp canh, đồn bốt có bao nhiêu cái là đủ...

-  Để làm gì nhỉ?

- Dạ. Đó là yêu cầu của cấp chỉ huy của tôi…

- Nghĩa là sư đoàn 320 vẫn đặt Play Cu trong tầm ngắm, chẳng những qua viễn kính mà còn qua thực địa nữa chứ gì?

 - Dạ. Đúng thế ạ.

Cang cười nhạt, mỉa mai:

- Ừ. Bắc Việt làm gì có máy bay trinh sát nên phải dùng đôi chân của các cậu, cũng đúng thôi. Tiếc rằng trinh sát của 320 lại không quay về được và cậu lại phải ngồi trước mặt thiếu tá Cang! Có thể các ông chỉ huy của 320 còn tung vào đây nhiều mũi trinh sát nữa! Nhưng vô ích! Tất cả đều vô ích. Vì chúng tôi đã giăng lưới khắp mọi nơi. Sẽ bắn bỏ và bắt sống hết! À còn một câu hỏi nữa, cậu chưa trả lời tôi: các cậu sẽ liên lạc với ai nằm vùng ở đây?

- Dạ. Chúng tôi không được giao việc ấy. Tôi chỉ được ở một ngày và phải rút ra trước khi trời tối.

- Ừ, tôi tạm tin lời cậu nói. Nếu cậu nói dối, sau này tôi tìm ra được đầu mối liên lạc của cậu, thì cậu chở có trách tôi là ác nhé!

- Dạ.

 - Còn bây giờ, tôi truyền lại lệnh của ông thiếu tướng tư lệnh: ngày mai cậu và cậu Hòa sẽ được đi du ngoạn khắp cả nội ngoại thị xã Plây Cu cho khuây khỏa, sẽ được đi nhà hàng nhậu nhẹt lai rai... Tôi sẽ cho người mang quần áo mới cho các cậu có đồ thay đổi. Ăn mặc lúi xùi thế này, không được! Ngài tư lệnh sẽ lại trách cứ tôi là không quan tâm đây đủ đến các cậu. Thôi, tạm biệt nghe!

Tên Cang chia bàn tay có những ngón mập như qua chuối mắn về phía Tâm. Anh rụt rè rồi đành phải miễn cưỡng đưa tay ra bắt lấy bàn tay kẻ thù.

Tên Cang nắm chặt tay anh và lắc mạnh:

- Cứ suy nghĩ thêm đi! Đừng có bỏ phí tuổi xanh ở rừng rú. Nên quay về với chánh nghĩa Quốc Gia đề làm lại cuộc đời!

Tên Cang gọi tên mật vụ chờ sẵn ngoài cửa:

- Mày đưa cậu Sĩ về 2A, nghe! Tên lính dập gót giầy, giơ tay lên ngang mặt:

- Xin tuân lệnh thiếu tá!

***

 

Thiếu tá Cang hoan hỉ ôm những cuốn băng ghi lời đàm thoại với tên tù binh Bắc Việt có tên là Nguyễn Văn Sĩ đến “Văn phòng mật” của Phạm Văn Phú thiếu tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật. Cang cũng không quên mang theo những cuốn băng ghi âm cài trộm ở phòng biệt giam tù binh nộp cho Phú để chứng minh cho việc làm rất khoa học, rất thận trọng của hắn.

Phú hỏi ngay:

- Thành công tốt đẹp chứ ông thiếu tá?

- Dạ, trình thiếu tướng: kết quả rất mỹ mãn.

-  Nó khai thế nào? Vào đây với mục đích gì?

- Dạ, trình thiếu tướng, tất cả lời khai của nó, kể cả thái độ của nó đối với chiêu đãi viên, mật vụ của ta, cũng được ghi lại mỉ, không sót một câu, một chữ. Nghĩa là nó là một tên lính bộ binh, làm nhiệm vụ thám báo, trinh sát đường đi lối lại của ta ở Plây Cu - nhất là con đường từ Tổng hành dinh đến sân bay Cù Hanh và ngược lại ...

- Để làm gì?

- Dạ. Theo nó khai là để về vẽ bản đồ cho chỉ huy của nó. Có lẽ để cho quân Bắc Việt chuẩn bị mở chiến dịch mùa khô ở Cao Nguyên, đánh vào Play Cu ...

Phú gật gù rồi hỏi:

- Theo thiếu tá, tên tù binh này có phải là một tên nguy hiểm? Có cần phải bắn bỏ?

Cang tỏ ra thành thạo:

- Dạ, y không phải là tên nguy hiểm vì mới chân ướt chân ráo đến vùng này, chưa dò xét được gì thì bị ta bắt. Còn tên đi cùng với nó thì đã chết mất xác rồi.

- Vậy, ta có thể dùng tên này để làm được việc gì không? Theo mấy con bé chiêu đãi viên nói lại với tôi thì tên này không ham gái, khó bị mê hoặc và sẵn sàng đối phó với ta nếu bị tra tấn, y có thể chịu chết chứ không chịu đầu hàng...

- Dạ, thưa: thiếu tướng có ý kiến gì để xử lý tên này?

- Ta sẽ buộc nó phải đầu hàng, không phải bằng đánh đập, tra tấn mà sẽ dùng thủ thuật của chiêu hồi để buộc nó đâm lao thì phải theo lao...

- Dạ, ý kiến của thiếu tướng rất phù hợp với dự kiến của tôi...

- Nhưng trước khi ta dùng quỷ kế chiêu hồi, ta hãy buộc nó phải đưa thám báo của ta thâm nhập vào đường mòn của nó để xác định lại những nơi ém quân của sư đoàn 320 hoặc sư đoàn 10...

- Dạ, thưa: chắc chắn là bọn chủ lực Bắc Việt đang phân tán phía Tây Kon Tum và phía Tây Plây Cu. Tên trinh sát này cũng chỉ biết được lối mòn vị của nó thôi ...

- Ừ, thì ta cứ nắm lấy một con đường mòn dẫn vào vào căn cứ của nó. Nhưng anh phải chọn mấy thằng thám báo thật can trường của ta mới việc đó! Nhút nhát, rụt rè sẽ làm hỏng việc đó!

- Dạ.

- Nói thế là anh có thể làm theo ý tôi được rồi. Làm đi, xong việc sẽ báo cáo lại cho tôi biết, nghe! Nó không có liên hệ gì với Việt Cộng nằm vùng thì không có gì đáng ngại. Một tên Việt Cộng nằm vùng còn nguy hại gấp nghìn lần một tên lính bộ binh. Ta phải phân biệt đối xử sao cho có lợi nhất cho mình mới là khôn ngoan chứ, có phải không, thiếu tá?

- Dạ, phải.

***

Cang vừa về đến phòng làm việc đã gọi ngay Lệ Ninh và Ánh Tuyết đến giao nhiệm vụ:

-  Tôi lệnh cho các cô phải chuẩn bị mỗi cô một bộ đồ “xịn” để đi chơi với hai tên tù binh ở phòng 2A. Tôi sẽ cùng đi với các cô. Ngày giờ báo sau, nghe!

Ánh Tuyết đon đả:

- Có công chuyện gì đó, thưa thiếu tá?

Cang làm bộ nghiêm trang:

- Việc nhà binh mà hỏi làm gì? Chỉ biết rằng đây là một cuộc du hí thả giàn, có nhậu nhẹt, nhảy nhót, có quay phim chụp hình, thế là được chứ gì? Hoặc các em khoái thì ta cắm trại ngoài rừng, chơi pic-nich cũng là cách đổi món cho hay...

Lệ Ninh lên tiếng, êm dịu hơn:

- Lệnh của thiếu tá, bọn em đâu dám cưỡng chỉ xin thiếu tá "bo" cho tụi em thôi!

Cang gật đầu vui vẻ:

- Khỏi lo! Quỹ chiêu hồi đâu có hẹp hòi gì!

Cang hạ giọng thân mật hơn, với cách xưng hộ kiểu bồ bịch:

- Anh phân công thế này: Lệ Ninh cặp bồ với thằng tù binh Bắc Việt có tên là Sĩ ấy nhé. Em Tuyết cặp với tên tù binh là lính cộng hoà có tên là Huỳnh Văn Hoà nhé... Trò chuyện, tán tỉnh cho mùi mẫn, nghe?

Ánh Tuyết liếc Cang thật tình tứ:

- Còn anh Cang của em thì cặp với ai? Em ghen đó!

Cang xua tay:

- Khỏi lo! Anh sẽ rủ Mai Lan đi cùng. Mai Lan lớn tuổi, cặp với anh sẽ hợp hơn. Được chưa?

Chuyện đang rôm rả thì có chuông điện thoại reo vang. Cang cầm ống nghe:

- Tôi nghe đây! Ai đó?

Từ đầu dây nói đằng kia có tiếng đàn bà:

- Năm Xinh Nha Trang đây! Xin chào thiếu tá ...

Cang tươi hẳn nét mặt, nói như reo:

- A! Chị Năm! Xin chào! Chuẩn xong chưa nào? Lệnh của thiếu tướng tư lệnh đó. Chuẩn bị sao cho ngon nhé!

- A! Anh khỏi lo! “Đêm Màu Hồng” mừng lễ đăng quang của thiếu tướng đâu phải giỡn? Tôi sẽ đưa từ vũ trường Ha- oai lên cho các anh 25 nàng tiên nữ tuyệt trần, trong đó có cả cô Ngọc Ngà, hoa khôi số 1 của vũ trường đó. Thiếu tướng bữa trước ra Nha Trang đã nhảy với em Ngà, rất tâm đắc, có dặn tôi phải “đưa Ngà lên cho anh” mà!

Cang tỏ vẻ hài lòng:

 - Thế là tôi yên tâm rồi. Chiều mai, lúc 14 giờ, chị Năm và vũ đoàn Ha-oai sẽ phải có mặt ở Plây Cu đó! Tôi sẽ cho lính ra đón, nghe!

 - Cám ơn, cảm ơn anh nhiều!

Cang đặt ống nghe, quay sang hai cô chiêu đãi viên đang cười rất tươi khi nghe lỏm được câu chuyện qua cuộc đàm thoại:

- Ngày mai hai em phải đi cùng anh ra đón chị Năm và “khách” từ Nha Trang lên đấy nhé! Còn chuyện du hí với hai tên tù binh đặc biệt thì sẽ tiến hành sau “Đêm Màu Hồng”, nghe! Thôi cho hai em về nghỉ và chuẩn bị mọi việc. Anh còn phải lo chuyện tổ chức lễ đăng quang và “Đêm Màu Hồng” cho thiếu tướng tư lệnh! Chà, sao mà lắm công chuyện thế này? Tuy nói vậy, song Cang lại nghĩ đến cái lon trung tá nay mai sẽ cầm chắc trong tay khi Phú đã yên ổn ngồi vào ghế tư lệnh Vùng 2 chiến thuật. Cang là tay chân đắc lực, sĩ quan mẫn cán nhất, lẽ nào Phú lại quên công lao của Cang?

 

III

 

NGỌC NGÀ BƯỚC VÀO CĂN PHÒNG KHÁ rộng, trang hoàng lộng lẫy như phòng tiếp khách của một ông lớn. Đi sau cô gái là một sĩ quan mang quân hàm thiếu tá. Gã cười hềnh hệch:

- Cứ mạnh dạn lên, em! Đây là phòng khách của tức ngài thiếu tướng tư lệnh. Ngài đã cho tôi gọi em, là ngài đã ưng em đó. Em cứ tự nhiên như lúc em còn ở nhà hàng Ha-oai ở Nha Trang với dì Năm thôi mà! Em ngồi xuống đi nào!

Cô gái chỉ kịp “dạ” một tiếng, chưa kịp ngồi xuống chiếc ghế bành bọc nhung xanh thì cánh cửa phòng khách đã xịch mở: Phạm Văn Phú uy nghi hiện ra trong quân phục màu trắng, bộ quân phục mà hắn thường trưng diện trước hàng quân trong những ngày đại lễ. Khác với vẻ mặt lạnh lùng thường ngày, hôm nay Phú lại tươi cười:

- Em là Ngà? Ngọc Ngà có phải không?

- Dạ, trình thiếu tướng: em là Ngà.

Cô gái chưa nói dứt câu thì ngài thiếu tướng đã chìa tay ra phía trước mời ngồi:

- Ta cho phép em ngồi! Rồi Phú quay sang viên thiếu tá:

- Ông thiếu tá! Ông cứ để cô Ngọc Ngà ở đây nói chuyện với tôi, ông có thể cứ về nhiệm sở...

Thiếu tá Cang “dạ” một tiếng rồi nhẹ nhàng quay gót sau khi giơ tay chào thượng cấp theo kiểu nhà binh. Cánh cửa phòng khách khép lại. Còn lại có hai người: Phú và cô gái. Phú đặt tay lên vai Ngọc Ngà:

- Em ngồi xuống đi! Bây giờ, tôi cho phép em gọi tôi bằng Anh. Cứ xưng hô thế cho thân mật, cũng như hôm trước anh đến nhảy ở vũ trường Ha-oai ấy mà!

Ngọc Ngà khép nép ngồi xuống. Lúc này cô đã bớt hồi hộp và trở nên tươi tỉnh hơn. Phú nói, giọng thân mật:

- Ở vũ trường Ha-oai có tới 50 vũ nữ. Tại sao anh lại chọn em? Chọn một mình em?

- Dạ, em không biết ạ.

 - Vậy thì để anh nói cho em rõ: anh mới được Hội đồng tướng lĩnh và tổng thống Thiệu cử anh về đây làm tư lệnh Vùng 2 chiến thuật thay tướng Nguyễn Văn Toàn bị triệu hồi về Sài Gòn. Anh vừa nhận bàn giao xong. Mấy ông dưới quyền anh tổ chức dạ hội “Đêm Màu Hồng” để chúc mừng anh, vị tư lệnh mới ở Cao Nguyên. Anh đồng ý với điều kiện phải đưa vũ đoàn Ha-oai từ Nha Trang lên vì các em ở Plây Cu này đâu có đẹp!

- Dạ, thưa anh con gái Plây Cu cũng đẹp lắm chứ ạ!

Phú lắc đầu:

- Anh không có nhầm! Khi quyết định đưa vũ đoàn Ha-oai từ Nha Trang lên, anh nghĩ ngay đến Ngọc Ngà, hoa khôi số 1 đó!

Cô gái nhìn người đàn ông đầy uy quyền ngồi trước mặt mình bằng một cái nhìn thật quyến rũ:

- Dạ, em cảm ơn thiếu tướng!

Phú nhếch mép cười thật duyên dáng:

 - Lại thiếu tướng rồi! Em kỳ quá! Anh nhắc lại nhé: nếu có người thứ ba ở đây thì anh cho phép em gọi anh là thiếu tướng cho thêm phần trịnh trọng. Còn bây giờ, chỉ có anh và em thì em phải gọi anh bằng Anh, nghe!

Cô gái cúi mặt:

- Dạ. Em nhớ rồi.

 - Vậy là rất tốt, rất đáng yêu. Anh nói nốt ý của anh cho em nghe nhé: tháng trước, khi anh qua Nha Trang, anh đã để ý đến em ngay và thầm ước một ngày nào đó sẽ đưa em về đây. Hôm nay, việc nhận bàn giao đã xong, anh cho gọi em về đây và... em sẽ ở luôn đây với anh...

Ngọc Ngà giật mình, kinh ngạc:

 - Dạ. Em lại được vinh dự đến thế sao?

Phú gật đầu:

- Đúng là như thế! Anh đã thích cái gì thì không ai ngăn cản được, kể cả em nữa.

- Dạ, thưa anh, nhưng mà em thuộc quyền quản lý của di Năm. Dì Năm dữ dằn lắm anh ạ. Em sợ dì Năm rày la em…

Phú vẫn cười:

- Em khỏi lo. Anh biết mỗi tháng em phải nạp cho dì Năm bao nhiêu triệu đồng rồi. Anh sẽ “bao” cho em hết! Thậm chí anh còn cho dì Năm gấp đôi, gấp ba số tiền đó!

- Dạ...

- Và để em ở đây, ở riêng với anh trong tư dinh này …

Ngọc Ngà lộ vẻ sung sướng:

- Em có diễm phúc quá, nhưng còn ... thiếu tướng phu nhân thì sao? Bà ở Sài Gòn, bà lên đây, biết có em ở đây thì em sẽ chết mất! mod

Phú vẫn làm bộ thản nhiên:

- Em khỏi lo! Bà ấy không hề ghen. Với lại anh là tư lệnh quân đoàn 2, quyền uy lừng lẫy cả vùng Cao Nguyên, lan tỏa đến Nha Trang Phan Rang, Phan Thiết, bà ấy bao giờ cũng phải giữ thanh danh cho anh, một vị danh tướng của quân lực Việt Nam cộng hoà, đâu phải chuyện giỡn? Anh sẽ bảo đảm an toàn cho em, báo đảm trăm phần trăm đó. Ông thiếu tá Cang, người vừa đưa em vô đây là tai mắt của anh, là sĩ quan cận vệ của anh. Ông ta có bổn phận phải bảo vệ cho em cũng như đang bảo vệ cho anh ...

Ngọc Ngà tỏ vẻ cảm động hơn, nàng nói nhỏ nhẹ:

- Dạ. Em yên tâm rồi!

Phú cúi sát gần cô gái, nâng cằm cô gái nhìn thật sâu vào đôi mắt huyền ảo của cô:

- Ngọc Ngà em! Anh xin em một nụ hôn đầu tiên nhé!

Cô gái nhắm mắt, tận hưởng ân huệ của ngài tư lệnh.

Phú nói qua hơi thở:

- Cưng của anh! Về danh nghĩa em sẽ là chiêu đãi viên của câu lạc bộ Phượng Hoàng, song về thực chất, em đã là Người Tình Tuyệt Vời của anh rồi đó!

Ngọc Ngà e dè nói:

 - Em cám ơn anh nhiều. Em chỉ sợ em không làm vừa lòng anh được thôi?

 Phú lắc đầu:

- Em đẹp hơn hẳn cô Diễm Lan chiêu đãi viên ở đây. Em hiền dịu hơn bà Tuyết Mai vợ ông Nguyễn Cao Kỳ. Em còn duyên dáng hơn cả cô Kim Anh vợ bé của ông Nguyễn Văn Thiệu!

Ngọc Ngà sung sướng:

- Anh quá khen em, chứ em sánh làm sao được với hai người ấy?

Phú vẫn thao thao:

- Anh nói thật mà! Ngay đêm nay là đêm trình diễn của vũ đoàn Ha-oai trên sân khấu câu lạc bộ Phượng Hoàng, song anh tách em ra, em không phải trình diễn, em là của riêng anh rồi! Anh ích kỷ quá, phải không em? Một sự ích kỷ đáng yêu đó!

Ngọc Ngà nắm chặt bàn tay Phú:

- Tuỳ anh thôi. Em đâu dám trái lệnh của thiếu tướng tư lệnh? Phú lại hôn nàng thắm thiết.

Phú gọi dây nói cho thiếu tá Cang:

- Mời ông lên ngay!

Năm phút sau, Cang đã có mặt, nhận lệnh của Phú:

 - Tôi nói để ông thiếu tá biết: từ giờ phút này, cô Ngà là thư ký riêng của tôi, cô không về nhà hàng Ha-oai ở Nha Trang nữa. Ông báo cho bếp trưởng làm một bữa cơm Tàu chiều nay, nghe!

- Dạ.

Phú nói tiếp:

- Bữa cơm ăn trước bảy giờ tối để tôi còn kịp đi khai mạc dạ vũ hội “Đêm Màu Hồng”, nghe!

- Dạ.

Cang lui ra khỏi phòng khách. Còn lại có hai người: Phú và Ngọc Ngà. Phú khoát tay giới thiệu với cô gái:

- Từ giờ phút này, phòng khách của anh cũng sẽ là phòng khách của em! Từ đêm nay, em và anh sẽ hưởng tuần trăng mật trong biệt thự “Bông Mai Vàng” của anh giữa Plây Cu đang treo cờ, kết hoa mừng anh về trọng nhận chức vụ tư lệnh Vùng 2 chiến thuật!

Ngọc Ngà nép vào vai Phú:

- Anh!

 

***

 

Sau vũ hội “Đêm Màu Hồng”, Phạm Văn Phú gọi Trần Văn Cẩm:

- Này! Ông chuẩn tướng!

Cẩm sáng mắt lên:

- Gì đó, anh?

- Ông là phó tư lệnh, đêm nay ông thích em nào, tôi cho ông chọn.

- Cám ơn, cảm ơn, tôi xin chọn em Huệ!

Phú lại quay sang Lê Khắc Lý:

- Này! Ông đại tá tham mưu trưởng!

Lý cũng lộ rõ niềm vui:

- Gì đó, anh?

- Ông là tham mưu trưởng, ông thích em nào, tôi cho ông chọn.

 - Trời ơi! Thế thì hết sảy, tôi chọn em Thu!

Phú vỗ tay gọi thiếu tá Cang: - Anh lệnh cho em Huệ đi theo ông Cẩm, em Thu theo ông Lý, nghe!

Cang tỏ ra mẫn cán:

- Dạ. Anh để em lo, sẽ rất chu đáo mà!

-  Còn phần thiếu tá?

 Cang tủm tỉm cười:

- Dạ, xin tư lệnh để mặc em. Tư lệnh khỏi lo mà!

Gã thiếu tá nháy mắt, nhìn lên sân khấu, phía sau cánh gà, hơn mười cô vũ nữ đang ríu rít thay quần áo và ngấp nghé chờ lệnh của thiếu tá Cang.

 Giao xong nhiệm vụ cho Cang. Phú lưng thủng đi bộ về tư dinh. Ngọc Ngà mặc bộ đồ ngủ màu lam đã đón Phủ từ ngoài cửa:

- Sao lâu thế, cưng? Cưng để em mong hoài!

Phú hôn lên môi cô gái:

- Đêm vui mà em! Anh đã giao em Huệ cho ông Cẩm, em Thu cho ông Lý. Các chiến hữu của anh được tự ý chọn lựa. Toàn là sắc nước hương trời cả. Còn tên Cang, anh cho nó cũng được tự do chọn lựa. Anh sẽ “bo” cho dì Năm và các em còn lại 500 đô-la để mai về Nha Trang, tiếp tục ra mắt các ông Mỹ dưới đó đang chờ đỏ mắt ở nhà hàng Ha-oai....

Ngà dìu Phú vào phòng ngủ:

- Anh thay bộ đô quân phục đi, rồi ... “ban phước lành” cho em.

Phú ngoan ngoãn làm theo lời cô gái. Hắn nói dịu ngọt:

 - Anh vinh thăng thiếu tướng, trấn ải Cao Nguyên cũng vất vả lắm. Nhưng có em bên cạnh, anh cũng sẽ quên đi tất cả gian lao.

Ngọc Ngà làm bộ ngây thơ:

 - Em xin nguyện hầu hạ anh hết mình!

Phú nhìn vào đôi mắt bâng khuâng của cô gái:

- Cảm ơn em nhiều...

***

Cuộc họp trong Bộ Chỉ huy quân đoàn 2 chỉ có ba người: Phú, Cẩm và Lý.

Buổi sáng Cao Nguyên thật yên tĩnh. Ánh nắng ban mai lọt qua cửa sổ làm cho phòng họp sáng lên

. Phú nói ôn tồn:

- Đêm qua “vui vẻ” rồi. Bây giờ ta bàn công chuyện nhé!

 Cẩm và Lý đều gật đầu, chờ đợi. Phú lại nói tiếp:

- Anh Lý tham mưu trưởng cho biết hoạt động của đối phương có gì đáng kể không?

Lê Khắc Lý chỉ vào tấm bản đồ lớn trải rộng trên bàn:

- Phòng tuyến của ta vẫn yên tĩnh…

 Phú tròn xoe mắt hỏi:

- Bộ tổng tham mưu nói với tôi rằng: đối phương đã tung hai sư đoàn 320 và 10 tới Cao Nguyên rồi kia mà, bây giờ hai sư đoàn này đang ở đâu chứ?

Lý lễ phép thưa:

- Ông Nguyễn Văn Toàn trước khi rời Plây Cu về Sài Gòn nhận nhiệm vụ mới cũng dặn lại tôi: “Anh phải chú ý đến 320 và 10 đấy. Họ sẽ “đấm lưng” mình cho mà xem! "Tôi đang cho thám báo toả rộng ra chung quanh Kon Tum nhưng vẫn chưa có tin tức gì.

Trân Văn Cẩm lên tiếng:

 - Ta không thể chủ quan được! Có thể hai sư đoàn này đang chuẩn bị cho một chiến dịch mùa khô mà đối phương thường gọi là “Chiến dịch Thu Đông” ...

Phú gật đầu:

- Anh Cẩm nói đúng! Sự im ắng này làm cho tôi nghĩ đến một trận bão sẽ nổi lên. Ngọn lửa còn âm ỉ sẽ bùng lên thành đám cháy lớn nếu ta không cảnh giác đề phòng và ra tay dập tắt!

Đột nhiên, Phú đứng lên, đi đi lại lại theo thói quen của một ông tướng:

- Tôi cứ nghe đài Hà Nội cũng đủ biết đối phương sẽ nện ta nay mai. Họ lấy danh nghĩa là chống quân ta lấn chiếm, nống ra vùng giải phóng của họ và la lối om sòm là ta đang vi phạm hiệp định Pa-ri!

Ngừng một lát, Phú lại dằn giọng nói tiếp:

- Để đối phó, ta đang tràn ngập lãnh thổ. Nếu đối phương nổ súng, ta sẽ đánh trả quyết liệt. Mấy ông Mỹ cũng thống nhất với ta như thế. Quân đoàn 2 của ta còn đủ mạnh. Kho vũ khí dự trữ Mai Hắc Đế ở Buôn Mê Thuột của ta còn đây ắp. Các anh cứ yên tâm. Có điều ta phải chú ý là luôn luôn cảnh giác. Trước mắt, anh Lý phát hiện cho tôi biết: Sư đoàn 320 và sư đoàn 10 đang ém quân ở đâu? Thám báo phải báo thật chính xác. Dĩ nhiên là quân đội Bắc Việt đều phân tán trong rừng sâu, trên núi cao, họ không dại gì mà lại đóng tập trung để bị oanh kích!

Lý đáp:

- Tôi sẽ cố gắng hết mình để tìm cho ra dấu vết của hai sư đoàn Bắc Việt này!

- Đối phương chưa có khả năng chọc thủng phòng tuyến của ta. Họ chỉ có thể đánh đồn lẻ để tiêu hao sinh lực của ta mà thôi. Anh Cẩm cần có kế hoạch “thăm hỏi các già làng” để mộ thêm lính là người Thượng. Chỉ có già làng nói thì thanh niên Thượng mới nghe. Địa phương quân của ta cần phải được tang cường lên gấp hai lần số quân hiện nay ...Ngoài ra tôi đã lệnh cho thiếu tá Cang tăng cường tuần tiễu trong và ngoài thị xã Plây Cu đề phòng các đội biệt động của Việt Cộng đột nhập thị xã gây ra tiếng nổ làm cho dân chủng hoang mang. Plây Cu là thủ phủ của Cao Nguyên, nơi đây có Sở Chỉ huy quân đoàn 2, có Bộ tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, ta phải giữ cho tuyệt đối an toàn!

Lý và Cẩm chăm chú lắng nghe mệnh lệnh của Phú. Phú vẫn đi vòng quanh chiếc bàn được phủ bằng một tấm ban đô lớn. Một lúc sau, hắn tì tay lên tấm bản đồ, giọng nói trở nên buôn bã:

- Tôi chỉ tiếc rằng tôi được bổ nhiệm lên đây hơi muộn. Tướng Nguyễn Văn Toàn đã để cho phòng tuyến này bị Việt Cộng pháo kích mùa khô năm ngoái, bị sứt mẻ mất một phần. Quân lính của ta bị chết, bị thương hàng nghìn người và bỏ trốn mất nhiều. Năm nay ta phải bổ sung quân số mới mong ngăn cản được những đợt tấn công của Việt Cộng và ít nhất là hai sư đoàn quân Bắc Việt. Tổng thống Thiệu căn dặn tôi phải làm nhiều việc lớn lắm. Tôi và hai anh đều là dân Bắc Kỳ, vào lập nghiệp ở mảnh đất miền Nam này, phải làm cho ông Thiệu, ông Kỳ và cả Hội đồng tướng lĩnh thấy rõ năng lực chỉ huy tác chiến của chúng ta nghe!

Nét mặt vốn lạnh lùng của Phú đỏ dần lên cho đến lúc hắn đấm một quả đấm xuống mặt bàn và dằn giọng nói:

- Nếu không củng cố được phòng tuyến Cao Nguyên này thì chúng ta nên cởi áo giáp ở đây mà về đuổi gà cho vợ! Các anh có dám hứa với tôi như thế không nào?

Cẩm và Lý đều giơ tay:

- Anh cứ yên tâm đi! Đó là lời thề danh dự của cả ba chúng ta!

Phú tỏ ra rất hài lòng:

- Trong chiến cuộc ở Nam Việt Nam, ai chiếm giữ được Cao Nguyên thì người đó sẽ làm nên chiến thắng! Người Pháp nói thế và ngày nay người Mỹ cũng nhắc lại như thế! Tôi đã nói với ông Thiệu và cả Hội đồng tướng lĩnh rằng: Hãy tin ở Phạm Văn Phú, ở Trần Văn Cẩm và Lê Khắc Lý! Bộ ba chúng tôi sẽ sống chết giữ Cao Nguyên đến người lính cuối cùng!

Phú vừa dứt lời, Lý và Cẩm đã cười rạng rỡ. Cả hai đều muốn tỏ cho Phú thấy sự đồng cảm của mình. Phú đã bước tới tủ rượu ở góc phòng, đưa tay nắm một cổ chai rượu Uýt - ky. Hắn rót đây ba cốc rượu mạnh và đưa cho mỗi người một cốc.

Ca ba cùng cụng ly. Phú nói:

- Nào trăm phần trăm! Xin các chiến hữu cùng tôi cạn hết ly này để ngày mai ta sẽ bắt tay vào công cuộc phòng thủ Cao Nguyên!

Ba khuôn mặt bừng bừng khí thế.

Phú đặt chiếc cốc đã cạn hết rượu rồi chậm rãi nói:

- Thời Ngô Đình Diệm, ngài đại tướng Lê Văn Tị đã trót huênh hoang: “Lấp sông Bến Hải, tiến quân ra Bắc!”, làm một trò cười cho Việt Cộng vì chưa kịp lấp sống Bến Hải, gia đình họ Ngô đã sụp đổ! Ngày nay, chúng ta quyết không đi vào vết xe đổ của họ Ngô. Việc làm của chúng ta sẽ trả lời, có phải không các chiến hữu?

Trần Văn Cẩm đã vồ lấy tay Phú, nắm chặt và lắc thật mạnh:

- Anh hãy tin chúng tôi đi! Chúng tôi sẽ không phụ lòng mong mỏi của anh!

Lý cũng ôm chầm lấy Phú:

- Có anh ở đây, tôi rất yên tâm!

Phú cười nói với Lý, cũng là nói với Cẩm:

- Tham mưu trưởng phải tìm cho ra dấu vết của hai sư đoàn Bắc Việt và cho tôi biết hàng ngày: 320 và 10 đang ở đâu? Hai sư đoàn chủ lực lừng danh này sẽ là đối thủ đáng gờm của ta đó!

*****

Trở về phòng khách, vừa ngồi xuống ghế, Phạm Văn Phú đã nghe chuông điện thoại đổ một hồi dài, hắn cầm ống nghe:

- Tôi nghe đây, ai đó?  

Ở đầu dậy nói đằng kia, có tiếng thiếu tá Cang:

 - Trình thiếu tướng, tôi thiếu tá Cang …

 - Có chuyện chỉ vậy?

- Trình thiếu tướng, có ông Lãng Tử ký giả Sài Gòn vừa tới đây, ông xin gặp thiếu tướng có chuyện rất cần ạ!

 - Tôi sẵn sàng tiếp. Mời ông ấy lên ngay!

Ba phút sau, nhà báo Lãng Tử chệnh choạng bước vào phòng khách của tư lệnh. Vừa nhìn thấy người bạn ký giả còm nhom với cặp kính trắng quen thuộc, Phú đã reo lên:

- Trời ơi! Ông Lãng Tử! Sao không “phôn” cho tôi trước để tôi đưa xe ra đón? Lên đây bằng xe đò hay máy bay? Có chuyện chi cần gấp vậy?

Lãng Tử siết chặt tay Phú:

- Tôi đi xe đò, hơi gấp nên không kịp “phôn” trước cho anh.

Phú dìu bạn ngồi xuống ghế:

- Ngồi xuống đây, kể chuyện Sài Gòn cho nghe nào! Tôi xem báo và nghe đài thấy nói Nghiệp đoàn ký giả của các ông tổ chức một vụ xuống đường lấy tên là “Ký giả đi ăn mày” rùm beng lắm mà! Mấy cha nhà báo dữ dằn quá, yêu sách tổng thống phải diệt trừ nạn tham nhũng với một bản cáo trạng gọi là “Cáo trạng số 1" có phải không?

Lãng Tử gật đầu:

- Đúng! Báo chí đứng về phe đối lập, yêu cầu chánh phủ phải giải quyết nạn tham nhũng.

- Ừ, rồi sao nữa?

- Còn sao nữa! Tổng nha cảnh sát lại giở trò khủng bố, đại khủng bố, khủng bố trắng…

-  Dữ vậy? Cảnh sát dám dẹp các ký giả?

-  Họ ném lựu đạn cay, giải tán cuộc biểu tình trước cửa Hạ viện, sau đó mật vụ bám gót các ký giả, bắt một số tống giam ở khám Chí Hoà!

Phú rót một ly nước ngọt mời Lãng Tử: Tôi biết ông không thích bia, rượu, mời ông uống Cô-ca Cô-la vậy…

Lãng Tử uống ly nước ngọt. Phú cười:

- Các ông chỉ có cây bút mà cũng dám chống cảnh sát, chống chánh phủ thì ghê thật!

Lãng Tử phân trần:

- Tôi nhanh chân chạy lên đây. Nếu chậm thì họ cũng bắt tôi rồi.

- Ông sợ ư?

- Không hẳn như thế, nhưng tôi phải lên cầu cứu anh vì tôi biết đằng sau cuộc khủng bố các ký giả có bàn tay của ngài trung tướng Đặng Văn Quang, cố vấn Quang… an ninh của ông Thiệu, mà anh lại thân với Đặng Văn Quang…

Lãng Tử đặt ly nước xuống bàn, nhìn Phú chờ đợi.

Phú thủng thăng nói:

- Tôi là con nhà võ dám đâu can thiệp vào công việc của nhà văn, nhà bảo? Tôi với Quang là chỗ thân tình, song trong cuộc này, tôi nói chưa chắc Quang đã nghe tôi? Ông lên dây với tôi, lấy tư cách cá nhân hay là có sự uỷ nhiệm của Nghiệp đoàn ký giả?

Lãng Tử lắc đầu:

- Với tư cách cá nhân thôi. Tôi có là nhân vật quan trọng đâu. Thấy mấy cha rủ tôi xuống đường là tôi đi liền mà! Thấy cảnh sát làm hung, thú thật với ông, tôi cũng sợ! Theo tôi cứ viết báo, cứ đăng, hà tất phải xuống đường! Làm như thế tức là làm chánh trị rồi. Tôi là cây bút độc lập kia mà, có đứng về phe phái nào đầu mà kình chống với cảnh sát?

 Phủ vẫn cười hóm hỉnh:

- Nghĩa là ông thấy cảnh sát bắt bớ là ông hoảng chứ gì?

Lãng Tử phân trần:

- Hoảng chứ. Với ông, tôi cứ nói thật: mấy thằng cảnh sát vốn thô bạo, võ biền, chúng nó cứ... thượng cẳng chân, hạ cẳng tay, quật dùi cui bạt mạng thì sao? Thân tôi còm cõi thế này, chịu sao nổi đòn? Chờ được vạ thì má đã sưng! Tôi chỉ còn có ông là bạn bè chí cốt cùng là học sinh Hà Nội ngày xưa, vào Sài Gòn ông thì thành đạt, hiển vinh. Còn tôi chỉ là anh nhà báo kiết xác, không vợ, không con trong khi ông lại “cuỗm” được cả bà Lâm Đệ làm phu nhân...

Phú bật cười:

- Tôi là... trai thời loạn, theo binh nghiệp, nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, suýt chết vì đại bác của Việt Minh, may sao lại chỉ bị bắt làm tù binh với cái lon đại uý. Khi được trao đổi tù binh, tôi theo mấy thằng bạn “dông” thẳng vào Sài Gòn, quyết “làm lại cuộc đời”. Ông Thiệu, ông Quang xếp tôi vào hàng các tướng trẻ đang được người Mỹ chú ý đào tạo. Quang đưa tôi về Bộ tổng tham mưu, dưới trướng ông Cao Văn Viên... Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tôi leo dần lên cấp tá. Bây giờ trấn thủ Cao Nguyên, tôi mới là thiếu tướng. Chẳng biết tôi có giúp được gì cho ông không? Hay là ông cứ ở đây, để tôi sẽ “phôn” cho Đặng Văn Quang hỏi thử xem sao?

Lãng Tử năn nỉ:

- Ông phải giúp tôi. Tôi cứ tưởng Nghiệp đoàn ký giả xuống đường biểu tình rất hoà bình thì có cái chi mà Tổng nha cảnh sát phải đàn áp bằng lựu đạn cay rồi lại cho mật vụ bám theo để bắt bớ?

Phú đáp:

- Cũng tại các ông dám công bố “Bản cáo trạng số 1", đụng đến uy danh của ông Thiệu. Ông Thiệu nghi là các ông la hét để làm tiền đề cho một vụ đảo chính lật đổ ông ta. Tôi hỏi thực ông nhé: đằng sau đám ký giả các ông là những ai? Nguyễn Cao Kỳ hay Dương Văn Minh?

Lãng tử lắc đầu:

 - Tôi đâu có biết? Tôi ngán cái trò làm chính trị hội ... bung xung của mấy cha chính khách, của mấy cha cơ hội…

 - Thế thì hà tất ông phải xuống đường?

- Tại mấy thằng bạn rủ rê rồi ép buộc, không đi theo chúng nó, chúng nó lại phỉ báng tôi là thằng hèn! Từ nay, rút kinh nghiệm của vụ này, tôi sẽ ở hẳn trong cái “tháp ngà” của tôi, tha hồ làm thơ, viết văn, thiếu gì chuyện nhân tình thế thái - Rồi như chợt nhớ ra, Lãng Tử nói:

 - Này, ông Phú! Tôi định viết tặng ông một thiên tinh sử rất thơ mộng…

- Tặng tôi?

- Ừ, tặng ông, vì có hai nhân vật chính là ông và bà Lâm Đệ vợ ông đó!

Phú cười ngất:

- Ông viết về vợ chồng tôi?

- Đúng thế! Một sĩ quan “Quân lực Việt Nam cộng hoà” với một hoa khôi Chợ Lớn, một cô Tàu lai xinh đẹp!

- Tôi cám ơn nhã ý của ông. Nhưng có gì là thơ mộng đâu? Chúng tôi nên vợ, nên chồng là nhờ thằng Cang làm mai, làm mối. Ngày ấy, tôi mới là thiếu tá và thằng Cang mới là đại uý. Tôi còn trẻ, có số đào hoa, gặp cô nàng họ Lâm, thấy hay hay là tôi ô kê!

Lãng Tử làm bộ say sưa:

- Rất hay! Ông sẽ kể lại cho tôi nghe ngay buổi chiều nay. Tôi sẽ viết lại câu chuyện tình 15 năm về trước để tặng ông. Nếu thấy hay thì tôi sẽ gửi cho Nhà xuất bản nào đó in thành sách, hoặc sẽ đăng tải trên tuần báo Văn hoặc tạp chí Tao Đàn!

Phú lắc đầu:

- Ông viết thì hoa lá đấy. Tôi chỉ e thiên hạ lại đổ tội cho tôi là thích khoa trương... Ông có nhã ý tặng tôi thì tôi sẽ lưu giữ bản thảo trong tủ sách gia đình của tôi, in ấn làm gì! Bao giờ về già, tôi sẽ viết hồi ký hoặc bấy giờ tôi sẽ mời ông viết giúp tôi nếu binh nghiệp của tôi còn thành đạt...

 - Cũng được, nhưng tôi đã thích là tôi viết. Ông đừng ngăn cản tôi. Hãy cứ viết thành cuốn tình sử, còn sử dụng nó ra sao thì tuỳ cơ ứng biến! Có phải không?

- Cũng hay đấy! Theo yêu cầu của ông, tôi sẽ kể một vài mẩu chuyện đời tôi, chuyện của tôi với bà Lâm Đệ sau chuyển tôi di cư vào Nam, hồi còn mồ ma anh em Ngô Đình Diệm... Có gì đâu nhỉ, một anh thiếu tá quèn đã từng bị Việt Minh bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ năm 1954?

Lãng Tử đốt một điếu thuốc lá:

- Nhưng ông lại là bạn tôi. Phạm Văn Phú sẽ còn bảo lãnh cho Lãng Tử kia mà! Cái ơn tri ngộ này biết đâu sẽ lại chẳng thành một cái duyên như Bá Nha với Chung Tử Kỳ của Trung Quốc thời xưa?

***

 Sau khi gọi dây nói cho Đặng Văn Quang, cố vấn an ninh của tổng thống. Phú gặp lại nhà báo Lãng Tử trong cư xá.

Buổi đàm luận thật cởi mở. Phú nói:

- Tôi “phôn” cho “xừ” Quang rồi. Hắn nói rằng Nghiệp đoàn ký giả làm loạn cả đô thành nên Tổng nha cảnh sát phải can thiệp. Trời ơi, có cái chi đâu mà các ông lại công bố “Bản cáo trạng số 1" lên án ông Thiệu, ông Kỳ là đại tham nhũng?

Lãng Tử tủm tỉm cười:

- Cứ như tôi nghe họ nói thì vợ chồng ông Thiệu có tiền mua vila ở Thụy Sĩ, tiền gửi nhà băng ngoại quốc. Ở Sài Gòn, ông Thiệu có hai toà nhà. Song tất cả đều dứng tên người khác, cho nên ông Thiệu vẫn vỗ ngực khoe mình là... liêm khiết, đại liêm khiết! Thật tức cười! Họ còn nói: Bà Mai Anh - Tổng thống phu nhân có cô em gái nuôi, gả cho ông Lý Long Thần là Hoa Kiều cỡ bự ở Chợ Lớn! Lý Long Thần đã giúp cho Tổng thống phu nhân làm những “cú áp-phe động trời"! Lại còn ngài Đặng Văn Quang cố vấn an ninh của ông Thiệu, đang bị tố cáo ầm ĩ là một tay trùm buôn lậu ma tuý từ khu Tam giác vàng qua đường Lào về Sài Gòn, giàu nhất nhì ở cái “Việt Nam Cộng hoà quốc” này, có đúng không? Ông Thiệu là chủ tịch Hội đồng tướng lĩnh, đứng trên cả Hiến pháp, có quyền sinh, quyền sát đối với các vị đại tá tỉnh trưởng, cái quyền của tổng thống là quyền... “nghiêng thiên hạ”! Có đúng không ông Phú?

Giọng nói khinh bạc của nhà báo Lãng Tử làm cho Phú phải giật mình. Hắn trố mắt hỏi:

- Ông có nhiều tư liệu giật gân quá nhỉ? Ai nói ông nghe vậy?

Lãng Tử được thể, lại thao thao nói tiếp!

- Bọn ký giả phương Tây chúng nó biết hết. Tây biết thì ta sẽ biết, nhất là chúng tôi hay la cà ở cao lâu, tửu quán, cứ nhậu xỉn rồi là... phun ra hết! Ví như tên A - Jan Đây - sơn phóng viên chiến tranh của hãng UPI luôn có mặt ở Sài Gòn - Băng Cốc là người có nhiều “tin mật” khiến cho ông Thiệu cũng phải kính nể!

Phú phải thú thật:

- Trời! Tôi cũng không ngờ ông Lãng Tử bạch diện thư sinh của tôi lại rành rọt đến thế? Vậy, ông còn biết thêm gì nữa, ông cứ nói cho tôi nghe nào!

Lãng Tử rít mạnh một hơi thuốclá:

- Họ còn nói chuyện “mua quan, bán chức” nữa kia! Từ cái ghế quận trưởng đến cái ghế tỉnh trưởng, cái nào cũng có giá của nó cả. Có khi được đổi bằng trăm cây vàng, có khi được hậu tạ bằng mấy héc - ta đất đồn điền hoặc bằng cả vi - la, hoặc nhà mặt tiền. Một anh lính bị động viên quân dịch nếu có tiền là được giữ lại Sài Gòn làm “lính kiểng”, nếu không tiền thì lại bị đẩy ra tiền đồn biên giới, thậm chí còn bị đưa ra tận bờ sông Bến Hải! Ông tướng Nguyễn Văn Toàn người tiền nhiệm ở Cao Nguyên này còn ăn bẩn đến mức khai hàng nghìn “lính ma” trong sổ lương lính để rút tiền bỏ túi, hoặc sau nhiều trận đánh, lính chết như rạ, nhưng số lương vẫn không xoá tên người chết để xơi ngon tiền lương lính chết suốt mấy tháng liền! Có đúng không ông?

Phú đỏ mặt mà vẫn phải cười. Lãng Tử đành dịu giọng, an ủi Phú:

- Chỉ có ông lấy được vợ giàu, được bà Lâm Đệ bao cho từ đầu đến chân thì ông mới không phải ăn bẩn, chứ như ông Toàn mà không tham nhũng thì lấy gì mà ăn chơi, trác táng?

Phú gật gù:

- Lãng Tử có con mắt tinh đời đấy! Ông cứ nói đi, tôi thích nghe mà...

- Khi được biết “ký giả đi ăn mày” thì dân Sài Gòn đều muốn hỏi: “Thối nát, mục ruỗng như thế mà sao ông Thiệu, ông Kỳ vẫn tồn tại?” Hỏi rồi, họ lại tự giải đáp: “Có lẽ còn nhờ có... Mỹ quốc viện trợ" đều đều? "

Phú lắc đầu:

- Bây giờ thì ... gay rồi! ông Pho, tổng thống Mỹ đang xin Quốc hội Mỹ phê chuẩn có mấy trăm triệu đô - la cho Việt Nam cộng hoà mà cũng còn chưa được. Nay mai Bắc Việt lại tấn công thì sao?

 - Phú vừa nói dứt, Lãng Tử đã tỏ ra ngao ngán:

- Tôi hết tin mấy cha tướng lĩnh rồi. Nhưng nếu lật đổ ông Thiệu, ông Kỳ thì quý vị nào sẽ lên thay? Lại tranh giành xôi thịt trong lúc Bắc Việt đã đưa được mấy sư đoàn quân chủ lực vào Cao Nguyên này rồi? và Việt Cộng nằm vùng cũng đang nổi dậy? Mấy mẹ nhà quê không ngớt đưa “Đội quân tóc dài” bao vây quận lỵ, chi khu? Loạn! Loạn to đấy ông ạ.

 Phú vẫn cười gượng gạo. Lãng Tử trầm ngâm một lát rồi nói:

- Thời cuộc rối như canh hẹ. Tôi biết viết cái gì bây giờ? Có lẽ viết tiểu thuyết diễm tình là hay hơn cả. Chẳng lo đụng độ với ai! Tôi lên đây, “ăn vạ” với ông mấy tháng có được không?

Phú gật đầu:

- Chỉ sợ ông chê tôi là võ biền, không biết chiều hiền đãi sĩ thôi. Nếu ông có lòng chiếu cố đến tệ xá này thì tôi có thể bao ông dài dài để ông ngồi, ông viết tiểu thuyết trường thiên.

Lãng Tử cười hồn nhiên:

- Đó. Thế là tôi với ông tâm đắc rồi! Tôi đang cần lánh nạn, ông lại cứu nạn. Tôi sẽ ở đây vì tôi về Sài Gòn thì cảnh sát nó không tha tôi đâu! Thời buổi loạn lạc này thì kẻ sĩ như tôi khó sống thật. Ngày xưa, bên Tàu có Tần Thuỷ Hoàng bạo chúa mà rất sợ nho sĩ nên y khủng bố bằng cách đốt sách vở, chôn học trò. Chữ Hán gọi là “Phần thứ, khanh nho” đấy. Vậy mà Tân Thuỷ Hoàng vẫn không giữ được ngai vàng và cả A Phòng cùng với ba ngàn cung tần, mỹ nữ cũng bị thiêu cháy rụi. Tổng thống Thiệu khủng bố ký giả thì rồi sẽ đi đến đâu? Ai cũng biết Ngô Đình Diệm có luật 10/59 với cái máy chém để chặt đầu Việt Cộng, vậy mà chính Diệm lại bị phe đảo chính ... làm thịt! Ông Phú! Tôi nói thế có “phạm thượng” không nhỉ? Vì ông muốn tôi nói hết thì tôi nói, chứ người khác cạy răng tôi, tôi cũng không nói đâu!

Phú vẫn cười:

- Không sao! Tôi chỉ sợ ông không nói thật chứ như ông đã nói hết lòng mình từ nãy đến giờ thì tôi rất khoái nghe bởi vì thời cuộc bây giờ sẽ ảnh hưởng đến binh nghiệp của tôi! Tôi là một thằng rất liều mạng mới dám lên đây trấn thủ Cao Nguyên này vì tôi biết có hai sư đoàn quân Bắc Việt đang ém trong rừng, sau lưng tôi kia, vậy mà tôi dám để vợ con ở lại Sài Gòn lên Plây Cu làm tư lệnh! Cũng như ông Ngô Quang Trưởng dám ra Quảng Trị đối đầu với Bắc Việt với câu nói xanh rờn: “Ai muốn vào cố đô Huế, hãy bước qua xác tôi!”. Làm tướng mà ru rú ở Sài Gòn thì thà vứt bỏ súng đạn mà về cho xong!

Lãng Tử cũng cười:

- Chà! Khẩu khí của ông đúng là khẩu khí của con nhà võ!

Phú trở nên hãng hái:

- Đánh nhau thì một là thắng, hai là thua. Tôi không thể là một thằng hèn, đúng như nhà văn Lê Văn Trương đã nói...

Lãng Tử bật cười:

- Cái thuyết “Người hùng” của Lê Văn Trương cũng có người chê bai đấy! Mặc kệ người ta, ai chê cứ chê, chứ tôi với ông ngày xưa học ở Hà Nội, mê văn Lê Văn Trương lắm kia mà! Lê Văn Trương già rồi, cũng bỏ đất Bắc, vào Sài Gòn được mấy năm rồi chết trong nghèo khổ, nhưng ít ra cũng để lại cho đời những tác phẩm mà nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã khen ngợi trong bộ sách Nhà văn hiện đại in năm 1942 ở Hà Nội.

Lãng Tử khen Phú:

- Ông nhớ lâu thật đấy. Hôm nay không ngờ chúng ta lại nói với nhau nhiều chuyện đến thế. Từ chuyện thời sự Sài Gòn đến chuyện văn học tiền chiến. Rốt cuộc lại thì ông đã đồng ý cho tôi được sống ẩn dật ở đây trong lúc ông còn phải lo phòng thủ Cao Nguyên. Tôi cám ơn ông nhiều đấy. Vậy từ ngày mai, tôi sẽ viết lại tình sử của ông đấy. Ông cứ yên tâm, tôi viết chơi thôi mà, không chết ai đâu. Khi tôi viết xong, ông đọc, nếu ông ưng thì tôi sẽ có lời đề tặng ông và bà Lâm Đệ!

- Tuỳ ông. Ông đã khoái viết thì tôi không ngăn cản. Ở đây nếu ông thích đi chơi uống rượu cần, đánh cồng chiêng với dân Thượng thì tôi sẽ sai thằng thiếu tá Cang lấy xe Jép đưa ông vào bản...

 

IV

 

CĂN PHÒNG DÀNH RIÊNG CHO LÃNG TỬ được bày biện đầy đủ tiện nghi sinh hoạt như phòng ở và làm việc của sĩ quan cấp tá. Phú nói với Lãng Tử:

- Ông lên Cao Nguyên phải khác xa khi ở cái lầu ba của ký giả Sài Gòn. Chỉ ít ngày thôi, ông sẽ quen dân với không khí ở đây và tôi tin là ông sẽ làm việc được! Tôi là nhà võ, ông là nhà văn, ta sáp lại với nhau, có thể làm nên công chuyện... Tôi mới chân ướt, chân ráo lên đây, lại có ông, thế là... văn võ song toàn rồi!

Phú đã quen cách nói thật khinh bạc của Lãng Tử và cả hai người thấy cách xưng hô với nhau là rất thích hợp, tiếng “ông” mang tính bạt mạng hơn cả tiếng “anh” và cả hai đều cảm thấy hình như từ nay họ sẽ không thể thiếu nhau được!

Phú chưa hết băn khoăn:

- Nhưng mà ông chưa nói hết với tôi về ý kiến của ngài trung tướng Đặng Văn Quang?

Phú phẩy tay, cười:

- Ông khỏi lo đi! “Xừ” Quang nói với tôi rằng “Lãng Tử là bạn của anh, tức cũng là bạn của tôi. Sự an toàn của Lãng Tử đã được đảm bảo bằng vàng! Thằng mật vụ nào dám động đến Lãng Tử tôi sẽ cho nó vài cái bạt tai!”. Ông nghe “xừ” Quang nói như thế đã yên tâm chưa nào?

- Thể thì tuyệt quá!

Phú nói thêm:

- Tôi sẽ lấy cho ông một giấy thông hành đặc biệt của Phủ đầu rồng cấp, ông có thể đi khắp lãnh thổ Việt Nam cộng hoà mà không có ai dám động đến người ông. Ngoài ra, ông còn là thượng khách của tư lệnh Vùng 2 chiến thuật kia mà! Chiều nay, ông Quang sẽ bay lên đây...

- Thật sao? Có chuyện chi vậy?

- Hình như có chuyện cơ mật của tổng thống mà không thể nói qua đàm thoại được!

Lãng Tử cũng làm bộ tỉnh bơ:

- Mặc các ông, chuyện quân sự, tôi không cần biết...

Phú rút một điếu thuốc lá:

 - Mấy hôm nữa, ổn định nơi ăn, chốn ở xong rồi, tôi sẽ đưa ông đi Kon Tum chơi, trên đó có nhiều thứ mà ông chưa hề dược thưởng thức

- Cám ơn, cảm ơn nhiều!

 

*****

Đặng Văn Quang đáp xuống sân bay Cù Hanh đã thấy Phú túc trực đón ở đó.

Nhìn khắp sân bay dã chiến, Quang nói:

- Việt Cộng có thể pháo kích sân bay của ta được không?

Phú nói chậm rãi:

- Nếu nói là không thể bị pháo kích thì là chủ quan, mà nói là có thể bị pháo kích thì lại là bi quan. Song, làm tướng như ông với tôi thì cứ phải cảnh giác, đề phòng vì như Bộ tổng tham mưu đã nói: mùa khô này, quân đoàn 2 sẽ phải đương đầu với ít nhất là hai sư đoàn Bắc Việt, sư 320 và sư 10 đang ém quân trong rừng núi Kon Tum thì... Phú tôi chưa thể ăn ngon, ngủ yên được!

Quang nghe Phú nói với vẻ mặt nghiêm trọng thì tỏ ra rất khâm phục người bạn thuộc nhóm “tướng trẻ”:

- Ông nói như vậy là rất đúng. Tôi rất tán thành ý kiến của ông. Hôm nay, ông Thiệu cử tôi lên đây cũng chính là vì điều ông vừa nói. Cao Nguyên này là bức thành đồng, vách sắt bảo vệ cho Việt Nam cộng hòa, chứ đâu phải chuyện giỡn! Nguyễn Văn Toàn vừa qua làm hỏng cả một ê - kíp, tôi và ông Thiệu rút hắn về Sài Gòn, cho làm tư lệnh Vùng 3 chiến thuật, cũng yếu đấy nhưng còn được ở gần sự giám sát của ông Trần Thiện Khiêm tổng trưởng Bộ quốc phòng. Toàn mà xục xịch thì tôi “quất” ngay!

Phú gật gù và không quên yêu sách:

- Cao Nguyên đã quan trọng như ông nói mà tại sao các ông không chi viện tối đa cho tôi?

Quang ngập ngừng:

- Có chứ! Ông Ngô Quang Trưởng ở Vùng 1 và ông ở Vùng 2 là những người mà ông Thiệu rất quan tâm, sẽ thoả mãn tới mức tối đa. Ông Trưởng có kho dự trữ chiến lược ở Đà Nẵng và ông có kho Mai Hắc Đế ở Buôn Mê Thuột, tha hồ cho các ông bắn... đến mệt nghỉ cũng chưa hết súng đạn kia mà!

- Thôi được. Mời ông lên xe, về đại bản doanh của tôi, ta sẽ bàn tiếp...

Quang cười, bước lên xe Jép và ghé vào tai Phú nói nhỏ:

- Còn một việc nữa...

- Việc gì ông?

- Hàng từ vùng Tam giác vàng đó!

-  À, món cơm đen chứ gì?

Quang đưa mắt cho Phú biết phải giữ bí mật với tên lính lái xe:

-  Về văn phòng, sẽ bàn tiếp!

Chiếc xe tăng tốc, cuốn bụi mù trời làm cho Quang phải kêu lên:

- Đất ba-dan của ông lắm bụi quá!

Phú cười ranh mãnh:

-  Nhưng lại có nhiều “đặc sản”!

Quang thủ thỉ:

-  Ông biết tính tôi rồi đó! Không thể thiếu món “đặc sản” được đâu!

Phú cười hết cỡ:

- Khỏi lo! Ông sẽ xài.... mệt nghỉ!

 

*****

Nhà khách của Vùng 2 chiến thuật là một ngôi nhà thiết kế theo kiểu nhà rộng của người Thượng vùng Cao Nguyên, toạ lạc giữa một khuôn viên đây cây xanh. Đặng Văn Quang ngả người trên ghế, giọng thư thái:

- Ông Phú ạ. Có lẽ tôi sẽ lên đây trấn thủ với ông suốt mùa khô này. Ở đây dễ chịu quá.

Phú rót đây hai ly rượu:

- Xin mời! Tôi chỉ sợ ông chê đất rừng rú buồn tẻ thôi, chứ ông lên đây làm cố vấn trực tiếp cho Bộ tư lệnh của tôi thì còn gì bằng?

Quang nâng cốc:

- Nào xin chúc tư lệnh cường tráng! Phú cụng ly và cạn hết cốc rượu:

- Ông vui thì nói giỡn chơi thôi chứ ông Thiệu phải níu áo ông hàng ngày, dễ gì cho ông lên đây được?

 - Nhưng mùa khô năm nay, tôi sẽ có nhiều dịp bay lên đây với ông!

 - Vì ở đây có nhiều cam go lắm chăng?

Quang gật đầu:

- Đúng thế! Hai sư đoàn Bắc Việt đang uy hiếp sau lưng ông... Ông đã mở rộng vành đai, quét sạch địa bàn chung quanh Play Cu và Kon Tum rồi chứ?

-  Đang làm. Tôi đã cho bắt năm trăm tên tình nghi là Việt Cộng nằm vùng. Bắn bỏ tại chỗ 20 tên - Số còn lại sẽ cho đi Côn Đảo và Phú Quốc!

- Rất hay! Thế mà ông tướng Toàn cứ nói là đã “làm sạch” rồi!

Phú lắc đầu:

- Bắt nhầm còn hơn bỏ sót. Mấy mụ đàn bà thường đi biểu tình la lối um sùm, tôi cho bắt trước, sau đó là những tên có hành vi khả nghi, tôi cho bắt tuốt! Cho nên, từ mấy tháng nay, không hề có một tờ truyền đơn hay một quả lựu đạn nổ! Bọn buôn lậu trên các xe đò tôi cũng cho bắt hết. Phạt, tịch thu hàng hoá và bỏ tù! Vì bọn này thường hay tiếp tế cho Việt Cộng đủ thứ hàng từ xăng nhớt đến thuốc tây và lúa gạo nữa!

Quang gật gù:

- Rất giỏi! Tôi và ông Thiệu rất tin tưởng hiệu rất tin tưởng ở ông…

Phú tỏ ra phấn chấn:

- Ta với đối phương không thể đội chung trời. Đã là bất cộng đới thiên rồi thì chỉ có máu và lửa. Xá gì năm bảy trăm mạng, có khi cần thì cả ngàn mạng tôi cũng cho chúng nó... bay đầu! Nếu dung túng cho những kẻ tình nghi thì sẽ có ngày chúng kề dao vào cổ ta đó!

Quang phảy tay:

-  Ông cứ làm sạch hành lang ở vùng này và phát hiện cho ra nơi giấu quân của 2 sư đoàn Bắc Việt, mật báo cho tôI, tôi sẽ lệnh cho không quân oanh kích ngay!

Phủ cười:

- Ngày mai, ông về Sài Gòn, tôi sẽ cho ông một sơ đồ những điểm tôi nghi là nơi đồn trú của hai sư đoàn này...

-  Phải chính xác?

- Ít nhất cũng để cho chúng biết là ta không có đui mù và luôn luôn tỉnh táo đề phòng!

Quang tỏ ra tâm đắc:

- Ông gắng lên, qua mùa khô này mà củng cố được phòng tuyến Cao Nguyên thì ông lên trung tướng!

- Ông hãy tin ở tôi! Chỉ ngại một điều: các ông lại cho tôi là... quá mạnh tay thôi!

Quang lắc đầu:

- Không đâu, ông Phú! Hội đồng tướng lĩnh đang cần những vị tướng tài như ông... Ngày mai ông sẽ cho tôi một bảng liệt kê nhu cầu của ông ở đây: quân số, vũ khí, xe tăng, thiết giáp, máy bay ném bom để Sài Gòn có thể được phòng vệ từ xa! Chớ nên để nước đến chân mới nhảy

Phú gật đầu lia lịa:

- Ô kê! Ô kê!

Thấy Phú đã yên lòng, Quang quay sang chuyện làm ăn:

- Thôi thế là công cuộc phòng thủ Cao Nguyên chuyện đại sự quốc gia có thể là tạm ổn. Tôi nói tạm ổn có nghĩa là chưa ổn lắm đâu. Vậy thì còn kẹt ở chỗ nào, ông có biết không?

Câu hỏi của Quang làm cho Phú ngớ ra, chưa biết trả lời thế nào cho ổn nên y cứ ngồi lặng im đến mấy phút.

Quang thấy Phú ngơ ngác như một cậu học trò gọi lên bảng trong giờ vấn đáp nên bật phì cười, Quang mới nhìn thẳng vào đôi mắt Phú rồi nói:

- Ông chậm hiểu quá! Ông đã biết đó: Tổng thống Mỹ muốn Quốc hội Mỹ thông qua viện trợ cho Việt Nam cộng hoà có 300 triệu đô-la mà Hạ viện, Thượng viện cứ lắc đầu hoài. Ta lấy gì chi tiêu cho cuộc chiến này? Lính đói nó kêu la, bỏ trốn thì sao? Lại còn quân trang, quân dụng để tràn ngập lãnh thổ? Thuế má và công quỹ còn chút nào thì ta dốc cả vào cuộc chiến. Còn vợ con ta, vợ con các vị tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp thì trông vào đâu nếu không có “quốc sách đặc biệt” để xoay chuyển tình thế thì... xã tắc lâm nguy mất thôi, ông ạ. Cho nên một việc quan trọng của ta đã làm, đang làm và sẽ làm để có nguồn tài chính rất vững, rất mạnh là phải ôm chặt lấy Nàng Tiên Nâu, ông hiểu chưa?

Phú “à” lên một tiếng như vừa vỡ lẽ ra sau câu nói của Quang. Hắn gật gù:

- Hay lắm. Tầm nhìn xa của ông và ông Thiệu thật là tầm nhìn chiến lược đó!

Quang xoe cả bàn tay:

- Ta phải thâu tóm nguồn tài nguyên rất phong phú của lãnh chúa Khun-sa từ Tam giác vàng. Chẳng những có Nàng Tiên Nâu mà còn phai có cả Nàng Tiên Trắng nữa kia! Cái món Bạch Phiến (hê - rô - in) có giá gấp nhiều lần các thứ thuốc phiện khác còn ở dạng thô. Ta thực hiện mua tận gốc, bán tận ngọn thì mới là “hết sảy”.

Phú chăm chú lắng nghe:

- Ông nói có lý lắm!

Quang vẫn thao thao:

- Các ông Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Cao Kỳ đều có mánh riêng, song không có ai mạnh bằng ông Thiệu và tôi - Tôi là cố vấn an ninh của ông Thiệu. Mấy đời đại sứ Mỹ đều phải kính nể. Mấy ông trùm CIA cũng phải ô kê để mong còn được “giây máu ăn phần”.  Hàng” của ta từ Tam giác vàng được máy bay quân sự chở đến Viên Chăn (Lào) rồi lại từ Lào chở đến Tây Ninh, Dầu Tiếng hạ cánh an toàn xuống các sân bay dã chiến đặt trong đồn điền cao su của Pháp. Từ đồn điền cao su, “hàng” sẽ đưa về Sài Gòn bằng xe quân sự rồi về cảng Sài Gòn, xuống tàu thuỷ sang châu Âu hoặc qua Tân Sơn Nhất để sang Hoa Kỳ! Những đường dây ma tuý tuyệt đẹp!

Phú càng tỏ ra thán phục Quang, người mà Phú coi như bậc đàn anh:

- Ông xứng đáng là Khổng Minh của ông Thiệu, của nền Đệ nhị cộng hoà của Việt Nam đó!

Quang lắc đầu:

- Ông quá khen tôi rồi. Tài hèn của tôi so với thiên hạ đã thấm vào đâu?

- Nhưng ít ra ở đất này, chưa ai có thể... trên tài ông được. Tôi có thể khẳng định điều đó. Nếu không thế thì tôi trao trả ấn kiếm cho ông để về nhà cho rồi!

Quang cười phá lên:

- Đuổi gà cho bà Lâm Đệ chứ gì?

Phú gật đầu:

- Đúng thế! Nhưng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra vì tôi biết, tôi sẽ có thể giúp các ông làm nên đại sự. Vậy các ông cần gì ở tôi nào? Ông nói đi để tôi xem có thể hiến được kế gì hay hơn không? Ta có cả quyền uy trong tay mà lại chịu ngồi nhìn thiên hạ hốt bạc hay sao? Hèn lắm, nếu tôi không giúp được gì cho các ông!

 Quang làm bộ suy tư rồi nói với giọng điềm đạm:

- Tôi với ông Thiệu là bạn học từ thời còn để chỏm tóc trên đầu. Vào quân đội Liên hiệp Pháp cũng là đồng đội với nhau từ hồi còn là hạ sĩ quan. Nay tôi là cố vấn an ninh của ông Thiệu thì ông Thiệu khỏi lo. Chọn ông làm tư lệnh Vùng 2 chiến thuật trấn ải Cao Nguyên cũng không phải là chuyện ngẫu nhiên. Khỏi phải làm cái việc kết nghĩa đào viên thời Tam Quốc, ông cũng có thể yên tâm mãi mãi rằng: còn ông Thiệu, còn Đặng Văn Quang thì còn Phạm Văn Phú. Kho vàng của chúng ta phải khui ra từ Tam giác vàng đó! Nhưng muốn làm ăn lâu dài thì phải giữ cho thật chắc mảnh đất Cao Nguyên này, phải đẩy lùi cho được hai sư đoàn Bắc Việt - sư 320 và sư 10 - đang ngày đêm uy hiếp phía sau lưng chúng ta...

Phú gật gù:

- Ông nói có lý: Cao Nguyên là đại sự quốc gia. Còn Tam giác vàng là... một vùng đất hứa béo bở, màu mở với Nàng Tiên Nâu, Nàng Tiên Trắng rất hấp dẫn có phải không?

- Đó, muốn thành tỷ phú như Vua dầu lửa của Mỹ thì phải củng cố cho bằng được vương quốc Cao Nguyên này, dùng Cao Nguyên làm bàn đạp để vươn xa, bay cao và toả sáng!

- Xin đại huynh hãy tin ở hiền đệ này!

***

Đêm vui đầu tiên của Đặng Văn Quang trong ngôi nhà rông có đầy đủ tiện nghi hiện đại với cô vũ nữ có tên là Thuý Lan. Cuộc truy hoan mới đến nửa chừng thì Quang đã giật nảy mình khi nghe tiếng nổ liên hồi từ phía sân bay Cù Hanh giội tới. Quang vội tung cái chăn mỏng và Thuý Lan cũng nhỏm dậy theo:

- Gì đó anh?

Quang vội lấy tấm áo choàng khoác lên người rồi bước nhanh đến bàn đặt máy điện thoại. Hắn nhấc ống nghe sau khi ấn số máy của Phú:

- Ông Phú! Có gì đấy, ông? Có tiếng đại bác ở Cù Hạnh phải không?

Có tiếng đáp của Phú:

- Bình tĩnh! Ông cứ bình tĩnh, để tôi cho hỏi đội tuần tiễu và thằng Cang xem sao?

Năm phút sau, Phú đã trả lời: Quân Bắc Việt pháo kích 5 quả đại bác vào Cù Hanh! Có lẽ để quấy rối đó thôi chứ chung quanh Plây Cu không có gì lộn xộn. Ông cứ ngủ đi, tôi sẽ đi tua một lượt với thằng Cang, sẽ đến Cù Hanh thị sát và sẽ báo cáo cụ thể với ông sau!

Quang đặt ống nghe, nói làu bàu trong miệng:

- Hừ! Đâu đã yên tĩnh!

Hắn quay lại giường với cô vũ nữ:

- Lại ngủ tiếp đi em! Mặc chúng nó. Đứa nào lơ là canh gác để đối phương quấy rối, sớm mai anh sẽ treo cổ hết!

Thuý Lan ỏn ẻn:

-  Không ngại gì đâu anh, bao lâu yên tĩnh, đêm nay mới lại có tiếng nổ...

Cô gái kéo chăn trùm lên đến cổ người tình và hôn viên trung tướng bằng một nụ hôn say đắm. Bên ngoài, xe tuần tiễu đang rú ga chạy về phía sân bay Cù Hanh theo lệnh của Phạm Văn Phú.

Sáng sớm hôm sau, Phú gõ cửa phòng của Quang. Quang hất hàm hỏi:

- Có thiệt hại gì không? Đối phương lại bắn pháo chào tướng Đặng Văn Quang có phải không?

Câu hỏi của Quang hàm ý mỉa mai về lời khoe khoang của Phú chiều qua rằng Plây Cu đã lâu rất yên tĩnh.

Phú có vẻ ngượng ngập:

- Đúng là đại bác của quân Bắc Việt bắn, nhằm vào Cù Hanh nhưng không trúng đường băng, không có chiếc máy bay nào trúng đạn. Tôi đã lệnh cho tuần tiễu và thám báo gia tăng hoạt động từ sáng hôm nay và bố phòng từ xa. Mặt khác tất cả mấy chục máy bay đều phải chui vào các gian hầm nổi, trú ẩn, khi nào có lệnh xuất kích mới được chui ra và cất cánh...

Quang gật đầu:

- Được! Song ông thấy chưa? Tôi tiên đoán có sai đâu! Họ sẽ gia tăng hoạt động mùa khô này. Năm phát đạn nổ đêm qua nhắc nhở chúng ta chớ có yên ngủ trên chiếc gối hoà bình. Nếu ta không tỉnh táo để phòng thì họ sẽ đưa chiến tranh đến tận giường ngủ của ta từ lúc nào không hay

Phú vẫn chống chế:

- Tôi vẫn nhớ lời ông nói: sau lưng tôi đang có hai sư đoàn quân Bắc Việt uy hiếp mà!

Quang tỏ ra vững vàng:

- Ông cứ tăng cường thám báo mặt đất rồi mật báo về Bộ tổng tham mưu, tôi về Sài Gòn sẽ xin ông Thiệu cho máy bay oanh kích vào căn cứ của hai sư đoàn Bắc Việt, ngăn chặn từ xa trước khi chúng mon men đến Kon Tum và Plây Cu!

Câu nói trấn an của Quang làm cho Phú yên lòng. Hắn nói:

- Ta phải có những cú đấm phủ đầu từ mùa khô này mới được! Họ cho trinh sát vào dò xét đường đi lối lại, bị ta tóm gọn nên họ đã bắn bừa bãi, trệch mục tiêu cũng cứ bắn. Dù sao đây cũng là dấu hiệu của những trận tập kích bất ngờ...

Quang vẫn một giọng đều đều:

- Họ chưa có khả năng đánh lớn đâu. Đánh một vài cứ điểm tiền tiêu rồi lại rút thôi. Nhưng ta phải chặn lại, nếu không binh lính của ta lại nản lòng trong lúc ta đang cần động viên quân dịch để có thêm nhiều lính.

Và sau bữa ăn sáng, Quang cho gọi thêm bộ sậu của Phú gồm phó tư lệnh, tham mưu trưởng và chỉ huy quân cảnh cùng lên xe ra sân bay Cù Hanh thị sát tại chỗ. Quang đăm chiêu nói:

- Có thể đêm nay, đêm mai, sân bay này còn bị pháo kích nữa. Các ông phải sẵn sàng đối phó. Lát nữa tôi sẽ “phôn” về Sài Gòn cho Bộ tổng tham mưu biết để ông Cao Văn Viên trình lên tổng thống…

Khi quay về Sở chỉ huy, Quang nói nhỏ với Phú:

- Tình hình chiến sự có xấu đi hoặc căng thẳng hơn thì “Kế hoạch tam giác vàng” của ta vẫn cứ tiến hành và phải đẩy mạnh lên, nghe!

Phú cười sảng khoái:

- Vẫn thế! Ông cứ tin ở tôi mà!

 

V

 

BUỔI SÁNG HÔM SAU, TÂM VÀ HOÀ LẠI BỊ GỌI lên phòng thẩm vấn của thiếu tá Cang. Cang làm bộ giận dữ nói với Tâm:

- Nguyễn Văn Sĩ! Anh là bộ đội Bắc Việt xâm nhập trái phép lãnh địa của chánh phủ Việt Nam cộng hòa để dò xét địa hình ở đây. Nếu chúng tôi không bắt được anh thì trận pháo kích đêm qua sẽ phá huỷ cả máy bay của không lực Việt Nam cộng hoà! Tiếc rằng các anh chỉ bắn vu vơ, trệch hết cả ra ngoài. Song chúng tôi vẫn có thể trị tội anh, khép anh vào cái tội âm mưu phá hoại sân bay Cù Hanh. Anh nghĩ thế nào?

Một phút im lặng nặng nề.

Tâm với cái tên giả là Sĩ vẫn không nói nửa lời. Tên Cang trừng mắt:

- Để chuộc tội, tôi gia ân cho anh phải viết lời phản tỉnh, tình nguyện xin hồi chánh về với chánh nghĩa quốc gia. Trong hạn ba ngày nếu anh không xin hồi chánh thì anh chớ trách tôi là ác nhé!

Tâm bậm môi, im lặng.

Tên Cang nói tiếp:

- Vì tội của anh là rất lớn, đã quá rõ ràng nên buộc lòng chúng tôi phải đưa tên anh vào danh sách những phần tử nguy hiểm, có phương hại đến an ninh quốc gia, phải lập hồ sơ tội phạm! Lát nữa anh sẽ phải sang phòng chụp hình rồi viết lại lời khai cung, ký tên và điểm chỉ cả 10 ngón tay, nghe!

Cang lại quay sang với Hoà:

 - Còn Huỳnh Văn Hoà! Cậu can tội đào ngũ, rồi lại trốn trại. Biết ăn năn hối cải, chờ ngày thiếu tướng xét cho đi lao động khổ sai ít nhất là 6 tháng. Song cậu cũng vẫn được gặp gia đình. Bà má cậu đang chờ ngoài kia, bà được phép từ Sài Gòn lên thăm nuôi cậu đó!

Hoà nghe tin má lên thăm nuôi thì lộ nét mừng ra mặt. Cậu chớp chớp mắt nhìn thiếu tá Cang bằng một cái nhìn biết ơn, giọng run run:

 - Dạ. Thưa ông thiếu tá, tôi được phép gặp má tôi ở đâu ạ?

- Về phòng 2A. Mười giờ mới là giờ thăm nuôi.

Cang vỗ tay gọi một tên lính vào, ra lệnh:

- Anh đưa “anh bạn Bắc Việt” này sang phòng số 5 giam 2A, nghe! chụp hình, lăn tay. Xong rồi lại đưa về phòng biệt giam 2A nghe!

Tên lính “dạ” một tiếng thật gọn rồi nói với Tâm:

- Anh Sĩ, mời anh theo tôi! cả anh Hoà nữa, theo tôi rồi sẽ cùng về 2A.

Hai người tù binh cùng đứng dậy đi theo tên lính.

Cang đứng dậy, phủi tay, đốt một điếu thuốc, rít mạnh một hơi rồi thở khói lên trần nhà, khoan khoái....

***

Khi Tâm và Hoà được đưa trở lại phòng 2A thì má Tư - mẹ của Hoà - đã chờ sẵn ở đó.

Vừa nhìn thấy má, Hoà đã thốt kêu lên:

- Má! Má!

Đôi mắt anh đỏ hoe.

- Trời! Con tôi... Ba má nhận được thư con từ tuần trước, lại có cả đại diện của ông thiếu tá đưa đến tận nhà, nói rõ chánh sách của chánh phủ quốc gia, ba má mới yên tâm. Hôm nay ông thiếu tá mới cho má lên thăm nuôi con...

Hoà trấn tĩnh lại và giới thiệu Tâm với má:

- Thưa má: đây là anh Sĩ, bộ đội Bắc Việt mới bị bắt làm tù binh, đang ở chung phòng này với con  

Tâm cất tiếng chào má Tư:

- Cháu chào bác ạ.

Má Tư cảm động nói:

- Cậu! Quý hoá quá. Thôi thì số phận đã an bài như thế này, hai anh em chịu khó chờ thượng cấp xét cho mà...

Hoà dìu mẹ vào trong phòng, Tâm bước theo sau.

Tên lính canh đứng sững, chờ đợi.

- Má Tư hiểu ngay tên lính canh đang muốn cái gì. Bà mở cái giỏ xách tay, rút ra hai gói thuốc lá 3 số và một xếp giấy bạc đưa cho tên lính:

- Tôi chẳng có quà gì nhiều. Chú cầm tạm chút quà tôi, tôi cám ơn chủ nhiều.

Tên lính đưa tay đỡ gói quà, lễ phép nói:

- Xin má...

Tên lính lui ra khỏi phòng. Cánh cửa vẫn mở rộng. Má Tư vuốt tóc con:

- Con mời anh Sĩ hút thuốc đi con, kẹo bánh và trái cây đây nữa. Hai anh em ăn đi rồi chia vui với má.

Tâm “dạ” một tiếng rồi đỡ lấy gói thuốc từ tay Hoà.

Má Tư trải tờ báo lên bàn, bày ra ba quả xoài, một cây thuốc lá, năm gói kẹo....

Hoà hỏi nhỏ má Tư:

- Ba má có lo lót cho con?

Má Tư nhỏ nhẹ, gật đầu:

- Có đấy con ạ. Ông thiếu tá cử đại diện về là vì thế. Má xin cho con khỏi phải giam, được trở về quân ngũ nhưng vẫn phải ở đây mà chưa được về Sài Gòn đâu ...

- Dạ. Có tốn kém nhiều không má?

Má Tư im lặng xoè 5 ngón tay như thầm nói: “Năm cây”! Hoà hiểu ý mẹ, cậu cúi mặt, ngậm ngùi:

- Cũng đành phải thế, chứ biết làm sao bây giờ? Mã Tư lại nhìn sang phía Tâm:

- Cậu Sĩ bị bắt vô đây từ bao giờ? Rõ khổ!

Tâm nhỏ nhẹ:

- Dạ, thưa bác: cháu có hai anh em đi làm nhiệm vụ, không may lọt vào vòng phục kích của thám báo, bạn cháu bị bắn chết, còn cháu thì bị bắt. Họ cứ giam hoài ở phòng số 1, tuần trước mới được về ở chung với em Hoà ở phòng số 2A này.

Má Tư ái ngại:

 - Thôi thì cái số đã như thế thì phải đành chờ sự cứu xét của ông thiếu tá thôi...

Tâm lại thăm dò:

- Thưa bác, sao bác trai không lên thăm Hoà ạ?

Má Tư lắc đầu:

- Nhà cửa bỏ cho ai mà đi được? Ông ấy nhà tôi giao cho tôi đi là đủ, rồi về nói chuyện lại cho cả nhà nghe. Gớm, cô Hiền là chị gái của em Hoà đây thì nhớ em lắm. Nó cứ khóc ròng, thương em phải tù, phải tội. Nó bảo: tốn kém bao nhiêu má cũng phải lo lót cho em Hoà mau được về...

Hoà đỡ lời mẹ:

- Về Sài Gòn thì khó lắm. Chỉ có thể là được trở về quân ngũ thôi. Thôi được, má cứ để con xem, nếu được gia án đến đâu thì con sẽ biên thư về cho ba má biết. Nhưng má ơi, ở đây con cũng cần phải có tiền để thỉnh thoảng mua quà cáp cho mấy anh lính gác. Có quà cáp thì họ mới không hạch sách.

Má Tư hiểu ý con, nói ngay:

- Có chứ. Má có mang lên cho con vài trăm ngàn đây. Ngoài ra con sẽ giữ lấy cất cẩn thận 5 chỉ vàng này để phòng khi con cần phải tiêu thì bán đi lấy tiền chi tiêu, hoặc cần mua thêm đồ ăn cho khoẻ. Cả ba bộ đồ xi-vin này nữa, chẳng lẽ cứ mặc áo lính suốt tuần sao?

Má Tư gói riêng cho Hoà một gói, đặt tận tay anh tất cả mấy thứ anh đang cần.

Tâm để ý quan sát cử chỉ, lời nói của hai mẹ con Hoà, anh yên lòng, khẳng định: Hoà đúng là nạn nhân của “quân dịch”, Hoà nói thật tất cả, không phải là kẻ xấu của địch cài vào để dò xét anh (như đã có trường hợp xảy ra đối với những người hoạt động rơi vào tay địch, bị chúng giam chung với mật vụ, chỉ cần nhẹ dạ, cả tin là sẽ bị lộ hết tung tích ...). Tâm vui vẻ nói với Hoà:

- Má đã cho em thì em giữ lấy. Cũng có lúc yếu đau chẳng hạn, có khi phải cần đến.

- Má Tư nói với Tâm:

- Thôi thì, anh đã ở gần em, có điều gì em Hoà còn bỡ ngỡ, anh cứ bảo ban em coi nó như đứa em trong nhà. Tôi cảm ơn anh nhiều.

Tâm lễ phép thưa:

- Dạ, không có gì đâu ạ. Bác cứ yên tâm. Cháu và Hoà cùng cảnh ngộ, hoạn nạn như nhau, phải thương nhau chứ ạ. Những lời nói cởi mở cứ thắm sâu vào mỗi người, làm vợi đi nỗi đau, nỗi lo còn canh cánh bên lòng.

Má Tư nấn ná ở lại đến chiều mới ra về khi tên lính gác nhắc đến lần thứ hai:

- Hai giờ chiều rồi đó, bà già! Lệnh của ông thiếu tá: hết giờ thăm nuôi rồi, bà già phải về thôi!

Má Tư thu xếp đứng lên, bịn rịn nhìn con và anh bộ đội Bắc Việt khôi ngô, tuấn tú.

***

Má Tư đi rồi, gian phòng biệt giam 2A lại trở nên vắng lặng, buồn tênh. Hoà chỉ được phép tiễn má ra đến cửa. Người gác cửa, trung sĩ An lại đẩy cửa bước vào, hất hàm hỏi Hoà:

-  Gặp bà già thế là yên tâm đó! Được phép vào thăm nuôi, tức là ông thiếu tá sẽ có lệnh ân xá cho cậu rồi! Hắn quay sang phía Tâm - còn anh bạn Bắc Kỳ này nữa, cứ viết giấy xin hồi chánh đi, rồi sẽ được trả tự do, tôi nói thật: chớ có dại mà bướng bỉnh, ngoan cố trái lệnh thiếu tá thì chỉ có thiệt thân thôi. Chỉ cần vài lần sân bay Cù Hanh bị pháo kích nữa là ông thiếu tá treo cổ cậu thôi!

Tâm ngồi lặng thinh. Hoà mời trung sĩ An một điếu thuốc:

- Em xin mời trung sĩ.

Trung sĩ An rút một điếu thuốc rồi quay ra:

- Tôi không được phép ngồi đây.

Hắn quay ra và lại đi chậm chậm suốt dọc hành lang.

Còn lại hai người, Tâm nói với Hoà:

- Chưa rõ các “ngài” sẽ làm gì với hai đứa chúng mình đây?

Bỗng có tiếng léo nhéo của con gái phía ngoài: Trung sĩ ơi! Cho bọn em vào “thăm nuôi” nào!

- Chà, chà! Em Tuyết, em Ninh, lệnh của ai mà các em đến đây?

Tuyết vênh váo:

- Lệnh của thiếu tá Cang! Hai đứa chúng em phải mang trà, thuốc vào cho hai anh biệt giam trong này mà!

- Ừ nhỉ. Xin lỗi! Tôi quên.... Vào đi!

Tên An mở cửa. Hai cô chiêu đãi viên bước vào phòng và khép cửa lại. Tuyết làm bộ đon đả

- Chào anh Hoà, anh Sĩ!

Tâm vẫn được gọi bằng cái tên giả “anh Sĩ” điềm tĩnh nhìn hai cô gái: Tuyết vẫn lẳng lơ và Ninh vẫn kín đáo, nhẹ nhàng.

Hòa chia tay về phía hai cô gái:

- Mời các em ngồi! Có chuyện chi vậy?

Tuyết đặt lên bàn một gói thuốc lá và một bịch trà:

- Đây là phần trà thuốc của ông thiếu tá gửi cho các anh. Còn em nghe nói bà má anh Hoà vừa tới thăm nuôi có phải không?

- Phải. Bà về rồi. Bà cho quà, tôi mời hai em ăn kẹo, ăn bánh!

Tâm vẫn ngồi im. Tuyết trêu chọc:

- Anh Sĩ lầm lì quá nhỉ. Buồn ư? Có em Ninh đây mà sao không vui lên nào?

Hoà bóc gói bánh đưa cho Tuyết một gói Sô - cô - la:

- Mời em Tuyết, em Ninh nữa! Hôm nay tôi biết là mình sẽ được ân xá, vậy xin hỏi hai em: hai em có mang theo máy ghi âm không đấy? Tôi và anh Sỹ đây đã khai hết cả với ông thiếu tá rồi! Nếu không được ân xá thì sẽ đi tù, có thế thôi, thật đơn giản!

Tuyết trố mắt nhìn Hoà:

- Anh nói chi mà kỳ quá? Em có đặt máy nghe lén bao giờ? Không đặt máy nghe lén thì các cô cũng phải trình lại với thiếu tá về thái độ của hai tên tù binh này, chứ gì?

Tuyết gật đầu:

- Dạ. Có, em là tiếp viên mà!

- Thế thì đích thực em là Thiên Nga, Phượng Hoàng rồi còn gì?

- Không đâu anh Hoà! Em chỉ là chiêu đãi viên, và Ninh cũng thế.

Tâm ngồi yên lặng, để ý quan sát từng cử chỉ của hai cô gái. Anh không khỏi ngạc nhiên: “Tại sao hôm nay anh bạn Hoà lại hãng hái “tấn công” Thị Tuyết, khác hẳn mấy hôm trước?".

Tâm chưa tự giải đắp được thắc mắc của mình. Lệ Ninh nói nhỏ nhẹ:

- Hôm trước ông thiếu tá có dự định cho chúng em đi cùng với hai anh làm một cuộc dã ngoại ngoài trời. Picnic đó, song ông thiếu tá lại vừa thay đổi ý kiến, bỏ cuộc Pic - nic này rồi!

Hoà hỏi

- Sao vậy?

Tuyết nhanh nhảu đáp:

- Vì sân bay mới bị pháo kích. Chung quanh thị xã đã được báo động, thiết quân luật mà! Em nghe nói: lính còn bị cấm trại nữa kia! Nội bất xuất, ngoại bất nhập đó!

Hoà chia cho hai cô gái mỗi cô một gói kẹo và nói:

- Thôi được. Tôi tạm tin lời cô Tuyết. Xin cảm ơn cả hai cô và nếu ông thiếu tá có hỏi về anh em tôi thì xin hai cô chuyển giúp chúng tôi đến ông thiếu tá lời cảm tạ...

Thấy thái độ cứng rắn, dứt khoát của Hoà, Tuyết đành phải lôi tay Ninh cùng đứng dậy ra khỏi phòng 2A.

Tâm lắc đầu, ngán ngẩm nhìn theo hai cô gái. Lát sau, anh mới hạ thấp giọng hỏi Hoà:

- Sao em làm hung thế?

Hòa đáp:

- Em phải đuổi hai ả đáng ghét này đi để còn bàn với anh một việc rất quan trọng và thật khẩn cấp...

Hoà vươn vai đứng dậy, nhìn thận trọng qua song sắt: tên trung sĩ An đang ngồi chồm hỗm ngoài hè, y vừa hút thuốc lá vừa lơ đãng nhìn lên bầu trời.

Hoà đưa gói thuốc cho Tâm. Tâm rút một điếu nói thật nhỏ: châm lửa hút. Hoà kéo Tâm cùng nằm xuống giường nói thật nhỏ:

- Anh Sĩ! Anh nằm xuống đây, góp ý kiến cho em...

Tâm ngả người nằm xuống cạnh Hoà. Hoà thì thầm:

- Trong hoàn cảnh của em hiện nay, anh bảo em nên làm gì? Anh có tin em không?

Tâm hỏi lại: Má em đã lo lót 5 cây vàng thì chắc là họ sẽ cho em trở về quân ngũ và xoá cái án đào ngũ cho em đó. Anh rất tin em, vậy em có ưng về quân ngũ không?

- Tình hình chiến sự em xem đã đến hồi sôi động rồi. Đối phương đã pháo kích thì chắc sẽ tiến công. Em về quân ngũ, sẽ phải đối đầu với các cuộc tiến công ấy. Em không muốn bị chết uổng. Ba má em lại chỉ có một mình em là con trai. Em thương ba má em lắm ... Còn anh nữa? Em thấy đã đến lúc họ làm “mạnh tay” với anh rồi đó. Nếu trong những ngày tới anh không ưng hồi chánh thì chắc họ sẽ không để yên cho anh đâu!

- Nghĩa là...

- Dạ, nghĩa là theo như em biết mấy cái mánh của họ là sẽ in truyền đơn tán phát rộng rãi có hình của anh với lời chú thích: “Đây là một binh sĩ Bắc Việt xin trở về quy thuận chánh phủ quốc gia” và phóng to tấm hình của anh để “triển lãm” khắp chốn, khắp nơi, gây hoang mang nghi kỵ trong đơn vị của anh, lúc ấy họ sẽ thả anh ra để anh tìm về đơn vị với cái án “đầu hàng, đầu thú”. Anh sẽ hết đường tiến bộ... Hai nếu anh phản đối không quy thuận thì sau khi khai thác, tra tấn, bôi nhọ danh dự anh, họ sẽ thủ tiêu, bắn bỏ!

Tâm nghe Hoà nói có lý, anh hỏi:

- Theo em thì anh nên làm gì bây giờ?

Hoà lại liếc nhìn ra phía song sắt, canh chừng tên trung sĩ An, rồi mới nói thật nhỏ vào tai người bạn lớn tuổi:

- Theo em thì anh nên... vượt trại, trốn khỏi nơi này!

Tâm không khỏi kinh ngạc về ý kiến táo bạo của Hoà, một phút sau, trấn tĩnh lại, anh mới hỏi:

- Anh thì như vậy, còn em?

Hoà đáp:

- Em cũng cùng trốn đi với anh! Trốn đi đâu? Vào rừng hay về thành phố? Vào rừng sẽ rất nguy hiểm vì thám báo dày đặc của chúng nó... Ở vùng này em rất thuộc địa hình, ta sẽ tính đường đi cho ngon...

- Em nói vậy, chứ tại sao lần trước em trốn mà không thoát, để chúng nó bắt em trở lại? Nếu lần thứ hai, bị bắt thì nó còng tay em, tống vào xà - lim mất!

Hoà không chịu, trình bày tiếp:

- Thất bại một lần, em đã rút được bài học lần tránh. Em tin là nếu lần này thoát khỏi Play Cu, em cứ đường hoàng đi về Đà Lạt hoặc Nha Trang với số tiền và vàng má em cho em đây là…

- Chúng nó truy nã em đến tận Sài Gòn thì sao?

- Em dại gì mà về Sài Gòn? Em có nhiều nơi quen biết. Em với anh sẽ mặc hai bộ đồ xịn này, sắm vai “công tử bột” lại có tiền trong túi thì lo gì?

Tâm đắn đo:

- Theo kế hoạch của em thì lúc nào, ngày nào ta có thể vượt trại?

Hoà:

- Chỉ cần anh đồng ý với em, em sẽ có cách làm thật hữu hiệu, thật ngon cho xem!

Càng nghe Hoà nói, Tâm càng cảm phục người bạn nhỏ tuổi. Thì ra không phải ai cũng nhút nhát, sợ sệt như anh tưởng lầm. Anh nói nhỏ hơn:

- Anh đồng ý sẽ đi với em, nhưng phải tuyệt đối bí mật, lộ ra để chúng nó nghi ngờ là chết cả hai đó!

Hoà:

- Anh yên tâm. Lần trốn trước em còn bỡ ngỡ chứ lần này em có kinh nghiệm rồi. Em sẽ có cách làm kín đáo và mau lẹ. Em tin chắc là an toàn thôi. Hơn nữa anh và em lại chưa bị chúng nó tra tấn, đánh đập, còn đủ sức khoẻ để đi. Nếu để chúng nó đánh gãy chân tay mình thì đi làm sao được? Phải lẹ lên, anh!

Tâm thầm cám ơn người bạn tù binh. Anh bấm mạnh vào tay Hoà để biểu lộ đồng tình và quyết tâm sắt đá. Hoà hiểu ý, ngồi bật dậy nói to để cho nếu tên trung sĩ có còn ngồi ngoài hành lang cũng đủ nghe tiếng:

- Theo em: anh cứ xin hồi chánh để trở về với chánh nghĩa quốc gia là hay hơn cả!

Tâm hiểu câu nói của Hoà: một màn kịch đã bắt đầu, trong đó Hoà và anh sẽ thủ hai vai chính của vở diễn ...

 

VI

 

TRUNG SĨ AN VỖ VAI HÒA:

Chỉ vài hôm nữa là mày được ân xá thôi. Tao nghe chúng nó nói là ông thiếu tá ưng cho mày về quân ngũ rồi. Lần này đừng có dại dột mà bỏ trốn nữa nghe! Cứ chịu khó một thời gian, rồi nói với bà già “dấn” thêm mấy “cây” nữa để xin về làm lính kiểng ở Sài Gòn là êm ru! Tao biết vừa qua bà già của mày cũng tốn kém đấy. Nén bạc đâm toạc tờ giấy, thời nào cũng vậy!

Hoà làm bộ ngớ ngẩn:

- Em có biết gì đâu anh? Chắc là má em năn nỉ nên mấy ông cũng thương tình...

Tên An lắc lư:

- Năn nỉ mà không có “cây” thì cũng vứt đi. Mà ân xá là tao mừng rồi.

Tên trung sĩ ngồi cùng bàn với hai anh tù binh từ lúc 8 giờ và đang say sưa tán gẫu với Hoà, một người mà hắn biết là sắp được trắng án, lại đang có tiền trong túi. Thế nào mà Hoà chẳng mở hầu bao ra để khao nó mấy bữa nhậu say xỉn.

Bỗng có tiếng gõ cửa.

Tên An nói vọng ra:

- Cứ vào!

Một cái đầu bù xù của con gái thò vào.

Tên An reo lên:

- A! Em Tuyết! Vào đây! Vào đây, anh bảo...

Tuyết mặc cái áo mỏng, hở cổ để lộ làn da trắng nõn, cô bước vào:

- Dạ. Các anh đang có công chuyện gì đó? An kéo tay cô gái:

- Này, chịu khó chiều các anh chút xíu đi! Em ra chợ mua cho tụi anh một can rượu đế với lại cái giò heo về đây nhậu lai rai cho đỡ buồn!

An quay sang Hoà:

 - Chú em đưa cho nó mấy ngàn đi nào!

Hoà hưởng ứng ngay:

- Anh để em đi với em Tuyết cho lẹ. Em mới rành đồ nhậu, con gái thì biết mua bán gì đâu.

Không cần đắn đo, tên trung sĩ gật đầu:

- Ừ, tao cho chú mày đi với em Tuyết ra chợ. Đi lẹ lên, nghe!

Hoà mặc vội chiếc áo sơ - mi màu ghi rồi hấp tấp đi theo cô gái.

Chờ cho hai người đi khuất, tên An mới lại vỗ vai Tâm:

- Còn cha nội này nữa! Hồi chánh cho lẹ lên! Cứ nghe đại tao mà lại hay nhé! Chọn nơi sung sướng mà sống ung dung, tội gì lại húc đầu vào đá? Nghĩ kỹ chưa nào?  

Tâm chậm rãi:

- Em sẽ viết đơn như ông thiếu tá đã nói. Anh chuyển giùm em nhé!

Tên An nói như reo lên:

- Ừ, có thế chứ! Hồi chánh là phải. Nhưng tao không chuyển đơn đâu. Mày cứ đưa cho con bé Ninh, nó chuyển lên ông thiếu tá. Tao chỉ có nhiệm vụ canh gác chúng mày thôi. Dính vào đơn từ, mấy ông lại là tao là bồ bịch với chúng mày!

- Dạ! Như thế cũng được ạ. Em sẽ nhờ cô bé Ninh chuyển giúp lên ông thiếu tá...

- Vậy thì viết đơn đi. Chậm trễ làm gì!

- Tâm làm bộ nhăn nhó:

- Em chưa viết bao giờ. Nói sao cho gọn, nếu rườm rà, ông thiếu tá lại không phê chuẩn thì chết!

Tên An tỏ ra thông thạo:

- Cứ viết đại đi! Nói là tôi đã giác ngộ, xin chánh phủ khoan hồng tha tội cho tôi và tôi xin hồi chánh. Viết đi, rồi cùng ra với thằng Hoà. Tao canh gác chúng mày mệt lắm. Hôm nào cũng phải gác từ 6 giờ sáng đến 2 giờ chiều...!

Suy nghĩ một lát, tên An cười hề hề:

 - Này, tao nhờ mày một việc nhé: tao đang kẹt tiền, thằng Hoà mới được má nó cho mấy trăm ngàn, mày bảo nó “bo” cho tao vài chục ngàn, cho cả con Tuyết nữa, rồi tạo tháo khoán cho cả ba đứa chúng mày, cho con Tuyết ở đây, tha hồ vui vẻ. Có ưng không nào? Con bé này ngon lắm, mày!

Tâm đành phải nhận lời:

- Dạ. Anh Hai cứ yên tâm. Em sẽ bảo thằng Hoà... Nó còn phải mang ơn anh nhiều mà.

Tên An gật gù:

- Ừ, được. Nó xài hết thì mấy bữa nữa má nó lại lên thăm nuôi. Ở Sài Gòn, nhà nó có tiệm buôn đàng hoàng lắm mà!

 Một giờ sau Hoà và Tuyết đã xách về hai giỏ đầy: rượu, thịt, rau sống.

Một tờ báo được trải rộng ra bàn. Ly, chén bày lên. Thịt quay, gà luộc được dọn ra đầy ắp.

Tên An xoa má thị Tuyết:

- Cô em tháo vát thiệt đó! Anh làm mai cho em nhé: em thích thằng Hoà hay thằng Sĩ?

Thị Tuyết giãy nảy:

- Anh Sĩ đã có em Ninh rồi! Em chỉ xin cặp với anh Hoà thôi!

Tên An cười hô hố:

- Đó, thằng Hoà có chịu không?

Hoà đáp gọn:

- Chịu!

Cuộc nhậu bắt đầu. Trung sĩ An phút chốc đã quên phắt nhiệm vụ của tên lính coi tù. Ranh giới giữa tên lính gác với hai kẻ bị giam giữ coi như bị xoá nhoà.

- Nào! “dô” trăm phần trăm!

Tên An cụng ly với Hoà và Tâm. Thị Tuyết cũng pha thêm Cô - ca cô - la vào rượu và cụng ly luôn.

An nói bô bô:

- Bữa nhậu này là của thằng Hoà! Tao mừng cho chú mày sắp được ân xá! Còn cha nội này nữa - Sĩ! Gắng lên, viết đơn xin hồi chánh đi, lẹ lên. Tao sẽ nhậu với chúng mày đến xỉn mới thôi!

Rượu vào, lời ra.

Từng khuôn mặt đã đỏ dần lên. Tên An được coi như là “chủ xị”, y thổ lộ can tràng:

- Tao nói thật với tụi bay: tao buồn lắm, con vợ tao lăng loàn dữ lắm. Nó ở Kon Tum với hai đứa con, cứ thúc bách tao gửi tiền về. Lương tao là lương trung sĩ ba cọc, ba đồng. Kẹt lắm! Tao cũng chẳng ghen làm gì. Có khi nó ngoại tình mà tao có biết gì đâu!

Hoà và Tâm càng hiểu thêm tâm trạng của tên lính gác. Thị Tuyết vòng tay lên cổ tên An:

- Cưng của em ơi! Đừng có buồn. Tuyết luôn ở bên anh đây mà!

Tên An gạt thị Tuyết ra:

- Anh không cặp với em đâu. Em phải cặp với thẳng Hoà kia! Anh chỉ cần nhậu thôi. Nhậu cho quên đời! Bao giờ anh lên thiếu uý lương bổng khá hơn, lúc đó sẽ hay. Còn bây giờ, anh cần phải có tiền, có thật nhiều tiền. Em giúp được gì cho anh nào?

Thị Tuyết rót thêm rượu vào cái ly vừa cạn của tên trung sĩ.

- Anh “dô” trăm phần trăm với em nào!

Hai người cụng ly.

Một giờ sau, tên An chệnh choạng đứng lên: Thôi tao cho tụi bay xả láng! Tao phải ra ngoài kia, ngồi ở đây, ông thiếu tá đi tua, thấy tao say xỉn lại rầy la tao thì... chết!

Hoà không quên nhét vào túi trên trung sĩ một xấp giấy bạc:

- Em biếu anh...

Tên An khoái trá:

- Ờ, ờ... anh cám ơn chú mày...

*****

Sáng hôm sau, Lệ Ninh lại đem trà, thuốc đến cho Tâm và Hoà.Cô gái cứ nhìn đăm đắm vào đôi mắt của Tâm:

- Anh Sĩ! Anh viết đơn xin hồi chánh đi.

Tâm biết mình vẫn còn được mang cái tên là Sĩ. Anh hỏi cô gái:

- Em có thấy ông thiếu tá nhắc gì anh?

Lệ Ninh:

- Mấy bữa nay ông ấy làm việc trên Sở chỉ huy của thiếu tướng tư lệnh. Em chưa nghe ông ấy nhắc gì đến anh. Em chỉ có nhiệm vụ đem trà, thuốc cho các anh... À, hôm qua, con Tuyết nhậu ở đây phải không? Sao không kêu em? Các anh tệ thật đấy!

Tâm thanh minh:

- Anh lên chỗ em làm sao được? Nếu kêu em thì phải là ông trung sĩ kia!

Lệ Ninh cười:

- Là em nói vậy thôi, chứ em có dám uống rượu đâu!

Hoà nói với Ninh:

- Này, em kiếm cho anh mấy tờ giấy và một cây bút bị nhé. Anh và anh Sĩ sẽ làm đơn trình lên ông thiếu tá mà...

Lệ Ninh vui vẻ: Chiều nay em sẽ mang giấy bút cho các anh. Làm đơn xin ân xá đi. Rồi còn đi lại tự do chứ. Ở mãi đây, tù hãm thế này, buồn lắm có phải không?

Hoà và Tâm gật đầu như cùng cảm thông với điều cô gái đang mong đợi.

*****

Ngày thứ ba, cũng là lúc cuộc nhậu lần thứ ba lại được bày ra trong căn phòng 2A. Hoà và Tuyết lại xách từ chợ về hai giỏ đầy thịt, rau và rượu đế.

Trung sĩ An khề khà:

- Em Tuyết không được nói gì với ông thiếu tá đấy nhé. Ông ấy biết anh say xỉn thì lại la hét om sòm. ‘

- Ông ấy thương anh lắm mà!

- Thương anh nghèo, nhưng ông ấy có cho anh uống rượu đâu!

Hoà rót rượu đầy bốn cái ly. Cả bốn người cùng cụng ly.

Thị Tuyết đong đưa:

 - Trăm phần trăm nè!

Cuộc nhậu chẳng khác một bữa tiệc vui trong gia đình vừa trúng mánh.

Tên An cầm cả một đùi gà đưa lên miệng cắn, nhai nhồm nhoàm.

Rượu cứ rót. Thức ăn cứ gắp đây chén.

Tên trung sĩ kéo tay cô gái:

-  Em Tuyết ca một câu vọng cổ nào thật mùi mẫn cho anh nghe nào!

Tuyết giãy nảy:

- Em chỉ biết nhảy tăng - gô thôi! Ca cải lương phải nhường cho Lệ Ninh!

- Thế thì em chạy về tìm Lệ Ninh lên đây. Uống say phải nghe hát mới thấy khoái!

Hoà phụ hoạ với tên An:

- Anh Hai nói có lý lắm. Cảm phiền em Tuyết nhé. Em đi tìm ngay em Ninh đến đây nào! Chốc nữa bọn anh sẽ “bo” cho cả hai em!

Thị Tuyết ngoan ngoãn đứng lên và khuất sau cánh cửa khép hờ.

Tên trung sĩ đã uống đến ly rượu thứ tư trong lúc Hoà và Tâm chưa cạn hết ly thứ hai. Nó ngả đầu sang bên thành ghế. Đôi mắt dục ngàu lờ đờ muốn nhắm lại. Điếu thuộc lá cháy dở trên tay hắn rơi xuống đất.

Hoà đưa mát cho Tâm:

 - Trung sĩ của tôi xỉn rồi đó. Mặc cho ông ấy ngủ cho ngon…

Nhớ lại kế hoạch đã bàn với nhau từ tối hôm qua, Hoà và Tâm hồi hộp chờ đợi giờ phút quyết định cho chuyến đi...

Hoà im lặng xem đồng hồ: 10 giờ 45 phút...

Thời gian nặng nề trôi.

Khi kim đồng hồ chỉ đúng 11 giờ thì có tiếng còi xe ô tô phía ngoài vọng vào. Hoà ra hiệu cho Tâm: cả hai đều nhón gót mở cửa phòng 2A lọt ra ngoài, nhẹ bước qua cái sân rộng, tiến đến chiếc xe tắc - xi vừa đỗ dưới gốc cây bên đường.

 - Chào anh Ba!

Anh tài xế mở cửa xe đón hai người khách trẻ tuổi. Cánh cửa xe khép lại. Chiếc tắc - xi lăn bánh từ từ, rẽ trái.

- Anh Ba cho tụi em về Quy Nhơn, nghe! Trong phút chốc, chiếc xe đã ra khỏi Plây Cu nhằm hướng Quy Nhơn lao đi vun vút.

Trong phòng 2A trung sĩ An đã bắt đầu ngáy o ... o ...

Nửa giờ sau, thị Tuyết và Lệ Ninh mở cửa ngó vào Tuyết lắc đầu: - Ông trung sĩ xỉn rồi. Còn hai ông tướng kia đi đâu rồi? Lại ra chợ mua đồ nhậu chăng”?

Ninh kéo tay Tuyết lui ra:

- Thôi, để mặc cho ông ấy ngủ….

***

Tên An tỉnh dậy, giụi mắt ú ớ: Mãi cho đến lúc 2 giờ kém 10 phút chiều, trung sĩ Chí vác súng đến đổi gác cho trung sĩ An như thường lệ, ngó vào phòng 2A mới giật nảy mình kêu lên:

- Ông An! Ông An!

- Chí đấy hả?

Chí đáp:

- Tôi đây! Nhậu xỉn hả? Hai thằng tù binh đâu rồi? Có đổi gác không hay còn muốn ngủ?

Tên Chí ái ngại: Mặt mũi đỏ gay, tên An thấy hoảng hốt thực sự:

- Chúng nó xin phép ra ngoài chút xíu mà! Có thấy chúng nó ở ngoài đó không?

- Có thấy đứa nào đâu? Nó xin ông đi từ hồi nào? Tên An loạng choạng đứng dậy, rảo bước ra cửa:

- Bỏ cha rồi! Có ai cho chúng nó đi xa đâu kia chứ? Chúng nó mời tôi uống có một ly thôi mà. Tối qua tôi thức khuya với con Tuyết, hôm nay uống có một ly mà đã xỉn! Chết cha tôi rồi!

- Mặt ông còn đỏ, đừng ra ngoài nữa, để tôi chạy đi tìm chúng nó xem sao. Ông cứ ở đây!

Chẳng cần phải chờ tên An bằng lòng hay phản đối, tên Chí co chân chạy qua sân và vọt thẳng lên Sở chỉ huy của thiếu tá Cang. Nó nghĩ bụng: “Ông căm mày từ bao lâu rồi, đồ ăn bẩn, có món nào béo bở mày ăn hết, có biết đến ai đâu. Mày để xổng tù, tao sẽ cho mày biết thế nào là lễ độ, nghe con!”

Thiếu tá Cang cũng vừa bước vào bàn giấy. Hắn nghe tên Chí báo cáo rành rọt:

 - Trình thiếu tá: em đến đổi gác cho trung sĩ An thì thấy trung sĩ An say xỉn còn nằm ngủ trong phòng 2A mà hai tên tù binh đã trốn biệt, đi đâu mất tiêu rồi ạ!

Cang tưởng nghe nhầm, vội hỏi lại:

- Cái gì hả? Say xỉn để hai thằng tù trốn rồi hả?

- Dạ, đúng 2 giờ kém 10 phút, em đến đổi gác thì không thấy hai tên tù, em chạy vội lên đây báo cáo với thiếu tá!

 Cang đập mạnh tay xuống bàn:

- Thật thế hả? Mày xuống gọi ngay thằng An lên đây cho tao!

 - Dạ.

Tên Chí quay đi. Cang quay ngay máy điện thoại xuống phòng 2A gọi: - Trung sĩ An đấy hả? Mời ông lên ngay, có phải hai thằng tù đã trốn mất tiêu rồi không?

 Đầu dây nói ở phòng 2A chỉ có tiếng ấp úng:

- Dạ, dạ trình thiếu tá... dạ, dạ...

Cùng lúc ấy tên Chí đã bước vào phòng 2A, nó nắm tay tên An:

- Tôi đã tìm khắp nơi, có thấy bóng dáng thằng tù nào đầu. Tôi phải lên trình thiếu tá ngay. Ông ấy đang nổi cơn thịnh nộ lôi đình kia kìa!

Tên An xám mặt, nhăn nhó, run lập cập.

-  Sao lại vội trình thiếu tá như vậy?

- Thì hãy lên ngay đã nào. Nếu chúng nó còn luẩn quẩn quanh đây thì phải lùng sục bắt chúng nó lại chứ. Lẹ lên nào!

Khi hai tên trung sĩ đến trước mặt tên Cang, tên thiếu tá quát:

- An! Ai cho mày uống rượu hả? Hai thằng tù đâu rồi? Canh với gác như mày thì tao treo cổ!

Cang quay sang tên Chí:

- Chí! Mày xuống chỗ thượng sĩ Tùng nói lại lệnh của tạo cho cả mười đứa đi lùng sục quanh đây, tìm bắt lại cho tao hai thằng tù, nghe! Còn ông An, mời ông ngồi lại đây, tôi hỏi!

Tên Chí chạy đi còn tên An ngồi sụp xuống trước mặt thiếu tá Cang.

Cang vẫn quát:

- Ai cho uống? Uống từ hồi nào? Uống với những đứa nào? Nói ngay, nói cho đúng!

Tên An run rẩy:

- Dạ, trình thiếu tá: em nhận gác từ 6 giờ sáng như thường lệ. Đến 10 giờ thì cô Tuyết đi chợ về mang một xị rượu đế cho em và hai tên tù uống chơi. Em không ngờ say xỉn ...

- A! Lại cả con Tuyết nữa hả? Có con Ninh không?

- Dạ, chỉ có cô Tuyết!

- Một xị, bốn đứa uống mà lại xỉn, nói láo!

Cang đập bàn gọi:

- Con Tuyết đâu? Có ở phòng tiếp tân đó không?

Ánh Tuyết lò dò bước từ cửa phía trái sang, nét mặt xám ngoét...

- Tuyết! Mày nói ngay tao nghe: ai cho mày đi mua rượu? Chúng mày nhậu nhẹt từ hồi nào? Quân khốn khiếp! Chúng bay bị hai thằng tù ranh con đánh bẫy rồi. Say xỉn để chúng nó trốn! Tao phải treo cổ cả lũ bay mới được!

Cang quay máy điện thoại gọi thượng sĩ Tùng:

 - Tùng đấy hả? Sao cho lính lùng sục tìm hai thằng tù rồi hả? Ừ được, mày lên đây ngay, giam cổ thằng An lại cho tao!

Cang quay sang thị Tuyết:

- Còn con Tuyết ở lại đây, tao hỏi!

Khi tên An bị thượng sĩ Tùng lôi đi rồi, Cang vẫn còn hầm hầm nét mặt giận dữ. Hắn hất hàm ra lệnh cho thị Tuyết:

 - Con kia! Mày nói lại tạo nghe: ai sai mày đi mua rượu, ai đưa tiền? Sao lại chỉ mua một xị? Nói đi, nói cho thật. Nói quanh tao giết, nghe chưa?

- Dạ, trình thiếu tá: sáng nay, theo thường lệ, con mang trà, thuốc cho tù binh thì ông An sai con đi theo tên Hoà ra chợ mua rượu - hai chai rượu đế - và ba chục ngàn đô nhậu, gồm có thịt heo quay, thịt gà luộc và rau sống...

- Chúng mày nhậu bữa nay là bữa thứ mấy rồi?

- Dạ, bữa thứ ba!

- Hừ! Thế là bỏ mẹ cả lũ rồi. Nó cho nhậu xỉn để nó trốn thoát mà!

Thằng Hoà chi tiền hay thằng Sĩ chi tiền?

- Dạ, tên Hoà ...

- Nó cho mày bao nhiêu? Cho thằng An bao nhiêu? Dạ, nó cho con 50 ngàn, cho anh An một trăm ngàn...

- Đó! Lũ khốn khiếp! Chúng bay giết tao rồi, thấy chưa? Mày ngồi đây, lấy giấy bút ra, làm cho tao một bản tường trình về ba bữa nhậu của chúng bay. Viết bản tường trình cho hết rồi tao treo cổ chúng bay lên, đồ khốn kiếp!

Thị Tuyết run lập cập:

- Con lạy thiếu tá, anh An sai con, con mới dám đi chợ ...

Cang quát:

- Im ngay! Viết đi, nói cho rõ. Còn oan lắm sao? Mày với thằng An là quân khốn kiếp! Quân khốn kiếp!

***

Năm giờ chiều. Thiếu tá Cang được biết kết qua truy lùng hai tù binh: biệt vô âm tính Thượng sĩ Tùng trở về với con số không:

Trình thiếu tá, em cho lính sục sạo khắp nơi mà không hề thấy bóng dáng hai thằng trốn trại. Chúng nó đã đi từ hồi nào!

Mày đã báo cho tất cả các bốt gác trong ngoài thị xã chưa?

- Dạ. Em đã báo cho cả mười bốt gác.

- Hai thằng này không ra khỏi đây được thì chúng nó có thể lẩn vào nhà dân. Thằng Hoà, lính cộng hoà chưa có cơ sở quen biết ở Play Cu, nhưng thằng Sĩ có thể có liên hệ với một tên Việt Cộng nằm vùng ở quanh đây. Thế nhưng, tao dặn mày điều quan trọng này, phải nhớ mà thi hành: đó là phải giữ kín chuyện này. Nếu lộ cái tin tù trốn trại, dân chúng xôn xao, binh lính hoang mang thì khó bắt lại chúng nó. Mà ngài thiếu tướng biết được thì tao với mày bị lột lon như chơi! Còn thằng An và con Tuyết, mày cho giam cổ chúng nó lại. Chờ lệnh của tao nghe! Lát nữa, mày lại phải thông báo lại cho cả mười bốt gác: ta đã bắt lại được hai tên tù binh rồi. Tao sẽ lệnh cho mật vụ dò xét mấy gia đình Việt Cộng thuộc loại có chồng con đi tập kết ra Bắc. Nếu hai thằng tù trốn lủi vào nhà nào, tao sẽ cho bắt liền. Có thể bắn hạ hoặc bắt sống trở lại. Còn với thiếu tướng tư lệnh, tao sẽ lựa lời trình lên để ông ấy không nổi nóng mà quở phạt ta nghe!

- Dạ, em sẽ làm đúng như lời thiếu tá.

 - Thôi đi, đi, cứ thế mà làm!

* * *

Cang đã phóng ngay lên Sở chỉ huy của Phạm Văn Phú. Bị đột ngột, Phú hỏi ngay:

- Có chuyện chi đó ông thiếu tá?

Cang lựa lời thăm dò:

- Trình thiếu tướng, hình như sáng nay, máy bay của ta có oanh kích phía Tây Bắc Kon Tum?

Phú gật đầu:

- Cả Tây Bắc Plây Cu nữa đó. Cứ nghe tiếng bom nổ ình ình là tôi biết không quân ta hoạt động rồi. Vì thế mà Bắc Việt không dám pháo kích sân bay Cù Hanh nữa....

- Dạ. Chắc là có lệnh của trung tướng Đặng Văn Quang?

- Có chứ! Ông Quang đã điện về Sài Gòn đề nghị tổng thống cho oanh kích suốt dọc hành lang phía Tây Bắc theo những mục tiêu mà thám báo đã xác định nhằm trả đũa hai sư đoàn Bắc Việt. Máy bay thám thính của ta còn bay liệng nhiều lần trên vùng trời phía Tây để răn đe, cảnh cáo đối phương...

- Dạ, thế là rất hữu hiệu...

- Vì vậy tôi đã lưu giữ trung tướng Quang ở lại đây chơi ít ngày giúp tôi bài binh, bố trận, thực hiện “tràn ngập lãnh thổ” như ý muốn của tổng thống…

Cang được thể, trổ tài xu nịnh:

 - Dạ, trình thiếu tướng, tôi đã cho tuyển chọn hai em gái vùng Cao Nguyên này để vào hầu trung tướng và thiếu tướng.

Phú cười rất tươi:

- Ông thiếu tá thật là tuyệt vời. Thay mặt cho trung tướng, tôi có lời cảm ơn.

- Dạ, không có gì đâu ạ.

Phú làm bộ cao đạo:

- Với tôi thì em Ngọc Ngà cũng đang phục vụ hết mình rồi.

Cang cười hềnh hệch:

- Dạ thưa, thiếu tướng cũng cần phải thay đổi món chứ ạ.

- Ừ, thôi cũng được. Nhưng phải đưa tôi sang phòng số 7, nghe, không để cô Ngà biết thì phiền đấy!

- Dạ, được ạ.

Ngừng một lá, Cang mới nói:

- Dạ, trình thiếu tướng, suýt nữa tôi quên: con Tuyết và thằng trung sĩ An vừa có chuyện rắc rối ạ.

- Sao? Chúng nó bồ bịch bậy bạ?

- Dạ. Hai đứa lại tự ý tổ chức nhậu nhẹt với hai tên tù binh ở phòng 2A...

 - Với thằng Hoà và thằng Sĩ lính Bắc Việt hả?

- Dạ.

- Rồi sao?

- Dạ thưa, lúc trưa nay, nhậu xỉn thằng An và con Tuyết để cho 2 tên tù trốn trại!

Phú kêu lên: Trốn trại? Chúng nó đi đâu?

- Dạ. Có thể chúng nó còn lẩn quất quanh đây. Tôi đã cho mật vụ áp sát mấy gia đình Việt Cộng nằm vùng dò la. Chắc là chúng nó sẽ bị bắt lại trong đêm nay.

- Các bốt chung quanh đây?

- Dạ, thưa, tôi đã cho phong toả hết. Chúng không thể lọt đi đâu được!

Phú cau mày rồi nói lẩm bẩm:

- Không được lộ bí mật với ông trung tướng đâu nhé. Còn đối với thằng An và con Tuyết, ông giam cổ chúng nó lại, cần thiết thì tra tấn xem chúng nó có thông đồng với ai không? Khai thác xong phải trừng phạt thật nghiêm hai đứa này, nếu cần lập hồ sơ và đưa ra toà án quân sự xét xử cho nghiêm. Song ông phải chờ lệnh của tôi, nghe!

- Dạ.

Cang không ngờ Phú lại không hề nổi nóng về cái tin tù trốn trại. Hắn nghĩ có lẽ vì hắn đã khéo dẫn dắt hai ngài tướng lĩnh đến... mê cung với hai cô kiều nữ vùng Cao Nguyên chăng? Hắn đắc ý cười tủm tỉm và đứng lên xin phép Phú lui gót.

Phú gật đầu:

- Thiếu tá cứ như thế mà làm, nghe!

- Dạ.

Cang đã thở phào nhẹ nhõm khi bước ra khỏi Sở chỉ huy của Phú. Về đến nhiệm sở, Cang gọi điện thoại cho thượng sĩ Tùng:

- Tùng đấy hả? Tôi đã trình lên thiếu tướng tư lệnh rồi. Ổn cả thôi. Nhưng anh chuẩn bị sáng mai ra phố tóm cổ cho tôi con mụ Sáu, nó có chồng đi tập kết đấy! Nhất định con mụ này có liên quan đến hai tên tù vừa trốn trại. Con mụ Việt Cộng nằm vùng này sẽ phải khai ra hết! Anh nhớ chưa? Tốt, rất tốt! Cứ thể mà làm. Nghe!

Cang đặt ống nghe.

Hắn đứng dậy, vươn vai, đi đi, lại lại, thở ra khoan khoái như vừa trút bỏ được một gánh nặng trên vai...

 

VII

 

CHIẾC XE TẮC- XI VỪA CHỚM QUỐC LỘ SỐ 1 đã dừng ngay lại theo yêu cầu của Hoà. Anh giúi vào tay tài xế một trăm ngàn đồng:

- Em cám ơn anh Ba nhiều. Từ đây vào Quy Nhơn bọn em sẽ có đứa bạn ra đón. Anh Ba có thể quay lại Plây Cu được rồi.

Anh tài xế bắt tay hai người bạn trẻ sau một chuyến đi với giá cao, vui vẻ quay lại Plây Cu và yên trí rằng hai chàng thanh niên này đang có công chuyện rất gấp mà anh không dám hỏi. Nhớ lại sáng hôm qua Hoà đã ngỏ ý muốn thuê một chuyến xe anh, anh đang ế khách, đã nhận lời ngay và y hẹn đến đón hai chàng trẻ tuổi ăn mặc bảnh bao, lịch thiệp, rồi từ Plây Cu đây, xe anh chỉ chạy hơn hai giờ liền, đã đến ngay quốc lộ số 1. Anh yên tâm quay lại Plây Cu sau khi nhìn rõ hai bàn tay vẫy vẫy từ biệt của Hoà và Tâm.

Chờ cho chiếc xe của anh Ba đi khuất, Hoà mới nói lớn với Tâm:

- Thế là ta đã thoát rồi. Ta sẽ vẫy xe về Phan Rang trước khi trời tối, anh ạ.

Tâm bàng hoàng trước mọi chuyện vừa xảy ra. Lần đầu tiên anh nhìn thấy quốc lộ số 1 sau nhiều tháng ở rừng. Anh thầm cảm phục Hoà, anh bạn đã mạo hiểm cùng anh vượt trại và từ đây anh sẵn sàng đi theo sự hướng dẫn của Hoà. Hoà nói cho Tâm hiểu:

 - Từ giờ phút này, anh cứ yên tâm đi với em. Em không về Sài Gòn đâu vì tên thiếu tá Cang sẽ về Sài Gòn để truy nã em và có thể tống tiền ba má em vì em trốn trại.

- Ta về Phan Rang sẽ tạm lánh ở đâu?

- Ở Phan Rang, em có một người bà con thân thiết. Đó là dì Tám, bạn hàng của má em từ hơn mười năm nay. Dì Tám rất phúc hậu, có tiệm buôn tạp hoá ở Phan Rang. Anh và em hãy cứ về đó ở hôm nay. Em sẽ nói với dì Tám rằng anh và em đều là lính cộng hoà chạy trốn quân dịch. Dì Tám sẽ giúp đỡ em và anh. Sau đó, tuỳ cơ ứng biến và em sẽ nhờ dì Tám bí mật báo tin cho ba má em ở Sài Gòn. Đó là chuyện sau này. Còn bây giờ thì phải tạm lánh ở đây đã. Chưa thể xuất đầu lộ diện được đâu...

Tâm nói:

- Sau khi thấy chúng ta trốn trại, chắc rằng chúng sẽ báo động và bủa vây khắp cả Plây Cu và sẽ sục về Sài Gòn…

 - Vì thế, ta phải ở lại Phan Rang chờ đợi thời cơ thuận tiện...

Câu chuyện còn đang lan man thì một chiếc xe Pho đã chạy tới. Hoà đưa tay vẫy, xe dừng lại ngay. Hoà lên tiếng:

- Cho tôi về Phan Rang, anh Hai!

- Xin mời lên nào!

Cánh cửa xe mở ra. Hoà và Tâm ung dung xách túi lên xe. Cửa xe đóng lại và xe lại bon bon chạy về hướng Nam. Hoà nói nhỏ vào tai Tâm:

- Tên Cang không thể ngờ được chúng ta lại đã chạy khỏi Plây Cu hơn trăm cây số như thế này! Bây giờ, có trời mới biết được chúng ta đang ở đâu và sẽ đi về đâu?

Tâm không giấu nổi vui mừng:

- Em tài giỏi quá! Anh biết lấy gì đền ơn em được?

- Có gì đâu anh! Anh với em còn nhiều công chuyện phải bàn với dì Tám...

Khi mặt trời vừa chìm xuống phía sau ngọn tháp Chàm, chiếc xe Pho chở Hoà và Tâm cũng vừa cập bến Phan Rang Nhanh như sóc, Hoà đã đặt vào tay anh tài xế đủ một trăm ngàn với lời “cám ơn anh nhiều”.

Hai người trẻ tuổi rảo bước vào phố. Ngôi nhà số 20 có lầu 1, đúng là nhà dì Tám đây, tại sao không phải là tiệm tạp hoá mà lại là một quán bán đồ nhậu và hu tiểu Nam Vang? Hoà dắt tay Tâm:

- Anh đi với em, cứ tự nhiên như người nhà nhé.

Hai người bước vào quán nhậu như hai thực khách. Lúc này quán chỉ có hai ông đang ngồi uống rượu ở bàn mé trong bên phải.

Hoà đi thẳng vào bên trái, đến trước quầy của dì Tám. Dì Tám - một người đàn bà mập mạp, phúc hậu, mặc bộ đồ mầu xanh nhạt, chợt nhận ra Hoà:

- Hoà có phải không?

- Dì Tám, dì không nhận ra con ư?

- Có chứ! Cháu ở Plây Cu kia mà!

 - Dạ. Con đi lính quân dịch ở Plây cu hôm nay mãn hạn quân dịch rồi, con được giải ngũ về Sài Gòn, đi cùng với anh Sĩ bạn con đây, tiện đường con ghé thăm dì và chú Tám mà!

Tâm củi đâu chào dì Tám:

- Con chào dì ạ.

- Nghe Tâm nói tiếng Bắc, dì Tám hỏi Hoà: Bạn của con là người Bắc?

Hoà đáp:

- Dạ, anh Sĩ người Hà Nội nhưng có bà con đang ở Sài Gòn, di cư từ Bắc vô năm 54 ạ. Dạ, thưa dì: chú Tám đi đâu ạ?

- Chú đang ở trên lầu, nào mời hai con lên lầu!

Hai anh bạn trẻ theo dì Tám lên lầu. Chú Tám cao lênh khênh nghe tiếng lao xao đã ngó ra và vồn vã ngay:

- Trời ơi! Thằng Hoà! Chú nghe tin cháu đóng quân ở Plây Cu kia mà! Xuất ngũ rồi sao? Lại có cả bạn cháu nữa?

Chờ cho dì Tám, chú Tám cùng ngồi vào xa - lông đối diện với mình, Hoà mới hạ thấp giọng, lễ phép nói:

- Thưa dì, chú: con xin nói thiệt, dì chú thương con cũng như ba má con thương con vậy, con và bạn con đều bị ông Phạm Văn Phú tư lệnh Vùng 2 chiến thuật bắt bỏ tù vì trốn lính. Chúng con lại vừa trốn lần thứ hai, vượt về đây, con xin dì, chú cho hai anh em con được tá túc ở ít ngày trước khi con về Sài Gòn có được không ạ?

Chú Tám đắn đo một chút rồi gật đầu:

- Được! Được mà! Chú là dân bản địa ở đây, quen biết tất cả mấy ông chánh quyền, cảnh sát, ai cũng kính nể dì, chú.

Hoà và Tâm đều mừng. Hoà nói tiếp:

- Thưa chú: bạn của con là anh Sĩ đây là người Bắc, cùng cảnh ngộ như con, anh Sĩ có bà con là dân Bắc di cư năm 54 vô Sài Gòn. Trốn lính, nên hai chúng con đang bị truy nã ráo riết, về Sài Gòn thì sẽ bị bắt trở lại, nên chúng con xin chú và dì cho ở lại đây, làm gì cũng được, phụ bếp, nấu cơm ...

Chú Tám xới lời cười xoà:

- Thiếu gì cách để che giấu các cháu. Cứ ở đây mà! Bây giờ trời tối rồi, các cháu đi tắm rửa, giặt giũ rồi còn ăn cơm. Đi xe đò cả ngày hả?

 - Dạ đi tắc-xi mới nhanh được đến thế. Từ Plây Cu qua Quy Nhơn rồi về đây, trả hết hai trăm ngàn tiền xe cho tài xế, may mà má con lên thăm nuôi tuần trước, cho con tiền, có tiền mới đào thoát được đấy ạ.

Dì Tám:

-  Ở hiền gặp lành, con ạ. Thôi đi sửa soạn đi, tắm giặt rồi còn ăn cơm...

Tâm càng cảm phục Hoà, anh yên tâm có thể ở lại đây với Hoà.

Tắm giặt và ăn cơm tối xong, Hoà và Tâm còn lại một lúc lâu hàn huyên cùng chú Tám trong lúc di Tám chạy ra, chạy vào vừa bán hàng, vừa góp chuyện...

Không khí thân tình trong gia đình mỗi lúc thêm đầm ấm.

Đến 9 giờ tối thì chú Tám đứng lên:

- Các cháu đi nghỉ nhé! Đấy chiếu giường lớn này là của hai cháu, nghỉ đi cho khoẻ, đi xe cả ngày cũng mệt rồi.

 - Dạ.

Hai anh em buông màn, nằm duỗi dài trên chiếc gường rộng Hoà nói:

- Giờ này, chúng nó ở Play Cu tha hồ mà cắn xé nhau vì để xổng hai tù binh nguy hiểm...

Tâm cười thành tiếng:

- “Các anh mày” đã đi xa lắm rồi. Đến Tết, chưa chắc chúng bay đã tìm thấy hai ông anh này, có phải không em?

Hoà cười khúc khích:

- Thằng trung sĩ An và con Tuyết chắc bị bạt tai, đá đít và còng tay quá!

Sẽ là như thế. Ngài Phú tha hồ mà la hét tên Cang ...

Hoà đáp:

- Cha con nó bao che cho nhau dữ lắm mà! Có chết thì chỉ chết thằng trung sĩ An với con Tuyết thôi! Còn em Lệ Ninh đâu có ngờ anh Sĩ lại bỏ trốn!

Tâm cười:

- Cũng phải tạ từ em thôi, mặc dù em cũng thuỳ mị, dễ thương lắm!

Hai anh em rì rầm tâm sự cho đến ngon lành với tiếng thở đều đều khi Hoà ngủ...

Còn lại một mình Tâm cứ thao thức mãi với những ý nghĩ vẩn vơ, mặc dù anh đã cố ý gác lại những suy tư, song không hiểu sao anh chưa thể ngủ được ngon lành. Lo nghĩ đầu tiên là anh sẽ làm sao để tìm về được đơn vị cũ? Có thể thủ trưởng của anh đã hiểu được sự hy sinh của Sĩ và anh đã bị địch cầm tù. Chắc chắn chúng đã chụp được hình ảnh của anh, chúng sẽ tha hồ lợi dụng, tung tin bịa đặt rằng anh đã đầu hàng, đã hồi chánh. Thủ đoạn nham hiểm của địch có thể lừa gạt được những người nhẹ dạ, cả tin, nhưng với đơn vị anh, thủ trưởng của anh đâu đã dễ tin như thế, nhưng anh phải về được đơn vị và được trình bày tất cả sự thật...

Lại còn cha mẹ, anh em và bè bạn ở Hà Nội, anh chưa lập được công mà đã sa vào tay địch và bây giờ lênh đênh trên một nẻo đường chiến tranh, một nẻo đường đất nước chưa sạch bóng quân thù? Làm thế nào góp sức thêm đây? Dù sao anh đã thoát được nhà tù, thoát được đòn tra tấn khi anh không chịu đầu hàng, đầu thú. Có Hoà bên cạnh, anh có một bạn đồng hành, tuy chưa phải là đồng đội song anh tin Hoà đã cố gắng vượt lên số phận, không cam tâm làm một nạn nhân của chiến cuộc, đã tự giải phóng cho mình. Anh phải chung tay, với Hoà trong cuộc vật lộn này. Anh hiểu được rằng ở đâu nhân dân ta cũng anh hùng, ở đâu cũng có những người hướng về kháng chiến như vợ chồng chú Tám, dì Tám và cả gia đình Hoà ở Sài Gòn nữa. Tâm thấy lòng mình được sưởi ấm mặc dù anh đang sống giữa những con người vốn chưa phải là thân nhân của mình. Anh tự thấy có trách nhiệm phải khắc phục mọi khó khăn, vượt lên bão táp, sống sao cho xứng đáng với đồng bào, đồng đội của mình. Đêm Phan Rang càng về khuya càng yên tĩnh. Đôi lúc chỉ còn tiếng xe cơ giới chạy qua đường số 1 về Nam, ra Bắc...

*****

Trằn trọc mãi, đến quá nửa đêm, Tâm đã ngủ thiếp đi được đến gần sáng thì tỉnh dậy khi Hoà cựa mình đụng vào cánh tay bên trái của anh.

Tiếng xe chạy ầm ì ngoài quốc lộ 1 mỗi lúc mỗi dội vào làm cho Tâm và Hoà không thể ngủ được nữa. Nhìn qua cửa sổ, về phía đông, trời đã rạng dần, Hoà ngồi nhỏm dậy hỏi Tâm:

- Anh cần ngủ thêm nữa không

Tâm giụi mắt, ngồi dậy theo:

- Ngủ như vậy là đủ rồi. Cả hai anh em đều nhận biết được hôm nay là ngày thứ hai mình đã được tự do, bên ngoài song sắt nhà tù. Và cũng từ nay hai anh em đã hoàn toàn tin cậy nhau, xoá hết được mọi sự mặc cảm, e dè, nghi kỵ...

Tâm nói với Hoà:

- Từ hôm nay, em đừng gọi anh là Sĩ nữa! Sĩ là tên người bạn đã hy sinh của anh. Tên thật của anh là Lê Văn Tâm...

Hoà ngỡ ngàng:

- Dạ.

Tâm nói tiếp:

-  Hai chúng mình tuy hoàn cảnh có khác nhau, nhưng lại chung một cái đích để phấn đấu: phải thoát khỏi nơi tăm tối đây nguy hiểm. Đến được đây rồi, em sẽ trở lại gia đình. Còn anh, anh sẽ tìm về đơn vị chiến đấu của sư đoàn.

Hoà lắc đầu:

 - Em chưa thể về với ba má được, vì thấy mất em, lập tức chúng nó sẽ về Sài Gòn, dò la tông tích của em và bắt em trở lại. Vì thế em sẽ ở lại đây, nương nhờ dì Tám, chú Tám, có thể còn rất lâu dài. Anh ra đi thì em buồn lắm. Mà từ đây tìm về đơn vị cũ cũng khó khăn, nguy hiểm lắm đấy chứ. Hay là anh cứ ở đây?

- Ở đây thì có thể rất an toàn, song anh còn có nhiệm vụ của người lính, không thể bỏ dở được. Bằng mọi cách, anh phải tìm về đơn vị.

Hoà vén màn, bước ra khỏi giường. Tâm cũng vươn vai đứng dậy. Hai người bước sang phòng khách, pha trà, đốt thuốc, tiếp tục trao đổi.

Hoà chưa hết băn khoăn:

- Em không ngăn cản anh. Em muốn giúp anh, nhưng em sẽ giúp được gì cho anh đây?

- Công việc của anh là tìm hiểu tình hình quân địch ở Plây Cu: nơi đóng quân, hệ thống đồn bốt, quy luật hoạt động. Plây Cu là thủ phủ của Cao Nguyên, nơi có Sở chỉ huy của quân khu 2, có dinh thự của Phạm Văn Phú, tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, có sân bay Cù Hanh, có Lãnh sự quán Mỹ... Em đến Play Cu trước anh hơn một tháng, lại được bổ sung vào liên đoàn quân biệt động trước khi em đào ngũ. Em có thể kể lại cho anh những điều tai nghe, mắt thấy ở Plây Cu, giúp cho anh có một hiểu biết khái quát được không? Vì anh đã bị chúng nó bắt, tức là đã lộ, anh không thể quay lại Plây Cu được. Và để trở về đơn vị cũ, anh sẽ phải về qua ngả đường Kon Tum mới có thể an toàn...

Hoà sôi nổi hẳn lên:

- Em sẵn sàng giúp anh. Một tháng làm lính cộng hoà của liên đoàn biệt động em nghe được nhiều chuyện lắm, lại được tung tăng đi khắp cả thị xã Plây Cu. Con Tuyết chiêu đãi viên, dụ dỗ em, nó kể hết mọi chuyện thối nát của tên thiếu tá Cang, tiểu đoàn trưởng đặc nhiệm của Phạm Văn Phú...

Tâm vui hẳn lên:

-  Hay lắm! Thế thì hay lắm! Em kể đi, anh nghe đây. Anh sẽ có được nhiều điều bổ ích.

Hoà phân trần:

- Thú thực với anh: khi chúng nó đưa anh vào giam chung với em ở phòng 2A, ban đầu em cũng tưởng chúng nó cài anh vào để dò xét thái độ của em ... nên em rất dè dặt.

Tâm cười:

- Thì anh cũng vậy. Lúc bấy giờ anh nào cũng phải giữ gìn. Đâu đã dám thổ lộ hết mọi chuyện khi chưa hiểu hết về nhau, và khi còn nằm trong nanh vuốt kẻ thù?

Hoà:

- Vậy thì hôm nay, em sẽ kể hết mọi chuyện em biết. Anh cứ hỏi, anh cần gì, anh cứ đặt yêu cầu, em sẽ nói hết để anh nghe...

Tâm gật đầu:

- Thật là thú vị. Có lẽ anh sẽ rút ngắn được thời gian tìm hiểu Plây Cu... Em cứ kể chuyện đi! Trước hết là quân lực của chúng nó. Em biết ở Play Cu hiện nay có những đơn vị nào? Nơi đóng quân của từng tiểu đoàn? Hoa bắt đầu kể:

- Em bị ép buộc vào lính và bị đẩy lên Play Cu, em rất lo sợ vì đã bắt đầu mùa khô. Mùa khô là mùa Quân Giải Phóng thường hay đánh lớn nên không khí chiến tranh đã căng thắng ở quân khu 2. Cao Nguyên có một sư đoàn chủ lực để phòng thủ, đó là sư đoàn 23 (còn sư đoàn 22 đóng ở ven biển miền Trung) Sở chỉ huy sư đoàn 23 đặt ở Buôn Mê Thuột với trung đoàn 53, còn hai trung đoàn 44, 45 lại đóng ở Plây Cu. Ngoài sự đoàn bộ binh số 23, tướng Phú còn có 7 liên đoàn biệt động và 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp. Ở sân bay Cù Hanh (Plây Cu) đang có một sư đoàn không quân, chừng hơn một trăm phi cơ các loại, còn một sư đoàn không quân nữa được để ở Nha Trang. Em sẽ nhớ lại và vẽ giúp anh một bản đồ Plây Cu gồm những đường phố chính, đường từ Tổng hành dinh của quân khu 2 ra sân bay Cù Hanh, nơi đóng toà lãnh sự Mỹ, nơi làm việc của CIA, nơi đóng quân của trung đoàn 44, 45. Sau mấy trận pháo kích trước Tết của Quân Giải Phóng, tướng Phú đã phân tán xe tăng, thiết giáp ra nhiều nơi, tất cả đều hướng về rừng núi phía Tây, một số hướng ra đường số 14 đề phòng Quân Giải Phóng đánh Kon Tum, có thể pháo kích hoặc tập kích chớp nhoáng Play Cu rồi lại rút lui.

- Sao em biết được như thế?

 - Dạ, khi em còn ở lính, chưa đào ngũ, chưa bị bắt giam, em thường được đi chơi với mấy đứa bạn, đi khắp cả cái thị xã ấy, rồi con Tuyết, có lẽ nó mê em nên cứ toang toác cái mồm khoe với em mọi chuyện ...

- Cả chuyện của ông thiếu tá Cang?

- Có. Cang là tiểu đoàn trưởng đặc nhiệm, cận vệ của Tổng hành dinh tướng Phú. Cang là cánh tay phải của Phú, là ma - cô dẫn gái cho Phú. Cang cho người về Sài Gòn, yêu cầu ba má em phải nộp cho y đủ 5 cây vàng mới cho má em lên thăm nuôi em và còn đòi đủ 10 cây nữa mới xin cho em về Sài Gòn làm lính kiêng.

- Vì sao má em không chấp nhận?

- Gay lắm anh ơi! Buôn bán bây giờ ở Sài Gòn đầu có dễ. Với lại có thể bị nó lừa. Nó lấy vàng rồi kêu khó khăn hoặc cứ đòi thêm mãi thì sao? Về Sài Gòn, ở đó là quân khu 3, do tướng Nguyễn Văn Toàn làm tư lệnh. Ông tướng xôi thịt này mập như con heo, vừa bị đá khỏi Cao Nguyên, về Sài Gòn đút lót cho bà Sáu Thiệu thế nào mà lại được làm tư lệnh Vùng 3 chiến thuật. Có lẽ phải đút cả trăm cây vàng chứ ít gì! Em nghe lính nó kháo nhau các ký giả Sài Gòn ra “Bản cáo trạng số 1" tố cáo tham nhũng có nói đến cả tướng Toàn ăn chặn lương của lính chết, lính bị thương, khai man quân số để lấy tiền xài, lại hiếp dâm gái vị thành niên, xạo với con Tuyết, bây giờ nó mới nói ra. Ngài thiếu tá Cang còn tệ hơn nữa, ỷ thế ông Phú, quát nạt đủ thứ, cho lính mở sòng bạc sát phạt lẫn nhau để ông ấy thu tiền hồ. Ở trại con gái, mấy con nhà thổ cũng phải “cúng” cho thiếu tá Cang đủ thứ thì mới được yên thân hành nghề mại dâm cho lính.

- Còn lính mới đào ngũ như em thì sao?

-  Tháng trước có hơn một trăm đứa trốn lính. Chúng nó đi thoát được một nửa. Một nửa bị bắt trở lại. Đứa nào có tiền đút lót thì không bị đánh. Như em, chúng nó biết ba má em có tiệm buôn ở Sài Gòn thì giam riêng, “biệt đãi” để đòi đút lót nhiều hơn.

Tâm lại nắm chặt tay Hoà:

 - Anh cám ơn em nhiều. Anh đã nhớ những điều em vừa nói. Em vẽ thêm cho anh một bản đồ Play Cu. Anh sẽ vẽ lại và đem về đơn vị.

- Ngày nào anh đi?

- Anh sẽ cố gắng đi sớm nhưng đi công khai từ đây về Quy Nhơn rồi theo đường 19 về Kon Tum qua đường 14 nữa, cũng xa và vất vả đó, nhưng anh đi được càng sớm, càng hay, lại phải có giấy tờ căn cước hợp lệ. Có thể nhờ chú Tám lo giấy tờ được không nhỉ?

Hoà đáp gọn:

- Khỏi lo, chú Tám là dân bản địa ở đây mà. Còn tiền đi đường, em sẽ giúp anh, em còn đủ cho anh. Thiếu thì sẽ có chú Tám cho thêm...

Tâm có cảm giác như đang sắp được tự do tung cánh về rừng. Thì ra Hoà đã tích luỹ được những điều mà anh chưa có, lại đang cần phải “nhập tâm” để đem về đơn vị. Hoà có trình độ văn hoá trung học phổ thông, lại đang chán ghét bọn sĩ quan tướng tá nguy. Đích thực, Hoà là con nhà lành rồi, ít ra thì Hoà cũng có ba là nhà giáo, mẹ là nhà buôn và chị Hiền là sinh viên Văn khoa kia mà!

Hiểu biết của Hoà tuy bé nhỏ mà lại có ích, nếu Tâm biết góp nhặt lại, có thể giúp cho đơn vị của anh những điều đang rất cần cho cuộc chiến đấu của Quân Giải Phóng.

Hoà và Tâm cùng nhìn ra phía bờ biển. Mặt trời đang tắm nắng chân mây xa. Một ngày mới đây hy vọng lại bắt đầu.

 

VII

 

NHỮNG BÔNG HOA CUỐI CÙNG ĐÃ NỞ RỘ NHỮNG trên cành hoa mai trong phòng khách của thiếu tung tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật.

Cuốn lịch năm 1975 trên tường cũng đã bóc tới anh ngày mồng 5 tháng giêng âm lịch.

Ngồi đối diện với Phạm Văn Phú hôm nay lại là nhà báo Lãng Tử, một người mà Phú thường gọi là hiền huynh trong những lúc trà dư, tửu hậu.

Phú rót đầy hai ly rượu Hoàng Cúc:

- Nào xin mời hiền huynh!

Lãng Tử nâng ly rượu cụng ly với Phú:

- Xin cảm ơn, xin mời!

Phú nói thật điềm đạm:

- Mấy hôm trước Tết, sau Tết, tôi bận tối mắt, tối mũi lo việc phòng thủ Plây Cu, Kon Tum, cũng may mà đối phương không pháo kích nên cũng tạm thời được ăn Tết yên ổn...

Lãng Tử:

- Tôi cũng biết vậy, cũng mừng cho ông ở nơi đầu sóng, ngọn gió này. Cao Nguyên này mà bất ổn thì Sài Gòn cũng không thể ngồi yên được. Ông Thiệu, ông Kỳ, ông Trần Thiện Khiêm, ông Cao Văn Viên, ông Đặng Văn Quang phải cám ơn ông Phú nhiệt liệt mới phải chứ!

Phú cười;

-  Các “xừ” ấy có điện lên tới tấp, lại gửi thiếp chúc Tết, rồi bánh chưng, bánh tét, dưa hấu, lê, táo, sâm-banh, bích-quy, bò, gà, dê, nai đủ cả cho tôi, nhưng tôi có đụng đũa đâu. Đến hôm nay ngồi được ở đây với hiền huynh là tôi mừng lắm rồi. Ta có thể ngâm cho nhau nghe một vài vần thơ hoặc xướng hoạ mà không lo đại bác nổ trên đầu...

Lãng Tử đặt ly rượu xuống bàn:

 - Ở Sài Gòn, tôi có mấy ông bạn là Mạnh Thường Quân, song ông cho phép tôi được nói với ông hôm nay thật chân tình nhé...

- Ông cứ nói.

- Tôi không nịnh ông, mà phải nói thật lòng với ông: Phạm Văn Phú mới là Mạnh Thường Quân số 1 của Lãng Tử! Đọc truyện Tàu, chắc ông chưa quên thời Xuân Thu, Chiến Quốc có chuyện chiêu hiền đãi sĩ của thái tử Đan nước Yên?

- Có, tôi có nhớ...

- Thái tử Đan dung nạp Phàn Ô Kỳ là tướng nước Tần chạy sang xin đầu hàng để báo thù. Thái tử Đan còn đặc biệt ưu đãi tráng sĩ Kinh Kha trước khi Kinh Kha qua sông Dịch Thuỷ đến Hàm Dương hành thích vua Tần... Cảm kích trước tấm lòng quý trọng người hiền của thái tử Đan, Kinh Kha đã xông lên chín bậc cung điện để giết Tần Thuỷ Hoàng, mưu trừ đại hoạ cho dân, song việc lớn đã không thành. Kinh Kha đã phải hy sinh, nát thân trước điện nhà Tần, song tiếng thơm còn lưu lại đến ngàn đời sau...

Phú gật đầu:

- Đúng vậy. Nhưng tôi tự biết mình chưa thể sánh với thái tử Đan được. Mà nói như cụ Tam Nguyên Yên Đỗ thì… “Cúi trông thẹn đất, ngửa trông thẹn giời!” Phú còn hèn lắm, Phú chưa làm được cái gì với bạn đâu...

Lãng Tử lắc lư cái đầu:

- Thì tôi đây cũng chưa thể bén gót được Kinh Kha. Nhưng tại sao tôi lại kể chuyện Kinh Kha với ông? Vì tôi thấy ông bận trăm công, ngàn việc tầy đình, mà ông vẫn không quên tôi, tôi chỉ là anh nhà báo quèn “Sinh bất phùng thời”, lên đây lánh nạn, ông lại bao dung, đặt tôi vào hàng tân khách...

Phú vẫn ôn tồn:

- Phải nói Lãng Tử là thượng khách của Phú mới đúng. Người ta ở đời có gặp gian nan mới hiểu được lòng nhau chứ! Ông cho tôi được “ôn cố tri tân”, có ôn việc cũ mới biết được việc mới: tôi bị Việt Minh bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, được trao trả tù binh, tôi xuống tàu há mồm, làm một chuyến di cư, theo binh nghiệp và nay đã lên tới thiếu tướng tư lệnh cấp vùng. Ông là một trong những bạn cố tri, chia sẻ buồn vui với tôi nên tôi rất quý ông. Tôi đã có vợ đẹp, con khôn, nhà lầu, xe hơi, chức trọng, quyền cao, song lại có được người bạn hiền như ông, thật không phải dễ mà ai cũng có thể có được? Ông cứ ngẫm mà xem tôi nói có đúng không?

Lãng Tử gật gù:

- Đúng lắm! Rất đúng! Chiều 30 Tết, tôi uống rượu say một mình, ông lại thương tôi cô đơn, ông đã cho em Lệ Ninh đến ở cùng tôi. Với tôi thì Lệ Ninh là nàng Tây Thi của Phạm Lãi xưa rồi đó!

Phú cười vui:

- Lệ Ninh là chiêu đãi viên số 1 đó. Con bé dịu hiền và chiều ông hết mình phải không?

- Đúng thế!

- Ông cứ giữ em Ninh lại ở với ông cho vui. Một cô nàng lịch sự, văn minh, một cô gái xứ Bắc, gốc Hà Nội Lê đó. Nàng là con gái đất Tràng An hào hoa, phong du nhã....

-  Tôi cảm ơn ông nhiều. Lệ Ninh có thể còn ở với tôi được nhiều ngày. Thú thật với ông: không hiểu sao cái Tết này tôi buồn quá? Có phải chiến cuộc đang có nhiều biến động gay gắt không? Những năm đánh Pháp ở ngoài Bắc tôi đã không có gan chịu đựng gian khổ ở chiến khu Việt Bắc nên mới “dinh-tê” về nội thành Hà Nội, sống với văn chương lãng mạn. Khi kháng chiến trở về, bạn bè ai cũng có phần vinh dự của chiến thắng. Tôi thấy xấu hổ quá, tủi nhục và bẽ bàng nữa, thế là tôi theo các ông xuống tàu há mồm làm một cuộc di cư vào Sài Gòn cho đến ngày nay. Vũ Hoàng Chương là thi sĩ nổi tiếng một thời, anh ấy có câu thơ thế này:

 “Uổng sinh thời loạn lạc

Xót mệnh vong quốc nô!"

Rồi lại than thân:

“Áo vải, mộng công hầu,

Vinh quang: đường lối khép,

Thẹn trước, thương về sau,

Đời tàn trong ngõ hẹp!"

Tâm trạng của Lãng Tử lúc này có khác chi tâm trạng Vũ Hoàng Chương? Lại rất giống Đinh Hùng nữa! Đinh Hùng cũng là nhà thơ nổi tiếng, lại là anh vợ của Vũ Hoàng Chương! Bế tắc lắm ông ạ.

Phú an ủi bạn:

- Nếu ông ở đây buồn, ông có thể đi Đà Lạt với em Lệ Ninh? Tôi sẽ sai thằng Cang bố trí một chuyến xe đưa ông đi Đà Lạt. Khi nào cần trở lại Plây Cu, ông lại “phôn” cho tôi, tôi sẽ cho lính lên đón ông về.

Lãng Tử suy nghĩ một lát, mới hỏi:

- Buồn thì ở đâu tôi cũng buồn, nhưng tôi không buồn để chết đâu! Tôi có buồn mới viết văn, làm thơ được và rất an phận nghèo nàn. Được ông bao dung thế này thật là quý hoá vô cùng. Chiến sự lại đang gay.

- Khỏi phải nói lại điều đó. Song với ông, tôi phải nói thật: ngày 6 tháng 1 - 1975 vừa qua, trước Tết, Việt Cộng đã tái chiếm Phước Bình, tỉnh lỵ của Phước Long rồi. Quốc Gia không đẩy lui được, đành chịu để mất Phước Long. Đài Hà Nội đang rùm beng về chuyện đó. Song, ông Thiệu lại nhận định rằng: Việt Cộng mới chỉ có khả năng đánh chiếm thị xã nhỏ bé như Phước Bình (Phước Long) được thôi, nếu đụng đến đô thị lớn thì sẽ bị đánh bại ngay! Cho nên, với Plây Cu và Kon Tum, Việt Cộng và cả Bắc Việt nữa, cũng mới chỉ pháo kích “gãi ngứa” ta thôi! Tuy nhiên, tôi dự đoán, sau Tết, chỉ ít ngày nữa thôi - hôm nay mới là mồng 5 Tết - có thể ngoài mồng 10, họ lại pháo kích vào Cù Hanh, sân bay quan trọng của ta. Ông đang cần yên tĩnh để sáng tác văn thơ, ông nên đi Đà Lạt với em Ninh. Tôi xin bao tất cả, ông sẽ ở khách sạn Pa-lát-xơ, Mộng Điệp hay Ngọc Lan, nơi nào cũng là khách sạn loại sang cả. Tôi sẽ “phôn” cho “xừ” đại tá tỉnh trưởng trên đó. Nó phải lo bảo vệ an toàn cho ông và em Ninh. Hàng ngày ông có thể nói chuyện đàm thoại với tôi được. Tôi dự kiến như thế có được không?

Lãng Tử:

- Được lắm. Ý ông rất hợp với ý tôi.

- Vậy thì ngày mai mồng 6, ngày lành tháng tốt, ta lại có thể “tiễn đưa một chén quan hà” được chăng?

-  Được đấy!

- Thế thì ông “lệnh” cho em Ninh để em chuẩn bị đi với ông. Còn tôi, tôi sẽ “lệnh” cho thằng Cang chuẩn bị xe cộ, lấy cái xe Méc-xê-đéc của tôi đưa ông và em Ninh đi. Chừng 9 giờ khởi hành là vừa đẹp: sẽ đến nơi lúc 3 giờ chiều...

Lãng Tử nắm chặt tay Phú:

- Thay mặt cho em Ninh, tôi cám ơn ông nhiều, nhiều lắm:

Phú cười xoà:

- Lại khách khí rồi!

-  Không phải đâu! Tôi không thể không cám ơn ông suốt đời!

Lãng Tử đứng lên, trở về căn nhà rỗng mà Phú đã có nhã ý để cho ở với cô gái có tên là Ninh.

Buổi tối, cơm nước xong, Phú lại tìm đến chỗ ở của Lãng Tử:

- Này ông Lãng Tử, ngày mai, ông đi Đà Lạt rồi, tối nay tôi cần phải đàm đạo với ông một hồi nữa thì mới yên lòng được...

- Tôi rất sẵn sàng. Ông cứ nói...

Phú suy nghĩ một lát, rồi hỏi:

- Ông đã nghe đài Hà Nội, đài Giải Phóng của Việt Cộng, đài Sài Gòn của ông Thiệu, đài BBC của Anh quốc, đài Tiếng nói Hoa Kỳ của Mỹ, theo ông thì tình hình chiến cuộc ở Việt Nam cộng hoà sẽ ra sao? Nên Đệ nhị cộng hoà của ông Thiệu sẽ ra sao? Khả năng tái chiếm lãnh thổ và thực thi hoà ước Pa-ri sẽ ra sao?

Lãng Tử kêu lên:

- Tôi làm sao có tài như Khổng Minh được? Song cứ như tôi biết thì Mỹ rút đi và ông Pho tổng thống Mỹ mới lên cầm quyền, chưa kịp viện trợ 300 triệu Mỹ kim cho ta thì ta lấy tiền đâu, vũ khí đâu mà tái chiếm lãnh thổ?

Phú nói giọng bi đát:

- Lính mới thì đào ngũ nhiều. Ở đây lính người Thượng thì ú ở quá. Tôi sắp treo cổ một thằng trung sĩ vì nó rượu chè bê tha để xổng mất hai tên tù binh hồi trong Tết...

- Vậy, nên làm gì, theo ông?

- Đành phải chờ đợi và kêu to lên để ông Pho phải cho thêm tiền. Sau khi mất Phước Long, ông Thiệu đang la ó om sòm, đặt vấn đề với Mỹ: nếu không tiếp tục viện trợ cho Việt Nam cộng hòa thì Việt Cộng và Bắc Việt sẽ thôn tính hết miền Nam. Ông Thiệu còn phao lên: nhiều sư đoàn Bắc Việt đã luồn sâu vào hậu cứ của Việt Nam cộng hòa, sẽ đánh lớn ở quân khu 1, quân khu 2. Ông thấy thế nào?

Lãng Tử trầm ngâm rồi nói:

- Đã đánh nhau thì chớ có chủ quan. Cao Nguyên của ông ở đây là thành đồng vách sắt bảo vệ cho Sài Gòn, Cần Thơ, ông phải yêu cầu ông Thiệu chi viện tối đa cho Cao Nguyên: pháo binh, cơ giới, máy bay và lính bộ binh. Phải có quả đấm thép mới giữ được Plây Cu, Kon Tum. Tại sao ông lại chỉ để một sư đoàn 23 ở đây và một sư đoàn 22 ở Bình Định canh giữ suốt một dải miền Trung? Theo tôi, ông phải có ít nhất 2 sư đoàn tinh nhuệ nữa!

Phú lắc đâu:

- Tôi đã nói với “xừ” Đặng Văn Quang. Quang hứa xin ông Thiệu, nhưng chưa có gì cả!

- Cứ như thế thì có lẽ phải đợi đến khi Kon Tum, Plây Cu bị đánh dữ dội, ông Thiệu mới tỉnh ra chăng?

- Hình như ông Ma-tin đại sứ Mỹ cũng bất lực? Ông có lên đây với tôi, ông mới thấy tôi đang bí đến như thế nào? Khó khăn vô cùng mà cứ bảo tôi khắc phục, khắc phục làm sao đây? Chắc rằng nay mai tôi sẽ còn vất vả lắm...

***

Sáng hôm sau, tiễn Lãng Tử ra xe đi Đà Lạt với Lệ Ninh rồi, Phạm Văn Phú quay về Sở chỉ huy với nét mặt đăm chiêu khác thường. Hắn gọi điện mời tham mưu trưởng đại tá Lê Khắc Lý sang phòng làm việc.

Lý hơi sửng sốt:

- Có gì khẩn cấp đó, anh?

- Hôm nay là mồng 6 Tết âm lịch rồi. Ta lại phải xắn tay áo lên mà đối phó với hai sư đoàn Bắc Việt. Tôi sẽ cho bắn pháo dữ dội hơn và ném bom huỷ diệt những điểm chung quanh đây và chung quanh Kon Tum để “phòng thủ từ xa”. Sau thoả ước Pa-ri, quân Mỹ rút đi, Việt Cộng lại có thêm dân, thêm đất mà họ gọi là “vùng giải phóng được mở rộng”. Thám báo của ta cho biết họ đang có dân công sửa đường chuẩn bị đánh lớn vào mùa khô chăng? Lại có cả mít tinh của dân chúng hoan hô bộ đội về giải phóng Kon Tum nữa chứ! Ông thấy thế nào? Có đáng lo ngại không?

Lý chậm rãi đáp:

- Đáng ngại lắm chứ! Làm tướng chỉ huy mà chủ quan là điều cấm kỵ. Ở Plây Cu, Kon Tum ta có lực lượng mạnh, quân đông, xe pháo rất nhiều, lại cả một sư đoàn không quân với hơn trăm máy bay, ta thừa sức đánh lại. Theo tôi, ta nên đánh tiếp, đánh phủ đầu cho đối phương biết rằng nếu họ húc vào Plây Cu, Kon Tum là sẽ húc đầu vào đá! Họ có thể chiếm Phước Long nhưng đừng có hòng mon men đến đây. Họ có giỏi lắm thì cũng chỉ đánh theo kiểu quấy rối và như họ nói để “tiêu diệt sinh lực địch" là chính. Họ đã thất bại ở thành cổ Quảng Trị rồi, chắc họ không dại gì mà lại đánh Plây Cu.

Phú lắc đầu:

- Hôm qua tôi hỏi ý kiến ông chuẩn tướng Phó tư lệnh Trần Văn Cẩm thì ông Cẩm lại có ý kiến hơi khác ông Lý đấy!

Khác như thế nào?

- Ông Cẩm dự đoán thế nào đối phương cũng đánh Kon Tum và Plây Cu. Nếu họ không giữ được thì cũng phá ta dữ dội hơn để đạt hai yêu cầu lớn của họ là: tiêu hao sinh lực ta và mở rộng vùng giải phóng ở Cao Nguyên này! Nếu họ đạt được hai yêu cầu đó thì ta lại thua họ, co cụm lại mùa khô này để mùa khô 1975-1976 ta sẽ thua thiệt nhiều hơn nữa. Cho nên, theo tôi nếu chỉ có bắn pháo và ném bom cũng chưa đủ mà ta phải tung quân đánh rộng ra, đẩy lùi cả hai sư đoàn 320 và sư đoàn 10 ra khỏi Cao Nguyên này. Có làm được như vậy, ta mới ăn ngon, ngủ yên được chú!

Lý sáng mắt lên, đáp:

- Nếu ta cố gắng đạt được như vậy thì thật là lý tưởng!

Phú phác một cử chỉ hăng hái:

- Ông trung tướng tư lệnh cũ Nguyễn Văn Toàn không làm được, nhưng Phạm Văn Phú sẽ làm và phải làm cho bằng được. Các ông nên nhớ, cuộc chiến giữa ta và đối phương là một mất một còn. Ta có binh lính nhiều, có vũ khí mạnh, có xe tăng, máy bay mà lại cứ ngồi ôm đầu cho họ đánh hay sao? Tôi thấy xấu hổ lắm. Bạn tôi, ông biết đấy: nhà báo Lãng Tử ở đây mấy tháng nay, tìm hiểu thực tế, cũng khuyên tôi nên xin ông Thiệu cho thêm ít nhất hai sư đoàn nữa để giữ Cao Nguyên...

- Hình như ông Lãng Tử mới đi Đà Lạt?

- Ông ấy đi rồi! Đi thay đổi không khí ít ngày rồi lại sẽ trở về đây...

Nhìn lên tấm bản đồ chiến sự treo trên tường, Phú nói tiếp:

- Cao Nguyên này là giang sơn của ta, phải giữ lấy ông ạ. Để mất Cao Nguyên là sẽ mất hết, ông Thiệu cũng thống nhất nhận định như thế mà!

Lý hỏi lại:

- Như thế nghĩa là ta sẽ tung quân ra đánh trước?

Phú gật đầu:

- Đúng thế! Tôi sẽ lệnh cho đại tá Phạm Duy Tất chỉ huy biệt động quân đưa hai liên đoàn số 4 và số 6 đánh ra vùng Việt Cộng mới lấn chiếm của ta. Ta sẽ dùng cả không quân ném bom trước rồi xe tăng, đại bác và quân biệt động đi sau, đánh giãn chúng nó ra. Phải thực hiện đốt sạch, cướp sạch, giết sạch! Ông thúc giục mấy anh chiêu hồi phối hợp phủ dụ dân chúng lôi kéo họ về với chánh nghĩa quốc gia, nghe!

 - Dạ. Điều đó tôi sẽ làm ngay.

***

Bàn bạc với Lý xong, Phú lại gọi thiếu tá Cang lên nhận lệnh:

- Ba việc tôi giao, ông làm đến đâu rồi?

- Cang lễ phép thưa:

- Dạ. Việc thứ nhất: khai thác thằng trung sĩ An, tôi đã đánh nó đến ngất xỉu, nó vẫn không nói gì thêm và chắp tay lạy xin tha chết. Tôi đã bắn bỏ, cho tất cả những đứa khác phải xanh mặt...

- Tốt! Còn con mẹ nghi vấn ta bắt?

- Dạ. Tống giam và thông báo cho 20 gia đình Việt Cộng nghi vấn khác biết để răn đe.

- Tốt! Còn số “hàng” từ Lào đưa sang?

- Dạ. Tôi đã nhận đủ 500 ký thuốc phiện, 2 ký bạch phiến để sớm mai đưa đi Sài Gòn.

- Tốt! À còn con Tuyết?

- Dạ, tôi đã tống nó xuống trại con gái làm đồ giải trí cho đám lính người Thượng

- Được đấy! Nay mai biệt động quân của ta sẽ đánh rộng ra. Đối phương có thể còn bắn phá Plây Cu, nhất là sân bay Cù Hanh. Ông phải chú ý tăng cường bảo vệ Sở chỉ huy của tôi và tất cả các mục tiêu của ta có thế đã lộ đối với hai thằng tù binh đã trốn thoát. Chúng nó trốn thoát đi đâu nhỉ? Cửa nào ta cũng chốt chặn ngày đêm, nó “bay” đi ngả nào? Có thể chúng nó còn chui rúc ở đâu đó ngay trong thị xã này thì sao? Ông phải cho mật vụ, thám báo theo dõi hai cái thằng này!

-  Dạ.

Xế trưa, Phú mới về đến tư dinh.

Ngọc Ngà nũng nịu:

- Em thấy cưng bữa nay có điều chi không vui có phải không?

Phú gật đầu:

- Hết Tết rồi, chiến sự lại rộ lên nay mai, anh là tư lệnh, còn phải lo nhiều công chuyện...

Ngọc Ngà không dám hỏi gì thêm, chỉ ngả đầu vào vai Phú và khép cửa lại

 

IX

 

KHÁCH SẠN PA-LÁT-XƠ TOẠ LẠC TRÊN MỘT ngọn đồi nhìn thẳng xuống hồ Xuân Hương.

Về tháng này, tháng giêng âm lịch, buổi sớm và buổi tối ở đây còn lạnh tới 16-17độ C.

Buổi tối vừa tới Pa-lát-xơ, Lãng Tử đã cùng Lệ Ninh ở một phòng trên lầu 1.

Người quản lý khách sạn cho biết: hôm nay cũng chỉ có 20 phòng có khách. Quá nửa số phòng còn vắng. Lệ Ninh thực sự cảm động khi biết rằng Lãng Tử quả là thượng khách của thiếu tướng tư lệnh Phạm Văn Phú, được lên đây ở không điều kiện, nghĩa là: muốn ở khách sạn nào cũng được và muốn chi tiêu bao nhiêu tiền cũng không hạn chế, thiếu tiền thì cứ “phôn” về cho Phú biết; nghĩa là Ninh và Lãng Tử có thể xài tiền đến... mệt nghỉ!

Đêm nay Lệ Ninh đã lại nằm trong vòng tay của Lãng Tử. Cô đắn đo hỏi:

- Anh ơi! Anh thương em thực sao?

Lãng Tử vuốt tóc Ninh:

- Anh thương em thật mà. Một tháng nay, gặp em ở Plây Cu, anh muốn em sẽ ở bên anh mãi mãi và thực tế thì hai đứa chúng mình cũng đã có nhau dưới mái nhà rông ở Plây Cu và bây giờ là ở Đà Lạt. Anh muốn em sẽ thôi không làm chiêu đãi viên nữa, có được không? Cũng như cô Ngọc Ngà đã bỏ vũ trường Ha-oai ở Nha Trang mà lên ở hẳn với ông Phú tại Plây Cu đó...

Lệ Ninh nép mình vào Lãng Tử: Hạnh phúc đến với em thật không ngờ, em thì cam chịu phận hèn kém, nhưng anh thì còn danh vị, còn sự nghiệp văn chương của anh, nếu sau này vì lẽ nào đó, em không lấy được anh, thì em sẽ đau khổ biết chừng nào? Cho nên em chỉ biết vâng lệnh ông thiếu tướng, đi hầu hạ anh thôi, được anh thương em thấy đã là hạnh phúc lắm! Còn được làm vợ anh ư? Chuyện đó, nằm mơ, em cũng chưa có được!

Lãng Tử ngồi nhổm dậy và Lệ Ninh cũng ngồi dậy theo anh vì cô biết anh sắp nói một điều gì thật quan trọng. Cô chờ đợi không lâu, Lãng Tử đốt một điếu thuốc lá, hút một hơi dài rồi nói giọng trầm trầm:

- Anh muốn em xoá hết mặc cảm đối với anh. Anh là nhà báo, nhà văn sống giữa Sài Gòn 20 năm nay, anh không thuộc một nhóm chính trị nào, anh luôn giữ cho ngòi bút của anh là ngòi bút trung lập, lấy việc viết văn, làm thơ làm lẽ sống thanh cao. Vì vậy anh vẫn nghèo, trong lúc người ta chạy áp-phe, nhiều người trở nên giàu có. Còn những người như ông Phạm Văn Phú thì khỏi phải nói đã là... “nhà binh triệu phú” rồi. Vừa qua, anh được Phú cưu mang vì hồi xưa có quen nhau ở Hà Nội rồi di cư khi đất nước chia làm hai miền. Anh nghèo nhưng sống tốt, sống đẹp nên bạn bè anh ở Sài Gòn đều quý mến anh, họ sẵn sàng làm Mạnh Thường Quân giúp anh những khi anh nghèo túng. Chẳng lẽ anh cứ lăn lóc mãi sao? Anh thèm khát một mái ấm gia đình, anh đã tiếp tục với đôi ba người bạn gái mà sao anh chưa thấy mình có thể dừng bước với một người nào. Có lẽ là chưa hợp tính nết chăng? Họ đến với anh rồi họ lại ra đi! Chỉ có em, anh không hề nói xạo, em đã có một sự truyền cảm đến lạ kỳ làm xao động lòng anh những ngày đầu ở Plây Cu. Em chưa có cái đẹp rực rỡ của Ngọc Ngà, song em lại có cái duyên đằm thắm, một vẻ đẹp thầm kín làm cho anh phải đam mê... Anh nói thế, em có tin anh không?

Lệ Ninh cúi mặt, đôi mắt càng bâng khuâng:

- Em tin. Em cám ơn anh nhiều.

Lãng Tử ôm ngang vai cô gái:

 - Anh không muốn áp đặt một điều gì đối với em. Còn nhiều thời gian để em suy nghĩ về anh trước khi em đi đến một quyết định một việc rất hệ trọng đối với anh và em.

Lệ Ninh nhỏ nhẹ:

- Anh định ở Đà Lạt bao lâu? Tuỳ em. Khi nào ta thấy cần phải xê dịch đi nơi khác thì anh và em sẽ đi. À ngày mai, anh sẽ dẫn em đến thăm một ông anh họ của anh quê gốc Thái Bình. Ông ấy nguyên là công chức làm việc từ thời thuộc Pháp ở Sở địa chính Hà Nội di cư vào Sài Gòn năm 1954 rồi lên Đà Lạt làm việc một thời gian, nay ông bà ấy quay về mở tiệm ăn ở gần chợ Hoà Bình. Em sẽ thấy một gia đình rất nền nếp, rất hạnh phúc, rất lý tưởng. Anh cũng muốn có một mái ấm gia đình như vậy.

Lệ Ninh hỏi:

- Anh sẽ giới thiệu em với ông bà ấy như thế nào?

-  Là bạn của anh? Hay là... vợ sắp cưới?

Lệ Ninh lắc đầu:

- Anh chỉ nên giới thiệu em là cô bạn nhỏ tuổi thôi, em hay mắc cỡ lắm đó.

Lãng Tử cười:

-  Tuỳ em! Anh sẽ làm theo “lệnh” của em mà!

Hôm sau, Lãng Tử đã đưa Lệ Ninh đến tiệm ăn Hoàn Mỹ. Ông Trọng Đạt, chủ tiệm ăn không khỏi ngỡ ngàng khi đột nhiên gặp lại Lãng Tử:

- Kìa chú! Lên đây từ bao giờ mà không hề báo cho tôi biết trước?

- Dạ. Em mới lên tới đây chiều qua.

- Chú ở đâu? Và lại đi với...

-  Dạ, em ở ô-ten Pa-lát-xơ và em xin giới thiệu với anh: Lệ Ninh, bạn em từ Sài Gòn lên...

Lệ Ninh cúi đầu chào ông Trọng Đạt.

Ông Đạt bắt tay cả hai người:

- Mời cô chú vào chơi!

Bà Lan Hương, vợ ông Trọng Đạt cũng vồn vã:

-  Kìa chú! Chú lên bao giờ mà bây giờ mới tới thăm anh chị? Lãng Tử lại phải nhắc lại câu trả lời ông Đạt, bà Lan Hương cũng hiểu ra ngay:

-  Nhà văn, nhà báo các chú là thường dành cho thiên hạ những điều bất ngờ...

Lãng Tử càng vui:

- Dạ, chị, anh tha lỗi cho em, em cứ lang thang suốt đời. Hôm qua bạn em, cô Ninh đây muốn đi chơi Đà Lạt, thế là em lấy xe của một tên bạn đưa cô Ninh lên đây...

Ông Đạt hỏi:

- Ông bạn nào đấy? Ở đâu?

- Dạ, xe Méc-xê-đéc của Phạm Văn Phú ở Plây Cu.

Ông Đạt hơi giật mình:

- Phú nào? Có phải Phú thiếu tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật không?

- Dạ, phải, Phú cũng người Bắc ấy mà, hắn quen em từ ngoài Hà Nội. Hắn di cư vào đây, theo đuổi binh nghiệp, lấy vợ Hoa Kiều Chợ Lớn, trở nên giàu có, thuộc cánh tướng trẻ của ông Thiệu đó!

Ông Đạt thản nhiên:

- Tôi biết! Rất biết về lai lịch của Phú.

Lệ Ninh ngồi bên cạnh bà Lan Hương cứ im lặng nghe chuyện của hai người. Cô ăn mặc kín đáo và giữ được vẻ đoan trang, nên gây được cảm tình đẹp ngay với ông bà chủ tiệm ăn. Lãng Tử thấy cần phải giới thiệu một đôi chút về Lệ Ninh với ông Đạt và bà Hương.

Thưa anh chị: Lệ Ninh cũng là người Bắc, quê Nam Định, di cư theo gia đình vào Nam năm 1954, Ninh kém em một giáp, thật thà lắm nhưng lại vụng về, chỉ được cái là rất hợp với tính tình của em...

Ninh càng nghe Lãng Tử giới thiệu, càng thầm cảm phục tài hư cấu của nhà văn. Cô mỉm cười im lặng. Không khí gia đình mỗi lúc mỗi thân mật thêm với câu chuyện hàn huyên giữa hai anh em họ gần kề.

Lãng Tử nhìn quanh nhà:

- Cháu Đức đi chơi đâu ạ?

Đức là con trai độc nhất của ông Đạt. Ông Đạt lắc đầu, nói giọng buồn buồn:

- Cháu Đức của chú năm nay tròn 18 tuổi, mới bị động viên quân dịch rồi. Nó vào lính, tôi mất khối tiền lo lót mới xin cho nó được một chân lái xe vận tải của Liên đoàn quân biệt động ở Đà Nẵng, thuộc quyền ông tướng Ngô Quang Trưởng đấy! Nếu không lo lót thì nó lại bị tống ra mặt trận, nguy hiểm lắm. Ra Huế hay ra Quảng Trị thì... dễ chết lắm!

- Thưa anh, cháu Đức có thỉnh thoảng được về thăm anh chị không ạ?

Ông Đạt lắc đầu:

- Nó mới vào lính được 6 tháng, chưa về lần nào. Chỉ gửi thư về thôi. Tôi cứ phải viết thư động viên nó và gửi tiền cho nó tiêu thêm. Lương lính mới có bao nhiêu đâu!

Lãng Tử an ủi ông Đạt:

- Cũng đành phải vậy thôi anh ạ. Rồi để lo lót dần dần, xin cho cháu về gần nhà hoặc sau nại ra một chứng bệnh nào đó mà xin cho cháu xuất ngũ…

 Ông Đạt đăm chiêu:  

- Cũng có thể được đấy, nhưng phải tốn cả chục cây vàng kia, mà tôi thì chưa phải là giàu có gì! Cũng còn nhờ cái hồng phúc nhà mình nữa chú ạ. Thôi được, đó là việc của cháu Đức. Thế còn chú và cô Ninh hôm nay ở đây ăn cơm với anh chị nhé. Lâu rồi ta chưa họp mặt gia đình, tôi rất nhớ chú, nhắn về Sài Gòn mời chú lên chơi, mà sao chú cứ khất lần mãi thế?

Lãng Tử cười xoà:

- Anh chị cứ tha cho em cái tội lan man, cái máu văn nghệ sĩ lông bông mới được. Vừa rồi, em vì nhẹ dạ mà suýt nữa bị rầy rà đấy!

Có chuyện gì?

- À anh cũng nghe hàng trăm ký giả Sài Gòn xuống đường biểu tình trong một cuộc gọi là “Ký giả đi ăn mày” đó! Các cha hăng hái quá lại tán phát cả “Cáo trạng số 1" về tham nhũng của ông Thiệu, ông Kỳ, ông Quang, ông Cao Văn Viên, ông Trần Thiện Khiêm.... Cảnh sát đô thành mới dẹp và bắt nhốt một số. Em bị mấy thằng bạn lôi kéo, suýt nữa bị bắt oan. Em có chính kiến, đảng phái gì đâu, nhưng mà cảnh sát cứ bắt, cứ tẩn. Thế là em phải chạy lên chỗ tướng Phú nhờ nó nói lót với Đặng Văn Quang cố vấn an ninh của ông Thiệu, can thiệp với cảnh sát đô thành, em lại vô sự, đi ngao du luôn!

- Thôi chú, cô cứ lên đây với anh chị, nhờ vả Phạm Văn Phú làm gì. Nó là võ, mình là văn mà tôi nghe quân đoàn 1, quân đoàn 2 của mấy cha kỳ này gay đấy vì mấy ông Giải Phóng sẽ đánh mùa khô. Lại có cả mấy sư đoàn Bắc Việt luồn sâu vào hậu cứ của Cao Nguyên rồi. Phạm Văn Phú có chống đỡ nổi không? Chú tiếp xúc với Phú, chú thấy thế nào?

- Chuyện của hắn thì còn dài dài. Em sẽ nói với anh sau, nhưng em linh cảm thấy hắn sẽ phải đương đầu với một mùa khô rất nóng bỏng ở Cao Nguyên…

Bà Lan Hương hỏi chen vào:

- Cô và chú ở chơi với anh chị ở đây nhé, đừng ở ô-ten nữa. Ở đây rộng rãi lắm mà. Trên lầu 1 có ba phòng, cô chú cứ ở phòng máy lạnh bên trong đó. Dịp này thằng cháu Đức đi vắng, anh chị hơi buồn, bán hàng cà-phê kế bên đây phải mướn một cô gái con bà bạn đấy. Cô Thoa rất chịu khó. Còn bên này, bán hàng ăn phải thuê một ông nấu bếp. Bán sáng cho khách ăn điểm tâm và bán tối cho họ nhậu lai rai. Anh chị chỉ cần kiếm đủ sống, chẳng thiết làm giàu nữa! Cô chú ở đây thì nhất định anh chị sẽ vui hơn nhiều, có phải không cô Ninh?

Ninh chỉ biết “dạ” một tiếng rồi lại ngồi im. Một lúc sau cô mới nói:

-  Nếu anh chị cho phép... Em chỉ sợ làm phiền anh chị lâu quá!

- Ồ, có chi đâu mà phiền! - Ông Đạt đáp.

Sớm nay Lãng Tử đã phải căn dặn Lệ Ninh thật kỹ: Chỉ được nói là bạn, là con gái nhà lành, có má ở Sài Gòn, ba mất lâu rồi, quen Lãng Tử năm năm nay, thực sự thương nhau, có thể đi đến hôn nhân. Tuyệt đối không được nói là vũ nữ và là “lính” của Phạm Văn Phú...

Ông Trọng Đạt phải nhấn mạnh:

- Cô Ninh đã là bạn của chú Lãng Tử thì vợ chồng anh chị coi cô như người nhà rồi. Nhà này đang cần có thêm người thân cho vui nhà lúc thằng cháu Đức đi vắng còn lâu mới về...

Lãng Tử phải nói với Ninh:

-  Anh chị nói thật tình đó. Hai anh em mình phải vâng lời anh chị, ở lại đây cho anh chị vui lòng!

Buổi chiều, Lãng Tử đã xách va-li từ khách sạn Pa-lát-xơ sang nhà ông bà Trọng Đạt-Lan Hương. Lệ Ninh thoăn thoắt đi theo Lãng Tử lên lầu 1.

***

Ngày rằm tháng giêng âm lịch.

Lãng Tử và Lệ Ninh vừa đi chơi ở thung lũng Tình Yêu về đến nhà thì ông Đạt đã nói ngay:

- Vừa có điện thoại của Phạm Văn Phú gọi lên cho chú đấy!

- Có chuyện chi đó anh? Lành hay dữ? Hình như có chuyện đột xuất. Phú dặn tôi: lúc nào chú về thì gọi lại cho hắn ở Play Cu.

- Dạ. Để em gọi cho hắn!

Lãng Tử đã gọi về Plây Cu. Mười phút sau, từ đầu dậy nói đằng kia, tiếng Phú đã vang lên rất rõ:

- Chào nhà báo!

- Có chuyện chi đó, ông Phú?

- À bình thường thôi, nhưng rất may cho ông và cô Lệ Ninh...

- Sao?

- Đêm qua Việt Cộng pháo kích dữ dội vào Play Cu. Vài chục quả đạn cỡ lớn rơi xuống sân bay Cù Hanh phá hỏng hai đường băng. Nhiều quả đạn rơi xuống mấy cái chốt của liên đoàn biệt động quân số 4 và số 6. Có 10 tên lính bị thương nặng. Hai quả đạn rơi cách cái nhà rông chỗ ở của ông có mười mét, làm gãy cây cối nhưng nhà thì không bị sập. Nếu ông nằm ở đó chắc sẽ phải một phen bở vía! Tôi và em Ngọc Ngà cũng giật mình tỉnh giấc. Đêm nay thì tôi phải chuyển chỗ ở rồi, cho thật an toàn...

Lãng Tử hỏi lại:

- Sao hôm trước ông nói sẽ cho quân đánh vào “vùng giải phóng” của Việt Cộng, ném bom và bắn phá liên tục để đẩy lùi đối phương vào rừng kia mà?

- Tôi đánh phá ác liệt chứ. Và vì vậy mà đối phương trả đũa đó!

- À ra thế?

- Ừ, sao? Ông và cô Ninh vui vẻ chứ? Không ở Pa-lát-xơ nữa mà lại về ở tiệm Hoàn Mỹ à? Ờ, thôi được, tuỳ ông. Có cần tôi chi viện gì không nào?

- Ông còn đang bận đánh và đỡ, ông cứ lo việc phòng thủ Cao Nguyên đi. Khi nào cần, tôi sẽ gọi lại. Cám ơn ông nhiều! Bái bai!

Ông Trọng Đạt từ nãy chăm chú theo dõi cuộc đàm thoại, đã hiểu được nội dung, ông lắc đầu cười:

- Việt Cộng lại nện vào Kon Tum và Plây Cu rồi. Cứ ăn đòn như thế thì tư lệnh Vùng 2 chiến thuật cũng đến... hết hơi!

Lãng Tử phác một cử chỉ đồng tình:

- Em cũng thấy hắn có vẻ bối rối lắm.

- Gay thật chứ! Lúc thảnh thơi mấy năm trước thì thằng Nguyễn Văn Toàn làm tư lệnh, có miếng ngon thì nó ăn hết. Đến bây giờ thì tên Phú hứng... đạn! Kẻ ăn ốc, người đổ vỏ là như vậy!

Ông Đạt vuốt râu và chậm rãi nhận xét:

- Người Mỹ và Hội đồng tướng lĩnh của Thiệu chọn và cất nhắc Phạm Văn Phú vì cho rằng Phú theo Pháp, đã bị Việt Minh bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ tháng 5 - 1954, được thả ra lại vào Nam theo Ngô Đình Diệm thì Phú sẽ tuyệt đối trung thành với “Nền Đệ nhị cộng hoà”, nhưng tôi xem ra y cũng không phải là kẻ thông minh, mà chỉ khôn vặt.

-  Theo anh thì hắn nên như thế nào?

- Hắn nếu khôn ngoan thì đừng có lên Plây Cu làm mà gì! Lại hăng máu vịt rồi sẽ chuốc vạ vào thân. Lấy vợ Tàu lai Chợ Lớn rồi thì cứ ở Sài Gòn, chui vào Bộ tổng tham mưu mà làm, có hơn không? Lại còn lên Plây Cu, có lẽ y đang thèm cái lon trung tướng. Nhưng ở đời, tham thì thâm, chú cứ đợi đấy mà xem... Cái nguy của Thiệu là Mỹ đã rút quân, lại cắt viện trợ mà mấy ông Giải Phóng lại làm... rất hung, chống đỡ làm sao đây?

Lãng Tử ra vẻ tâm đắc:

- Anh nhận xét có lý lắm!

Ông Đạt rót nước trà nóng:

- Chú uống đi, tôi vẫn nghiện cái trà móc câu Thái Nguyên này đó. Ở đây lành lạnh, uống cái trà này, thật tuyệt.

 - Ông lại nói tiếp:

- Thời loạn lạc mà không tỉnh táo là coi như hỏng hết! Tôi biết thân phận mình “Văn dốt - Vũ dát” làm cái anh công chức quèn, rồi giũ áo, từ quan mà về mở tiệm buôn bán kiếm ăn nhì nhằng qua ngày thế này cũng đủ! Gần 60 tuổi rồi, tôi thèm một cuộc đời ẩn dật quá. Học được cái đạo làm người như La Sơn Phu Tử hay như Trạng Trình ở núi Côn Sơn, thật là cao đạo. Mình là thường dân, chớ nên mưu bá, đồ vương mà dại! Chú là con người tài hoa, lấy văn chương làm lẽ sống, lại không xu phụ phe nhóm chính trị nào, thế là rất tốt. Ai có lòng mến mộ, làm Mạnh Thường Quân thì ta làm tân khách đến chơi vui. Chơi chán thì lại ra đi, thong dong, tiêu dao ngày tháng cùng với non nước, cỏ cây. Hay! Nhưng mà chú phải biết: chú sẽ đến một ngày gối mỏi chân chồn, “gió bụi giang hồ” mãi không được đâu! Nếu cô Lệ Ninh tình nguyện “sửa túi nâng khăn” cho chú thì anh chị sẽ giúp cho...

- Dạ. Em cám ơn anh chị...

Khi Lệ Ninh ở buồng tắm bước ra, Lãng Tử kể lại cho cô nghe về cú điện thoại của Phú nói về trận pháo kích Plây Cu và đạn rơi gần nơi Lãng Tử ở nhà rỗng, Ninh xuýt xoa:

- May cho anh em mình quá nhỉ! Tình hình rối ren như thế, anh có về Plây Cu nữa không?

-  Còn phải tuỳ tình hình, nếu căng thẳng quá thì chưa thể về đó được đâu, em!

Lúc còn lại hai người ở phòng riêng, Lệ Ninh mới hỏi nhỏ người yêu:

- Anh ơi! Nhưng mà... anh chị Đạt nhận xét về em như thế nào? Anh nói thật cho em nghe!

Lãng Tử ôm hôn Lệ Ninh:

- Anh chị Đạt đều khen em hiền hậu và dễ thương lắm...

Một giọt nước mắt sung sướng lăn trên gò má cô bỏ đi gái, cô nép đầu vào Lãng Tử:

- Anh đã thương em, đừng bao giờ bỏ em, tội nghiệp em lắm, nghe anh!

Lãng Tử cảm nhận sâu xa tình yêu của cô gái, từ đây Ninh không còn là cô vũ nữ nữa, nỗi đau của cô đã được xoa dịu, nỗi buồn cố hữu của anh cũng lắng xuống, vơi đi. Hai tâm hồn phiêu bạt đã thấy cần phải có nhau trong đời, trong một mái nhà ấm êm hạnh phúc...

X

LÊ VĂN TÂM SAU MƯỜI NGÀY LẶN LỘI ĐÃ TÌM về được đơn vị của mình. Từ thủ trưởng đến các chiến sĩ trong đơn vị đều đón anh trong niềm hân hoan phấn khởi.

Trung đội trưởng Trần Kỳ ôm Tâm vào lòng và cho anh biết:

- Ở ngoài này khi nhận được tin Sĩ hy sinh, đơn vị đã làm lễ truy điệu rất trang nghiêm và sau đó đã cử hai tổ trinh sát khác thâm nhập tiếp vào hai thị xã Plây Cu và Kon Tum. Kết quả rất khá nên được thủ trưởng đại đội khen ngợi...

Tâm được một ngày nghỉ ngơi, tắm giặt. Sau đó anh ngồi viết tự kiểm điểm, thành khẩn báo cáo lại toàn bộ những suy nghĩ và hành động của mình từ khi bị địch bắt vào tù và cho đến ngày trốn thoát được.... Ngoài phần tự kiểm điểm, theo yêu cầu của đơn vị, anh còn viết tiếp một bản báo cáo dài 10 trang giấy cùng với một bản đồ vẽ theo bút tích của Hoà về con đường từ Sở chỉ huy của Phạm Văn Phú đến sân bay Cù Hanh với những chốt đóng quân của liên đoàn biệt động ngụy số 4, số 6, nơi bố trí phòng thủ của các đơn vị pháo binh, xe tăng, thiết giáp của hai trung đoàn số 44 và 45 ngụy.

Cấp ủy và thủ trưởng đại đội xem xét bản tự kiểm điểm của Tâm thấy không có điều gì nghi vấn nên lại càng tin tưởng ở đức tính kiên cường, bản chất tốt đẹp của người lính Cụ Hồ trong Tâm.

Trung đội trưởng Trần Kỳ thì được giao nhiệm vụ đối chiếu bản tự thuật của Tâm về tình hình địch với bản báo cáo của cơ sở ta từ địch hậu gửi ra, anh rất hài lòng và thông báo cho Tâm biết:

- Tài liệu của em và của anh lính cộng hoà Huỳnh Văn Hoà (lính đào ngũ) rất khớp với tài liệu của hai tổ trinh sát vào sau em thu lượm được. Tất cả hai tài liệu này sẽ giúp cho pháo binh ta hiểu thêm được mạng lưới phòng thủ của địch để ta có thể bổ sung cho phương án tác chiến nay mai...

Sau hơn một tháng trời gian lao, ở xa đồng đội, hôm nay Tâm lại được phát quân trang mới. Những đêm ngủ trong rừng đại ngàn ở phía Tây Kon Tum thật yên ổn. Trung đội trưởng Trần Kỳ nói với Tâm:

- Mặc dù em bị địch bắt nhưng sau khi nghiên cứu kỹ bản tự kiểm điểm của em, cấp trên vẫn hoàn toàn tin tưởng ở em. Tuy có điều vì em đã bị lộ với địch nên không thể trở lại công tác cũ được. Mà em sẽ được bổ sung sang một đơn vị mới, nhận một nhiệm vụ khác nhưng rất đặc biệt và cũng rất quan trọng

Tâm sung sướng, trả lời:

- Em rất cảm ơn đơn vị và cảm ơn anh!

Những đêm tiếp theo, Tâm thường nghe rất rõ tiếng đại bác của bộ đội pháo binh Quân Giải Phóng bắn về Kon Tur và Plây Cu, làm cho quân địch mất ăn, mất ngủ. Tâm biết chắc từ tên thiếu tướng Phạm Văn Phú đến thiếu tá Cang và những tên giặc lái ngụy ở sân bay Cù Hanh đã cảm thấy bất ổn ngay trong sào huyệt của chúng.

Và suốt mấy ngày nay, máy bay trinh sát, lũ “cán gáo” trực thăng vè vè bay qua những khu rừng bạt ngàn ngó nghiêng, chỉ điểm cho pháo của chúng bắn vu vơ. Thám báo, biệt kích đánh ra, mò mẫm vào rừng cũng không dám thọc sâu. Chúng muốn phát điên lên vì bà con người Thượng lại cùng bộ đội sửa đường giao thông chừng như để chuẩn bị cho chiến dịch mùa khô. Khẩu hiệu động viên la liệt trên mấy con đường mới đắp. Truyền đơn kêu gọi binh lính ngụy bỏ ngũ về với nhân dân, về với Mặt trận dân tộc giải phóng được rải khắp nơi...

Mọi sự kiện xảy ra đều giống như những dấu hiệu không bình thường báo trước những trận đánh lớn nay mai...

Trung đội trưởng Trần Kỳ đi họp trên đại đội về vui vẻ thông báo với các tiểu đội:

-  Địch đang tăng cường phòng thủ Plây Cu và Kon Tum. Chúng muốn thực hiện chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” nhưng chúng đang được nếm đòn của pháo binh ta. Theo lệnh trên, ta còn tiếp tục nã pháo vào sân bay Cù Hanh và chung quanh Sở chỉ huy của Vùng 2 chiến thuật.

Tâm lại phấn chấn thêm khi nhớ lại từng người đã giúp đỡ anh ở Plây Cu mà anh coi là ân nhân như Huỳnh Văn Hoà, như hai anh tài xế xe tắc-xi, như chú Tám, dì Tám ở Phan Rang. Bất giác anh nhớ lại lúc mới về đến Kon Tum, trên đường đi công khai bằng giấy tờ hợp pháp của chú Tám chuẩn bị cho từ Phan Rang, anh đã viết mấy dòng vắn tắt gửi qua hòm thư bưu điện về cho Huỳnh Văn Hoà và chú Tám:

“Anh đã về đến quê nhà, gia đình anh rất vui, cám ơn em nhiều. Hẹn sẽ gặp lại em và chú, dì Tám.......”

Tâm cũng không quên khuôn mặt hiền hậu và giọng nói dịu dàng của cô chiêu đãi viên có tên là Lệ Ninh đã bắt chuyện được với anh, giờ này Lệ Ninh đang làm gì? Ở đâu trong một hoàn cảnh rối ren của Plây Cu? Tâm không thể nào ngờ tới Lệ Ninh lại đang được ở cách xa Plây Cu, xa lắm, cùng với người tình mới quen: Lãng Tử ở Đà Lạt, xứ sở của hoa anh đào...

Lê Văn Tâm lại bồn chồn nghĩ tới một đơn vị mới mà anh sắp được bổ sung như lời hứa của anh Trần Kỳ. Tâm không thể ngồi yên khi tất cả đồng đội chung quanh anh nhộn nhịp, hăm hở đi vào chiến dịch Xuân Hè trên mặt trận Cao Nguyên...

 

XI

Trung đội trưởng Trần Kỳ đặt vào tay Tâm một gói thuốc lá 3 số 5 và một chiếc bật lửa ga rồi nói một câu nói thật hồ hởi:

- Từ hôm nay, em phải xài mấy thứ này, chứ không thể ngồi trong rừng hút thuốc vấn được đâu. Theo lệnh trên thì ngày mai anh và em sẽ đột nhập Play Cu không phải vào ban đêm như khi em và Sĩ bị lọt vào ổ phục kích của thám báo ngụy. Hai anh em ta sẽ có đủ giấy tờ để đi công khai, hợp pháp từ Kon Tum theo đường số 14 xuống Plây Cu trong vai thương lái đi buôn hàng tạp hoá: Son, phấn, nước hoa, mỹ phẩm... Mỗi người một túi xách tay, nhảy lên xe đò. Khi đến Plây Cu sẽ có người đón, trên dọc đường đi có người yểm trợ tối đa. Anh đi trước, em đi sau.

Anh đã nói chuyện này với em từ buổi chiều, bây giờ nói lại, em còn muốn hỏi gì thêm thì anh sẽ nói cho em nghe?

Tâm mạnh dạn hẳn lên và hỏi lại:

- Em còn băn khoăn một chút về diện mạo và trang phục của em, của anh đi lại công khai, có thể bị lộ được không?

Trần Kỳ thản nhiên đáp:

- Em cứ yên tâm đi. Đi trước em có Trần Kỳ, đi sau em có lực lượng yểm trợ tối đa. Khẩu hiệu của anh và em là Bí mật - Bất ngờ - Quyết tâm - Dũng cảm. Hành động kịp thời! Em soi gương lại mà xem: Lê Văn Tâm còn đâu là anh trinh sát của pháo binh Quân Giải Phóng nữa? Lê Văn Tâm giờ này trở đi đã là một tay thương lái, ăn mặc bảnh bao, đúng mốt Sài Gòn, trẻ tuổi, đẹp trai kia mà! Còn Trần Kỳ cũng hết vẻ khô khan của một trung đội trưởng trinh sát rồi. Trần Kỳ cũng như em, đã là một tay áp-phe có hạng rồi! Anh cứ gọi chuyến đi này chuyến đi..."vào hang bắt cọp" cho nó có khí thế, em hiểu chưa? Song “vào hang bắt cọp” mà không hề phiêu lưu mạo hiểm đâu nhé, mà là một chuyến đi chắc thắng với khẩu hiệu anh vừa nói: Bí mật, Bất ngờ, Dũng cảm!

Trần Kỳ nắm chặt bàn tay của Tâm:

- Trần Kỳ phải lập được kỳ công. Còn Lê Văn Tâm phải có quyết tâm cao! Phần em chỉ có thế thôi, hành trang đã có đủ, tám giờ sáng mai ta lên đường, tạm xa cái lán trại này một thời gian. Ta phải đi nghỉ sớm để ngày mai có sức mà đi!

Tâm cố nén xúc động để giảm bớt hồi hộp một chuyến đi mà anh coi là “một trận đánh” chắc chắn không kém phần gay go, ác liệt bên cạnh anh Kỳ. Tâm nhớ lại một câu ngạn ngữ của người Pháp mà anh đã được đọc trong mục “Lời hay, ý đẹp” trên báo Đoàn khi anh còn ở Hà Nội lúc rời ghế nhà trường: “Chiến đấu không gian khổ thì thành công còn vẻ vang gì!”. Câu ngạn ngữ mang tính triết lý cao, có sức mạnh cổ vũ những con người dũng cảm hăng hái tiến lên hoàn thành nhiệm vụ ở mọi nơi, mọi lúc.

Suy ngẫm kỹ, Tâm tự nhủ:

 - Chuyến đi này là một thử thách. Ta hãy đi theo anh Kỳ, nhập cuộc, không phải là một cuộc chơi, mà là một cuộc chiến đấu chắc chắn sẽ là như thế!

Tâm đã chui vào chiếc màn dã chiến màu xanh lá cây của anh bộ đội Giải Phóng. Giấc ngủ rừng đêm nay lại đến như một bàn tay vỗ về êm ái, như một lời ru của mẹ ngày nào. Tâm nhìn sang bên phải: anh Trần Kỳ vẫn còn thao thức. Điếu thuốc lá lập lòe trong màn: anh Kỳ cũng đang nghĩ về chuyến đi vào Plây Cu sớm mai đây...

*****

Chiếc xe đò chở đây khách rời Kon Tum từ 9 giờ sáng, đến xế trưa mới tới Plây Cu, đổ khách ở bến xe liên tỉnh. Giờ này phố xá đã có rất đông người đi lại. Phiên chợ thị xã đang ồn ào, tấp nập. Trần Kỳ và Lê Văn Tâm nhanh chóng hoà mình vào dòng người xuôi ngược và ghé vào một quán giải khát ven đường. Ánh nắng chói chang làm tăng độ nóng buổi trưa.

Kỳ gọi hai ly nước ngọt. Nét mặt thanh thản của anh như ngầm nói với Tâm:

- Cứ vui vẻ, thoải mái, cái gì phải đến, sẽ đến, sắp đến…

Hai người đốt thuốc hút chơi. Khói thuốc bay lên lững lờ. Cô hàng cà-phê mắt xanh, môi thắm đặt hai ly nước ngọt mời khách:

- Em mời hai anh uống nước...

Kỳ và Tâm cùng đáp:

- Cám ơn! Cám ơn!

Mười phút sau, một người khách có dáng cao cao lững thững vào quán. Anh ta đến ngồi vào bàn kề bên bàn nước của Trần Kỳ. Anh ta có dáng khoẻ và đẹp, hàng ria mép xanh và cái miệng hay cười rất phù hợp với đôi mắt sáng và thật hiền lành.

Anh ta cũng gọi một ly nước cam rồi móc túi lấy ra gói thuốc lá thơm, rút một điếu, chưa kịp đặt lên môi, đã sực nhớ mình quên hộp quẹt. Anh ta ghé sang bàn Trần Kỳ:

- Tôi quên bật lửa, cảm phiền anh, cho tôi mồi điếu thuốc. Kỳ lịch thiệp:

- Dạ, xin mời anh! Kỳ đã bật ngọn lửa xanh đến lần thứ ba cho người khách lạ. Anh ta hút một hơi dài, gật đầu nói lời “cảm ơn” và hạ thấp giọng nói vừa đủ cho hai người nghe:

- Uống nước xong, xin mời hai bạn cùng đi!

Kỳ khẽ gật đầu, mỉm cười im lặng.

Lê Văn Tâm từ nãy, không bỏ sót một cử chỉ, một câu nói nào của người khách lạ. Anh tự nhủ:

- Đúng, “người của ta” đây rồi! Mười phút sau, ba người ra khỏi chợ.

Người khách lạ đi trước, Kỳ và Tâm thong thả theo sau. Đi được chừng ba chục mét, người khách lạ tách ra khỏi đám đông, đưa Kỳ và Tâm đến chỗ gốc cây me có bóng râm. Hai chiếc xe máy Hon-đa 70 và một anh thanh niên đang đợi sẵn.

Người lạ chìa tay mời Kỳ và Tâm lên xe, ôm ngang lưng người lái. Tâm ôm lưng anh bạn trẻ. Trần Kỳ ôm lưng người khách lạ có dáng cao cao.

Hai chiếc xe lao đi trong nắng và bụi mù. Nửa giờ sau, hai chiếc xe máy dừng lại trước cửa tiệm buôn tạp hoá Phước An đường Lê Lợi.

Bốn người cùng bước vào tiệm. Bà chủ tiệm nhận ngay ra người khách quen thân có dáng cao cao:

- Kìa chú Bảy!

- Xin chào chị Chín!

Bà Chín đưa mắt nhìn cả bốn người, cái nhìn hàm một câu hỏi “chú Bảy”, ba người cùng đi là những ai đây?

Chú Bảy không để chị Chín phải chờ lâu, chú đã giới thiệu: Xin giới thiệu với chị: ba chú em đây đều là bạn hàng cả: chú Năm Dũng, chú Sáu Tâm, và chú Mười Kỳ...

Tiếp đó, chú Bảy lại giới thiệu chị Chín với ba chú em:

- Đây là chị Chín chuyên bán hàng xịn thứ thiệt, giá phải chăng, mua sỉ càng có lời hơn nơi khác. Các chú tha hồ chọn lựa hoá mỹ phẩm...

Bà Chín mời khách vào phòng khách sang trọng phía trong quầy hàng, mời khách dùng trà thuốc rồi mới nói:

- Chú Bảy sao lâu đến chị?

-  Dạ, thưa chị: em mắc nhiều công chuyện quá. Ban ngày thì chạy loanh quanh. Ban đêm lại sợ mấy ông Giải Phóng bắn pháo, đi chơi lỡ lại bị tên bay, đạn lạc thì phiền...

Bà Chín cười:

- Mấy bữa nay, trung đoàn 44, 45 cấm trại rồi, cậu con trai tôi có được về nhà đâu. Có một mình tôi với con bé giúp việc, bận lắm...

Chú Bảy nói vừa nghiêm trang, vừa thân mật:

- Chị cho mấy chú em ở lại đây mấy ngày chờ mua hàng có được không ạ?

-  Được! Được mà! Khách đến mua hàng ở tiệm nhà này, nghỉ lại là chuyện bình thường…

Chú Bảy quay sang ba người bạn trẻ:

- Đó. Các chú nghe: chị Chín xởi lởi và mến khách lắm mà! Chị cho phép lên lầu 1, lầu 2. Khi nào có đủ hàng tôi sẽ tin cho các chú làm hoá đơn, thanh toán và nhận hàng về Kon Tum, nghe!

Ba anh bạn trẻ đều “dạ” một tiếng. Chị Chín hướng dẫn khách lên lầu, rồi nói nhỏ với Bảy Hùng:

- Nhiều chuyện hay lắm đó! Chúng nó đang rối tinh, rối mù. Ban ngày thì tập trung quân, sửa soạn xe pháo, đi tuần tiễu. Ban đêm thì cấm trại vừa bắn pháo cầm canh ra bốn phía rừng núi, vừa lo đề phòng mấy ông Giải Phóng đánh vào Plây Cu. Cứ nhìn thấy, nghe thấy cũng đủ tức cười! Còn về phía ta, có gì mới hơn mà chú cứ bí mật với chị thế?

- Dạ, có, có nhiều cái mới lắm. Em sẽ bàn với chị dần dần. Chị cho phép em lên làm việc với tổ 3 người này. Anh em đang còn đợi em trên lầu 2.

-  Chú cứ họp đi. Ở đây chị bảo đảm yên tĩnh trăm phần trăm cho mấy chú...

Bảy Hùng lên lầu 2, ngồi vào bàn họp. Anh nói: Ta hội ý một chút...

Trần Kỳ hỏi:

-  Có cần phải giới thiệu không nhỉ?

- Thôi khỏi cần dài dòng. Ba chú thì biết nhau cả rồi. Còn tôi? Tôi hiểu được Lê Văn Tâm là trinh sát vào cùng với Nguyễn Văn Sĩ. Sĩ bị hy sinh. Tâm bị bắt làm tù binh, bị chúng dụ dỗ, vẫn kiên định lập trường của người lính, lại gặp dịp may, cùng với Huỳnh Văn Hoà vượt ngục trở về căn cứ, có phải không?

Trần Kỳ:

- Đúng như thế!

- Còn tên trung sĩ An vì say xỉn để cho tù trốn thoát, đã bị tên thiếu tá Cang tra tấn và bắn bỏ. Con Tuyết thì bị tống xuống trại con gái làm đồ chơi cho lính Thượng! Có đúng không?

- Dạ! Đúng như thế.

Trần Kỳ và Tâm đều cảm phục Bảy Hùng:

- Anh Bảy nắm vững tình hình lắm!

Bảy Hùng lại nói:

- Còn một chuyện nữa: thằng Cang chụp hình cậu Tâm, định in lên truyền đơn, bịa đặt rằng: Lê Văn Tâm cán binh Việt Cộng đã trở về quy thuận chánh phủ quốc gia. Nó chưa kịp in truyền đơn xuyên tạc, gieo rắc hoang mang, đã bị ta cảnh cáo...

Trần Kỳ và Tâm đều háo hức muốn biết tên Cang đã bị cảnh cáo như thế nào?

Bảy Hùng cười tươi, giục Năm Dũng:

- Chú Năm kể cho mấy chú nghe chơi đi!

Năm Dũng kể lại:

- Tối chủ nhật trước, khi được anh Bảy giao nhiệm vụ cảnh cáo tên thiếu tá Cang, em đã đột nhập khách sạn Cao Nguyên, và qua tay một cô vũ nữ, bỏ được vào túi áo của tên thiếu tá Cang bức thư cảnh cáo có nội dung như sau:

 “Gửi Ngài thiếu tá!

Ngài canh giữ tù binh đã để anh ta vượt ngục. Ngài lại bịa chuyện anh ta xin hồi chánh để gây hoang mang trong dân chúng. Lần thứ nhất, chúng tôi yêu cầu Ngài dẹp bỏ cái trò vu cáo hèn mạt ấy đi. Nếu Ngài không dẹp bỏ thì lần thứ hai, Ngài sẽ nhận được không phải bức thư, mà là... một tiếng nổ!

Ký tên: Biệt động Plây Cu"

Lời cảnh cáo thật hiệu nghiệm, khiến cho tên thiếu tá ác ôn phải... êm re! Y tâm sự, than thở với chiều đãi viên: “Chưa hết Việt Cộng nằm vùng đâu, hãy cảnh giác!”

Nghe Năm Dũng kể, Trần Kỳ và Lê Văn Tâm tấm tắc khen:

-  Anh Năm giỏi thiệt!

-  Năm Dũng nói tiếp:

-  Từ hôm ta bắn phá Plây Cu, những tên tai to mặt lớn ở đây từ Phạm Văn Phú trở xuống đều phải thay đổi chỗ ở, ít dám lui tới vũ trường. Các cuộc họp đều phải tổ chức bên ngoài thị xã.

Bảy Hùng bổ sung thêm tình hình và nhiệm vụ mới: anh em chúng tôi là cán bộ cơ sở nội thị sẽ hết lòng giúp đỡ anh em trinh sát nắm vững tình hình địch để báo cáo ra ngoài căn cứ. Hoạt động của Quân Giải Phóng càng mạnh lên thì địch càng đối phó điên cuồng. Chúng có thể quây ráp, khủng bố, phá hoại phong trào cơ sở. Ta phải hoạt động khôn khéo, bí mật, để bảo toàn lực lượng, giữ vững phong trào. Tiệm buôn Phước An của chị Chín ở đây là cơ sở vững chắc vì chị Chín có con là binh sĩ trong trung đoàn 45 (ngụy) địch không nghi ngờ. Chồng chị Chín - anh Mười Nhật - là một phú thương ở Sài Gòn, có quan hệ với Quân tiếp vụ của quân lực Việt Nam Cộng hoà được nhiều quan chức kính nể….

 Bảy Hùng kết luận: chúng ta cứ sắm vai thương lái cho ngon là sẽ ổn cả. Việc đối ngoại để che mắt kẻ địch thì chị Chín sẽ lo. Anh em ta đi lại, ra vào nên cẩn thận để khỏi bị lộ. Điều gì chưa biết thì phải hỏi chị Chín, chị hướng dẫn cho...

Trần Kỳ và Lê Văn Tâm cùng với Bảy Hùng quan sát, nắm tình hình, có phân tích đánh giá từng ngày. Năm Dũng nhận nhiệm vụ giao liên, chuyển tải tài liệu, báo cáo ra ngoài căn cứ...

 

XII

 

BUỔI SÁNG NGÀY ĐẦU THÁNG 3 DƯƠNG LỊCH năm 1975, cũng là ngày đầu tháng 2 âm lịch, tại nhà riêng của chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, một cuộc họp khẩn cấp được triệu tập.

Phạm Văn Phú mở đầu với giọng nói giận dữ khác thường:

- Các ông có biết không? Tại sao ta lại phải họp với nhau ở đây? Ở ngôi biệt thự này, sự an toàn mới được đảm bảo chắc chắn, ở vùng ngoại vi này, pháo binh Việt Cộng, pháo binh đối phương chưa bắn tới được! Các ông bàn bạc đi, tha hồ tự do phát biểu ý kiến, tôi nghe hết! Phải nói cho hết sự thật, không cần e ngại, giấu giếm nhau điều gì thì mới có cách đối phó thật hữu hiệu với đối phương, họ đang “quậy” rất mạnh và có thể sau các trận nã pháo vào Kon Tum và Plây Cu là những trận tập kích bằng bộ binh để phá phách gây tổn thất về của, về người cho Quốc Gia, rồi họ lại rút, để làm yếu quân lực Việt nam Cộng hoà, cản trở bình định, phá kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của Quốc Gia! Xin mời các ông phát biểu ý kiến đi! Hôm nay có đủ đại diện: ông Lý, tham mưu trưởng, ông Cẩm phó tư lệnh thay mặt cho ba trung đoàn 44, 45, 53, ông đại tá Phạm Duy Tất, thay mặt cho 7 liên đoàn quân biệt động và ông thiếu tá Cang đại diện An ninh quân đội. Pháo binh của hai sư đoàn quân Bắc Việt bắn phá cả tuần lễ nay, các ông đều đã biết...

Trần Văn Cẩm nhìn khắp lượt cả mấy khuôn mặt ngồi chung quanh chiếc bàn tròn khá rộng, đặt giữa một phòng khách lớn được dùng làm phòng họp rất cơ mật hôm nay, Cẩm nói:

- Theo tôi: đây là một quy luật của chiến tranh. Đối phương thường đánh và mở chiến dịch theo mùa khô. Năm nay, có thể họ sẽ đánh lớn. Nhưng ta đối phó cũng rất tốt: tôi cho hai liên đoàn biệt động số 4, số 6 đánh sâu vào rừng và máy bay ta đã giội bom xuống nhiều mục tiêu quan trọng trong vùng đất của đổi phương ở phía Tây Kon Tum, phía Tây Plây Cu. Chắc chắn là hai sư đoàn Bắc Việt đã bị tổn thất lớn...

Phạm Duy Tất đưa mắt nhìn Phú, làm bộ kiêu hãnh nói:

- Quân biệt động của tôi đã thọc sâu, đã chạm súng với quân của đối phương, đẩy lùi được bộ binh của họ. Biệt kích, thám báo của ta cũng phong toả, mai phục trên các con đường mòn. Tôi đề nghị thiếu tướng xin máy bay trinh sát ban đêm để phát hiện hoả lực của pháo binh Bắc Việt từ rừng sâu bắn vào Plây Cu và Kon Tum. Ta phải tìm diệt pháo binh địch nhiều hơn nữa!

Phạm Văn Phú ngắt lời Phạm Duy Tất:

- Tôi sẽ làm theo đề nghị của các ông và tiên đoán chắc chắn rằng đối phương sẽ dùng bộ binh tập kích ban đêm vào Kon Tum và Plây Cu. Nếu ta sơ hở, không tích cực phòng thủ và ngăn chặn từ xa thì hậu quả sẽ rất khó lường trước được. Binh lực của ta ở đây có cả 3 trung đoàn với 2 liên đoàn quân biệt động, 4 thiết đoàn, xe tăng thiết giáp đầy đủ, lại có hơn trăm máy bay của sư đoàn không quân mà ta lại chịu bó tay hay sao? Bộ tổng tham mưu, Hội đồng tướng lĩnh và tổng thống đang yêu cầu chúng ta phải chủ động tiến công, đánh phủ đầu, làm cho đối phương phải giãn ra, trước mắt ta phải bảo vệ con đường 14, con đường huyết mạch của Cao Nguyên từ Kon Tum qua Plây Cu đến Buôn Mê Thuột! Ông Tất nhớ cho xe về Buôn Mê Thuột chở tân binh lên bổ sung cho số lính thương vong ở hai liên đoàn biệt động, nghe!

Phạm Duy Tất:

- Chiều nay, tôi sẽ cho xe về chở 500 tân binh, thiếu tướng cứ yên tâm.

Văn Phú quay sang Trần Văn Cẩm:

- Ông nhớ cho phân tán các thiết đoàn và số quân của cả 3 trung đoàn, vì đóng tập trung, co cụm lại nếu bị pháo kích thì sẽ thiệt hại lớn lắm.

Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm xoa xoa cái cằm có râu lởm chởm:

-  Tôi đã lệnh cho anh em kết hợp hành quân với phân tán binh lực, không đóng tập trung như trước nữa đâu ạ.

Phú gật đầu:

- Thế là rất tốt!

Không khí cuộc họp chưa kịp lắng xuống thì Phạm Văn Phú đã lại nghiêm giọng nói:

- Còn về mặt an ninh nội thị thì thật bất ổn. Bấy lâu Việt Cộng nằm vùng đã án binh bất động, nay lại nổi lên rồi đó. Ông thiếu tá Cang có quá chủ quan không mà lại giao cho thằng trung sĩ An canh giữ hai tên tù binh bị chúng nó mua chuộc, cho uống rượu say xỉn rồi hai tên tù binh trốn thoát: một tên là lính cộng hoà, một lại là trinh sát của quân Bắc Việt. Hai tên này có thể đã cung cấp bản đồ thị xã này cho đối phương để họ nã pháo vào địa bàn của ta. Ta chưa bắt lại được hai tù binh này. Có thể chúng còn lẩn quất ngay trong thị xã! Tôi lệnh cho ông Cang chiều nay, cho bắt hết các gia đình Việt Cộng có chồng con đi tập kết để tập trung chúng lại, truy nã cho ra hai tên tù binh xem chúng nó còn đang ở đâu? Ngoài ra có kẻ nào mới đến đây, công khai đi lại hay sống bất hợp pháp mà có hành vi đáng ngờ đều phải bắt giữ để tra xét. Bắt nhầm còn hơn bỏ sót! Một tên nằm vùng còn nguy hiểm gấp trăm ngàn lần kẻ địch bên ngoài...

Chờ cho cử toạ chăm chú lắng nghe, một lúc sau, Phạm Văn Phú mới mở tập hồ sơ đặt trước mặt, rút ra hai tờ giấy, giơ cao lên trước mặt mọi người:

- Tôi phải giới thiệu với các ông cái tài liệu này đã chứng tỏ bàn tay bí mật của Việt Cộng nằm vùng đang là mối lo của tất cả chúng ta! Một là: bức thư ký tên “Biệt động Plây Cu” đã được bỏ nằm gọn trong túi áo của ông thiếu tá Cang khi ông Cang đến nhảy ở vũ trường Cao Nguyên tuần trước! Ông Cang đã nộp lá thư này cho tôi. Lời lẽ trong thư rõ ràng là cảnh cáo, hăm doạ ông thiếu tá! Hai là: bức thư thứ hai gửi cho một chiêu đãi viên với lời khuyên: “Cô còn ở lại Plây Cu làm gì nữa khi mà ở đây đêm nào cũng có đạn nổ? Vũ trường đóng cửa rồi, cô còn nhảy nhót với ai?”. Đây là những đòn tâm lý chiến của Việt Cộng nằm vùng! Hiện tượng này nói lên tình hình nội thị Plây Cu, Kon Tum còn có nhiều điều đáng lo ngại! Ông thiếu tá Cang phải đánh mạnh vào bọn nằm vùng này và báo cáo cho tôi biết kết quả sớm! Liệu có làm được không?

Cang đỏ bừng cả mặt, nói lúng búng:

- Dạ, trình thiếu tướng. Tôi có thể làm được ạ. Hoạt động của bọn nằm vùng đã lộ liễu, truy quét bọn này không khó!

Phú nhấn thêm

- Cứ làm thật mạnh tay! Trách nhiệm tôi chịu.

*****

Tan cuộc họp, Cang ngồi xe Jep về nhà, còn thấy nỗi lo canh cánh bên lòng. Lệnh của thiếu tướng tư lệnh như thế, nhưng vây ráp, bắt bớ lung tung, lại làm bùng nổ cuộc đấu tranh, biểu tình của “Đội quân tóc dài” như mấy năm trước thì sẽ lại ra sao? Từ vấn đề quân sự lại chuyển thành vấn đề chính trị, tội vạ lại đổ cả lên đầu hẳn, chứ đâu phải chỉ có Phạm Văn Phú đứng ra chịu trách nhiệm mà đã xong? Bức thư cảnh cáo của quân biệt động Play Cu còn kia, mấy anh Việt Cộng nằm vùng đã nói là làm thì sao? Bàn tay bí mật nào đã dám bỏ vào túi hắn cả bức thư ấy? Nếu không phải là thư nữa mà lại là một quả lựu đạn hoặc một quả mìn thì sao?

Trời! Mấy cha nằm vùng này sao “quậy” dữ thể?

Chưa kịp bước vào nhà, Cang đã nghe có tiếng gọi:

- Thiếu tá.

Cang nhìn ra: Ngọc Ngà, “người đẹp” của thiếu tướng hiện ra bên cửa ra vào, hắn kêu lên khe khẽ:

- Cô Ngà! Đi đâu đấy? Tìm tôi có chuyện gì vậy?

Ngọc Ngà hạ thấp giọng, thân mật:

- Anh cho em biết: vì sao từ hôm qua đến hôm nay, ông Phú không về tư dinh?

Cang hiểu ra ngay sự vắng mặt của Phú. Hắn nói với Ngọc Ngà:

- Tình hình sôi động rồi, cô Ngà không biết sao? Chộn rộn lắm. Đêm nào đối phương cũng bắn pháo vào đây...

Ngà băn khoăn lo lắng:

- Em có nhận được bức thư của tay biệt động nào đó gửi đến khuyên em nên bỏ đây mà đi, vì ở đây đã rất nguy hiểm. Em đã đưa bức thư ấy cho ông Phú.

Cang gật đầu:

- Tôi biết! Tôi biết rồi. Ông Phú vừa họp với các vị chỉ huy, ông Phú có nói và giao cho tôi bắt hết những tên nằm vùng!

Ngọc Ngà:

-  Anh Cang! Nhờ có anh đưa em đến Plây Cu, em mới được ông Phú che chở, nay đến tình thế này, em có nên trở về Nha Trang không?

Cang lộ vẻ kinh ngạc:

-  Sao cô lại hỏi tôi điều đó? Đi hay ở thì phải hỏi ông Phú chứ?

- Em có hỏi, ông Phú nói: có lẽ em nên tạm thời về lại Nha Trang, khi nào ở đây yên ổn thì anh lại đón em lên.

- Ý kiến cô thế nào?

- Ông Phú cho em về thì em sẽ về!

Cang chợt hiểu ra:

 - À ra thế? Vậy thì tối nay, ông Phú sẽ về chỗ cô đấy. Cô cứ nói ông Phú hạ lệnh cho tôi, mai tôi sẽ đưa cô về Nha Trang rất lẹ, không có gì phiền đâu.

Ngọc Ngà nói nhỏ:

- Em cám ơn anh nhiều!

- Không có gì đâu! Tôi chỉ có thể giúp cô Ngà sau khi ông Phú ra lệnh cho tôi! Vậy, đúng 8 giờ sáng mai, cô Ngà sẽ “phôn” cho tôi, tôi sẽ đem xe đến đón cô đi!

 - Dạ!

*****

Trận pháo kích đêm qua thật dữ dội, làm cho cả thị xã Plây Cu lo lắng, bồn chồn.

Suốt đêm, xe nhà binh chạy rầm rập. Sáng nay, bà con vẫn còn ngơ ngác hỏi nhau:

-  Mấy ông Giải Phóng làm dữ quá. Cũng may cho dân là đạn chỉ rơi về phía sân bay và rơi vào doanh trại của liên đoàn biệt động quân số 4, số 6...

Phố xá vẫn đông vui, nhưng nếu ai để ý quan sát, sẽ thấy mấy nhà buôn lớn đã đóng cửa, bỏ về Sài Gòn, coi như đi lánh nạn.

Cang trình lên với Phú:

- Dạ, trình thiếu tướng: dân chúng đã hoang mang lắm. Nhiều nhà giàu bỏ về Sài Gòn.

Phú cười gượng gạo:

- Khi có chiến sự thì anh giàu thường lo chạy trước. Ông giúp tôi, đưa cô Ngà tạm về Nha Trang ít ngày. Chiều ông lại phải về đây ngay nhé! Đối phương đang muốn tập kích Plây Cu. Tôi đã sẵn sàng đối phó. Hôm nay, không lực của ta sẽ tiếp tục ném bom chung quanh Kon Tum...

Phú không quên đưa cho Cang một bọc tiền lớn: Ông cầm tạm để chi tiêu từ đây về Nha Trang. Phần của cô Ngà, tôi đã đưa rồi, ông khỏi lo!

- Dạ!

*****

Mới năm giờ chiều, bà Chín - chủ tiệm buôn Phước An đã chuẩn bị đóng cửa, nghỉ bán hàng.

Một chiếc xe Jep từ xa phóng tới, đỗ sịch trước nhà. Từ trên xe bước xuống là thiếu tá Cang.

- Chào chị Chín!

Bà Chín nhìn ra, vui vẻ thản nhiên:

- Kìa chú Cang! Đi đâu mà oai phong lắm vậy?

- Dạ em lâu nay bận nhiều công việc quá, nay mới tới bà chị được. Mong chị tha lỗi cho  nhé!

- Có gì đâu nào! Nhà binh như chú, hồi này bận rộn là phải. Mời chú vào đây! Cả chú tài xế nữa, vào đây uống nước đã nào!

Tên lính lái xe “dạ” một tiếng và bước vào theo tên Cang vào tiệm.

Mời hai vị khách ngồi xong, bà Chín mới rót đầu hai ly nước ngọt:

- Chú có chuyện gì nào?

Cang nhìn quanh nhà:

- Chị lại sắp đóng cửa hàng sớm thế?

Bà Chín làm bộ lo âu:

- Đêm nào, các ông Giải Phóng cũng bắn pháo vào, chị sợ lắm, tên bay, đạn lạc lỡ ra lại thiệt thân. Chị là dân thưng, chậm chạp, có đâu lanh lẹ như mấy chú nhà binh?

Sau mấy câu thăm hỏi, Cang hạ giọng:

- Chị Chín ơi! Em đến với chị hôm nay là do có mấy nguồn tin nói về cái nhà này của chị...

- Tin gì? Lành hay dữ, chú?

- Chúng nó nói: bữa hôm qua, nhà này có khách lạ từ xa đến có phải không?

 - Khách lạ? Không phải đâu! Khách Sài Gòn về bán hàng cho tôi đó. Toàn là khách cỡ bự thôi. Mấy ông bạn của Ba Tàu chợ Lớn. Ai nghi ngờ, thắc mắc nói với các chú là nhà tôi có khách lạ? Đã là tiệm buôn thì ai cũng có thể vào, quen hay lạ có sao đâu nhỉ? Người ngay thì tôi tiếp. Kẻ gian đáng phải xét giấy tờ thì các chú cứ xét, cứ bắt, có phải không?

Cang giảng giải:

- Như chị đã biết, mấy bữa nay chộn rộn lắm. An ninh quân đội sẽ thu gom, xét hỏi một số người lạ mặt, đề phòng bất trắc cho dân chúng thôi mà!

Bà Chín thấy cần phải nghiêm giọng nói:

- Thế thì chú dễ tin thật! Tin vịt, tin thất thiệt mà cũng tin chúng nó hay sao? Tôi nói cho chú biết: khách nhà tôi nhiều lắm. Khách xa có thể ngủ lại vài ngày. Tôi chịu trách nhiệm hết. Con tôi, thằng Hai là thượng sĩ của sư đoàn 45, ông xã tôi quen hết viên chức cao cấp ở Sài Gòn! Nhà này chứa chấp Việt Cộng sao? Khách của tôi đấy, chú muốn bắt ai thì bắt đi! Bắt thì dễ thôi, thả ra mới khó chứ! Có phải chú thực thi lệnh của ông Phạm Văn Phú không? Việc quan thì chú cứ... phép công thi hành!

Cang thấy rát mặt, muốn xuống thang:

- Dạ. Bà chị lại hiểu lm em rồi. Chả là có tin mật báo thì em phải thông báo cho chị đề phòng kẻ gian trà trộn trong đám khách hàng, làm phiền cho chị…

Bà Chín lắc đầu:

 - Đứa nào rục rịch, tôi sẽ gọi mấy chú bắt liền! Nếu cần thì tôi điện cho ông Chín ở Sài Gòn, ông ấy sẽ đến gõ cửa ông Trần Thiện Khiêm, tổng trưởng Bộ quốc phòng, đến giờ nào cũng được! Chú về nói lại với ông Phạm Văn Phú như thế nhé!

- Dạ.

Tên Cang không ngờ lại gặp một đối thủ già dặn như bà Chín. Hắn muốn đánh bài chuồn, liền quay sang tên lính lái xe:

- Chú uống nước đi rồi ta về thôi. Chị Chín nói có lý lắm...

Nửa giờ sau chiếc xe Jep lại chở tên Cang về Sở chỉ huy của Phạm Văn Phú. Trên khuôn mặt lơ láo của Cang còn in rõ những toan tính, lo âu.

Bà Chín nhìn theo tên ác ôn, mỉm cười kiêu hãnh vì đã đuổi khéo được tên trùm mật vụ để bảo vệ an toàn cho tổ công tác của Bảy Hùng, Năm Dũng, Trần Kỳ và Lê Văn Tâm.

Buổi tối, cơm nước xong, bà Chín khoe ngay với Bảy Hùng về cuộc tiếp xúc với tên Cang. Bảy Hùng cười:

- Đối sách của chị là rất kịp thời, em xin bái phục!

- Có chi đâu mà chú lại quá khen chị? Làm cho chị mắc cỡ lắm!

Trần Kỳ nói chen vào:

- Bọn chúng nó đang sợ quân ta đánh vào Play Cu nên bố ráp bừa bãi. Chúng nó bắt giữ một số người, nhưng toàn là... vớ vẩn cả!

Lê Văn Tâm nhìn dì Chín bằng một cái nhìn cảm phục, một người đàn bà bề ngoài chỉ là một bà chủ tiệm buôn, mà bên trong lại tiềm ẩn một năng lực khác thường, có thể ứng phó với những hoàn cảnh éo le, chuyển bại thành thắng. Sự che chở của dì Chín với cả tổ công tác làm cho mọi người rất yên tâm. Riêng đối với Tâm, anh đã suy ngẫm và nhớ lại tất cả một tháng trời bị tên Cang giam lỏng trong phòng biệt giam số 1, số 2A. Lúc ấy là cá chậu, chim lồng, cái sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Còn lúc này, cũng ở Plây Cu, trong vòng vây của địch mà sao anh thấy yên ổn lạ thường?

Cách mạng thật là kỳ diệu! Người tổ chức đường dây này không ai khác ngoài Bảy Hùng, một con người ngang ngạnh có sức thuyết phục, lôi cuốn được cả dì Chín... Dì Chín không thiếu gì của cải, địa vị, danh lợi, vậy mà lại tự nguyện phục vụ cách mạng...

Có lẽ dì Chín đã tận mắt nhìn thấy bộ mặt thật của các quan chức trấn ải Cao Nguyên này từ bao năm nay, từ Dư Quốc Đống đến Nguyễn Văn Toàn và ngày nay là Phạm Văn Phú, họ đã tác oai, tác quái, ném bao nhiêu sinh mạng thanh niên vào cuộc chiến tranh phi nghĩa này! Cho đến khi đứa con trai độc nhất - thằng Hai - của dì Chín bị bắt vào quân dịch thì dì Chín đã không thể bàng quan được nữa. Dì hiểu được mình sẽ phải làm gì để giữ lấy đứa con cũng như còn có thể cứu giúp được nhiều người khác nữa. Dì được Bảy Hùng giác ngộ cách mạng với lời hứa; lúc nào cần thiết phải đưa thằng Hai ra vùng căn cứ kháng chiến thì chỉ cần một đêm đi theo đường của giao liên là coi như mọi chuyện sẽ được an bài. Song, nước cờ ấy chưa phải đi tới. Dì Chín vẫn còn đứng được ở cái thế rất vững vàng!

 Càng cảm phục những con người kỳ lạ ở đây, Tâm càng cảm thấy trách nhiệm của mình được giao, càng thấy cần phải làm việc hết mình cho pháo binh ta đánh trúng, đánh mạnh hơn nữa gây khiếp đảm cho địch ngay trong sào huyệt của chúng. Bên cạnh Tâm bây giờ còn có trung đội trưởng Trần Kỳ, một con người quả cảm. Trần Kỳ vừa là chỗ dựa của Tâm, lại vừa là người luôn động viên, cổ vũ cho Tâm vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ...

 

XIII

PHẠM VĂN PHÚ CHĂM CHÚ LẮNG NGHE TÊN PHA Cang báo cáo rất dè dặt:

-  Trình thiếu tướng, tôi đã cho bắt hết 19 tên nghi vấn (loại A) có chồng con tập kết. Còn lại một gia đình bà Chín, khách cứ vào nườm nượp, tôi muốn gom luôn, nhưng lại sợ đụng đến ông chồng bà ta đang ở Sài Gòn...

Phú xua tay:

- Ấy, anh đừng có động đến bà này. Chứng cớ đâu mà bắt? Phải là Việt Cộng nằm vùng. Tốt nhất là anh cứ răn đe và cho mấy thằng lính ngày đêm bao vây thật chặt. Có đứa nào lén lút cũng không dám hành động. Phải giữ cho Plây Cu yên tĩnh. Nếu đối phương có tập kích đánh vào đây thì họ cũng không có thể quấy rối hậu phương của ta được!

- Dạ.

 Cang đứng lên, ra khỏi phòng làm việc của Phú. Một lát sau Lê Khắc Lý tham mưu trưởng đẩy cửa vào. Phú ngửng lên:

- Ông Lý! Đại tá tham mưu trưởng có ý kiến gì mới không?

Lý ngồi xuống, đối diện với Phú:

- Nhất định đối phương sẽ đánh vào Kon Tum rồi sẽ đánh vào Plây Cu! Ở cả hai nơi, ta đều có bố trí, đ phòng. Vì vậy, đối phương còn phải tính toán...

Phú nhếch mép cười:

- Đụng vào đây, đâu có dễ? Ba trung đoàn chủ lực, bảy liên đoàn quân biệt động, bốn thiết đoàn sẽ giáng trả những đòn đích đáng!

 Lý lại hỏi:

 - Nhưng, tại sao họ rậm rịch cả tháng nay rồi mà chưa đánh?

Phú tỏ ra cao kiến hơn:

 - Họ cứ pháo kích, buộc ta phải mất ăn, mất ngủ, quân tướng đều mệt mỏi, lúc ấy họ đánh vào mới “ngon” chứ!

Lý gật gù:

- Anh nói có lý!

Phú lại thao thao:

- Thế nào họ cũng đánh, chỉ có sớm hoặc muộn thôi, mà họ thường đánh ban đêm. Ta đề phòng cẩn thận thì sẽ tiêu diệt và đẩy lùi được bất cứ mũi tấn công nào. Điều quan trọng là đừng có để cho họ luồn sâu vào đường phố, phải chặn đánh từ xa nếu họ xâm nhập. Tôi đã lệnh cho ông Phạm Duy Tất phải đảm trách việc này!

Ngừng một phút, Phú lại hỏi:

- Anh có biết vì sao họ vẫn pháo kích sân bay Cù Hanh của ta?

Lý đáp:

- Vì họ rất sợ máy bay của ta. Họ muốn phá huỷ máy bay của ta càng nhiều, càng tốt...

- Anh nói đúng! Ta có thế hơn họ vì ta có nhiều máy bay có thể cất cánh bất cứ lúc nào... Cho nên, tôi vẫn yêu cầu máy bay ném bom, chủ động tấn công đối phương, để họ đánh ta rồi ta mới bị động đối phó là hạ sách!

Lê Khắc Lý nghe lời bàn của Phú và cảm thấy thời gian trôi thật chậm chạp, nặng nề trong tình hình căng thẳng. Hắn cười gượng gạo:

- Đối phương muốn “tra tấn" chúng ta thêm ít ngày nữa rồi bất chợt sẽ đánh mạnh. Nếu ta không tích cực đề phòng thì ta sẽ bị tổn thất đau đớn!

Phú nói kiêu căng:

- Đối phương muốn thắng một vài trận để tuyên truyền, nhưng đánh ta đâu có dễ!

*****

Ngồi lại một mình, Phú bỗng nhớ đến Ngọc Ngà. Cô gái đã về Nha Trang được mấy hôm rồi. Nếu không vì những trận pháo kích dữ dội thì Ngọc Ngà vẫn có thể còn ở lại đây, song tình thế đã buộc Phú phải tìm nơi an toàn cho Ngà lánh nạn. Suốt mấy tháng trời, cuộc tình của Phú với Ngọc Ngà mang đầy tính chất lãng mạn cũng như cuộc tình của Lãng Tử với Lệ Ninh. Dù sao hai cô gái cũng giúp cho Phú và Lãng Tử khuây khoả nỗi buồn và tìm được thú vui rất “trần thế”.

Trong phút giây trống vắng, Phú gọi dây nói về Đà Lạt, gặp Lãng Tử:

- Lãng Tử! Ông vẫn khoẻ đấy chứ? Lệ Ninh đâu? Có nhớ Plây Cu không?

Từ đầu dây nói bên kia, Lãng Tử trả lời sôi nổi:

- Rất vui! Tôi và em Ninh rất nhớ ông và cô Ngà! Ngà có khoẻ không?

- Khoẻ cả! Nhưng tôi phải đưa em về Nha Trang rồi. Ở đây, đêm nào Việt Cộng cũng pháo kích, làm sao mà có thể yên ổn được?

Lãng Tử kêu lên:

- Thế thì quả là bất hạnh! Tôi và em Ninh chẳng dám về. Tôi về chẳng giúp được gì cho ông mà lại làm vướng cẳng ông trong lúc ông còn đang lo đối phó với tình thế, có phải không?

Phú gật gù:

- Ông nói đúng! Cứ ở Đà Lạt, khi nào Plây Cu thật yên ổn, tôi sẽ cho xe lên đón ông và em Ninh về!

- Cám ơn ông! Nhưng mà nếu có tin tức gì mới nhất, ông nhớ “phôn” cho tôi nhé, ở trên này mù mịt lắm!

- Yên tâm! Tôi không quên Lãng Tử đâu!

Phú đặt ống nghe, xoa tay đứng dậy đi từng bước một trong phòng khách. Hắn nghĩ đến công việc ngày mai, chắc chắn là sẽ bận rộn hơn hôm nay, làm thế nào đẩy được các cuộc tấn công của đối phương đang có thể xảy ra bất cứ lúc nào?...

 

XIV

 

KỂ TỪ ĐẦU THÁNG 3, ĐÊM NAY LÀ ĐÊM thử mười Plây Cu bị pháo kích dữ dội.

Theo lệnh của Phạm Văn Phú, thiếu tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, các sĩ quan chỉ huy dưới quyền đều túc trực tại nhiệm sở để có thể ứng phó kịp thời nếu đối phương tập kích bất ngờ vào Plây Cu và Kon Tum.

Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm đôn đốc cả ba trung đoàn bộ binh số 44, 45 và 53 đang đồn trú ở Play Cu.

Đại tá Phạm Duy Tất chỉ huy 7 liên đoàn biệt động Hà quân chốt chặn tất cả các ngả đường dẫn vào thị xã.

Ngồi trong Sở chỉ huy quân khu 2 lúc này, ngoài Phạm Văn Phú, còn có Lê Khắc Lý, đại tá tham mưu trưởng, người luôn đi cùng Phú như hình với bóng.

Từ chiều, các chốt tiền tiêu trên đường 14, 19 đều báo cáo về: mặt trận vẫn yên tĩnh. Một vài cuộc chạm súng lẻ tẻ có tính chất thăm dò. Từ 9 giờ tối đến 11 giờ đêm, sân bay Cù Hanh lại bị pháo kích dồn dập.

Lý nói với Phú:

- Tôi cho rằng Việt Cộng sẽ đánh cùng một lúc ở cả hai nơi: Kon Tum và Plây Cu để chia sẻ lực lượng phòng thủ của ta. Khác với việc đánh chiếm Phước Long ở đây họ chỉ có thể đánh phá rồi lại rút lui. Nếu thế, ta sẽ bao vây, tiêu diệt gọn tất cả những tốp lọt vào thị xã, không cho chúng rút lui trước khi trời sáng...

Phú tỏ ý tán thành:

- Tôi cho rằng họ sẽ dùng lực lượng tiểu đoàn gọn nhẹ để đánh nhanh, rút gọn...

Nghe Phú nói, Lý hiểu thêm được rằng: những cuộc tập kích của đối phương nay mai là không thể tránh được và nhất định đối phương sẽ đánh vào hai thị xã lớn là Kon Tum và Plây Cu. Sẽ có tổn thất, nhưng làm thế nào để không bị tổn nặng nề. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào sức chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hoà.

Hai ly cà-phê nóng, một hộp thuốc lá và một chai rượu mạnh để chống buồn ngủ cho cả hai người. Phú giụi điếu thuốc lá cháy dở vào chiếc gạt tàn, chưa kịp nói thêm điều gì thì chuông điện thoại đã đổ hồi. Phú cầm ống nghe, lẩm bẩm:

-  Lại có chuyện chi đây?

Bỗng, Phú hỏi đồn dập:

- Buôn Mê Thuột hả? Sư đoàn 23 hả? Vũ Thế Quang hả? Có gì khẩn cấp thế? Nói đi!

Từ đầu dây nói đằng kia, đại tá Vũ Thế Quang sư đoàn phó sư đoàn 23 báo cáo dồn dập:

- Việt Cộng tấn công vào đây rồi! Tấn công đại quy mô, có bộ binh cỡ tiểu đoàn, có xe tăng, xe bọc thép, pháo bắn dữ dội vào sân bay Hoà Bình và Sở chỉ huy sư đoàn, vào tiểu khu, vào dinh tỉnh trưởng...

- Ta phòng thủ thế nào, chống cự thế nào? Có đẩy lùi được các mũi tấn công không?

- Ta đang đánh trả quyết liệt nhưng đối phương đánh rất bất ngờ, lại đánh lớn, nhiều đơn vị đang tràn vào các đường phố. Không phải họ quấy rối mà là đánh lớn. Súng nổ bắt đầu lúc 2 giờ sáng, bây giờ đã 15 phút rồi, yêu cầu quân khu tăng viện cho chúng tôi và chuẩn bị khi trời sáng thì cho máy bay bắn phá, yểm qua trợ cho chúng tôi!

Phú quay sang Lý:

- Buôn Mê Thuột đang bị tấn công! Vũ Thế Quang đang kêu cứu và xin tiếp viện, đây anh nghe!

Lý đón ống nghe từ tay Phú, áp vào tai:

- Quang đấy hả? Nói đi! Nói tiếp đi! Sân bay Hoà Bình và kho Mai Hắc Đế đang bị đánh dữ dội à? Xe tăng T.54 đang tràn vào à? Được, cứ giữ vững vị trí chiến đấu. Khi trời sáng sẽ có máy bay và bộ binh chi viện. Nếu địch phá rồi rút thì ta phải chặn đánh, không cho chúng rút, nghe! Giao cho tổng đài giữ nguyên máy nói để báo cáo tiếp, nghe! Lý ngửng lên nhìn thấy rõ nét mặt đang tái đi của Phú. Phú nói qua hơi thở dốc:

 - Thế là Việt Cộng đã tấn công bất ngờ vào Buôn Mê Thuột, nơi mà cả tôi và anh đều không ngờ đến. Anh phát lệnh báo động khẩn cấp cho cả Kon Tum và Plây Cu, đề phòng Việt Cộng có thể đồng loạt tấn công!

Lý đã làm theo lệnh Phú, gọi cho Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật. Cẩm vừa nghe tin sét đánh, đã rụng rời chân tay:

- Trời ơi! Nếu kho hậu cần Mai Hắc Đế mà bị mất thì quân trang, quân dụng, vũ khí đạn dược của cả Cao Nguyên này coi như đã.... “cúng” cả cho Việt Cộng rồi còn gì! Tình báo của các ông làm ăn thế nào mà mù tịt thế?

Đại tá Phạm Duy Tất, chỉ huy 7 liên đoàn biệt động quân đã lặng người đi một hồi lâu rồi mới nói:

-  Các ông lệnh cho tôi đồn hết cả quân về giữ Plây Cu và Kon Tum để cho Việt Cộng đánh vào Buôn Mê Thuột! Thế là các ông trúng kế “giương Đông, kích Tây” của Việt Cộng rồi! Làm sao bây giờ?

Lý đành phải dịu giọng:

- Sớm mai sẽ cho máy bay ném bom, bắn phá vào đội hình Việt Cộng. Nếu chúng không rút thì sẽ có quân dù nhảy xuống tái chiếm Buôn Mê Thuột!

Phạm Duy Tất la lên:

- Việt Cộng thường dùng cách đánh quân tiếp viện đấy! Các ông tính đến khả năng này chưa? Rơi vào lưới lửa phục kích của Việt Cộng là “rồi đời ” đấy!

Nghe Lý nói lại ý kiến của chuẩn tướng Trần Cẩm và đại tá Phạm Duy Tất, Phú càng lo lắng:

- Tôi là tư lệnh, anh là tham mưu trưởng, chúng ta phải chịu trách nhiệm về tổn thất này, nếu Việt Cộng không rút lui mà còn trụ lại Buôn Mê Thuột như họ đã trụ lại Phước Long thì thật là nguy kịch. Anh gọi lại cho Vũ Thế Quang, yêu cầu nó báo cáo tiếp. Tôi sẽ gọi về Sài Gòn cho ông Cao Văn Viên tổng tham mưu trưởng và sau đó phải gọi về Phủ tổng thống. Ông Viên, ông Thiệu sẽ chẳng hài lòng đâu, nhưng phải báo động để yêu cầu chi viện tối đa cho Cao Nguyên, chứ còn biết làm sao bây giờ?

 Đêm càng gần về sáng, tin từ Buôn Mê Thuột càng đồn dập gọi về: sau Vũ Thế Quang, lại đến đại tá tỉnh trưởng Nguyễn Công Luật.

1) Xe tăng tràn vào càng nhiều!

2) Không có đơn vị Việt Cộng nào rút lui, chứng tỏ họ muốn chiếm đóng, muốn ở lại...

3) Quân ta đã bỏ kho Mai Hắc Đế, bỏ sân bay, co cụm lại giữ sư đoàn bộ, toà nhà tỉnh trưởng, căn cứ tiểu khu Đắc Lắc...

4) Chúng tôi đang bị bao vây chặt, đang bị tấn công, trời sắp sáng rồi, yêu cầu cho máy bay bắn phá, giải vây, yêu cầu cho quân dù nhảy xuống cứu ngay!

Phú càng nghe càng hoảng sợ! Tình hình đã nguy ngập đến thế rồi sao?

Đêm đã qua rồi, Kon Tum, Play Cu chưa bị tập kích tức là đối phương chỉ đánh Buôn Mê Thuột...

7 giờ sáng ngày 11-3-1975.

Tin cấp báo của Vùng 2 chiến thuật đã có hồi âm từ Sài Gòn. Bộ tổng tham mưu nói:

- Hãy dùng tất cả không quân để ném bom, bắn phá, thả lính dù xuống chung quanh Buôn Mê Thuột, tiêu diệt, đẩy lui Việt Cộng ra ngoài thị xã

Tổng thống thì ra lệnh:

-  Bằng bất cứ giá nào cũng phải tái chiếm Buôn Mê Thuột, quét sạch Việt Cộng, truy kích tìm diệt tàn quân của chúng, giữ vững đường 14, đường 21 và đường 19!

Cùng lúc ấy chuẩn tướng Trần Văn Cẩm phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật được Phú mời về:

-  Anh về đây. Tôi với anh cùng lo cái vụ này...

Cẩm lại gọi dây nói cho Vũ Thế Quang: không có ai trả lời. Cẩm hỏi Phú:

- Sao lại lặng im thế này?

Phú nói:

- Anh quay sang tổng đài của toà tỉnh trưởng xem sao?

Năm phút sau, Cẩm nhận được tiếng trả lời từ toà tỉnh trưởng:

- Tôi, Nguyễn Công Luật đây, toà tỉnh trưởng đây!

-  Anh Luật à? Nói đi, sao tôi gọi cho Vũ Thế Quang mà không có ai trả lời?

-  Việt Cộng tràn vào Sở chỉ huy sư đoàn 23 rồi! Có lẽ Quang đã bị bắt sống cùng với cố vấn Mỹ, ông Pôn-xtru-ha-rích.

- Còn các anh?

- Việt Cộng đang bắn về phía toà tỉnh trưởng đây. Chúng tôi đang ở dưới hầm ngầm và đang chống đánh quyết liệt! Như vậy là Việt Cộng không rút mà ở lại chiếm đóng Buôn Mê Thuột?

- Phải rồi, các anh cho máy bay và quân đổ bộ xuống chưa? Mong lắm! Mong lắm! Sao chưa thấy máy bay đến giải vây? 7 giờ rồi!

-  Hãy đợi chút nữa thôi. Máy bay cất cánh rồi đó. Có cả ông Tường, đại tá sư đoàn trưởng cũng sẽ cùng nhảy xuống với quân đổ bộ đó.

- Thế à? Lẹ lên, trời sáng lâu rồi. Nếu không có quân tiếp viện thì chúng tôi sẽ rất nguy ngập ở đây!

Cẩm đưa ống nghe cho Phú:

- Anh nghe đi! Hỏng! Hỏng hết rồi!

- Phú gọi như hét:

-  Alô! Alô! Toà tỉnh trưởng đâu? Alô! Anh Luật đâu? Anh Luật đâu?

Không có tiếng trả lời Phú đưa lại ống nghe cho Cẩm: Không thấy Luật trả lời nữa rồi!  Có thể lại có nguy biến mất rồi!

Cẩm gọi lại một lần nữa, nhưng sau những tiếng lai “Alô! Alô! Toà tỉnh trưởng đâu?” vẫn là sự im lặng.

Cẩm đặt ống nghe xuống bàn:

- Có thể Việt Cộng lại tràn vào toà nhà tỉnh trưởng và ông đại tá Nguyễn Công Luật bị ngụp rồi! Nếu ông Luật cũng bị bắt với Vũ Thế Quang và ông cố vấn Mỹ thì Buôn Mê Thuột đang một thảm kịch!

Đúng 8 giờ sáng; Plây Cu đã mất liên lạc hoàn toàn với Buôn Mê Thuột!

Phú nói với Cẩm những tiếng rời rạc:

- Không phải Việt Cộng chỉ chiếm Phước Long mà bây giờ họ chiếm cả Buôn Mê Thuột, rồi họ sẽ chiếm cả Plây Cu và Kon Tum! Biết làm sao bây giờ?

Cẩm nhìn rõ nét tuyệt vọng trên khuôn mặt của Phú, hắn cố làm ra vẻ bình tĩnh:

- Để tôi gọi dây nói mời ông chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6...

Phú gật đầu:

-  Anh gọi đi! Mời ông Sang đến đây ngay bây giờ...

Cẩm đã gọi dây nói cho Sang theo lệnh của Phú.

Mười lăm phút sau, Phạm Ngọc Sang đã có mặt tại sở chỉ huy của Phú.

 Sau khi báo cho Sang biết tình hình nghiêm trọng ở Buôn Mê Thuột, Phú nói:

- Anh xem còn bao nhiêu trực thăng, cho tập trung lại, chở quân của các trung đoàn 53, 45, 44 đổ xuống Phước An để từ đó tiến vào Buôn Mê Thuột, tái chiếm lại thị xã này! Ông Lê Trương Tường đại tá, tư lệnh sư đoàn 23 cũng sẽ bay đến Phước An để chỉ huy cuộc tái chiếm Buôn Mê Thuột. Anh phải cho máy bay ném bom, bắn phá vào các vị trí đóng quân của Việt Cộng nhiều hơn nữa, trong khi chờ Sài Gòn bay lên tiếp viện...

Sang trầm ngâm một lát rồi nói:

- Việt Cộng đánh lớn mà không rút lui, lại có cả xe tăng T.54 nữa thì họ sẽ có cả pháo cao xạ. Máy bay của ta phải bay cao và thật cẩn thận, nếu không sẽ bị bắn rớt đó…

Phú nói:

- Tất cả, tôi trông cậy vào tài chỉ huy thao lược của anh đó! Có thể là cho máy bay bắn phá dọn đường trước rồi trực thăng sẽ đổ quân sau...

Rồi, để cho Phạm Ngọc Sang yên tâm, tin tưởng hơn, Phú nói tiếp:

- Các anh ngồi chờ đây một lát, tôi gọi về Sài Gòn, gọi cho ông Đặng Văn Quang hỏi xem quyết định mới nhất của tổng thống như thế nào?

 Chỉ mười phút sau, Phú đã nghe rõ tiếng nói của Đặng Văn Quang từ Sài Gòn:

- Ông Phú, phải không? Chào tư lệnh chiến trường! Buôn Mê Thuột khó giữ lắm hả? Tôi đã trình tổng thống. Tổng thống nói: Chánh phủ sẽ tăng viện không quân. Còn các anh phải lo đưa quân chủ lực từ Plây Cu trở lại, tái chiếm Buôn Mê Thuột! Anh cho biết tin tức mới nhất xem nào?

Phú nói rành rọt:

- Ngồi trước mặt tôi đây là hai ông chuẩn tướng: chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh và chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6. Chúng tôi đang bàn việc tái chiếm Buôn Mê Thuột nhưng từ 8 giờ đã mất liên lạc với tỉnh trưởng và sư đoàn 23 rồi. Có tin mấy ông này đều đã bị Việt Cộng bắt sống, kể cả ông cố vấn Mỹ Pôn-xtru-ha-rích. Đường số 14 đã bị băm nát rồi. Có thể Việt Cộng ngăn chặn quân ta từ Plây Cu đánh xuống để rồi họ sẽ củng cố Buôn Mê Thuột và tiếp tục đánh lên Plây Cu. Chúng ta đã mắc sai lầm lớn khi nói rằng Plây Cu bị uy hiếp, thực tế là Việt Cộng nghi binh, hoạt động nghi binh của họ quá giỏi, đùng một cái, họ đã đánh Buôn Mê Thuột là nơi ta bố trí lực lượng mỏng nhất, ít nhất và họ đánh rất ngon! Chúng tôi kém cỏi đã bị đánh, Bộ tổng tham mưu của ông Cao Văn Viên mà cũng không biết gì, cũng cứ nói rằng Việt Cộng sắp đánh Plây Cu, có ai nói đến Buôn Mê Thuột đâu! Bây giờ thì đã quá muộn rồi! Sân bay Hoà Bình mất, kho Mai Hắc Đế mất, toà tỉnh trưởng mất, sư đoàn bộ cũng mất. Tướng tá bị bắt, quân lính bị chết, xe tăng T.54 tràn ngập, làm thế nào đây? Chúng tôi cố gắng đã đành, nhưng các ông không yểm trợ tối đa, không chi viện tối đa thì làm sao mà tái chiếm lại Buôn Mê Thuột? Đó, tin tức mới nhất là như thế đó! Yêu cầu của chúng tôi là như thế đó! Ông trình lên ngay với tổng thống giùm tôi, nghe! Cám ơn, cám ơn...

Phú đặt ống nghe và nói với Sang, với Cẩm và Lý:

- Ta cứ hành động khẩn trương, tích cực, thực thi nhiệm vụ ở đây. Trách nhiệm đối với Buôn Mê Thuột còn có cả phn ch quan của ông Cao Văn Viên na! Việt Cộng có mưu sâu, kế hiểm mà Bộ tổng tham mưu lại không giúp được gì cho Vùng 2 chiến thuật! Thật là tồi tệ quá chừng! Anh Sang trở lại sân bay, thực thi nhiệm vụ đi. Còn anh Cẩm ở lại đây với tôi, ta sẽ lấy quân ở các trung đoàn 44, 45, 53 đổ xuống Phước An ngay trong buổi sáng hôm nay, cả anh Lý nữa!

*****

 

Sang đi rồi, còn lại có Phú, Lý và Cẩm. Phú nói như muốn đứt hơi với Cẩm và Lý:

- Ông Đặng Văn Quang hứa đẹp thế thôi, chứ tôi chắc là ông Thiệu chưa huy động đến mấy sư đoàn tổng dự bị chiến lược đâu... Có phải không, anh Lý?

Lý ngồi im.

Cẩm hỏi:

-  Vì sao?

Phú giải thích:

- Vì ở đây ta còn cả ba trung đoàn ở Plây Cu. Ông Thiệu muốn ta tung cả về Phước An để tái chiếm Buôn Mê Thuột. Không quân ta còn nguyên vẹn cả một sư đoàn số 6 của ông Sang kia mà! Ông Thiệu muốn ta cứ dùng hết số lực lượng ta đang có, rồi ngày một, ngày hai, nếu có nao núng thì chánh phủ trung ương mới chi viện tiếp tục. Thế nhưng ta có một khó khăn rất lớn...

-  Khó như thế nào? - Cẩm hỏi lại.

- Khó vì Buôn Mê Thuột thất thủ rồi. Mấy ông chỉ huy kể cả cố vấn Mỹ cũng bị bắt rồi. Việt Cộng ở lại chiếm đóng chứ không phải phá phách rồi rút đi, cho nên tất cả hiện tượng ấy đang làm nản lòng binh sĩ của ta. Nhiều người ở đây nhưng vợ con lại đang kẹt lại ở Buôn Mê Thuột, còn hoang mang, lo sợ, còn bụng dạ nào nữa mà chiến đấu để tái chiếm Buôn Mê Thuột?

Cẩm gật đầu:

- Đúng như thế đấy. Nhưng, ta cứ thử tung về Phước An trung đoàn 53 xem sao. Thêm một số biệt động quân của liên đoàn số 4, số 6. Mỗi đơn vị góp một ít, dùng trực thăng vận đưa về Phước An... Anh là tư lệnh anh ở lại đây, còn lo phòng thủ cả Kon Tum, cả Plây Cu nữa và nhận lệnh của Sài Gòn nếu ông Thiệu có chủ trương gì mới. Tôi sẽ về Phước An cùng với ông Lê Trương Tường sư trưởng sư 23 của ta. Tướng mà không xuất tướng thì quân cũng co vòi lại, đánh đấm gì trong lúc căng thẳng này? Thôi, cứ thế nhé! Tôi đi đây!

Phú siết tay Cẩm thật chặt:

- Thượng lộ bình an nhé! Chúc mã đáo thành công!

Cẩm đi rồi, còn lại một mình với Lý, Phú thấy lòng như lửa đốt. Thế là hắn phải đương đầu với một địch thủ rất mạnh. Rõ ràng hắn đang ở một cái thế bất lợi. Việt Cộng chiếm đóng Buôn Mê Thuột sau nửa đêm đánh chiếm. Vũ Thế Quang, Nguyễn Công Luật và cố vấn Mỹ bị bắt thì Buôn Mê Thuột như rắn mất đầu... Từ thâm tâm, hắn thấy tim mình thắt lại: “Nếu hôm qua mồng 10 tháng 3, lớ ngớ mình có mặt ở Buôn Mê Thuột, chỉ ngủ qua đêm 10-3 thôi thì cũng đã bị bắt sống cùng với Quang và Luật rồi còn gì! Thật là hú vía! Năm 1954 bị Việt Minh bắt ở Điện Biên Phủ rồi được trao trả tù binh, nay bị bắt đến lần thứ hai thì sẽ bị họ treo cổ, chết trăm phần trăm thôi! Nhưng mà ở đây nữa, đâu đã yên thân? Sau Buôn Mê Thuột, sẽ đến lượt Plây Cu và Kon Tum, họ cứ đánh theo đường 14 lên, ta sẽ giữ làm sao? Chống chọi làm sao với xe tăng T.54 và đại bác hạng nặng? Hai sư đoàn thiện chiến 320 và 10 đang thừa thắng xốc tới... Ta có ưu thế về không quân, nhưng họ lại có pháo phòng không bắn lên..." Phú thấy run sợ thực sự. Nếu quân lính bỏ chạy như vịt thì tướng tá chỉ huy ai? Không biết giờ này, vợ hắn - bà Lâm Đệ xinh đẹp - ở Chợ Lớn đã biết tin tức gì chưa? Để vợ con ở lại Sài Gòn, lên đây trấn ải vùng Cao Nguyên, đến nước cờ bí này, biết làm sao dây?

Hắn muốn quên đi tất cả, song tâm trí lại cứ bị khuấy động mãi lên. Đêm qua đã thức trắng…

Lê Khắc Lý hiểu rõ tâm tư của Phú và trách nhiệm làm tham mưu trưởng của mình, càng cảm thấy b bàng... Không dự đoán được âm mưu của đối phương: họ đã chơi trò nghi binh, doạ đánh Plây Cu rồi lại độp một đòn quá mạnh, đánh chiếm Buôn Mê Thuột, có thể họ sẽ dùng Buôn Mê Thuột làm một bàn đạp, theo đường 14 đánh thốc lên Plây Cu. Phú, Cẩm và cả mình nữa sẽ đối phó ra sao?

Thời gian nặng nề trôi.

Phú rót đầy hai ly rượu mạnh và cụng ly với Lý:

- Uống đi anh! Tôi là tư lệnh, anh là tham mưu trưởng, ta là linh hồn của trận chiến đấu quyết liệt này, không thể bị thua nhục nhã được! Ta phải thắng đối phương!

Lý uống cạn ly rượu và biết Phú đang động viên mình. Lý không thể lặng im mãi, hắn nói:

- Nhất định là... phải chiến thắng!

Ba giờ chiều.

Bóng nắng đổ dài ngoài sân Sở chỉ huy, Phú nhận được điện thoại của Cẩm từ Phước An gọi về:

- Anh Phú, anh Lý! Tôi, Cẩm đây! Có nghe rõ không?

- Rõ! Nói đi, anh Cẩm!

- Ta mới đổ xuống Phước An có một tiểu đoàn, đang bị Việt Cộng đánh rất dữ. Lính giạt cả vào rừng! Anh Lê Trương Tường ngồi trên trực thăng, chưa kịp đáp xuống đã bị cao xạ của đối phương bắn lên. Anh Tường bị thương, phải bay trở lại rồi! Tôi sẽ trở về Plây Cu tối nay. Ngày 11 tháng 3, hôm nay, coi như ta chưa có thể đánh về Buôn Mê Thuột được! Các anh gọi về Sài Gòn, nói ông Đặng Văn Quang và ông Cao Văn Viên biết nhé, để hai ông này trình lên tổng thống để sớm mai, tổng thống có quyết định gì mới cho chúng ta không?

Phú buồn rầu nói:

- Thôi được. Rõ cả rồi. Tối nay, anh về đây, ta lại bàn tiếp...

Phú đặt ống nghe, nói với Lý:

- Có dễ “ăn” đâu kia chứ! Sai một ly, đi một dặm. Mới chỉ có một đêm, một ngày mà cục diện đã thay đổi nhiều quá! Lý lắc đầu ngao ngán:

- Cơ đen, vận bĩ rồi đây...

Phú đứng lên:

- Anh nói giùm tôi với thằng đầu bếp: chuẩn bị cho tôi với anh bữa ăn chiều đi thôi. Có lẽ ta ăn cháo cho đỡ mệt. Từ sáng tới giờ chưa có hột cơm vào bụng, chỉ thấy khát mà không thấy đói...

 

XV

 

BUỔI TỐI THÁNG BA Ở ĐÀ LẠT, TRỜI VẪN còn lạnh.

Ngồi bên máy thu thanh, Lãng Tử nghe bản tin buổi tối của đài BBC, anh giật thót mình, gọi ông Đạt, chủ tiệm ăn Hoàn Mỹ:

- Anh Đạt ơi! Vào đây!

Biết là có tin mới lạ. Ông Đạt xăm xăm bước tới:

- Tin gì đó? Việt Cộng đánh Buôn Mê Thuột rồi!

- Thật à?

- Thật chứ! Đài Sài Gòn chưa nói gì, đài Hà Nội và đài Giải Phóng cũng chưa nói gì, nhưng BBC thì nói rất rõ: 2 giờ sáng hôm qua 10-03-1975, Việt Cộng sau nhiều ngày pháo kích Plây Cu và Kon Tum để nghi binh, làm cho ông Thiệu, ông Phú tưởng rằng họ sẽ đánh Plây Cu - Kon Tum, rồi bất ngờ đêm qua tấn công dữ dội chiếm được Buôn Mê Thuột bằng xe tăng T54 của Nga Xô, bằng đại bác và nhiều sư đoàn chủ lực. Quân ông Phú bị đánh tan tác, tỉnh trưởng bị bắt, phó tư lệnh sư đoàn 23 cũng bị bắt, cố vấn Mỹ cũng bị bắt. Kho Mai Hắc Đế, sân bay Hoà Bình, toà tỉnh trưởng, tiểu khu Đắc Lắc, tất cả đã lọt vào tay Việt Cộng. Chiều nay, 11 tháng 3, quân ông Phú phản kích định tái chiếm Buôn Mê Thuột lại bị đánh tan, sư đoàn trưởng sư đoàn 23, ông chuẩn tướng Lê Trương Tường ngồi trực thăng cũng bị pháo cao xạ của Việt Cộng bắn bị thương, phải rút chạy rồi!

Ông Đạt ngao ngán;

- Chết! Chết thôi. Việt Cộng đánh ác như thế thì ông Phú sẽ mất Cao Nguyên! Chú thử gọi điện cho nó xem sao?

Lãng Tử lắc đầu hoài:

- Phú chắc là đang còn “tang gia bối rối”, không nên hỏi thăm hắn làm gì! Anh để em gọi điện cho một thằng bạn thân làm phóng viên báo TRẮNG ĐEN Sài Gòn, hỏi nó thì có tin sốt dẻo, chính xác thôi.

Bà Lan Hương, cô Lệ Ninh đang trò chuyện ở phòng bên cạnh, nghe tin chiến sự cũng kéo nhau vào ngồi bên cạnh ông Đạt và Lãng Tử để nghe ngóng và góp chuyện.

Bà Lan Hương nói với Ninh:

- May cho cô chú nhé. Còn ở Plây Cu hôm nay thì cũng đến hết vía, hết hồn!

Lệ Ninh ngồi nép vào lòng bà Hương:

- Rối ren như thế này thì em về làm sao?

-  Thôi cứ ở lại đây với anh chị. Có yên ổn thì mới về được chứ!

Lãng Tử đã gọi được điện thoại về Sài Gòn. Ở đầu dậy nói đằng kia có tiếng đàn ông nói oang oang:

- A lô! Lãng Tử đấy hả? Tôi đây, Võ Tùng đây. Ở toà báo Trắng Đen đây! Buôn Mê Thuột thất thủ rồi! Việt Cộng chiếm hết rồi! Cả Sài Gòn nghe đài phương Tây đều biết, ấy thế mà ông Thiệu, ông Kỳ lại cho “me-xừ” Lê Trung Hiền, phát ngôn nhân của các ông ấy họp báo nói bai bải rằng: đó là tin thất thiệt! Việt Cộng có đánh Buôn Mê Thuột, song bị thiệt hại nặng nề đã rút chạy. Chánh phủ vẫn giữ được Buôn Mê Thuột và đang truy kích quân Cộng Sản chạy tán loạn vào rừng!

- Báo chí Sài Gòn có loan tin này không?

- “Me - xừ” Lê Trung Hiền nói: chánh phủ cấm đưa tin! Không may cho một anh nhà báo Pháp, phóng viên AFP tên là Pôn Lê-ăng-đơ-ri lại nhanh nhảu phát tin ra nước ngoài, rằng Việt Cộng đã chiếm được Buôn Mê Thuột và đang còn chiếm đóng như đã chiếm đóng Phước Long. Thế là ông Thiệu điên tiết, hạ lệnh cho Tổng nha cảnh sát gọi phóng viên AFP đến chất vấn. Đôi bên cãi lộn một hồi rồi cảnh sát trưởng nổi khùng lên, đã rút súng lục bắn chết ngay ông Pôn Lê-ăng-đơ-ri tại Sở cảnh sát đô thành!

- Chà! Họ làm dữ quá!

- Nhà báo Pháp còn bị bắn chết. Mấy anh nhà báo “lô-can”, “bản xứ” này thì hãy liệu hồn, vớ vẩn là... ăn đạn như chơi! Dân chúng chạy loạn về nói ầm ĩ lên rồi. Tôi biết là Buôn Mê Thuột đã thất thủ! Chắc là mấy ông Vi-si sẽ còn đánh lớn! Ông đi ngao du miền sơn cước bao giờ mới về Sài Gòn?

Lãng Tử cười, trả lời Võ Tùng:

- Còn đi lan man, chưa có tác phẩm gì hay thì chưa về được đâu! Ở đây với anh chị Hoàn Mỹ trên Đà Lạt vui lắm mà! Thôi chào nhé! Có gì hay, vui, mới, lạ thì gọi cho tôi, nghe. Cám ơn ông nhiều!

Lãng Tử đặt ống nghe, nói với ông Đạt, bà Hương:

- Thế là chính xác rồi, anh chị ạ. Ngày mai ta nghe tiếp. Chắc rồi đài Sài Gòn, đài Hà Nội sẽ nói thôi...

 Ông Đạt trầm ngâm một lát rồi nói:

- Thế này là có dấu hiệu bất ổn cho Quốc Gia rồi! Làm chính trị thời nay đâu có dễ! Anh em Ngô Đình Diệm có cái đảng Cần Lao Nhân Vị, nghe thật quái đản, rồi cũng chết nhục nhã như hai con chó. Tên Ngô Đình Cẩn lãnh chúa Miền Trung - dân Huế thường gọi là “ông cố Trầu” vì y thường nhai trầu cau bỏm bẻm, y có cả bộ máy mật vụ đồ sộ, lúc thất thế, cũng bị ông Thiệu đem vào khám lớn Chí Hoa kết án tử hình, bắn bỏ. Bây giờ ông Thiệu lại có một cái Đảng chính trị tên là Đảng Dân Chủ, có quân đội đang “tràn ngập lãnh thổ”. Nghe thì có vẻ hung hăng đấy, nhưng mới có hơn hai tháng mà lại thất thủ đến hai thị xã quan trọng: mất Phước Bình (tỉnh Phước Long) nay lại mất thêm Buôn Mê Thuột! Còn gì nữa để mà huênh hoang, khoác lác? Tướng lĩnh mà đi buôn thuốc phiện lậu, tướng lĩnh mà tham nhũng để mấy ông ký giả phải xuống đường, “ký giả đi ăn mày!” Loạn, loạn to rồi chú ạ. Cái mầm loạn đã nhú lên. Thế nào cũng có thay quân, đổi quan, thay trời, đổi đất! Nắng sớm, chiều mưa, ai mà biết được? Chuyện nhãn tiền thì quá rõ: Bắc Việt sẽ đánh lớn với nhiều sư đoàn chủ lực có xe tăng, thiết giáp, đại bác đàng hoàng.... Việt Cộng dựa vào rừng núi đánh Cao Nguyên trước, rồi sẽ đánh ven biển sau. Cứ lo đối phó với Việt Cộng, ông Thiệu, ông Phú cũng đã mệt. Tôi e cứ cái đà tiến công như thế này thì Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt cũng khó giữ lắm. Mỹ lại cắt mất viện trợ mấy trăm triệu đô-la, thử hỏi ông Thiệu lấy đâu ra tiền mà phòng thủ Nam Việt Nam?

Bà Lan Hương nghe ông Đạt nói chuyện thời cuộc, lại thấy bồn chồn, bà thở dài hỏi:

- Liệu rồi nay mai có phải chạy loạn một lần nữa không?

Ông Đạt lắc đầu:

- Ở Đà Lạt là yên ổn rồi, chẳng phải chạy đi đâu nữa. Ông nào lên nắm chính quyền thì tôi cũng chỉ là thường dân, làm ăn lương thiện và đóng thuế cho... Nhà Nước!

Rồi ông Đạt lại quay sang Lãng Tử:

- Tôi nói thế có phải không, chú?

 -  Dạ, anh nói... chí phải! Cũng như em, em là nhà văn, nhà báo trung lập, chẳng ôm chân phe phái nào hết. Em sống với bạn bè, với độc giả và sống bằng tác phẩm của em, bằng chính những trang viết của em! Nhà quân sự, nhà chính trị nào biết đến em, có lòng ưu ái thì em. .. xin ngả mũ, em chào! Nếu chẳng may gặp phải bạo chúa nào như... bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng bên Tàu ngày xưa, căm thù nho sĩ nên đã “đốt sách vở, chôn học trò” thì em đành phải chịu!

Ông Đạt:

- Ngày xưa mới có Tần Thuỷ Hoàng, chứ ngày nay văn minh rồi, làm gì có bạo chúa như thế, phải không chú?

Lãng Tử chua chát hơn:

- Thời đại văn minh cũng vẫn có kẻ ác đấy, anh ạ. Ví như bạn em vừa nói qua điện thoại đấy: anh nhà báo Pháp Pôn Lê-ăng-đơ-ri mới bị bắn chết hôm qua đó. Cảnh sát đô thành làm theo lệnh ông Thiệu, bắn chết ký giả ngoại quốc, đó không phải là bạo chúa hay sao? Nhưng… tức nước thì phải vỡ bờ! Như anh nói: cái mầm loạn đã nhú lên rồi. Ông Thiệu, ông Kỳ đang ngồi trên đống lửa! Ta hãy cứ chờ xem... những tấn trò đời, những con rối chính trị đang múa máy, quay cuồng đó!

Lệ Ninh ngồi nghe chuyện của anh em ông Đạt, chẳng hiểu gì mấy, cứ cảm thấy mình như một đứa trẻ ngồi nghe chuyện của người lớn, cô muốn nhắm mắt lại, phó mặc thân mình cho số phận...

Ông Đạt không giấu được nỗi buồn vừa nhen nhóm:

- Ở đời này, chú ngẫm thử mà xem, nếu ai cũng biết sống nhân hậu thì làm gì còn có cảnh xâu xé, chém giết lẫn nhau? Chẳng qua chỉ vì mưu bá, đồ vương, muốn ăn trên, ngồi trốc, làm... cha thiên hạ nên mới có chuyện đì đòm, khổ dân, hại nước!

Lãng Tử nhìn mái đầu bạc trắng của người anh lớn tuổi, chạnh lòng nghĩ đến bản thân, một lúc lâu mới thốt lên: Em đã chui vào cái tháp ngà của riêng em mà chẳng biết có được yên thân hay không?

Ông Đạt an ủi:

- Chú cứ tin như tôi đã tin: ở hiền thì sẽ gặp lành. Mình có tranh giành quyền lực với ai đâu mà ngại? Nhưng chú đã ở cái tuổi “đứng bóng” rồi, phải có bàn tay nội trợ giúp chú thì chú mới yên ổn được, có phải không cô Ninh?

Lệ Ninh được ông Đạt nhắc tới, lại thấy yên tâm. Có cúi đầu nói se sẽ:

- Dạ, thưa anh chị, em cũng nghĩ như thế.

Lãng Tử nói nốt suy nghĩ của mình:

-  Mặc cho thời thế đổi thay. Em và Ninh cũng quyết... cùng nhau đi đến cùng trời, cuối đất! Và không thể không nhờ anh chị!

Ông Đạt cười xoà: Chỉ sợ cô chú chế anh chị nghèo thôi, chứ nếu cô chú ở lại đây thì anh chị sẵn sàng vì cô chú mà sẽ giúp đỡ cô chú bằng tất cả tấm lòng... Còn như mối quan hệ bè bạn của chú với Phạm Văn Phú thì chú cứ cho phép anh nói: đã đến lúc chú phải xem lại, nếu là thời bình thì Phú có thể vì mến mộ tài năng của chú mà làm một Mạnh Thường Quân được. Còn như bây giờ thì Phạm Văn Phú khó có thể giúp thêm cho chú được cái gì nữa? Có thể, chú phải dừng lại ở đây vì tôi thấy Phú đang rất lao đao...

 

XVI

 

BUỔI TRƯA NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 1975, thị xã Plây Cu nhốn nháo hẳn lên vì xe quân cảnh chạy rầm rập trên đường phố. Nhiều tiệm buôn lớn đã đóng cửa. Tin thất thủ Buôn Mê Thuột đã lan truyền ầm ĩ, không còn ai bưng bít được nữa. Binh lính thoát chết chạy về, dân chúng bồng bế nhau đi lánh nạn ngược đường 14 lên phía Bắc mỗi lúc một đông.

Tiệm buôn Phước An của bà Chín vẫn mở cửa bán hàng, song ít có ai mua hàng hôm nay. Bà Chín đã được chú Bảy Hùng nói nhỏ vào tai từ hôm qua:

- Chị cứ mở cửa bán hàng như thường ngày. Em đã bảo thằng Hai Tiến trưa mai phải đi Kon Tum ngay. Em đã ghi địa chỉ trên đó cho nó lên tá túc ít ngày... Nếu không đi ngay là chúng nó bốc lên trực thăng để ném xuống Buôn Mê Thuột tái chiếm thị xã đang nằm trong tay mấy ông Giải Phóng đó!

Huỳnh Văn Tiến - đứa con trai độc nhất của chị Chín - từ doanh trại của trung đoàn đã rảo bước về nhà, nó gọi:

- Má! Chú Bảy bảo con phải đi Kon Tum ngay bây giờ? Bà Chín gật đầu:

- Má biết rồi! Lẹ lên con, lên lầu, thay bộ đồ xi-vin và mang theo hai bộ, má đã bỏ trong cái túi xách tay đó. Má cho con hai trăm ngàn, cũng đã bỏ vào đó cả rồi. Hai cái nhẫn, một đồng hồ Ra-đô con mang theo, khi cần cứ bán đi mà xài ít ngày rồi má cho thêm nghe!

Nửa giờ sau, chú Bảy đã đón thằng Tiến, đèo xe máy cho nó ra bến xe, đi tắc-xi lên Kon Tum. Tiến đi rồi, chú Bảy quay về tiệm Phước An, nói với bà Chín:

- Chị yên tâm. Cháu đi rồi! Trên đó rất bình yên...

Thằng Tiến bỏ ngũ, trốn lính trong lúc nhộn nhạo như thế này, chỉ có má nó và chú Bảy biết mà thôi.

Hai giờ chiều, một tiểu đoàn được đưa lên trực thăng bay về phía Buôn Mê Thuột. Không phải chỉ có Tiến là người duy nhất trốn trại. Vài chục tên đã vắng mặt nhưng chỉ huy chưa buồn hỏi tội ai. Hắn thừa biết có lính trốn đi, nhưng gấp gáp quá rồi, lùa được bao nhiêu tên lên trực thăng hãy cứ lùa đi một chuyến đầu tiên. Ngờ đâu, năm chiếc trực thăng vừa bay tới Phước An đã đổ vội quân xuống và bay trở lại cho nhanh để tránh đạn của đối phương. Cả tiểu đoàn vừa chạm mặt đất đã bị chặn đánh quyết liệt. Hơn mười tên bị bắn hạ, số còn lại vứt súng, chạy giạt vào rừng.

Buổi tối, chú Bảy lại đến gặp bà Chín!

- Chị ơi! Lính chạy như vịt. Buôn Mê Thuột vẫn nằm trong tay Quân Giải Phóng! Chị thấy không? Bây giờ thì tướng Phú và ông Thiệu mới biết: bấy lâu Việt Cộng bắn phá Plây Cu chỉ là... nghi binh vậy thôi. Đánh vào Buôn Mê Thuột mới là đánh thật! Đòn trời giáng đó. Bây giờ quý vị mới biết thì đã quá muộn! Tướng Phú đang kêu gào, xin Sài Gòn cứu viện, nhưng chưa thấy gì. Bom đạn từ Plây Cu đổ xuống chung quanh Buôn Mê Thuột hai ngày hôm nay có ăn nhằm gì đâu? Chỉ toi mạng thêm một số lính.,..

-  Bà Chín hỏi chú Bảy:

- Theo nhận định của chú thì bao giờ Quân Giải Phóng mới đánh về Plây Cu?

- Theo em dự đoán thì sớm muộn quân ta cũng sẽ đánh, nhưng mỗi trận mỗi khác. Chỉ biết rằng quân lính của Phạm Văn Phú hoang mang, dao động đến cực độ rồi đó!

Bà Chín nói nhỏ: xuốn:

- Hàng ngày, có gì biến động, chú phải cho chị biết tin sớm nhé.

- Chị cứ yên tâm. Chú Trần Kỳ, chú Tâm, chú Dũng đang chờ chỉ thị của cấp trên để hành động đúng lúc...

Bà Chín nhìn lại Bảy Hùng từ đâu đến chân.

Bữa nay chú Bảy lanh lợi khác thường. Bà Chín vẫn phải dặn:

- Coi chừng thằng Cang ác ôn đó, nghe!

Bảy Hùng chỉ “Dạ” một tiếng rồi bước vội ra đường, ngược lên phía chợ.

 

***

Buổi tối ngày 12 tại Sở chỉ huy Vùng 2 chiến thuật, Phạm Văn Phú, Lê Khắc Lý và Trần Văn Cẩm cũng ngồi chờ ý kiến trả lời của Đặng Văn Quang từ Sài Gòn. Cả ba khuôn mặt đều đăm chiêu, suy nghĩ trong không khí căng thẳng.

Phú nói chậm rãi:

- Đến hôm nay đã là ngày thứ ba, ta mất Buôn Mê Thuột. Cuộc tái chiếm bằng trực thăng vận lại làm tổn thất thêm một số quân nữa. Phi cơ ta ném bom, bắn phá chung quanh Buôn Mê Thuột chưa giải quyết được vấn đề gì. Kon Tum và Plây Cu vẫn còn bị pháo kích. Đường 14 bị cắt đứt nhiều đoạn, ta không đem quân xuống được nhưng đối phương thì lại đang có thể đánh lên. Anh Vũ Thế Quang, anh Nguyễn Công Luật và ông cố vấn Mỹ bị Việt Cộng bắt sống chưa biết số phận còn mất ra sao? Cả kho dự trữ chiến lược Mai Hắc Đế cũng đã lọt vào tay đối phương. Không có hy vọng tái chiếm nữa mà Việt Cộng lại không rút. Họ có thể dùng Buôn Mê Thuột làm bàn đạp để đánh rộng ra. Anh Lê Trương Tường tư lệnh sư đoàn 23 bị thương, nằm lại đây rồi. Ta sẽ phản kích ra sao? Các anh chuẩn bị ý kiến giúp tôi tổ chức lại cuộc chiến đấu sau khi có ý kiến của tổng thống...

Cẩm hỏi Phú:

 - Anh có nghe đài BBC và Tiếng Nói Hoa Kỳ không?

- Sao?

- Hai dài này đều loan tin thất thủ Buôn Mê Thuột trong khi ông Lê Trung Hiền họp báo ở Sài Gòn vẫn nói ta chưa mất Buôn Mê Thuột để trấn an dư luận.

Phú buồn rầu:

- Ta có cái dở là Cảnh sát đô thành lại bắn chết thằng nhà báo Pháp Pôn Lê-ăng-đơ-ri về cái tội thằng này đưa tin mất Buôn Mê Thuột.

Lý chép miệng:

- Đụng đến hãng AFP cũng phiền quá! Sớm muộn gì thì đài Sài Gòn cũng phải loan tin thật. Đài Hà Nội chưa đưa tin rồi cũng sẽ đưa tin...

 9 giờ tối.

Có chuông điện thoại báo từ Sài Gòn. Cả ba cái đầu đều chụm lại, nghe rõ tiếng Đặng Văn Quang truyền đạt ý kiến của Nguyễn Văn Thiệu:

-  Anh Phú! Nghe tôi nói đây: ý kiến của tổng thống: các anh chuẩn bị đầy đủ tình hình mới nhất để trình lên tổng thống, Bộ tổng tham mưu và Bộ quốc phòng. Sẽ có cuộc họp...

- Ở đâu? Lúc nào?

-  Rất gấp đấy. Ngày giờ và địa điểm họp ngày mai sẽ báo!

- Còn gì nữa không, anh Quang?

- Hết. Sớm mai tôi sẽ gọi lại cho các anh.

Phú đặt ống nghe:

- Thế là đã rõ. Ta đành phải chờ đến sáng mai. Các anh cứ về nhiệm sở. Đêm nay Việt Cộng vẫn còn pháo kích đó. Nhớ báo cho các đơn vị trực chiến: tất cả phải sẵn sàng ứng phó nếu có tình huống xấu xảy ra!

 

*****

8 giờ sáng ngày 14-03-1975.

Sau khi nhận được lệnh từ Sài Gòn, Phạm Văn Phú gọi Phạm Duy Tất đến, căn dặn:

- Lệnh của tổng thống triệu tập tôi, anh Lý, anh Cẩm ra Cam Ranh họp khẩn cấp. Anh ở nhà thay tôi giải quyết mọi công việc. Có gì mắc mớ thì điện cho tôi biết. Các liên đoàn biệt động quân dưới quyền chỉ huy của anh cứ phải giữ nguyên vị trí phòng thủ chung quanh Plây Cu.

Tất hỏi:

- Các anh đi Cam Ranh bao lâu?

 - Chỉ một buổi sáng thôi. Chậm nhất là 2 giờ chiều, chúng tôi sẽ có mặt ở đây rồi.

Phú bắt tay Phạm Duy Tất và vội vã bước lên trực thăng cùng với Lê Khắc Lý, Trần Văn Cẩm bay ra Cam Ranh.

Phạm Duy Tất túc trực ở Sở chỉ huy suốt buổi sáng và đến một giờ chiều thì chiếc máy bay trực thăng HU-1A đậu xuống trước dinh của Phú.

Phạm Duy Tất bước ra chào đón, bắt tay từng người: Nét mặt nghiêm trọng của ba người từ Cam Ranh trở về làm cho Phạm Duy Tất thêm hồi hộp.

Phú nói với Tất:

- Tôi về sớm hơn một giờ đấy nhé! Có nhiều công việc mới. Anh gọi dây nói mời thêm chuẩn tướng Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6 về đây, ta họp một chút rồi phân công nhau mà làm theo lệnh của tổng thống!

Nửa giờ sau, hội nghị nhóm họp với năm thành viên quan trọng: thiếu tướng Phạm Văn Phú, chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, đại tá Lê Khắc Lý, đại tá Phạm Duy Tất...

Phú trịnh trọng tuyên bố:

 -  Với tư cách tư lệnh vùng 2 chiến thuật, thừa lệnh tổng thống tôi tuyến bố khai mạc cuộc họp bất thường này với một yêu cầu: các anh đều phải chịu trách nhiệm giữ bí mật hoàn toàn. Ngoài năm thành viên chúng ta ở đây, không thể phổ biến cho bất cứ ai khác. Đây là lệnh của tổng thống và cũng là lệnh của Hội đồng tướng lĩnh, phải tuyệt đối phục tùng!

Chờ cho mọi người chăm chú lắng nghe, Phú nói tiếp:

- Buôn Mê Thuột thất thủ. Việt Cộng lại gia tăng áp lực với Plây Cu và Kon Tum. Giao chiến với mấy sư đoàn quân Bắc Việt ở đây là không có lợi. Vì thế tổng thống quyết định chúng ta dời về Nha Trang, lập Bộ tư lệnh tiền phương, rút toàn bộ lực lượng của ta trên Cao Nguyên về ven biển, củng cố, bổ sung lực lượng rồi mới tái chiếm lại tất cả Cao Nguyên với sự yểm trợ tối đa của Chánh phủ trung ương. Đây là cuộc rút quân to lớn do quân lực vùng 2 chiến thuật tự đảm nhiệm, bí mật, nhanh chóng. Rút quân xong rồi mới thông báo cho bên dân sự biết sau. Ta chỉ rút quân chủ lực, còn địa phương quân là người Thượng thì không rút. Ta sẽ bỏ đám lính này lại để một vài ngày nữa họ sẽ tự giải tán, về với núi rừng. Để dân chúng khỏi hoang mang, gây nên cảnh hỗn loạn khi ta rút quân, yêu cầu các anh phải tuyệt đối bí mật. Ai để lộ kế hoạch rút quân sẽ phải xử lý theo quân pháp! Các anh cứ làm từng bước theo kế hoạch của tôi và anh Cẩm là phó tư lệnh. Hôm nay là ngày 14, các anh về chuẩn bị thu xếp, đóng gói công văn, tài liệu và tư trang hành lý, không được để lộ kể cả với vợ con. Chiều mai: tôi, anh Lý, anh Cẩm bay ra Nha Trang. Anh Sang dùng máy bay ở Cù Hanh và xin thêm C.130 từ Sài Gòn lên để đưa hết lực lượng phi công, thợ máy, bay về Sài Gòn, về Nha Trang từ chiều 15 đến hết ngày 16 phải làm xong. Bộ binh, thiết giáp và các liên đoàn biệt động quân do anh Phạm Duy Tất chỉ huy, đôn đốc sẽ rút từ chiều tối ngày chủ nhật 16 tháng 3, rút theo đường số 7 qua Cheo Reo, Phú Bổn. Phải rút nhanh, rút gọn. Tôi và anh Cẩm sẽ đón các anh ở Nha Trang. Chúng ta lập Bộ tư lệnh tiền phương ở đó. Kế hoạch rút bỏ Cao Nguyên chỉ là tạm thời, khi ta củng cố xong lực lượng, sẽ tái chiếm lại cũng chưa muộn. Ta phải biết lùi một bước để rồi sẽ tiến lên nhiều bước!

Nghe Phú nói xong, cử toạ đều lo lắng. Vừa lo cho trách nhiệm của mình, vừa lo cho gia đình, vợ con mà chưa ai dám nói ra.

Phú gặng hỏi:

- Các anh có ý kiến gì không?

Phạm Ngọc Sang nói:

- Tôi phải đưa hết anh em ở sân bay đi, lại cả gia đình họ nữa, làm sao mà không lộ?

Phú nói:

- Sĩ quan đi trước, mấy ông Mỹ đi trước. Vợ con đi theo thì giữ lại ở sân bay rồi bốc đi sau, bốc cho gọn, cho nhanh!

Phạm Duy Tất băn khoăn:

- Phần tôi là gay nhất, nào người, nào xe pháo, súng ống lủng củng, lại đi qua đường số 7, con đường bỏ quên đã lâu, khó đi lắm.

Phú nói:

- Đi đường ấy mới an toàn và không bị đối phương truy kích. Sĩ quan, binh lính đi rồi nếu sau đó dân chúng có biết thì ta cũng đã rút xong, còn lại bên dân sự thì họ sẽ... tuỳ nghi di tản. Các anh khỏi phải lo cho họ. Họ sẽ tự tìm lấy xe cộ và đường đi về phía ven biển. Ta sẽ đón họ ở Nha Trang, Tuy Hoà, cũng không có muộn đâu mà! Các anh cứ làm đi. Làm sao xong trước đêm 16 là hay nhất. Có gì khó khăn, tôi và anh Cẩm sẽ giúp các anh giải quyết từ chiều nay, ngày mai và cả ngày 16 nữa, nghe!

Mọi người đứng dậy, không khỏi bàng hoàng về cuộc di tản lớn này. Riêng với Phú thì quyết định của tổng thống như một gáo nước lạnh giội xuống đầu tư lệnh vùng 2 chiến thuật:

Nhớ lại sáng hôm qua ở Cam Ranh, Thiệu hỏi:

- Anh có thể giữ được Cao Nguyên được bao lâu nữa?

- Dạ, nếu được chi viện tối đa thì tôi có thể giữ được một tháng!

 Thiệu nói, giọng quả quyết!

- Rút! Rút về giữ vùng ven biển, đông dân...

Thấy Phú còn ngần ngại, Thiệu nhấn mạnh:

- Chỉ có rút hoặc là anh sẽ bị thay thế!

Phạm Văn Phú không dám cưỡng lại ý kiến của Thiệu đành phải cúi đầu tuân thủ. Phú cũng thấy những người có mặt ở Cam Ranh sáng hôm qua chẳng ai dám có ý kiến gì ngược lại ý kiến của tổng thống, đó là đại tướng Cao Văn Viên, đại tướng Trần Thiện Khiêm và cả trung tướng Đặng Văn Quang - cố vấn an ninh của tổng thống.

Cho nên, về đến Plây Cu, nói với tướng tá cho “phải phép” thế thôi, thực lòng Phú rất hoang mang, lo lắng như chưa bao giờ phải lo toan đến thế! Rút bỏ Cao Nguyên rồi sẽ ra sao? Chắc chắn tình hình sẽ xấu đi ghê gớm. “Phải rút bỏ Cao Nguyên!” Nghe như sét đánh ngang tai, ai mà không choáng váng? Quyết định này lại được nói ra từ miệng ông Thiệu, người đang có quyền cao nhất Việt Nam cộng hoà! Ông Thiệu sao bữa hôm qua lại lạnh lùng đến thế? Và còn tàn nhẫn nữa? Phú không được tranh luận dài dòng. Những người khác có mặt cũng cứ răm rắp tuân theo. Chỉ có Đặng Văn Quang là có vẻ cảm thông với nỗi khổ tâm của Phú, ngồi bên cạnh mình, Phú đưa mắt dò hỏi ý kiến của Quang, Quang nói nhỏ cho Phú đủ nghe:

- Tổng thống đã quyết định như thế rồi, anh phải tuân thủ trước đã. Đó mới là thượng sách. Đừng có cãi lại, đừng có chống lệnh mà... dại !

Giờ phút ấy thật là nghiêm trọng. Thấy Phú đã chịu tuân thủ mệnh lệnh của mình, Thiệu đứng lên ngay:

- Thôi nhé! Anh Phú là tư lệnh, anh Cẩm là phó tư lệnh, về Plây Cu cứ thế mà làm!

Phú chợt hiểu ra: cuộc họp này không có mặt cả Nguyễn Cao Kỳ, phó tổng thống? Sao vậy? Một quyết định quan trọng như thế này mà chỉ do một người quyết định: ông Thiệu!

Bước lên trực thăng trở lại Cao Nguyên, Phú thấy buồn rười rượi... mới có tám tháng làm tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, chưa kịp thi thố tài năng đã bị mất Buôn Mê Thuột, nay lại bỏ cả Plây Cu, Kon Tum để co về vùng ven biển. Cả cái phòng tuyến Cao Nguyên phút chốc lọt vào tay đối phương? Họ sẽ dùng Cao Nguyên làm bàn đạp để đánh về Nha Trang thì sao? Ông Thiệu có cứu nguy được không? Quyết định này có phải là sự sáng suốt không? Hay chỉ là một cuộc phiêu lưu, mạo hiểm?

 Hơn hai mươi năm, trong cuộc đời làm sĩ quan rồi lên tá, lên tướng, chưa bao giờ Phú phải chịu một sức ép, một “cú sốc” như hôm nay! Ông Thiệu còn nói thêm:

-  Chúng ta đã chọn con đường số 7 để rút cho nhanh cho gọn. Các anh phải bảo toàn lực lượng. Nếu để lộ ra, bị đối phương ngăn chặn đón đánh, gây nên tổn thất là rất... nguy hiểm!

Chỉ có bấy nhiêu câu nói mà trách nhiệm đã nặng như núi đá đè lên vai. Phú cắn răng chịu đựng suốt dọc đường bay từ Cam Ranh về Plây Cu, truyền đạt lại cho các tướng tá dưới quyền của mình với tất cả lo âu:

- Khó lắm! Khó mà giữ được toàn vẹn bấy nhiêu trung đoàn, liên đoàn, thiết đoàn! Tuỳ nghi di tản tức là mạnh ai nấy chạy, chạy đi đâu thì chạy? Đến nước này thì sẽ giày xéo lên nhau mà chạy. Nếu Việt Cộng lại đón đánh bằng xe tăng, đại bác thì coi như là hết sống! Cho nên Phú cứ phải lặp đi lặp lại là:

-  Rút về Nha Trang để thành lập Bộ tư lệnh tiền phương trước đã, để củng cố, bổ sung lực lượng rồi sẽ tái chiếm Cao Nguyên.

Một sự chuyển động ghê gớm, Phú tự nhủ:

- Nếu là sự chuyển động âm thầm thì mới là hay, là tốt, song nếu chuyển động trở thành náo động thì lại là cả một sự bất hạnh, dẫn đến náo loạn, hỗn loạn từ ngày mai, ngày mốt...

Thời gian chẳng còn nhiều nữa để mà lo toan công việc rút lui. Phú nói với Cẩm và Lý là hai chiến hữu tâm phúc nhất:

- Ý ông Thiệu là ý trời! Chúng ta phải lo lấy cái thân mình trước đã. Đúng 2 giờ chiều 15, ba chúng ta sẽ bay về Nha Trang, trước hết, nghe! Hành lý phải gọn, nghe chưa?

Lý và Cẩm gật đầu:

- Cứ như thế mà làm!

Sắp xếp mọi việc xong xuôi, Phú lại gọi thiếu tả Cang đến truyền đạt mệnh lệnh riêng. Cang tròn xoe hai mắt:

 - Rút thật à, anh?

- Thật chứ! Lệnh của tổng thống, ai cãi lại thì... xin cứ đi tù! Ba chúng tôi đi trước. Anh ở lại thu xếp, công việc nặng nề đấy. Sớm tối ngày 16 sẽ có trực thăng bay về đón anh!

 Sau phút giây choáng váng, Cang trấn tĩnh lại để nghe nốt mệnh lệnh của Phú:

- Cứ rút êm khỏi Plây Cu đã! Về đến Nha Trang sẽ lại bàn công chuyện khác. Anh cứ yên tâm. Đừng có thắc mắc nhiều nữa. Tôi sống được thì anh cũng sống được! Sợ quái gì! Chỉ có quân sự là được rút, còn dân sự thì mặc kệ chúng nó. Anh phải tuyệt đối bí mật, lộ ra thì khó mà rút được đấy, hiểu không?

Cuối cùng thì Cang đã nói lắp bắp:

- Dạ, dạ, tôi đã rõ! Nhưng mà khó, khó lắm...

Phú phải nhắc lại:

- Thì... tôi có nói là dễ dàng đâu! Chưa bao giờ có cuộc rút lui lớn như thế này, lại phải làm ngay, làm gấp rút mới chết chứ. Nhưng mà ta cứ phải làm, anh rõ chưa?

- Dạ. Tôi đã rõ!

Cang đáp lại như một cái máy. Trong đầu hắn vừa loé lên một tia sáng mới. Hắn bậm môi, nghĩ đến những mưu toan táo bạo mà hắn không thể nói ra với bất cứ ai, kể cả với Phú..

 

XVII

 

LÃNG TỬ THỨC DẬY SAU MỘT HỒI CHUÔNG điện thoại đổ đồn. Anh cầm ống nghe:

- Ai đó? Tôi, Lãng Tử đây, tôi nghe!

A! Trời ơi! Ông Phú đấy hả? Tôi đang rất mong tin tức của ông..

Từ đầu dây nói đằng kia, Phú nói:

- Ông Lãng Tử thân mến của tôi! Chắc ông nghe tin chiến sự rồi? Buôn Mê Thuột thất thủ rồi, nhưng chúng tôi sẽ tái chiếm. Phải có thời gian chuẩn bị kỹ. Do đó tôi và Bộ tư lệnh tạm thời phải chuyển về Nha Trang. Đại bản doanh sẽ đóng ở Nha Trang, ở đó như ông đã biết, tôi có một biệt thự. Tôi muốn ông đưa cô Lệ Ninh về Nha Trang với tôi...

 - Tôi ở Đà Lạt không được sao?

- Không nên ở Đà Lạt, bởi vì Việt Cộng sẽ quấy rối, ông lại phải chạy loạn. Tôi và ông Đặng Văn Quang đã bảo lãnh cho ông thì ông nên về Nha Trang với tôi. Ông ở Đà Lạt, nếu cảnh sát đô thành lại làm phiền ông thì sao? Ông cứ về Nha Trang với tôi là hơn cả. Nha Trang, bờ biển thơ mộng, tha hồ cho ông Lãng Tử viết văn, làm thơ với cảm hứng đôi dào nhất! Ô kê đi nào.

Lãng Tử nghe nói đến cảnh sát đô thành, lại giật thót mình. Chẳng cần suy nghĩ gì thêm, anh nói ngay với Phú:

- Ô kê! Ô kê!

Phú nói tiếp qua dây nói:

- Tôi quá bận, ông thông cảm cho tôi. Ngày mai 15-03-1975 tôi bay đi Nha Trang rồi. Tôi sẽ cho tài xế đưa xe Méc-xê-đéc của tôi lên Đà Lạt đón ông và cô Ninh về Nha Trang. Phải đi lên Kon Tum, qua đường số 19 về Quy Nhơn rồi theo quốc lộ 1 về Nha Trang. Xe của tôi chạy êm ru, ông và cô Ninh sẽ đến Nha Trang lúc 4 giờ chiều mai. Lẹ lên, tôi chờ ông đó! Nếu muốn nghỉ lại Plây Cu cũng được.

- Cám ơn! Cám ơn!

Lãng Tử đặt ống nghe, vừa lúc Lệ Ninh tung chăn, ngồi nhỏm dậy:

- Lại về Nha Trang, phải không, anh?

Lãng Tử vuốt tóc Ninh:

 - Ừ, về Nha Trang. Ông Phú rất tha thiết, rất nhiệt tình mời anh và em về. Anh sẽ nói với anh chị Đạt để cho chúng mình đi Nha Trang.

Lệ Ninh gục đầu vào vai Lãng Tử:

- Anh đi đâu, em đi đó. Về Nha Trang đẹp quá, có kém gì Đà Lạt đâu, phải không, anh?

- Ra Nha Trang, hưởng tuần trăng mật ở đó. Sẽ lại gặp ông Phú và em Ngọc Ngà!

- Tha hồ tắm biển, phải không, anh?

Mười hai giờ trưa ngày 15, Lãng Tử và Lệ Ninh đã chia tay với vợ chồng ông Đạt, lên xe của Phú, rời Đà Lạt, về Nha Trang.

Ông Đạt không quên dặn dò Lãng Tử:

-  Thời thế có thể còn đổi thay nhiều, chú nên thận trọng. Phú là nhà võ, chú là nhà văn. Suy nghĩ và hành động sẽ không giống nhau. Chú phải cố gắng giữ mình, đừng để mình sa đà vào lầm lỗi! Tôi tin là chú có bản lĩnh vững vàng, chú sẽ gặp lại được mọi sự tốt lành...

 - Dạ, em cám ơn anh chị!

 - Nhớ biên thư và điện thoại về đây nhé!

 - Dạ.

*****

Chiếc xe Méc-xê-đéc chở Lãng Tử và Lệ Ninh về đến Plây Cu lúc trời đã xế chiều.

Người lái xe, trung sĩ Lâm nói với Lãng Tử:

- Thưa anh, mời anh ghé lại Sở chỉ huy của thiếu tướng, thiếu tá Cang hẹn đợi em ở đó.

Chiếc xe dừng lại trước dinh của Phú.

Trung sĩ Lâm hỏi tên lính gác:

- Ông thiếu tá có ở đây không? …

- Dạ, ông thiếu tá có dặn lại: nếu anh về thì mời anh xuống biệt thự Dạ Lan Hương…

Lâm lại hỏi thêm:

- Thiếu tướng tư lệnh đi chưa?

- Dạ, thiếu tướng vừa bay đi họp ở Nha Trang.

 - Cùng đi còn có ai?

- Dạ, có chuẩn tướng Cẩm phó tư lệnh và đại tá Lê Khắc Lý, tham mưu trưởng,...

- Thôi được rồi. Nếu ông thiếu tá về đây hỏi tôi thì nói tôi đã đưa vị thượng khách của thiếu tướng về Dạ Lan Hương rồi nhé!

- Dạ! Trung sĩ Lâm quay ra xe, nói với Lãng Tử:

- Xin mời anh chị đi cùng em về biệt thự Dạ Lan Hương ở ngoại ô phía Nam thị xã...

Lãng Tử hỏi:

- Có phải đó là nhà khách của quân khu?

- Dạ. Phải. Nhà khách của thiếu tướng, có các vị thượng khách mới được nghỉ ở đây...

Tháng trước, khi mới tới Plây Cu, Lãng Tử có nghe Phú nói đến cái biệt thự này với câu nói thật hóm hình:

- Hôm nào thật rảnh, tôi sẽ mời ông đến nghỉ và xem vũ khúc “Nghê Thường” ở Dạ Lan Hương….

Lãng Tử hiểu ngầm rằng đó là nơi hành lạc của các vị tướng lĩnh Sài Gòn khi đến kinh lý vùng Cao Nguyên này, chẳng hạn như tướng Đặng Văn Quang, Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm. Những đêm “nhất dạ đế vương” sẽ được tổ chức ở Dạ Lan Hương...

Hôm nay, Phú bay đi Nha Trang rồi. Còn ở lại có thiểu tá Cang. Trung sĩ Lâm giải thích:

- Ở Dạ Lan Hương yên tĩnh hơn, xa trung tâm thị xã thì khỏi lo bị pháo kích.

- Mấy đêm nay vẫn còn bị pháo kích?

- Dạ. Các ông Việt Cộng vẫn bắn vào khu sân bay và doanh trại trung đoàn 44, 45...

Chiếc xe Méc-xê-đéc lại quay mũi về hướng Nam, lăn bánh về biệt thự Dạ Lan Hương.

Lãng Tử nói nhỏ với Lệ Ninh:

- Mấy anh này lại muốn mời ta nghỉ lại qua đêm ở đây chăng? Cũng được, anh và em nghỉ lại rồi sớm mai đi Nha Trang cũng chưa muộn.

Con đường rải đá cuội hơn ba trăm mét dẫn vào biệt thự Dạ Lan Hương toạ lạc trong khu vườn có nhiều cây cối xanh um. Biệt thự được xây theo kiểu nhà của người Pháp: có tầng trệt và tầng lầu 1 với hai phòng khách lớn có thể mở tiệc chiêu đãi và làm vũ trường cho các vị vương tôn công tử, những phu nhân, lệnh ái..

Từ ngoài đường vào khuôn viên này đã có hai trạm gác, ngày đêm có lính canh phòng cẩn mật.

Khi chiếc xe Méc-xê-đéc lăn bánh từ từ vào khu biệt thự thì những người lính gác ở dây đều biết: đây là xe của ông thiếu tướng. Trong xe nếu không có ông thiếu tướng ngồi bên cạnh tài xế thì ắt hẳn cũng đều thượng khách của quân khu.

Họ đều đứng nghiêm chào theo nghi lễ của nhà binh.

Xe dừng lại trong sân. Lãng Tử và Lệ Ninh được trung sĩ Lâm hướng dẫn lên lầu 1.

Ra đón khách là một người đàn bà đứng tuổi, được anh tài xế gọi bằng cái tên “chị Ba”.

-  Chị Ba! Theo lệnh của thiếu tướng tư lệnh, em đi Đà Lạt đón anh Lãng Tử là nhà báo, bạn của thiếu tướng về Nha Trang. Anh Lãng Tử ghé qua đây nghỉ tối nay ở đây để sớm mai mới đi Nha Trang. Cùng đi, còn có cô Ninh...

Chị Ba đã quá quen với công việc lễ tân, trà thuốc được bày lên bàn. Chị đon đả mời chào:

- Mời anh và cô Ninh lại đây... Đây là phòng khách, kề bên là phòng nghỉ...

Lãng Tử nói lời cảm ơn chị Ba. Anh đưa mắt nhìn toàn bộ cơ ngơi Dạ Lan Hương, nơi chỉ dành cho các vị thượng khách của quân khu 2. Từ thời các ông tướng cũ đã coi Cao Nguyên như một vương quốc với dê béo, rượu nồng, hầu non, gái đẹp, từ tướng Dư Quốc Đống đến tướng Nguyễn Văn Toàn, nay lại là thiếu tướng Phạm Văn Phú...

Ở đây, chẳng phải chỉ có thiên nhiên ưu đãi con người, mà cả con người cũng ưu đãi con người. Hội đồng tướng lĩnh của Nguyễn Văn Thiệu đã cho phép các ông tướng trẻ được tự do cát cứ một vùng để nói rằng: “Chánh phủ không tiếc gì Anh. Vậy Anh phải xả thân vì chánh nghĩa quốc gia! Phải chống cộng đến cùng, phải “tìm diệt” và được quyền bắn bỏ bất cứ phần tử nghi vấn nào!" Vì vậy, qua mỗi nhiệm kỳ, các vị tư lệnh qua đây, ngoài bổng lộc do các quan chức bản địa cống nạp, còn phải làm chức năng trung chuyển ma tuý từ thủ đô Lào qua đây, về Sài Gòn. “Cơm đen” được đóng hòm có dán nhãn như những hòm đạn, hòm vũ khí của quân lực Việt Nam cộng hoà chuyển vận bằng những đoàn xe quân sự có tiền hô, hậu ủng đi rầm rập mà không một ai có quyền kiểm soát. Quân cảnh cũng phải kính nể khi những xe này có giấy thông hành đặc biệt của Bộ quốc phòng hoặc Bộ tổng tham mưu.

Sau khi nhận một phòng ngủ có gắn máy lạnh, xếp bỏ hành lý, Lãng Tử và Lệ Ninh lại ung dung xuống sân đi dạo một vòng chung quanh biệt thự. Nếu chỉ ở đây, ít ai đã nghĩ đến Plây Cu đang nằm trong tầm đạn pháo của đối phương. Dạ Lan Hương ngày ngày yên tĩnh trong khuôn viên thoáng mát. Khi có khách, ở đây mới nhộn nhịp kẻ ra, người vào. Tiếng nhạc, tiếng cười nói và tiếng mở sâm banh lốp bốp. Sau giờ nhảy của từng cặp nam, nữ, là yến tiệc linh đình và những màn múa được gọi là vũ khúc “Nghê Thường” trong những đêm hoan lạc thâu đêm, suốt sáng. Chủ nhân là tư lệnh và khách là các vị “danh tướng” từ Sài Gòn lên. Vũ nữ như một bầy tiên trẻ đẹp được huấn luyện thành thạo từ “nghề chơi cũng lắm công phu” sẵn sàng phục vụ hết mình dưới quyền điều khiển của “chị Ba”.

Lãng Tử dắt tay Lệ Ninh đi dọc hành lang qua một dãy mười phòng được trang hoàng lộng lẫy, bữa nay không có phòng nào có khách vì Plây Cu đang bị đặt trong tình trạng bị pháo kích, được báo động 24 giờ trên 24 giờ liền.

Lãng Tử chợt nhìn thấy một cô gái trẻ tuổi chừng 17-18 ngồi sụt sùi khóc ở phòng số 2. Anh dừng lại hỏi:

- Em là chiêu đãi viên ở đây?

Cô gái mếu máo:

- Thưa ông, con... con... mới bị bắt vô đây...

Thấy cách xưng hô lạ tai, đầy vẻ sợ sệt của cô gái, Lãng Tử hỏi tiếp:

- Em mới bị bắt vô đây? Nhà em ở đâu?

Lệ Ninh cũng tỏ vẻ kinh ngạc, hỏi tiếp;

- Em kể lại đi nào? Vì sao em bị bắt? Vì sao mà phải khóc?

Cô gái giàn giụa nước mắt, nói qua tiếng nấc:

-  Cả nhà em bị bắt, ông thiếu tá Cang nói ba má em là... Việt Cộng nằm vùng!

Lãng Tử lại hỏi: Cả ba má em nữa?

- Dạ. Ba má em từ xưa đến nay chỉ biết làm ăn buôn bán, chứ có là Việt Cộng bao giờ đâu! Ba má em ở đường nào?

- Dạ ở đường Trần Hưng Đạo, tiệm buôn Đại Thành đó, thưa ông.

Lãng Tử hỏi tiếp:

- Giờ này ba má cô đâu rồi?

- Dạ. Thưa ông: ba má em bị giam dưới hầm rượu kia! Cô gái chỉ tay về phía bên trái, nơi có một tên lính gác vác súng lăm lăm.

Cô gái nói tiếp:

- Ba má em bị ông thiếu tá còng tay từ chiều. Còn anh trai em thì bị bắt giải về đâu, em cũng không biết nữa...

Lãng Tử hỏi:

- Nhà cô có bị lục soát?

- Dạ, thưa: có ạ. Hòm, tủ đều bị cạy hết. Tài sản bỏ đầy 10 va-li, chuyển lên xe, đưa về đây tất cả...

- Để ở đâu?

- Dạ, thưa: ở phòng kề bên phòng giam ba má em đó.

Lãng Tử giơ tay:

- Thôi được rồi. Để tôi hỏi lại ông thiếu tá, nếu bị oan thì ông thiếu tướng tư lệnh sẽ xem xét...

Lãng Tử dắt tay Lệ Ninh lên lầu:

-  Lên đây em! Anh sẽ hỏi lại cô Ba xem cái vụ này là thế nào đây? Rắc rối quá. Đây có phải là trại giam đâu mà lại giam giữ cả “Việt Cộng” ở đây?

Bước vào phòng khách trên 1, Lãng Tử hỏi ngay cô Ba:

- Chị Ba! Sao lại có mấy người bị giam ở dưới kia?

Cô Ba cười:

- Dạ, thưa anh: đó là một gia đình bị nghi vấn là tiếp tay cho Việt Cộng nằm vùng bị ông thiếu tá Cang bắt nhốt từ chiều...

- Sao lại nhốt ở đây?

- Dạ, vì ở trại giam trung tâm thì có thể bị pháo kích nên ông thiếu tá đem về đây cho an toàn.

- Giờ này, ông thiếu tá đi đâu rồi?

- Dạ, ông lại đi công vụ rôi.

- Ông ấy có hẹn giờ nào về không?

-  Dạ, thưa không. Nhưng cũng chỉ tới tối là ông ấy về thôi ạ.

Lãng Tử cắn răng suy nghĩ một lát mới nói nhỏ với Lệ Ninh:

-Tội nghiệp cho mấy người này quá. Nếu họ bị oan thì sao?

Suốt trong bữa ăn tối, Lãng Tử vẫn chưa hết băn khoăn về lời kêu cứu của cô gái. Lệ Ninh phải gắp thức ăn bón cho Lãng Tử và giục:

- Anh ăn đi đã nào!

Lãng Tử nói:

- Ăn xong, anh phải tiếp xúc với mấy người bị bắt này mới được!

Rồi anh gọi cô Ba:

- Chị Ba! Tôi là nhà báo, là bạn của thiếu tướng. Chị cho tôi gặp mấy người mới bị giam giữ ở đây. Nếu họ đúng là Việt Cộng nằm vùng thì tôi phải viết một bài biểu dương thành tích truy bắt Việt Cộng của ông thiếu tá Cang…

Cô Ba đã vui vẻ đưa Lãng Tử đến phòng giam vợ chồng nhà tư sản Đại Thành. Đèn bật sáng, soi rõ hai người bị còng tay ngồi dựa lưng vào tường.

Lãng Tử nói thẳng thắn:

- Tôi là ký giả Sài Gòn, nghe nói ông bà bị bắt về tội che giấu Việt Cộng nằm vùng, tôi muốn ông bà nói rõ sự thật vụ này như thế nào?

Ông Đại Thành khuôn mặt nhăn nheo, nhìn thật lâu người vừa tự giới thiệu là ký giả rồi nói:

- Dạ, thưa quý ông, tôi là Đại Thành xưa nay có biết Việt Cộng là ai đâu mà lại bị bắt oan như thế này. Con trai tôi 20 tuổi bị đánh ngã gục, bị trói giải đi đâu rồi. Con gái tôi 18 tuổi bị giam riêng, còn vợ chồng tôi bị còng tay ở đây... Thưa quý ông, thật tình là gia đình tôi bị bắt oan...

Lãng Tử đắn đo:

-  Nếu ông không bị oan thì sao?

- Thì tôi xin chịu tội nặng nhất ạ.

- Ông có thể nói lại lúc ông bị bắt được không?

 - Dạ. Trưa nay, ông thiếu tá đi xe đến và đọc lệnh khám xét nhà rồi bắt hết mọi người đưa đi cùng với toàn bộ vàng, bạc của gia đình tôi.

- Có lập biên bản và kiểm kê không?

- Dạ. Có. Trước khi ký biên bản, tôi có ghi: gia đình tôi bị oan, xin được cứu xét lại...

Lãng Tử chưa hiểu rõ sự thật về vụ bắt bớ này, song cứ nhìn vẻ mặt phúc hậu của ông già, anh phân vân tự hỏi: “Hay là thiếu tá Cang lại bắt nhầm còn hơn bỏ sót?” Nếu ông già này lại là nạn nhân của một vụ bắt nhầm thì sao? Xưa nay, chờ được vạ thì má đã sưng. Anh dự định sẽ hỏi lại thiếu tá Cang và có thể hỏi lại Phạm Văn Phú khi gặp lại Phú ở Nha Trang vào ngày mai. Anh nói lại với ông Đại Thành:

- Tôi chỉ là ký giả có công chuyện đi qua đây. Ông nói vậy, tôi đã ghi nhận để xác minh giùm ông. Còn việc bắt giữ hoặc tha bổng lại là quyền của ông thiếu tá. Ông hãy chờ sự giải quyết của ông thiếu tá.

 Ông già chắp tay vái ba vái:

- Thưa quý ông, tôi không may gặp cái nạn này. Tôi đã lạy ông thiếu tá nhưng ông ấy cứ bắt tôi và nói tội tôi là tội đáng chết vì có chứa chấp Việt Cộng nằm vùng. Nay nếu vì hồng phúc nhà tôi gặp quý ông ở đây, xin quý ông làm phúc, minh oan cho gia đình tôi. Tôi không bao giờ quên ơn quý ông...

Lãng Tử an ủi ông già:

- Ông cụ phải đợi ông thiếu tá về thôi. Tôi sẽ nói lại để ông thiếu tá cứu xét...

Ông già lại vái lạy ba vái rồi cúi đầu đi về chỗ cũ, ngồi thụp xuống bên cạnh bà vợ.

Lãng Tử lại lên lầu, ngồi vào ghế cùng với Lệ Ninh và cô Ba.

Cô Ba hỏi:

- Ông già nói sao, anh?

- Ông ta một mực kêu oan, đề nghị ông thiếu tá cứu xét...

Cô Ba lắc đầu:

- Mấy bữa nay nhộn nhạo lắm. Nhà giàu bỏ về Sài Gòn nhiều lắm. Ông Đại Thành giàu có vào loại nhất nhì ở đây, sao còn ở lại. Có lẽ có liên lạc với phía bên kia nên mới bị bắt. Theo em thì có thể không bị oan đâu!

 Lệ Ninh nhún vai nói với cô Ba:

- Em thấy thời này sao mà... dễ sợ? Nghèo thì khổ đã đành. Giàu có mà cũng không thoát được tai vạ. Sống làm sao bây giờ?

Lãng Tử hỏi thêm:

- Tháng trước tôi ở đây với ông Phú thì Plây Cu còn yên ổn lắm mà? Bữa nay sao lại nhộn nhạo quá?

Cô Ba làm ra vẻ thành thạo:

-  Việt Cộng đánh vào Buôn Mê Thuột rồi! Em nghe họ làm dữ lắm. Pháo kích vào đây nhiều hơn. Dân chạy loạn về đây, ai cũng sợ sẽ lại phải chạy nữa.

-  Theo chị Ba hiểu thì liệu rồi nay mai ở đây có phải chạy loạn không?

- Có thể cũng phải chạy. Việt Cộng chiếm giữ ở đây thì khó nhưng họ đánh vào thì rất có thể. Hai bên đánh nhau thì tên bay, đạn lạc. Dân không chạy mà bị chết thì kêu ai?

- Chị Ba có chạy không?

Cô Ba cười rất có duyên:

- Em ấy à? Em nhẹ gánh lắm. Lúc nào cần đi, em vẫy xe là mấy anh cho quá giang đi liền!

Ba người nói chuyện lai rai cho đến lúc có tiếng còi xe inh ỏi ngoài cổng.

Cô Ba thảng thốt kêu lên:

- Xe ông thiếu tá đã về đó!

Cô Chín lật đật xuống lầu, bước ra sân đã thấy thiếu tá Cang từ trên xe bước xuống, phía sau xe Jép là một chiếc xe tải phủ bạt bịt bùng.

Cô Ba nói ngay:

- Anh đi công vụ, ở nhà có khách đó.

- Ai?

- Ông Lãng Tử và cô Lệ Ninh.

- Họ đâu rồi?

 - Đang ở trên lu!

Tên Cang giật mình:

- Tôi quên không dặn cô Ba. Ông Lãng Tử là thượng khách của thiếu tướng, phải đón tiếp chu đáo, nhưng sao không mời nghỉ ở biệt thự Phong Lan mà lại đưa về đây? Ở đây, hôm nay tôi tạm giữ mấy tên tình nghi Việt Cộng, còn phải xét hỏi kia mà!

Cô Ba lại khoe:

-  Ông Lãng Tử thấy con bé con lão Đại Thành khóc lóc lại hỏi vân vi rồi lại hỏi chuyện cả lão Đại Thành Ba nữa đó.

Cang trố mắt:

 - Thôi chết rồi! Mấy ông ký giả là lôi thôi lắm, lại viết báo về vụ này thì rắc rối quá! Ông Lãng Tử có nói gì không?

-  Ông ấy nói: họ kêu oan, chờ ông thiếu tá về sẽ giải quyết!

Cang giãy nảy lên:

- Đó. Thật là lôi thôi quá! Để rồi tôi lại phải giải thích cho ông ta hiểu! Yêu cầu đừng có đưa lên báo chí làm gì!

Cô Ba nhìn chiếc xe bịt bùng, hỏi: Xe kia chở gì đó, anh?

- Vẫn là mấy tên nghi vấn Việt Cộng, phải bắt hết, nếu không bắt là chúng nó làm loạn, làm nội ứng cho Việt Cộng từ bên ngoài đánh vào thì rất nguy hiểm cho ta! Cô Ba mở cửa mấy cái phòng kia, nhốt hết bọn này vào. Phòng số 5 để chứa đồ đạc, tài sản tịch thu được của chúng! Cô bảo mấy thằng áp tải đưa hết bọn này vào. Chúng nó đã bị còng tay hết cả. Có hai con bé cần nhốt riêng. Còn ba đứa đàn ông thì nhốt vào một phòng!

Nói xong, Cang xồng xộc nhảy lên lâu 1 làm bộ vồn vã với Lãng Tử:

- Trời ơi! Anh! Ông Phú đi Nha Trang lúc 2 giờ chiều nay rồi, ông dặn lại em phải đón anh và cô Ninh, giữ anh và cô ở lại đây rồi sớm mai cho lính đưa ra Nha Trang. Em bận mấy công chuyện, em dã dặn cô Ba bố trí chỗ nghỉ cho anh và cô Ninh...

Lãng Tử cười thân mật:

-  Có. Ông Phú có “phôn” cho tôi mà! Sớm mai đi Nha Trang cũng được! À mà tôi nghe cô Ba nói chuyện mấy bữa nay ở đây chộn rộn lắm phải không?

- Dạ. Như anh đã biết, sau khi Buôn Mê Thuột thất thủ thì Plây Cu và Kon Tum bị pháo kích dữ hơn. Nhiều nhà buôn lớn chạy về Sài Gòn để lánh nạn. Việt Cộng nằm vùng lại hoạt động, gây rối, quậy phá. Vì vậy theo lệnh ông Phú, em đã cho bắt, thu gom mấy tên nghi vấn...

Lãng Tử hỏi:

- Sao có ông già dưới kia kêu oan?

Cang nói luôn một hồi: 2

 - Đứa nào mà chẳng kêu oan! Em bắt chúng nó phải có đầy đủ chứng cứ t mấy tên Việt Cộng khai ra. Nếu bắt tầm bậy thì nó đâu có chịu? Em làm rất có bài bản, và đề phòng mấy thằng em làm ẩu, em phải điều tra cẩn thận rồi mới bắt chứ.

 Lãng Tử đành phải rút lui ý kiến:

-  Ừ, làm đúng bài bản để khỏi oan cho dân là được!

Tên Cang khoát tay:

- Em cũng vừa bắt thêm 5 tên nữa, vừa đưa về giam dưới kia. Bữa mai, bửa mốt em sẽ còn gom hết chúng nó. Ông Phú cho phép em được “tiền trảm, hậu tấu”. Đứa nào chống đối chánh phủ, em bắn bỏ liền!

Ngồi chơi một lát, tên Cang cáo lui:

- Mời anh và cô Ninh đi nghỉ, em phải xuống xem mấy cái phòng giam này, lính canh gác ra sao?

Tên Cang xuống sân, gặp lại cô Ba, nói nhỏ:

- Ổn rồi. Tôi phải nói cho ông ký giả biết đừng có vội tin mấy lão già này. Nhưng có điều tôi hơi buồn là...

-  Là cái gì?

Tên Cang nháy mắt:

-  Cô Ba biết không? Nếu không có ông Lãng Tử vào đây thì tôi đã bắt con bé con gái lão Đại Thành kia phải “nộp mạng” rồi, con bé ngây thơ đến là... ngon! Thôi đành phải chịu!

Cô Ba đấm vào lưng thiếu tá:

- Anh mà làm dữ quá, em sẽ nói với bà xã của anh là... anh sẽ chết!

Tên Cang cười hềnh hệch:

- Đừng có nói! Anh sẽ cảm ơn em nhiều và sẽ hậu tạ mà!

 

XVIII

 

TÁM GIỜ SÁNG NGÀY 16-03-1975.

Lãng Tử đứng đợi xe cùng với Lệ Ninh ở biệt thự Dạ Lan Hương.

Mười lăm phút sau, trung sĩ Lâm mới lái chiếc xe Méc-xê-đéc đến đón. Lâm mở cửa xe và nói:

- Em xin lỗi anh chị vì em đến trễ để anh chị phải chờ đợi....

Lãng Tử cười vui:

 - Không sao mà. Từ đây đi Nha Trang, đi lúc nào cũng vẫn cứ sớm.

Lâm khoe:

- Hôm nay, quang cảnh phố xá Plây Cu lạ lắm anh chị ạ.

- Sao?

- Dân chúng nháo nhác chạy loạn. Họ kháo nhau là Việt Cộng đánh chiếm Plây Cu tới nơi rồi, cũng như đã đánh chiếm Buôn Mê Thuột. Từ chiều hôm qua đến sáng hôm nay, sĩ quan nhà giàu ùn ùn kéo nhau đến sân bay để mua vé máy bay di tản đi Sài Gòn, đi Nha Trang. Các ông phi công đưa vợ con bay trước, giá vé máy bay lên 5 chỉ vàng rồi lại lên tới một cây vàng một vé!...

- Có ai giữ trật tự ngoài đường phố không?

- Quân cảnh và “phú-lít” cũng đi đâu hết. Có mấy thằng lính cướp giật đồ của dân chạy loạn, dân kêu cứu mà chẳng có ai cứu.

Cô Ba từ lầu 1 xuống tiễn chân Lãng Tử nghe lỏm chuyện của trung sĩ Lâm, nói chen vào:

 - Chú Lâm! Chiều nay ở Nha Trang về đây, cho chị đi nhờ “quá giang” với nhé!

Lâm hỏi:

- Chị đi về đâu?

Cô Ba

- Thì cứ về đây đã nào! Người ta chạy loạn, mình cứ ở đây, chờ chết à?

Lâm cười:

- Chị em mình chết sao được mà sợ? Em sẽ về đón chị đi trước 5 giờ chiều. Anh Cang đâu, hở chị?

Cô Ba chỉ lên lầu:

- Ông thiếu tá Cang đi công vụ suốt đêm qua, gần sáng mới về còn say xỉn nằm ngủ như chết ở trên lầu kia...

-  Còn mấy người bị bắt? Hơn mười người còn còng tay giam đây bốn phòng kia kìa. Hôm nay, ông Cang mới lục tội từng người!

Lâm thấy cần phải đi, nói với cô Ba:

- Em đi, chị nhé! Chiều em về sớm!

Lãng Tử và Lệ Ninh lên xe sau khi lưu luyến tạm biệt cô Ba.

Lâm lái xe quay ra cổng.

Lãng Tử nói với Lâm:

- Chú Lâm cho xe đi từ từ thôi nhé, để anh quan sát phố phường xem dân chạy loạn như thế nào? Việt Cộng chưa vào mà đã chạy rối tinh, rối mù...

- Ai cũng sợ tên bay, đạn lạc, sợ chết...

Xe đã ra đến đường số 14. Người chạy bộ nhiều hơn hơn người đi xe đò. Có lẽ vì xe đò đã chở đầy người chật như nêm cối, như lèn cá hộp.

Lệ Ninh lắc đầu:

- Khổ quá anh ơi! Anh em mình mà không có chú Lâm chở chiếc xe này thì đến kẹt lại mất thôi..

Lãng Tử nói chậm chạp:

- Cũng có thể ngày một, ngày hai, Việt Cộng sẽ đánh chiếm Plây Cu, cho nên dân tự động bỏ thị xã về quê là có lý lắm...

Lâm cứ cho xe đi từ từ và không hề biết đến hai chiếc xe hon đa chở mỗi xe hai người đang vọt lên phía trước và cả hai người cầm lái đều giơ tay ra hiệu cho Lâm dừng lại.

Lâm giật mình nói với Lãng Tử:

- Anh ơi! Họ làm gì đây mà lại yêu cầu xe của ta dừng lại ?

Lãng Tử nhìn ra phía trước và nói:

- Thì chú cứ dừng lại, xem họ muốn gì nào?

Xe của Lâm dừng lại.

Người đi xe máy có dáng cao lớn, mặc thường phục, đội mũ lưỡi trai như một anh tài xế nói với Lâm:

- Xe Méc-xê-đéc này có phải xe của ông Phú?

-  Dạ, phải...

- Ông Phú giao cho ông Cang lái, tại sao anh lái đi anh đâu? Hai người trên xe là ai?

Lâm vặn lại:

- Xe này là xe của thiếu tướng tư lệnh. Ở Plây Cu này ai mà không biết! Các ông là ai mà có quyền hỏi tài xế? Tôi là trung sĩ đây...

Người đàn ông cao lớn nói dõng dạc: của

- Chúng tôi là chiến sĩ Quân Giải Phóng, có nhiệm vụ kiểm tra và giữ lại chiếc xe này vì xe này là xe của tướng Phú! Nếu là xe dân sự thì cứ chạy. Nhưng là xe quân sự mà lại là xe của tư lệnh nên bất kỳ ai lái, chúng tôi cũng giữ lại!

Xe tắt máy. Lâm và Lãng Tử cùng Lệ Ninh đều bước xuống xe.

Người cao lớn nói:

- Mời tất cả vào quán này đã!

Anh ta chìa tay về phía tiệm ăn Triều Châu, lúc này còn vắng khách.

Thế là cả bốn người trên hai chiếc xe máy cùng ba người đi xe hơi đều bước vào quán. Người cao lớn mời tất cả ngồi chung quanh chiếc bàn ăn rồi nói tiếp:

- Bốn chúng tôi đây là chiến sĩ thuộc lực lượng Quân Giải Phóng Plây Cu, chuẩn bị tiếp quản thị xã này. Các anh các chị đã thấy dân đang chạy loạn. Lính sắp kéo đi hết, lại có người còn cướp giật đồ của dân. Chúng tôi đã cảnh cáo một số người lính vô kỷ luật và có nhiệm vụ kiểm tra chiếc xe này vì nó là xe của tướng Phú! Anh lái xe! Anh cho biết trên xe ngoài hai anh chị này, có còn chở tài liệu, tài sản gì của ông Phú, ông Cang?

Lâm đáp run run:

- Dạ, thưa không có gì!

Lãng Tử tự trình bày:

- Tôi là Lãng Tử, ký giả từ Sài Gòn lên. Tôi là bạn của ông Phú và cô bạn gái đây được ông Phú mời về Nha Trang và giao cho anh trung sĩ này chở đi...

Người cao gật đầu:

-  Tôi có nghe tên ông Lãng Tử! Hình như ông lên đây từ tháng 2?

 - Dạ. Phải?

- Rồi ông lên Đà Lạt?

- Dạ, phải. Tôi mới từ Đà Lạt về đây chiều hôm qua. Và ông nghỉ lại biệt thự Dạ Lan Hương.

Lãng Tử không giấu nổi kinh ngạc:

-  Dạ, phải!

Lâm nói chen vào:

- Thưa ông, vì ông Lãng Tử là thượng khách của thiếu tướng tư lệnh.

- Tôi biết! Bây giờ cảm phiền anh cho chúng tôi làm thủ tục kiểm tra xe và hành lý...

Lâm cúi đu:

- Dạ, xin các ông cứ làm nhiệm vụ...

Lãng Tử cảm nhận sự đột biến trong tư tưởng của mình khi anh được tận mắt chứng kiến hoạt động của nhóm người tự nhận là “lực lượng đặc biệt của Quân Giải Phóng tỉnh Plây Cu”. Và cuộc kiểm tra xe của tướng Phú nhất định sẽ cắt ngang chuyến đi của anh về Nha Trang. Anh tự nhủ:

- Ta sẽ phải hành động kịp thời!

 Chờ cho việc kiểm tra xe của các chiến sĩ Quân Giải Phóng đã xong với kết quả theo họ nói là “xe không có gì!”, Lãng Tử mới nói với người cao lớn mà anh đoán chừng là đội trưởng:

- Thưa ông! Tôi muốn được có mấy ý kiến...

Người cao lớn hỏi:

- Ông có ý kiến gì? Xin cứ nói thẳng!

Lãng Tử nói rành rọt:

- Tôi là ký giả Sài Gòn vừa bị cảnh sát đô thành doạ khủng bố, vì có tham gia cuộc xuống đường “ký giả đi ăn mày”, tôi phải lánh nạn lên Plây Cu và nương nhờ sự giúp đỡ của ông Phú. Song cho đến nay, tôi biết một sĩ quan dưới quyền ông Phú đang lộng hành, lợi dụng 24 giờ vô kỷ luật để cướp bóc, hãm hiếp dân chúng. Tôi có thể điện về Nha Trang hoặc Sài Gòn yêu cầu can thiệp, song trong tình hình hiện nay, chắc sẽ không có ai ngăn chặn được bàn tay độc ác của viên sĩ quan này. May mắn thay, tôi lại gặp được các ông ở đây, nếu các ông làm được việc cứu dân, trừng trị kẻ ác thì xin các ông hãy ra tay cứu vớt dân lành...

Người cao lớn hỏi ngay:

- Xin ông cho biết viên sĩ quan ấy là ai và đang ở đâu?

Lãng Tử nói ngay:

- Đó chính là thiếu tá Cang, sĩ quan thân cận của ông Phú!

- Hành động của ông này ra sao?

- Đêm qua ông này đã bắt về hơn 10 người dân thuộc loại người giàu có ở đây như gia đình ông Đại Thành, ông Tường Phát và nói rằng họ chứa chấp Việt Cộng nằm vùng. Tôi có tiếp xúc với họ, họ một mực kêu oan và nhờ tôi minh oan cho họ. Họ còn bị còng tay và giam cả ở Dạ Lan Hương! Tài sản của họ có nhiều vàng bạc bị tịch thu chất đầy xe chở về đó. Thiếu tá Cang uống rượu say xỉn đang nằm ngủ li bì ở Dạ Lan Hương. Các ông có thể đến đó mở cuộc điều tra tại chỗ để giải oan cho mấy gia đình đang bị giam cầm...

Người cao lớn vui vẻ:

 - Tôi thay mặt anh em, cám ơn ông ký giả! Rồi quay sang anh lái xe:

- Anh có thống nhất ý kiến của ông ký giả vừa nêu?

Lâm nói:

- Dạ, thưa ông, tôi hoàn toàn nhất trí.

Vậy anh có thể lái xe cho chúng tôi đến đó được chứ?

-  Dạ, được ạ.

Người cao lớn, chính là Bảy Hùng quay sang nói với ba người bạn trẻ:

- Anh Trần Kỳ, chú Tâm, chú Dũng đi với tôi. Ta dùng ngay chiếc xe Méc-xê-đéc này để vào biệt thự Dạ Lan Hương có lẽ thuận lợi hơn dùng xe máy. Vậy ta sẽ gửi hai chiếc xe máy ở đây, nhờ ông chủ tiệm Triều Châu giữ giùm. Còn anh em tôi cũng xin cảm phiền ông ký giả và cô bạn: xin tạm thời ở lại đây, chờ chúng tôi đi làm công vụ trong vòng một giờ, sẽ có xe đến đón ông và cô....

Lãng Tử và Lệ Ninh vui vẻ chấp thuận ý kiến của Bảy Hùng trong lúc cả bốn chiến sĩ Quân Giải Phóng lên xe ô-tô, tạm biệt ông chủ tiệm. Trung uý Lâm mở máy, nhấn ga cho xe quay về biệt thự Dạ Lan Hương.

Bảy Hùng không quên hỏi Lâm:

-  Ở đó, hiện nay có những ai?

-  Dạ, thưa: có ông thiếu tá, cô Ba hai người gác cổng, một ông đầu bếp nấu ăn, một cô hầu bàn và những người bị bắt về, bị giam giữ tối hôm qua...

- Chúng tôi cần đến gấp. Anh cho xe chạy lẹ lên!

Chiếc xe Méc-xê-đéc lao đi rất nhanh và chỉ mười lăm phút sau đã rẽ vào biệt thự Dạ Lan Hương.

Hai tên lính gác thấy chiếc xe quay lại, biết là có chuyện bất thường vì từ lâu lắm rồi xe của thiếu tướng ra vào đây, có ai dám hỏi gì đâu.

Bảy Hùng thấy vẻ sợ sệt của hai tên lính, quát ngay:

- Sao tụi bay không canh gác mấy người bị bắt về đây? Chúng nó còn bị nhốt ở đây không hả?

Hai tên lính gác nghe tiếng quát, sợ hãi thưa:

 - Dạ, thưa: họ vẫn còn bị giam trong phòng số 3, số 4, số 5,....

- Ông thiếu tá dậy chưa?

- Dạ, thưa: ông thiếu tá còn nghỉ trên lầu...

Bảy Hùng vẫn quát tiếp:

-  Chúng bay đưa hai khẩu súng đây, tao vào xem mấy thằng bị giam kia, đứa nào chống đối, tao bắn bỏ ngay!

Hai tên lính gác cứ tưởng những người ngồi trên xe là sĩ quan chỉ huy của đội cận vệ trong dinh thiếu tướng, còn đang lúng túng thì Bảy Hùng đã mở cửa xe bước xuống, tước ngay hai khẩu súng của hai tên lính gác. Anh cùng với đồng đội nhảy lên lầu.

Tên Cang thấy động, vừa giụi mắt, chưa kịp ngồi dậy đã bị Năm Dũng trói nghiến hai tay.

- Các anh đã bị bắt!...

Chúng tôi là đội đặc nhiệm Quân Giải Phóng được lệnh đến vây bắt các anh để giải thoát cho một số bà con, cô bác bị các anh hãm hại...!

Tên Cang hoảng sợ, chỉ nói lắp bắp:

 - Dạ, dạ... thưa các ông…

Bảy Hùng nói với Năm Dũng:

-  Các đồng chí xuống sân gom luôn hai tên lính gác vừa bị tước vũ khí và “cô Ba”, yêu cầu ba người này lên xe để lát nữa đưa họ về căn cứ cùng với “ngài” thiếu tá Cang!

* * *

Tất cả số người bị tên Cang bắt về từ hôm qua đều được Bảy Hùng trả lại tự do cùng với tài sản của từng người. Còn tên Cang được thẩm vấn ngay tại chỗ:

 - Anh thu gom số người này và cướp đoạt tài sản của họ là do lệnh của ai? Có phải theo lệnh tướng Phú?

Tên Cang trả lời đứt quãng:

- Dạ, thưa ông, con thấy quân lính Quốc Gia rút chạy, con liều mạng cướp bóc...

-  Lính Quốc Gia đã rút hết đâu?

- Dạ, thưa ông: Bộ tư lệnh gồm có ông Phú, ông Cẩm, ông Lý rút đi Nha Trang từ sáng hôm qua rồi. Phi công và lính sân bay thì rút theo ông chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang bằng đường hàng không. Còn quân bộ của 3 trung đoàn, 4 thiết đoàn và 6 liên đoàn biệt động thì rút theo ông đại tá Phạm Duy Tất từ chiều tối hôm nay 16...

- Tại sao anh biết rõ như thế?

- Dạ, con được ông Phú nói cho biết như thế và từ hôm qua kế hoạch “tuỳ nghi di tản” đã được thực hiện cho đến hôm nay còn di tản lai rai theo đường số 7 về Tuy Hoà.

- Khủng bố và cướp bóc những gia đình giàu có này, anh có biết anh đã phạm tội như thế nào không? Và anh sẽ bị trừng trị như thế nào không?

- Dạ, thưa ông: con có tội... Xin ông tha cho con tội chết ạ…

Bảy Hùng nói dõng dạc:

- Chúng tôi được lệnh bảo vệ nhân dân và ngăn chặn bàn tay tội ác của các anh, bắt giữ các anh. Còn xét xử tội trạng của các anh sẽ có toà án nhân dân sau khi tỉnh này được hoàn toàn giải phóng.

Tên Cang xám mặt. Nó không nói được gì thêm và lại vô cùng hoảng sợ khi nó nhận thấy trong số bốn người vừa bắt giữ nó có cả người tù binh bị nó bắt để dụ dỗ đầu hàng và anh ta đã vượt trại trốn thoát. ..

* * *

Sau khi tống giam tên Cang, Bảy Hùng bàn ngay với Trần Kỳ và Lê Văn Tâm:

-  Thế là đã rõ: địch đang rút đại bộ phận theo đường số 7 về Tuy Hoà. Các anh phải báo cáo khẩn cấp về trung đoàn để trung đoàn báo cáo về sư đoàn. Bộ chỉ huy mặt trận sẽ ra lệnh truy kích, bao vây, tiêu diệt địch, không cho chúng chạy thoát, co cụm về Tuy Hoà. Còn tôi và chú Năm sẽ lo việc giữ gìn an ninh, trật tự ở thị xã... .

Trần Kỳ nói với Bảy Hùng:

 - Tôi hoàn toàn nhất trí với anh Bảy. Tình hình đang chuyển biến có lợi cho ta. Địch đang rút chạy. Tôi và Tâm xin về căn cứ để phản ảnh tình hình kịp thời với Bộ Chỉ huy...

Mấy anh em vội vã chia tay.

Kỳ và Tâm phóng xe như bay về căn cứ

 

XIX

 

TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG HỒNG NAM NHẬN lệnh từ sư đoàn 320.

- Anh Nam đó phải không? Nghe có rõ không?

- Dạ. Tôi, Nam đây, rõ, tôi nghe!

- Toàn bộ quân địch ở Plây Cu gồm hai trung đoàn 45 và tàn quân của trung đoàn 53 cùng với 6 liên đoàn biệt động và 4 thiết đoàn đang rút qua đường số 7 về Phú Bổn, Cheo Reo để xuống Tuy Hoà! Chúng chọn đường số 7 vì con đường này gập ghềnh, hiểm trở đã bỏ hoang phế từ lâu, lau lách, cây gai mọc đầy, cầu lại gãy, có con sông Ba chảy qua, nhưng mùa này nước cạn, có thể lội qua sông được. Theo lệnh Phạm Văn Phú, địch bí mật rút đi nhưng làm như một cuộc hành quân dã ngoại. Mặc dù cố bưng bít nhưng từ chỉ huy đến lính đều biết nên chúng mang theo cả vợ con. Một số dân chúng biết tin, cũng chạy theo lính. Chúng hành quân từ chập tối, đang ùn ùn kéo về đường số 7. Lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch là phải chớp thời cơ tiêu diệt địch trong lúc chúng hoang mang sau khi ta đánh chiếm Buôn Mê Thuột. Anh chọn cho tôi một tiểu đoàn mũi nhọn đi ngay bây giờ, vượt núi, băng rừng, chốt chặn trước ở phía Đông Phú Bổn, không cho chúng chạy thoát về Tuy Hoà. Muốn đi nhanh thì tiểu đoàn phải mang vác nhẹ và đến Phú Bổn trước lúc trời sáng. Địch tuy đồng tới hàng chục trung đoàn, song có nhược điểm lớn là xe pháo cồng kềnh, nặng nề, rất khó cơ động, chúng lại đem theo vợ con, ôm đồm nhếch nhác và nhất là đang mất tinh thần chiến đấu, chỉ cần ta đánh mạnh, đánh rát là ùn lại và dễ bị tiêu diệt. Sư đoàn dự đoán: chúng không chạy về Tuy Hoà được, cũng không quay lại Plây Cu được vì ta sẽ đánh tập hậu, khoá chặt đuôi chúng lại. Chúng sẽ chạy tạt sang hai bên đường số 7 để lẩn trốn vào rừng. Ở cả hai bên đường, bên phải, bên trái tôi sẽ lệnh cho hai trung đoàn mai phục sẵn để tiêu diệt chúng. Nhưng tiểu đoàn của các anh vượt lên chặn đầu chúng nó ở Phú Bổn là quan trọng nhất, anh chọn đơn vị nào?

- Dạ. Trung đoàn tôi có tiểu đoàn 9 lâu nay đang ém quân sát đường 14. Tôi sẽ cho tiểu đoàn này vượt đường 14, cắt rừng đi cấp tốc về Phú Bổn trước khi trời sáng...

-  Bí mật, bất ngờ, thần tốc đó nghe!

- Rõ. Nhất định phải là như thế!

-  Bây giờ là 18 giờ 15 phút! Cứ hai giờ một lần, báo cáo về sư đoàn nghe!

 - Rō! Hồng Nam đặt ống nghe. Anh tranh thủ thời gian hội ý chớp nhoáng với trung đoàn phó Nguyễn Huỳnh và tham mưu trưởng Văn Hoan.

Nửa giờ sau, tiểu đoàn 9 đã nhận được lệnh hành quân về Phú Bổn. Cùng lúc ấy, toàn bộ quân địch rùng rùng xe pháo đã lọt vào đường số 7, không hề hay biết gì về một “trận đồ bát quái” của Quân Giải Phóng đang được giăng ra suốt dọc “con đường chết” của chúng.

 

****

4 giờ 30 phút sáng ngày 17-03-1975.

Đại đội pháo binh của tiểu đoàn 9 đã đuổi kịp đơn vị đầu tiên của đoàn biệt động quân số 6 đang rút chạy về Phú Bổn.

Đại đội trưởng Hoàng Quân nhìn rõ ánh sáng hừng đông phía trước mặt. Anh ước tính: nếu theo đường chim bay thì pháo binh ta chỉ còn cách Cheo Reo chừng ba ki-lô-mét, nhưng nếu tính cự ly từ con đường mòn này đến đường số 7 thì khoảng cách giữa ta và địch chỉ còn một ki-lô-mét. Tổ trinh sát bám sát đường số 7 quay về báo cáo: các anh đã nhìn thấy những chiếc xe tải đầu tiên của địch chở đầy lính ầm ì lăn bánh rất chậm chạp. Có lẽ vì đường xấu và trời tối. Ánh đèn pha cứ chập chờn theo từng đoạn đường nhấp nhô. Tiếng máy xe tải ầm ì vang vọng trong đêm rừng tịch mịch.

Hoàng Quân báo cáo với ban chỉ huy tiểu đoàn qua máy bộ đàm:

- Chúng tôi đã đuổi kịp những chiếc xe đầu tiên của địch, đang vượt lên chặn đầu chúng nó trước khi chúng nó đến được Cheo Reo.

Hoàng Quân nghe rõ tiếng cười của tiểu đoàn trưởng:

- Hoan hô! Hoan hô pháo binh! Hoàng Quân nghe lệnh của tiểu đoàn nhé! 4 giờ 45 phút, khẩu đội 1 sẽ bắn cấp tập 10 phát vào đội hình xe cơ giới địch để “báo tin buồn” cho chúng nó biết: pháo binh Quân Giải Phóng không cho chúng chạy thoát về Tuy Hoà! Hoàng Quân nghe rõ không?

- Rō!

- Khi trời sáng rõ, có thể có máy bay địch xuất hiện, phải cảnh giác, nghe!

- Rõ!

4 giờ 45 phút là giờ G. đã đến!

Tiếng nổ rung trời, chuyển đất làm tắt ngấm những đốm sáng của đoàn xe cơ giới trên đường số 7. Tiếng kêu thất thanh, hoảng loạn của những tên lính bị hất tung lên, rơi lả tả xuống hai bên lề đường. Đứa chết, đứa bị thương, tiếng rên la chen lẫn tiếng súng bộ binh bắn trả vu vơ vào rừng từ đoàn xe vừa phải dừng lại phía sau.

Đáp lại những tiếng súng hoảng loạn của địch, Hoàng Quân nghe rõ từng tiếng súng lớn dõng dạc của đại đội số 2, đại đội 3 đang phối hợp đánh tạt ngang sườn liên đoàn biệt động quân của ngy.

Anh động viên khẩu đội 1:

- Đại đội 2, đại đội 3 cũng “lên tiếng” rồi! Chúng sẽ chạy bổ sang hai bên đường. Ta phải chuẩn bị tiêu diệt chúng, phải tận dụng từng mô đá, từng lùm cây, gốc cây làm công sự...

Cùng lúc ấy, ở Sở chỉ huy sư đoàn 320, sư đoàn trưởng - đại tá Kim Tuấn- nhận được tin nhanh từ Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên:

- Toàn bộ quân địch rút chạy trên đường số 7 đã lọt vào lưới lửa dày đặc, đều khắp của sư đoàn 320. Yêu cầu các đồng chí khẩn trương, dũng mãnh xông lên tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí, giành toàn thắng cho trận phục kích cực kỳ quan trọng này!

Lệnh tác chiến lại được truyền đi từ Sở chỉ huy sư đoàn đến các trung đoàn, tiếp đến là các đại đội.

Đại đội trưởng Hoàng Quân báo cáo về tiểu đoàn 9:

- Chúng tôi đã đánh trúng 20 chiếc xe đi đầu. Từ những chiếc xe bị bắn cháy, những tên địch sống sót đang chạy giạt sang cả bên trái, bên phải đường số 7, lẩn trốn vào rừng. Chúng không dám bắn trả quân ta. Một số tên bị bắn chết ngay trên đường chạy trốn. Đại đội vẫn bảo toàn lực lượng chiến đấu, không có thương vong…

- Rất tốt. Tiểu đoàn báo tin vui để các đồng chí biết: Quân địch đã bị khóa chặt đuôi. Chúng không th quay lại đường số 14 được nữa và đang chịu chết cứng trên đường số 7. Trời đã sáng rõ. Tiểu đoàn nhắc lại: có thể sắp có máy bay địch đến cứu nguy cho bộ binh của chúng. Các đồng chí cần cảnh giác đề phòng máy bay bắn phá và ném bom vào trận địa của ta!

Hoàng Quân chỉ kịp trả lời:

 - Rõ!

Rồi anh quay ra hạ lênh cho khẩu đội 1 di chuyển vị trí chiến đấu, đề phòng bọn địch từ Phú Bổn đánh ra, cứu nguy cho những toán địch đang bị ta bao vây, tiêu diệt trên đường số 7, đồng thời máy bay địch cũng có thể bắn phá và ném bom bừa bãi xuống hai bên đường... Từ sáng nay, cuộc chiến đấu có thể còn diễn ra ác liệt trước khi kết thúc với yêu cầu tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch trên đường số 7.

*****

9 giờ sáng ngày 17-03-1975.

Trong một biệt thự trông ra bờ biển Nha Trang, nơi Phạm Văn Phú dùng làm nhiệm sở cho Bộ tư lệnh tiền phương theo cách nói dối trá của hắn khi phải rút khỏi Plây Cu.

Đến giờ này, ngoài Phạm Văn Phú, Trần Văn Cẩm và Lê Khắc Lý, còn có thêm chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6 từ sân bay Plây Cu chạy ra Nha Trang trước Phú vài giờ.

Phú nói với Sang bằng giọng rầu rĩ:

- Anh Phạm Duy Tất vừa điện khẩn cấp về đây báo tin: 4 giờ 45 phút sáng nay chiến đoàn của ta từ Plây Cu rút lui từ tối hôm qua trên đường số 7 đã bị đối phương phát hiện và truy kích, đón đánh quyết liệt ở Cheo Reo, nhiều xe bị trúng đạn bốc cháy, binh lính bị chết khá nhiều, số còn lại bỏ chạy tán loạn vào rừng. Chưa biết số phận ra sao. Nguy hiểm hơn cả là binh sĩ của ta lại đem theo vợ con, gia đình, đàn bà, trẻ con và ông bà già nên làm lộ bí mật của cuộc tuỳ nghi di tản. Đối phương đã biết được cuộc rút lui chiến lược của ta và đuổi theo, chặn đầu, chặn đuôi, bao vây tiêu diệt. Có thể họ huy động nhiều sư đoàn chủ lực để ném vào trận phục kích lớn này. Vì vậy, ta chỉ còn có ưu thế về không quân, yêu cầu anh Sang hạ lệnh cho các phi đội F.5 và A.37 bay tới đường số 7 bắn phá, ném bom vào đội hình địch để cứu nguy, giải vây cho binh đoàn của ta đang bị kẹt ở đó. Chậm giờ nào là chết thêm giờ ấy. Tình thế này là nước sôi, lửa bỏng, không thể chậm trễ được nữa. Ý kiến anh Sang thế nào? Có thể cứu nguy ngay được không?

Chuẩn tướng Sang bóp trán suy nghĩ rồi trả lời chậm rãi:

- Chúng ta rút khỏi Plây Cu quá vội vàng, theo lệnh của các anh, tôi chỉ kịp di tản những người Mỹ về Sài Gòn cùng toàn bộ phi công, thợ máy ở sân bay cùng vợ con họ bằng mấy chục chuyến C.130 xin từ Sài Gòn lên. Đến tối 16, ta vừa rút đi thì Việt Cộng đã tràn vào sân bay Cù Hanh chiếm luôn 64 chiếc máy bay còn nguyên vẹn cả giàn ra-đa mới lắp đặt trị giá cả triệu đô-la. Bây giờ chỉ còn lại mấy chục máy bay ở Nha Trang này thôi! Để cứu nguy, giải vây cho các chiến hữu của ta, tôi hoàn toàn nhất trí với các anh, sẽ cho mấy phi đội đến đường số 7 ngay hôm nay, nhưng trước hết phải có máy bay trinh sát kết hợp với thám báo mặt đất thì hoạt động của các phi đội mới có kết quả, nếu bắn phá vu vơ và ném bom bừa bãi thì ta không cứu được quân mình mà cũng không tiêu diệt được đối phương, phí cả bom đạn!

Phú gật đầu:

- Tôi đồng ý với anh Sang. Tôi sẽ điện hỏi lại anh Phạm Duy Tất đang bị kẹt giữa đoàn quân và sẽ hỏi cả liên đoàn biệt động quân số 7 đang đóng ở Phú Bổn vì ta bị đánh ở đường số 7 cũng có nghĩa là sẽ bị đánh tơi bời ở Phú Bổn trong bất kỳ lúc nào! Yêu cầu anh Lê Khắc Lý điện cho anh Tất và cho Phú Bổn báo tin sẽ có phi cơ oanh kích với điều kiện các anh ấy phải báo về đây cho chúng ta biết những mục tiêu cần oanh kích.

Lê Khắc Lý nói:

- Tôi sẽ điện ngay theo yêu cầu của các anh.

Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật từ nãy đến giờ ngồi lặng im, lúc này mới nhìn mọi người bằng cái nhìn mệt mỏi và nói:

- Tôi đề nghị các anh gọi một trung đoàn của sư đoàn 22 của ta đang đóng ở Quy Nhơn về đường số 7 giải vây cho quân của anh Tất, được không nào?

 Lý lắc đầu:

- Rút về một trung đoàn thì lấy quân đâu mà phòng thủ địa bàn phía Bắc của quân khu 2?

Phú cũng nói:

- Không rút bớt quân về đây được đâu! Muốn có quân cứu viện thì chỉ còn có cách xin Bộ tổng tham mưu và xin tổng thống tăng viện cho một vài trung đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược mà thôi! Các anh đợi cho đến chiều, tôi sẽ thông báo lại sau khi tôi “phôn” về cho ông Cao Văn Viên và cũng nhờ Đặng Văn Quang cố vấn an ninh của tổng thống trình bày thật kỹ với tổng thống thì mới mong xin được quân tăng viện...

 Cẩm đành phải nhượng bộ Phú:

- Nếu ta được tăng viện như ý kiến anh Phú vừa nói thì mới mong xoay chuyển được thế cờ. Nếu không được tăng viện thì khó tránh được thảm kịch!

Phú đứng lên, ngao ngán:

- Chỉ vì ta không giữ được bí mật cho cuộc rút quân nên mới đến nông nỗi này! Đã lỡ thì ta phải lo chung. Trước mắt, anh Sang chuẩn bị cho mấy phi đội F.5 và A.37 nhé!

Sang:

- Sẵn sàng! Tôi cũng nóng lòng như các anh!

*****

Hai giờ chiều cùng ngày, Phạm Văn Phú gọi dây nói về Sài Gòn, gặp Cao Văn Viên, trình bày hết mọi tình hình và xin chi viện khẩn cấp. Cao Văn Viên trả lời:

- Quân khu 2 của anh còn lực lượng nào thì hãy tung ra đường số 7. Chúng tôi rất phiền lòng về việc các anh để mất Buôn Mê Thuột, nay các anh lại đưa cả một binh đoàn qua đường số 7 mà không giữ được bí mật để đến nỗi bị đối phương bao vây! Chúng tôi không còn gì để giải vây cho các anh nữa! Nếu các anh không tự phá được vòng vây thì các anh sẽ phải gánh chịu tất cả mọi thảm hoạ...

Quay sang cầu cứu Đặng Văn Quang, trong tình cảm bạn bè, Phú năn nỉ:

- Ông có thấu hiểu hết hoàn cảnh của tôi và mấy đứa ở đây thì ông trình bày khéo léo sao cho tổng thống thương đến quân khu 2 mà chi viện cho chúng tôi lính dù hoặc thuỷ quân lục chiến và máy bay nữa thì mới mong chống đỡ được với Việt Cộng đang thừa thắng xốc tới. Nếu không được tăng viện thì Phạm Văn Phú sẽ phải... tử nạn ở đây thôi!

Đặng Văn Quang nói:

- Tôi tin là anh vẫn coi tôi là một thằng bạn nối khố từ thủa hàn vi, nay được vinh hoa, tôi không bao giờ quên bạn trong lúc gian nguy. Anh hãy nán lại chờ tôi trình bày với ông Thiệu. Kết quả thế nào, được nhiều hay được ít, tôi cũng sẽ “phôn” lại ngay cho anh biết trong buổi chiều nay...

Phú đợi câu trả lời của Đặng Văn Quang suốt buổi chiều bên máy điện thoại.

Lê Khắc Lý và Trần Văn Cẩm cũng kéo nhau đến, chụm đầu lại với Phú trong một tâm trạng phấp phỏng, lo âu...

Đến 6 giờ chiều, cả ba người mới nhận được câu trả lời của Đặng Văn Quang.

Quang rầu rĩ nói với Phú:

- Ông Phú ơi! Tôi đã hết lòng vì ông mà trình bày cặn kẽ với tổng thống suốt hai tiếng đồng hồ. Cuối cùng tổng thống nói với tôi rằng:

“Anh gọi điện cho Phú nói rằng Nguyễn Văn Thiệu còn phải lo công việc an ninh quốc gia từ sông Bến Hải trở vào, chứ phải đâu chỉ có Vùng 2 chiến thuật? Ông Ngô Quang Trưởng tư lệnh vùng 1 chiến thuật cũng đang kêu gào xin yểm trợ tối đa kia kìa! Cho nên ông Phú đừng có ỷ lại vào Trung ương! Còn máy bay, còn bom đạn ở Nha Trang, hãy đưa vào mà giải vây cho binh đoàn ở đường số 7! Bộ binh còn cả sư đoàn 22 ở Quy Nhơn và Nha Trang, còn mấy liên đoàn biệt động quân nữa, hãy đem ra mà đánh!” Đó, ông Phú nghe rõ chưa?

Phú đành trả lời:

- Rõ! Phần cá nhân tôi, tôi cám ơn ông nhiều. Song, ông Quang ơi! Tất cả còn là... hạ hồi phân giải đó! Nếu tôi bại trận thì ông thông cảm cho tôi điều này: tất cả không phải vì tôi bất lực, bất tài mà vì tôi đã chấp hành lệnh “TÙY NGHI DI TẢN” của tổng thống từ hội nghị Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975!

Quang nói:

- Nhất trí với ông Phú! Thôi tạm biệt nhé! Phú đặt ống nghe, nói với Lý và Cẩm:

- Đó, các anh thấy chưa? Ông Quang đã giúp đỡ chúng ta rất tận tình, song vẫn không có hiệu quả gì! Để tôi “phôn” lại cho anh Sang xem ngày mai có máy bay ném bom được chưa? Phạm Duy Tất bị kẹt ở Cheo Reo đang mong đợi chúng ta từng giờ, từng phút...

Nhận được điện của Phú, Phạm Ngọc Sang từ sân bay Nha Trang đi xe Jép sang ngay Sở chỉ huy tiền phương.

Sang nói giọng nghẹn ngào:

- Thật là bất hạnh! Đại bất hạnh! Các anh có thể tưởng tượng được không? Phi đội A.37 của ta lại giội bom đúng vào biệt động quân của ta ở Phú Bn! …

- Sao, sao?

Phú, Cẩm và Lý đều sửng sốt hỏi.

Sang báo cáo lại:

- Theo lệnh của các anh, tôi cho phi đội A.37 gồm 3 máy bay cất cánh lúc 4 giờ 30 phút chiều. Chúng nó bay đến Phú Bổn, nhận được tin từ mặt đất báo rõ mục tiêu thế là chúng nó giội mấy chục trái bom hạng nặng xuống nơi đóng quân của liên đoàn biệt động quân số 7, diệt gọn cả một tiểu đoàn! Chỉ huy liên đoàn vừa gọi điện cho tôi ở sân bay, kêu la, chửi bới tôi ầm ĩ cũng là lúc 3 máy bay A.37 bay về hạ cánh xuống sân bay. Tôi hỏi, ba thằng phi công đều nói: “- Chúng em làm đúng yêu cầu từ mặt đất báo lên mà!”

Phú kêu lên:

- Thật là... hoạ vô đơn chí!

 Lê Khắc Lý nói:  

- Mình lại giết mình rồi, còn gì!

Trần Văn Cẩm thất vọng:

- Một hành động tự sát trong cơn hoảng loạn tột cùng.

 Phú chán nản:

- Thôi! Dẹp! Dẹp hết! Hơn chẳng bõ hao. Hèn nào mà từ chiều đến bây giờ, ông đại tá Phạm Duy Tất không hề báo cáo gì về đây! Cứ như thế này thì còn làm nên trò trống gì nữa chứ!

Sang giận dữ nói:

- Tôi sẽ phạt giam mấy thằng phi công này.

Phú xua tay:

- Thôi, anh Sang đừng làm như thế. Phi công mà bực bội thì chúng nó bất mãn và có thể giội cả bom xuống đầu chúng ta nữa chứ! Anh Sang cứ coi đó là một chuyện không may, rồi lờ đi là xong. Coi như không có chuyện gì xảy ra. Mặc dù ta mất cả một tiểu đoàn. Song nếu nói ầm ĩ lên thì ông Thiệu, ông Cao Văn Viên lại rầy la chúng ta và đài phát thanh Hà Nội làm rùm beng chuyện này, xấu hổ lắm! Ngày mai chúng ta sẽ kiểm tra lại và giải quyết hậu quả Phú Bổn. Thật là đau đớn mà phải ngậm miệng! Các anh đau một thì tôi đau mười... Đến giờ này coi như là lại hết ngày 17 rồi. Công việc gì cũng phải gác lại, sáng mai đã là 18, ta sẽ lại gặp nhau ở đây đúng 8 giờ, giải quyết tiếp. Bây giờ các anh có thể về nghỉ...

Lý, Cẩm, Sang lặng lẽ ra về. Còn lại một mình, Phú ôm đầu suy nghĩ đến nát óc cũng không tìm ra một giải pháp gì hữu hiệu để giải toả đường số 7.

Hắn lò dò đi từ phòng khách vào phòng ngủ, nằm vật xuống giường.

Bên ngoài trời bắt đầu đổ tối. Chỉ còn có tiếng sóng biển rì rào ven bờ cát trắng...

*****

Đại tá Kim Tuấn, sư đoàn trưởng sư đoàn 320 sau hai đêm thức trắng, sớm nay 18 tháng 3 vẫn còn tỉnh táo theo dõi trận bao vây, tiêu diệt địch trên đường số 7. Các trung đoàn liên tiếp báo tin tin thắng trận về Sở chỉ huy. Ông biết rằng toàn sư đoàn có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tiểu đoàn 9 chốt chặn những đơn vị đi đầu của địch, không cho chúng chạy về Phú Bổn. Những toán địch đi ở đoạn giữa và đoạn cuối lại liên tiếp bị tấn công, đã không thể quay về Plây Cu được, chúng cứ ùn lên phía trước, càng ùn, càng tắc lại, xe pháo lổng chổng, lính chết gục xuống bên đường, số bị thương rên la, số sống sót giạt sang bên phải, bên trái chạy tán loạn vào rừng, bị đón đánh quyết liệt.

Điện từ Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên lại báo tin vui: hai tiểu đoàn quân khu 5 phối hợp với 320 đang áp sát Củng Sơn, ngăn chặn bọn địch ở đây không cho chúng toả ra ứng cứu đồng bọn.

Đại tá Kim Tuấn hạ lệnh cho tiểu đoàn pháo binh đang tiến gần Phú Bổn:

- Bắn cấp tập, bắn!

Ở đoạn giữa đường số 7, trung đội trưởng Trần Kỳ sát cánh cùng với Lê Văn Tâm bắn tỉa những tên địch chạy trốn về phía rừng bên phải.

Bỗng anh kêu lên:

- Có hai tên địch giơ tay xin hàng nữa kia kìa! Theo ngón tay chỉ của Kỳ, Tâm nhìn rõ hai tên lính địch đang giơ tay lên trời, anh không nổ súng và chờ cho chúng thất thểu đi về phía mình. Khi còn cách chỗ đứng của Kỳ chừng năm mét, một đứa mệt lả, ngã gục xuống, thở dốc từng hơi. Còn một tên lắp bắp nói một câu gì đó, nghe chưa rõ. Trần Kỳ ra hiệu cho tên địch bước lên hai bước trước họng súng của anh:

- Hàng thì sống! Chống thì chết!

Khẩu súng của tên lính địch đã bị ném đi từ lúc nó giơ tay xin hàng… giây phút này nó vất vả lắm mới nói lên được một câu:

- Chúng em là lính biệt động quân của ông đại tá Phạm Duy Tất, xin các anh đừng bắn nữa! Ông Tất cũng xin hàng đó!

“Ông Tất” của chúng bay đâu rồi?

- Dạ, thưa anh, ông Tất đang núp sau chiếc xe bốc cháy kia ạ...

- Cho mày được quay lại, báo cho đại tá của mày ra hàng, sẽ được tha tội chết!

Tên hàng binh thất thểu quay lại. Hai phút sau, một chiếc khăn tay trắng lấp ló sau chiếc xe tăng bốc cháy. Một cái đầu mũ sắt nhô lên, rồi chiếc mũ bị lật ngược ra phía sau, để lộ một khuôn mặt hốc hác và đổi mắt đang sợ sệt nhìn về phía Trần Kỳ và Lê Văn Tâm. Vẫn cầm chiếc khăn tay trắng giơ cao. Tên sĩ quan chỉ huy cấp tá loạng choạng bước theo tên lính cận vệ của hắn, từng bước đến gần hai chiến sĩ Quân Giải Phóng. Hắn cố nói lên:

- Tôi, Phạm Duy Tất, chỉ huy các liên đoàn biệt động quân xin... đầu hàng Quân Giải Phóng!

Trần Kỳ khoát tay về phía sau:

- Các anh đi về phía sau chúng tôi!

Tên đại tá Phạm Duy Tất cùng năm tên lính “tháp tùng” thất thểu đi theo sự hướng dẫn của Trần Kỳ.

Kỳ quay sang nói với đồng đội:

- Các đồng chí Vinh, Tấn và Quang tiếp tục canh chừng những tên ngoan cố bên kia. Tôi và đồng chí Tâm đưa sáu tên hàng binh này về nơi tập kết.

Phạm Duy Tất và năm tên lính được phép dừng lại và ngồi xuống sau một mỏm đá được dùng làm công sự của bộ đội Giải Phóng.

- Các anh được phép ngồi xuống đây!

Trần Kỳ ra lệnh và nói tiếp:

- Đã ra hàng, các anh được phép ngồi nghỉ.

Tên chỉ huy nói giọng run run:

- Thưa các ông, tôi là Phạm Duy Tất, xin thay mặt anh em ra hàng xin được cảm ơn các ông…..

Trần Kỳ nhìn những hàng binh địch bằng cái nhìn độ lượng:

- Mặc dù các anh đã biết, tôi vẫn phải nhắc lại: bộ đội Giải Phóng luôn luôn thực hiện chính sách nhân đạo của chính phủ cách mạng: Khoan hồng với tất cả những người lầm lỗi xin cải tà quy chính, đã rời bỏ hàng ngũ địch để trở về với nhân dân.

Phạm Duy Tất ngập ngừng vừa sợ sệt, vừa hổ thẹn chỉ biết “dạ” mà chưa biết nói thêm câu gì.

Trần Kỳ đoán biết được ý nghĩ của người tù binh, anh hỏi ngay:

- Anh là sĩ quan chỉ huy cả chiến đoàn này, nếu không bị vây, đón đánh, chắc anh chưa chịu ra hàng. Bây giờ các anh không chạy thoát được về Tuy Hoà, các anh mới chịu ra hàng, có phải không? Sao các anh không băng rừng chạy trốn như rất nhiều binh lính của anh?

Tên sĩ quan tù binh cụp mắt nhìn xuống đất, một lúc sau mới ngửng lên:

- Dạ, thưa các ông, binh lính của tôi quá hoảng sợ, vứt súng, cởi quần áo lính chạy trốn, nhiều người chỉ còn cái quần xà lỏn, khi thấy các ông ngừng bắn, gọi hàng, đã ôm cả vợ con ra hàng và họ đều được đối xử tử tế. Hai hôm nay, các ông đã bắt mấy ngàn tù binh rồi. Riêng tôi, nếu tôi lẩn trốn, có thể khó thoát mà có khi còn chết uổng mạng, nên tôi quyết định ra hàng và xin các ông tha cho tội chết!

Trần Kỳ nói rành rọt:

- Như tôi đã nói: chính sách của chính phủ cách mạng là quang minh, chính đại. Bây giờ các anh sẽ được đưa về trại tù hàng binh, sẽ được đối xử tử tế. Về trại rồi, các anh sẽ được hướng dẫn để khai báo rõ ràng, cụ thể. Cứ yên tâm, nghe!

Phạm Duy Tất lại “dạ” một tiếng và cúi mặt chờ đợi.

Trần Kỳ quay sang Lê Văn Tâm:

- Đồng chí Tâm đưa tốp hàng binh này về phía sau và báo cáo ngay lên đại đội rằng: Phạm Duy Tất chỉ huy của chiến đoàn này đã ra hàng, khẩn cấp đó, nghe!

Tâm nói với Tất và năm tên lính nguy:

- Các anh đi hàng một, rẽ bên phải theo lối mòn...

Trần Kỳ còn chỉ định hai chiến sĩ cùng đi theo áp giải tốp hàng binh cùng với Tâm vì anh nghĩ trong tốp hàng binh này có cả tên chỉ huy là một hàng binh quan trọng, phải dẫn giải chúng cho thật an toàn.

Trần Kỳ chưa từng thấy hôm nào vui như hôm nay. Mới chỉ sau hai ngày chiến đấu, ta đã đánh tan cả một chiến đoàn của địch, xoá sổ nhiều đơn vị của Phạm Văn Phú ở Plây Cu, Kon Tum. Trung đội của anh vừa đánh, vừa gọi địch ra hàng. Bây giờ, đến lượt Phạm Duy Tất ra hàng giữa lúc trận đánh sắp kết thúc có nghĩa là ta đang thắng lớn và chiến dịch giải phóng Tây Nguyên đang làm tan rã từng mảng lớn phòng tuyến của địch ở quân khu 2. Việc giải phóng Phú Bổn, Củng Sơn, Cheo Reo đã ở trong tầm tay của cả sư đoàn 320…

 

XX

 

NGÔI BIỆT THỰ ĐƯỢC PHẠM VĂN PHÚ TẠM thời dùng làm Sở chỉ huy của Bộ tư lệnh tiền phương hôm nay trở nên vắng lặng khác thường. Ngoài một trung đội quân biệt động đóng ở phía sau có nhiệm vụ thay phiên canh gác, bảo vệ 24 giờ trên 24 giờ trong ngày, ít có khách khứa ra vào tấp nập như một tuần trước đây, khi Phú còn làm việc ở Plây Cu. Mỗi sáng, mỗi chiều, lui tới làm việc với Phú ở đây chỉ còn có chuẩn tướng Trần Văn Cẩm phó tư lệnh, đại tá Lê Khắc Lý tham mưu trưởng Vùng 2 chiến thuật. Ba người mặc nhiên vẫn hợp thành Bộ tư lệnh Vùng 2 chiến thuật. Còn cái tên dối trá lúc tuỳ nghi di tản được Phú đặt cho nhiệm sở này là “Bộ tư lệnh tiền phương” thì giờ này Phú không muốn bất cứ ai nhắc đến nữa, bởi vì hắn vừa nướng sạch cả một chiến đoàn trên đường số 7.

Người chỉ huy trực tiếp cuộc rút quân này là đại tá Phạm Duy Tất cũng đã đầu hàng Quân Giải Phóng rồi! Nói cách khác thì Phạm Duy Tất đã bị bắt sống cũng như những người bị bắt sống ở Buôn Mê Thuột gồm có đại tá tỉnh trưởng tỉnh Đắc Lắc Nguyễn Công Luật, đại tá Vũ Thế Quang, sư đoàn phó sư đoàn 23, và ông cố vấn Mỹ Pôn Xtru-ha-rích. Các sư đoàn quân Bắc Việt đánh như vũ bão với xe tăng, đại bác, tên lửa, phối hợp với biệt động của Việt Cộng nằm vùng.... Họ đã đánh chiếm Buôn Mê Thuột từ 2 giờ sáng ngày 10-03-1975 và đã làm chủ thị xã đông dân, bảy ngày sau đã tiếp quản ngon lành cả Plây Cu và Kon Tum...

- Trắng tay rồi, các anh ơi!

Chiều hôm qua, sau khi được tin đích xác Phạm Duy Tất bị bắt sống rồi sau đó cả ba căn cứ Cheo Reo, Phú Bổn và Củng Sơn đều thất thủ thì Phạm Văn Phú đã đập mạnh cái ống nghe trên máy điện thoại vừa kêu lên như thế với phó tư lệnh Trần Văn Cẩm và tham mưu trưởng Lê Khắc Lý.

Cả ba người ngồi lặng đi, khổ đau, sầu não như trong một nhà có tang.

Phú lại nhắc lại câu nói từng nói nhiều lần:

- Nếu ông Thiệu để cho tôi giữ Plây Cu thì ít nhất chúng ta cũng giữ được một tháng! Ông Thiệu lại nhất quyết buộc tôi phải rút Cao Nguyên về ven biển... Tùy nghi di tản là như thế này đây! Không phải ba chúng ta “nướng” quân, mà chính tổng thống Thiệu đã “nướng" quân của chúng ta. Hàng vạn con người, hàng trăm cỗ pháo lớn, hàng mấy trăm xe cơ giới làm sao ra đi âm thầm lặng lẽ được? Mà đã lộ bí mật thì dẫn đến thảm hoạ rồi! Bây giờ thì thật là... vô phương cứu vãn!

- Tôi nghe tin mới nhất thì ông Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân khu 1 cũng đang lo méo mặt vì Việt Cộng lại gia tăng hoạt động chung quanh cố đô Huế. Ta chỉ còn lại có một sư đoàn 22 và mấy tiểu đoàn biệt động lèo tèo, quan quân đang hoang mang, dao động đến tột độ, vì Cao Nguyên sụp đổ thì còn tinh thần đâu để bảo vệ vùng ven biển nếu Việt Cộng cứ... làm tới!?

Lê Khắc Lý cất tiếng nói yếu ớt hơn:

- Thôi thì còn nước còn tát, ta hãy cứ làm hết trách nhiệm của mình. Ta bảo vệ vùng ven biển miền Trung này cũng có nghĩa là bảo vệ cho các ông cỡ bự ở Sài Gòn, ông Thiệu không tăng viện cho chúng ta thì chúng ta lấy gì để bảo vệ ông ấy?

Phú kêu Phú nghe những tiếng nói bực dọc của Lý và Cẩm, càng thấy bầm gan tím ruột, song suy đi tính lại, Phú không dám chống lệnh của Thiệu, nếu để lộ ý kiến chê bai hoặc oán trách cho nhiều người biết thì Thiệu sẽ không tha thứ và sẽ thẳng tay với Phú. Phú đành phải cắn răng và bấm bụng nói với Lý và Cẩm.

- Các anh cũng không nên nói rộng ra ý kiến của ba chúng ta làm gì, có khi lại bị “vạ miệng” đó. Tôi thấy mỗi ngày một khó khăn thêm. Sau vụ bại trận này, ông Viên, ông Thiệu sẽ lại phiền lòng lắm. Tôi phải nhờ ông Đặng Văn Quang lựa lời, che chắn cho ta, nếu không mấy ông chóp bu lại nổi nóng, đổ hết tội vạ lên đầu ba chúng ta thì thật là nguy hiểm!

Ý kiến của Phú được Lý và Cẩm chấp nhận vì cả ba người đã như ba cái cột rệu rã phải chụm lại với nhau để chống đỡ cho ngôi nhà “quân khu 2" khỏi sập. Từ chiều hôm qua, mỗi người lại tự tìm lấy cái thú giải sầu cho mình bằng những ly rượu mạnh.

Và bây giờ, lại một buổi sáng đầy ánh nắng của Nha Trang. Kim đồng hồ đã hoặc chỉ đúng 9 giờ, Cẩm lại sang với Phú. Phú hỏi:

 - Có tin tức gì mới không, anh?

Cẩm uể oải:

- Mấy thằng lính thoát chết ở Cheo Reo chạy về đây, quậy phá tối hôm qua, tôi cho bắt nhốt cả rồi.

- Có nhiều không?

- Hơn một trăm thằng!

- Ừ, cứ nhốt lại, để chúng nó khỏi chửi bới và nói năng làm hoang mang dân chúng.

- À, có một thằng trung sĩ lái xe riêng của anh ở Plây Cu nó đang năn nỉ lính gác xin vào đây gặp anh  đấy!

Phú sửng sốt:

- À thằng Lâm! Nó đi bộ hay là đi xe ?

- Đi b!

- Anh gọi giùm tôi, cho phép nó lên tôi hỏi luôn tình hình Plây Cu xem sao?

Cẩm ra cửa, vỗ tay gọi:

- Ê! Trung sĩ Lâm! Thiếu tướng cho phép anh vào!

Lâm chậm chạp từ sân bước lên thềm, được Cẩm bắt tay chặt chẽ và Phú ra đón từ ngoài cửa:

- Lâm đấy hả? Vào đây! Xe đâu và ông Lãng Tử đâu rồi, mà em lại về một mình? Đi mệt lắm hả? Ngồi đây!

Trung sĩ Lâm tỏ ra cảm động và rụt rè ngồi xuống ghế, đối diện với hai vị tướng:

- Dạ, xin trình thiếu tướng và chuẩn tướng: em cũng thoát chết mới về được đến đây...

Phú nói:

- Trời! Tôi cho phép em được báo cáo tự nhiên, cứ nói đi!

- Dạ, thưa: em đón được ông Lãng Tử và cô Ninh từ Đà Lạt về Plây Cu thì ông Lãng Tử muốn nghỉ lại biệt thự Dạ Lan Hương vì ông thiếu tá Cang đang ở đó. Một chuyện không may xảy ra là ông Cang lợi dụng lúc di tản, đang lúc “hỗn quân, hỗn quan” đã bắt cóc tống tiền mấy nhà buôn lớn, đem họ về giam giữ ở biệt Dạ Lan Hương, bị ông Lãng Tử phát hiện. Sáng hôm sau xe của em đưa ông Lãng Tử về Kon Tum nhưng vừa ra đến trung tâm Plây Cu đã bị mấy ông Việt Cộng nằm vùng phát hiện chiếc xe Méc-xê-đéc của thiếu tướng. Họ giữ lại xe để kiểm tra, ông Lãng Tử đã tố cáo ngay với mấy ông Việt Cộng rằng: có mấy vụ bắt cóc của ông Cang. Thế là ba ông Việt Cộng trưng dụng ngay chiếc xe buộc em lái quay trở lại Dạ Lan Hương. Họ bắt ngay hai tên lính gác, tước hai khẩu súng rồi lên lầu bắt luôn thiếu tá Cang và cô Ba. Họ trả tự do ngay cho hơn mười người bị bắt cóc cùng với tài sản được mang về. Ông Cang, cô Ba và hai người lính gác bị họ bắt đem về căn cứ. Em và chiếc xe cùng với ông Lãng Tử và cô Ninh được phép ở lại biệt thự. Sáng hôm sau ông Lãng Tử đưa cô Ninh về Sài Gòn. Em giao xe lại cho cô hầu bàn và ông bếp trưởng ở Dạ Lan Hương rồi tìm đường về đây bằng xe đò. Dọc đường đi, em nghe lính đào ngũ kháo nhau rằng Việt Cộng đã tràn vào Kon Tum, Plây Cu sau khi bên ta tuỳ nghi di tản. Việt Cộng chỉ dẹp mấy vụ lính đi ăn cướp và hãm hiếp phụ nữ, còn dân chúng treo cờ kết hoa, đón bộ đội Giải Phóng về tiếp quản rất là phấn khởi, ồn ào, vui như ngày hội. Em chẳng biết bấu víu vào đâu nên tìm về đây xin thiếu tướng và chuẩn tướng cho em được tiếp tục lái xe hoặc gác cổng cũng được thì em mừng lắm. Chiều hôm qua, em còn nghe mấy toán lính từ Phú Bổn về đây nói là ông đại tá Phạm Duy Tất cũng bị Việt Cộng bắt sống ở gần Cheo Reo. Xe pháo và binh lính thì tan rã hết. Em ngủ trọn một đêm ở ngoài quán, hôm nay em tìm về đây...

Phú gật đầu:

- Thằng Cang làm bậy thì nó phải chịu tội. Nếu tôi bắt được tôi cũng không tha tội. Đối với Việt Cộng thì tội bắt cóc, tống tiền của thằng Cang lại càng nặng, họ sẽ xử tử hình đó. Lưu manh, đại lưu manh rồi! Còn oan nỗi gì, mà kêu xin? Còn em, em cứ ở đây, lái xe Jép cho tôi, nghe!

Lâm chớp chớp mắt:

- Dạ. Em xin cảm ơn thiếu tướng!

Phú rút từ túi mấy tờ giấy bạc đưa cho Lâm: Cho em ít tiền xài. Em xuống nhà bếp báo cơm ăn với anh em gác, tắm giặt, nghỉ ngơi vài ngày cho khoẻ đã, rồi tôi sẽ giao xe cho, nghe!

- Dạ.

- Thôi, xong rồi. Em có thể xuống nhà dưới...

Lâm lui ra khỏi phòng khách. Phú nói với Cẩm:

-Thằng Lâm rất trung thành, rất có nghĩa với tôi, Lúc này ta rất cần những người như nó. Anh có thể dùng nó lái xe cũng được. Lúc này mà gặp phải những thằng lính quay quắt thì phiền lắm. Đó, anh xem thằng Cang làm bậy, nó sẽ biết thế nào là cái giá nó sẽ phải trả!

 Cẩm lắc đầu, ngao ngán:

- Đúng là loạn lạc thật!

Phú như chợt nhớ ra một điều quan trọng, hắn nói với Cẩm:

- Anh hạ lệnh cho các nơi: thiết quân luật vẫn duy trì cho nghiêm, từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng! Lính thì phải cấm trại không có nhiệm vụ, không được ra phố. Lính các nơi đào ngũ về đều phải tập trung, giam riêng, phân loại, đề phòng Việt Cộng lợi dụng tình thế này, trà trộn vào đây, quấy rối, phá hoại... Đối với Việt Cộng nằm vùng, nếu phát giác được thì thẩm vấn và báo cáo về đây ngay. Nếu đúng là Việt Cộng cài lại thì tôi và anh sẽ ra lệnh cho chúng nó bắn bỏ ngay những tên phiến loạn!

 Cẩm gật đầu:

- Nhất trí với anh. Tôi sẽ “phôn” ngay cho tất cả các nơi để cấp dưới thi hành không chậm trễ!

Cẩm đứng lên, bước ra cửa.

Phú còn lại một mình, đã gọi dây nói cho “cô Năm” ở vũ trường Ha-oai.

- Cô Năm đó phải không? Tôi, Phú đây, cảm phiền cô Năm một việc nhé: cô Năm cho em Ngọc Ngà qua đây làm tiếp tân ít ngày nhé!

- Dạ, xin tuân lệnh thiếu tướng!

- Cảm ơn! Cảm ơn cô Năm nhiều!

 

XXI

 

TÂM NGỒI CHỜ ANH TRẦN KỲ ĐI HỌP TRÊN tiểu đoàn, đã hơn một giờ mà anh vẫn chưa về. Buổi sáng anh chỉ dặn lại bằng một dòng thư để lại ở trong lán: "

“Tâm chờ anh đi họp về sẽ bàn về công tác mới nhé. Có thể anh về muộn một chút”

Tuần lễ này, đơn vị của Tâm đã hai lần chuyển nơi đóng quân, từ rừng sâu, bộ đội đã ra ở gần con đường số 14. Không có đơn vị nào chuyển lên phía Bắc, mà ngược lại chỉ có từng đoàn xe kéo pháo xuôi về phía Nam mà theo anh Kỳ tiết lộ bí mật với Tâm thì đó là những binh đoàn mới đang rầm rộ đi vào Nam Bộ để chuẩn bị cho những trận đánh mới trước mùa mưa.

Chiến thắng lừng lẫy của chiến dịch Tây Nguyên năm nay, chỉ nghe trên đài, trên báo cũng đã thấy nức lòng: ngày 10-03-1975 đánh chiếm Buôn Mê Thuột, Ngày 16-17 tháng 03 đã vào tiếp quản Kon Tum - Plây Cu, ngày 18 đã xoá sổ cả một chiến đoàn quân nguỵ trên đường số 7, bắt sống tên đại tá Phạm Duy Tất, giải phóng luôn thị xã Phú Bổn, Cheo Reo và Củng Sơn... Tên thiếu tướng nguy Phạm Văn Phú chuồn ra Nha Trang cùng với một bộ sậu gọi là “Bộ tư lệnh Vùng 2 chiến thuật” sẽ chẳng bao giờ còn trở lại Cao Nguyên. Mới một tháng trước đây, Phú còn chưa biết sư đoàn 320, sư đoàn 10 ém quân ở đâu mà “tìm diệt” thì nay đã mấy phen “giáp mặt” với hai sư đoàn này. Trận phục kích trên đường số 7 của sư đoàn 320 đã giáng cho Phú một đòn đau nhớ đời. Tên đại tá Phạm Duy Tất nằm trong trại tù binh của quân ta đã khai: “pháo binh của các ông bắn dữ dội chưa từng thấy, làm cho chúng tôi không ngóc đầu lên được và khi tôi hạ vũ khí ra hàng thì tôi chẳng còn thấy gì để mà chỉ huy; quân lính xe pháo tanh bành, vợ con bám theo la khóc như ri. Vào đến trại tù hàng binh tôi mới thấy toàn là lính của đoàn 23 của ông Phú và lính các liên đoàn biệt động quân của tôi, chúng tôi đã bị các ông đánh... gãy xương sống rồi còn gì! Ở Tuy Hoà, Nha Trang, Cam Ranh ông Phú đang nơm nớp lo sợ ngày đêm...”.

Những ý nghĩ vui vui cứ chen vào cả giấc ngủ của Tâm và những anh lính trinh sát pháo binh từ hôm nào còn len lỏi vào Plây Cu trong vòng vây của địch, vậy mà hôm nay Play Cu đã được tiếp quản, lính trinh sát và biệt động Plây Cu của anh Bảy Hùng có thể đi thênh thang khắp các phố phường Plây Cu mà không còn phải cảnh giác với “thiếu tá Cang” nữa...

Bỗng tiếng còi xe Hon-đa của Trần Kỳ bóp inh ỏi đã làm cho Tâm giật mình, quay ra. Kỳ tươi cười bước vào lán: Em đợi anh lâu chưa?

- Dạ. Em mới tới, biết thế nào anh cũng về...

Trần Kỳ ném chiếc xắc-cốt xuống bàn nói như reo:

- Sư đoàn nhiệt liệt biểu dương pháo binh đấy nhé. Anh với em là lính cũng được thơm lây! Em biết không: tấm bản đồ Plây Cu của em vẽ với anh lính cộng hoà trốn trại có tên là Huỳnh Văn Hoà, anh cứ tưởng là bình thường, ấy thế mà các cụ nhà ta ở sư đoàn bộ lại cứ khen nức nở là vẽ khá chuẩn, giúp cho pháo binh “rót” đạn xuống sân bay cứ... “đâu ra đấy”! Và rồi kết quả sau cùng là “tuỳ nghi di tản”, ngài tư lệnh Phạm Văn Phú bỏ lại cả 64 máy bay nguyên vẹn kèm với một giàn ra-đa trị giá không dưới một triệu đô-la Mỹ! Chưa hết, pháo binh còn nện... gãy xương sống quân đoàn 2 của nguy trên đường số 7 nữa chứ và bây giờ xe pháo của ta có thể đi như nước chảy từ Cao Nguyên về vùng biển qua ba con đường 14, 21 và số 7 nữa! Thú thật, chưa có chiến dịch nào ta thắng lớn như vậy.

Tâm lây thêm cái vui của anh

- Dạ, với em thì chiến dịch này là chiến dịch đầu tiên em được tham gia...

- Ấy thế nhưng mà, anh em mình lại phải vắt chân lên cổ mà chạy vào phía nam đó. Còn địa bàn này sẽ giao lại cho địa phương...

Tâm hỏi:

 - Mình lại phải đi? Nay hay mai?

- Cứ chuẩn bị sẵn sàng, các cụ cứ “ới” một tiếng là phải đi ngay!

- Em thích đi lắm anh ạ. Em chưa hề biết Nam bộ kia mà!

Trần Kỳ đặt bao thuốc lá 3 số 5 lên bàn:

- Quà của sư đoàn trưởng cho đấy! Hút đi, các cụ nói là “chiến lợi phẩm”, cho mỗi anh mấy điếu hút cho vui chứ có ai nghiện ngập gì đâu! Riêng với Lê Văn Tâm thì đại đội trưởng còn ưu tiên tặng em một gói chưa bóc tem nhé!

Tâm lộ nét vui hồ hởi:

- Thế kia ạ?

- Ừ, vì em còn phải ở lại làm một nhiệm vụ đặc biệt, hết sức quan trọng. Anh sẽ đi trước em. Em ở lại làm xong công việc sẽ đi vào sau. Ta sẽ gặp nhau ở Lộc Ninh Dầu Tiếng gì đó... Yên tâm đi! Lúc này thì khó lạc nhau lắm. Từ chiến thắng Plây Cu - như lời sư đoàn trưởng vừa nói- chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam đang chuyển sang bước ngoặt lớn, cho nên ta phải thừa thắng xốc tới đẩy cho quân địch lún sâu vào thất bại, vì vậy sẽ có những trận đánh lớn, những quả đấm thép quyết định trong chiến dịch Xuân Hà, đi trước mùa mưa đấy nhé!

Sư đoàn trưởng nhấn mạnh: “Vì vậy, yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch đặt ra là rất cao, phải có quyết tâm lớn thì mới có chiến thắng lớn. Cấp trên yêu cầu ĐI là ĐI, không một chút chần chừ, lại phải khắc phục tư tưởng chủ quan khinh địch mà phải tìm ra cách đánh sao cho đạt hiệu quả cao!

- Dạ, em thấy ý kiến của sư đoàn trưởng là rất sâu, rất sát...

- Này nhé, tối nay, anh sẽ bàn kỹ với em về nhiệm vụ em được giao, hơi dài đây, cho nên em về ăn cơm cho chắc bụng đã, rồi hai anh em mình mới có thể lai rai nói chuyện với nhau được!

Tâm đứng lên, vừa vui vừa hồi hộp chưa hiểu là nhiệm vụ gì mà anh Kỳ chưa nói hết, vui thì vui rồi nhưng liệu có nặng nề quá sức mình không?

*****

Sau bữa cơm tối, Tâm đã được ngồi trong lán nghe trung đội trưởng Trần Kỳ giao nhiệm vụ mới:

- Buổi chiều, anh có nói lại ý kiến của lãnh đạo và chỉ huy sư đoàn khen ngợi em về bức bản đồ Play Cu mà em và Huỳnh Văn Hoà vẽ được, giúp cho pháo binh ta bắn phá vào sân bay Cù Hanh. Hôm nay, sau chiến thắng đường số 7 của ta, địch rút về giữ vùng ven biển, ta sẽ không để cho chúng co cụm lại ở đấy. Ta sẽ tiếp tục đánh vùng ven biển. Cấp trên nhận định: địch sẽ củng cố Phan Rang để bảo vệ cho Sài Gòn từ xa. Phan Rang có sân bay Thành Sơn, sẽ là địa bàn rất quan trọng của địch nằm gần quốc lộ số 1, thuận tiện cho việc phòng thủ của địch. Chúng có thể dùng bộ binh, không quân, lại có thể dùng cả hải quân từ ngoài biển bắn vào nếu ta đánh Phan Rang. Đánh Phan Rang sẽ rất khó, sẽ rất gay go, quyết liệt. Thế nhưng, sau chiến thắng Buôn Mê Thuột và Plây Cu, sức ta đã mạnh, quyết tâm càng cao, lại có thêm nhiều binh chủng: xe tăng, đại bác, tên lửa, bộ binh hợp thành những quả đấm thép rất quyết liệt... Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh theo yêu cầu của chiến dịch đã chi viện cho miền Nam nhiều sư đoàn mạnh từ Bắc hành quân thần tốc vào Nam, sẽ đánh địch trong thế chẻ tre. Vì thế, em có biết không? Một bản đồ Phan Rang lúc này là rất cần thiết cho chiến dịch. Em phải trở lại Phan Rang, cùng với Huỳnh Văn Hoà thực hiện nhiệm vụ quan trọng là vẽ cho được một tấm bản đồ chi tiết về địa hình Phan Rang, có các vị trí phòng thủ của địch kể cả sân bay Thành Sơn để phục vụ cho những trận đánh mới nay mai của quân ta. Cấp trên đã xác minh: Hoà là anh lính cộng hoà phản chiến tích cực, gia đình Hoà ở Sài Gòn là gia đình làm ăn lương thiện, và nhất là gia đình chú Tám, dì Tám ở Phan Rang lại là gia đình cơ sở của ta, của cách mạng đó. Vợ chồng chú Tám - dì Tám lại là bạn hàng của bà má cậu Hoà, một nhà buôn đô cổ ở đường Tự Do (Sài Gòn), Dì Tám đi lại với má cậu Hoà đã lâu, rất thân thiết, lại đang đùm bọc cậu Hoà ở Phan Rang và đã lo cho em đủ giấy tờ công khai hợp pháp, cho Lê Văn Tâm trở về đơn vị cũ an toàn. Ngày mai em sẽ trở lại với gia đình chú Tám, dì Tám với giấy tờ cũ đó. Ăn mặc bảnh bao như một thanh niên vùng địch còn tạm thời kiểm soát, để làm nhiệm vụ của anh trinh sát địa bàn. Thời gian cấp trên quy định cho em và Hoà là một tuần lễ, phải hoàn thành nhiệm vụ để em có thể mang về nộp lên cấp trên tấm bản đồ Phan Rang tỉ mỉ nhất, chính xác nhất. Em có thể làm được chứ?

Tâm chú ý lắng nghe anh Kỳ nghĩ, anh đã gật đu:

- Em xin nhận nhiệm vụ và sẽ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cùng với Hoà và chú Tám, dì Tám ở Phan Rang. Song như anh vừa nói ban chiều: không chủ quan khinh địch và phải có quyết tâm cao. Em thấy nhiệm vụ này là nặng và không dễ ăn. Nhưng có dì Tám, chú Tám và Hoà giúp đỡ thì em có thể làm được! Xin anh cứ báo cáo với cấp trên là: cấp trên đã giao nhiệm vụ cho em, em sẽ cố gắng hoàn thành với hiệu quả cao!

Trần Kỳ tươi cười nắm chặt tay người bạn trẻ:

- Rt hay! Anh rất yên lòng vì quyết tâm và lời hứa danh dự của em, của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam! Em uống nước, hút thuốc đi! Hai anh em mình cố gắng để khỏi phụ lòng mong mỏi của đồng đội và cấp trên. Anh vẫn phải nói lại, tưởng cũng không thừa, đó là: nếu chuẩn bị được tốt thì khi ta đánh vào Phan Rang sẽ tiết kiệm được xương máu chiến sĩ và sẽ tiêu diệt được kẻ địch nhanh hơn, nhiều hơn, góp phần thắng lợi to hơn, lớn hơn cho chiến dịch này.

Tâm chưa hết băn khoăn:

- Thời gian em được sử dụng là một tuần cho cả đi và về thì hơi ít, nhưng em sẽ cố gắng!

- Đó. Em phải nói cho Hoà và chú Tám, dì Tám biết được yêu cầu rất cấp bách nên thời gian làm việc và đi về là rất căng thẳng. Song anh tin là em và Hoà, có sự giúp đỡ của chú Tám, dì Tám thì em sẽ làm được đúng thời hạn quy định của cấp trên. Bàn tay vàng của Hoà và của em sẽ vẽ nên những đường đi lối lại của Phan Rang, của sân bay Thành Sơn nhanh nhất, chính xác nhất, anh tin là em và Hoà sẽ làm được công việc khó khăn này! Anh nhấn mạnh lại là công việc sẽ rất khó khăn đó. Kẻ địch sẽ rất gian ngoan, tàn ác. Gián điệp biệt kích, mật vụ, cảnh sát, quân cảnh đã và đang canh phòng cẩn mật ở Phan Rang, ở chung quanh sân bay Thành Sơn. Lọt được vào đấy thật không phải là chuyện dễ ăn như em vừa nói. Anh và em ngồi ở đây làm sao hình dung hết được khó khăn cản trở, song em sẽ cố gắng làm cùng với Hoà và gia đình chú Tám. Bí mật, bất ngờ, khôn khéo, khẩn trương. Em cố gắng lên nhé!

- D.

Ánh mắt long lanh và lời nói nhẹ nhàng thấm sâu của Tâm thực sự làm cho anh Kỳ yên lòng tin tưởng. Tâm thì lại thấy hiển hiện lên rất rõ nét hình ảnh của Hoà, của chú Tám, dì Tám, những người mới quen, mới thân ít ngày mà sao lại dễ thương đến vậy? Suy cho cùng thì đó chính là một trong muôn ngàn nhân tố dẫn đến thắng lợi. Những con người tố Việt Nam bình dị, những tấm lòng yêu nước nồng nàn, sẵn sàng hy sinh cho kháng chiến, cho cách vững bền, không có vàng bạc nào mua được, không có bạc nào mang, thầm lặng và sức mạnh nào lay chuyển được! Tâm muốn nói với anh Kỳ: mọi người sẵn sàng giúp em như thế, bằng cách nào em cũng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tâm ngồi im, nhưng anh Kỳ hiểu được sự xao xuyến trong lòng Tâm. Anh Kỳ nói tiếp:

- Cố gắng lên, nếu có thư của cô Hằng Hà Nội gửi vào, anh sẽ giữ và chuyển cho em! Lòng người xứ Bắc gửi vào phương Nam!...

Tâm lại thấy rộn lên trong lòng nỗi nhớ khôn nguôi với cô bạn là ca sĩ không chuyên mà có giọng hát nữ trung đm ấm lạ thường. Anh muốn nói riêng với Hằng “- Hằng ơi! Cho anh trồng cây si trước nhà em nhé! Em đừng cười anh! Anh “quê” quá phải không em? Song yêu em thì đâu phải là anh có tội? Em cười với trăm ngàn thính giả song có phải em đã dành cho anh một nụ cười đẹp nhất? Hằng ơi! Anh nhớ hai câu thơ của Phạm Huy Thông trong bài “Tiếng địch sông Ô” đã được tuyển chọn trong Thi Nhân Việt Nam (của Hoài Thanh) Nhà thơ tả đôi mắt nàng Ngu Cơ trong đêm vĩnh biệt Hạng Võ của lịch sử Trung Hoa cổ đại:

“Ôi! đôi mắt sâu xa, ảo huyền và sán lạn

Mà ngàn thu còn sáng mãi đêm nay!..."

 Anh lãng mạn quá, phải không em? Hằng ơi! Ngày chiến thắng đang đến gần, em hãy chờ anh nhé! Ngày anh trở về Hà Nội với em không còn xa vời vợi nữa đâu, em!

Nhìn vẻ trầm ngâm trên nét mặt của Tâm, anh Kỳ vỗ vai Tâm:

- Nhớ Hà Nội lắm phải không?

Tâm nói khe khẽ:

- Dạ, nhớ lắm anh ạ.

 

XXII

 

TÂM ĐẾN TRƯỚC QUÁN HÀNG CỦA DÌ TÁM lúc 9 giờ sáng. Giờ này đã hết khách ăn. Tâm nhìn vào trong: đây rồi, anh bạn Huỳnh Văn Hoà đang dọn dẹp bàn ghế. Tâm lên tiếng gọi:

- Hoà!

Nghe tiếng gọi, Hoà nhìn ra rồi reo lên:

-Trời! Anh Tâm! Anh Tâm!

Hoà chạy vội ra và ôm chầm lấy Tâm:

- Em biết thế nào anh cũng trở lại Phan Rang mà! Sao không biên thư cho em trước?

Tâm siết chặt tay người bạn trẻ:

- Vội quá mà! Gấp quá nữa nên anh không kịp biên thư cho em. Dì Tám đi đâu rồi?

 - Dì Tám đi chợ, cũng sắp về. Anh ơi! Nghe tin quân ta chiến thắng lớn quá mà. Chúng nó phải bỏ Plây Cu, Kon Tum để tuỳ nghi di tản, lại bị chặn đánh ở Cheo Reo, Phú Bổn, chết như rạ, có phải không anh?

 - Đúng! Em nghe thế nào?

- Đài báo Sài Gòn, Hà Nội và BBC nói cả mà. Rồi những tên lính thoát chết chạy về đây kháo nhau nữa! Hôm nay, anh sẽ kể lại em nghe thêm nhé!

- Được, anh sẽ kể mà!

- Nhưng anh chưa nói: anh nghỉ phép về qua đây hay là anh đi công tác? Trời em nhớ anh Tâm lắm. Chưa biết bằng cách nào để gặp lại anh, mà nay anh lại đến. Em sướng quá, anh ơi! Anh ngồi xuống đây, Em lấy nước anh uống...

- Giữa hai ly nước, Tâm đã kể lại lời khen ngợi của sư đoàn về tác dụng tấm bản đồ Plây Cu của Hoà vẽ cho Tâm, giúp cho những trận pháo kích nghi binh của Quân Giải Phóng đạt hiệu quả chiến đấu cao như thế nào. Hoà nghe chuyện kể mỗi lúc một vui hơn. Hay nhất là cái đoạn anh Bảy Hùng trưng dụng chiếc xe Méc-xê-đéc của ông nhà văn Lãng Tử quay trở lại biệt thự Dạ Lan Hương tóm gọn tên Cang ác ôn, giải thoát cho hơn mười người dân bị nó bắt cóc, tng tiền. Tâm phải nói lời khen ngợi Hoà:

- Nếu hai anh em mình không bàn nhau chuyện vượt trại giam của tên Cang ác ôn, cứ ngồi chờ nó “hành” mình thì đâu có chuyện bắt nó, trừ được cái đại hoạ cho dân lành?

Hoà thổ lộ:

- Em có ngờ đâu mấy anh, mấy chú lại làm lẹ đến thế?

- Đấy là thành tích của nhiều người, nhưng không thể không kể đến công đóng góp của em và chú Tám, dì Tám... À anh chưa hỏi: em đã lần nào về Sài Gòn thăm ba má chưa?

Hoà lắc đầu:

- Chưa. Em vẫn sống ở đây nhờ chú Tám che chở như một người giúp việc chạy bàn. Và dì Tám đã về Sài Gòn thông tin cho ba má em biết rồi. Má gửi cho tiền và dặn em cứ ở Phan Rang với dì Tám. Hôm trước nhận được thư anh, em mừng lắm... Anh còn ở đây được bao lâu nữa?

- Một tuần là tối đa và lại phải nhờ đến bàn tay vàng của em và chú Tám, dì Tám. Để chút nữa dì, chú Tám về, anh sẽ nói chuyện cả nhà cùng nghe...

 Hoà nói rất hồn nhiên:

- Thế thì vui quá!

Niềm vui của Hoà cũng là niềm vui chung của vợ chồng chú Tám. Song chú Tám lại nói:

 “- Rất khó!”

Sau khi đã nghe hết yêu cầu của Tâm. Chú nói rõ hơn:

- Sau khi tuỳ nghi di tản ở Plây Cu và bị đánh tả tơi trên đường số 7 thì Bộ tổng tham mưu ngụy ở Sài Gòn đã cử Nguyễn Xuân Trang, thiếu tướng tham mưu phó đến Phan Rang và Nha Trang phủ dụ Phạm Văn Phú trước khi bay ra gặp Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân khu 1 ở Huế. Anh em ta ở thị đội Phan Rang (bộ đội địa phương) đã thông báo cho chú Tám biết để đê phòng bọn mật vụ của địch được tăng cường hoạt động ở Phan Rang. Chú nói với Tâm:

- Cháu hãy tạm ở trên lầu, hạn chế đi lại và chưa nên xuất hiện ngày hôm nay. Cháu có giấy tờ hợp pháp nhưng lại là người lạ mặt mới tới đây....

Tâm phải vâng lời chú Tám, lên lầu để tránh những con mắt xoi mói của mật vụ địch thường đóng vai khách ăn ra vào quán của chú.

Tâm được nghỉ ngơi và kể nhiều chuyện vui với Hoà, song không giây phút nào không lo toan công việc mới.

12 giờ trưa ngày 26 tháng 3, áp tai vào chiếc máy thu thanh loại nhỏ, Tâm nghe đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam (từ Hà Nội) phát tin chiến thắng lớn:

“Cố đô Huế đã hoàn toàn giải phóng, cờ cách mạng phấp phới bay trên Ngọ Môn!

Tâm gọi chú Tám và Hoà lên cùng nghe tin. Chú Tám vỗ đùi, thích chí nói:

- Mới hôm trước tên trung tướng nguy Ngô Quang Trưởng tư lệnh vùng 1 chiến thuật còn huyênh hoang:

- Tôi sẽ tử thủ ở Huế. Việt Cộng muốn vào cố đô sẽ phải bước qua xác tôi!

Quân sĩ của hắn chưa kịp nức lòng thì quân dân Trị Thiên đã nổi dậy, tiến công vây hãm và đẩy lùi địch. Chúng bị đánh thiệt hại nặng và rút bỏ Huế chạy về Đà Nẵng. Ngô Quang Trưởng bỏ Huế, lại hô hào “Tử thủ Đà Nẵng” nhưng hàng vạn tên lính từ Huế chạy vào còn tinh thần đâu nữa để mà tử thủ?

Tâm nói:

- Sau Plây Cu, đây là sự sụp đổ dây chuyền của địch và như vậy thì Đà Nẵng cũng quá rung rinh rồi, có phải không chú?

Chú Tám gật đầu:

- Vì vậy mà suốt một dải miền Trung từ Đà Nẵng đổ vào qua Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết sẽ là những điểm nóng với những hoạt động của quân nguy. Tên Nguyễn Xuân Trang thay mặt Cao Văn Viên chắc chắn là sẽ tăng viện cho Trưởng và Phú đó. Mấy anh ở thị đội dự đoán không sai!

Tâm thiết tha nói với chú Tám:

- Cháu xin chú bố trí cho cháu được tiếp xúc với một vài anh ở thị đội Phan Rang có được không ạ?

Chú Tám ngập ngừng:

- Để chú xem tình hình có thuận lợi thì mới gặp được, không phải dễ đâu! Đi lại phải thận trọng lắm mới được. Chủ quan để lỡ một chút là rất nguy hiểm!

Tuy nói vậy, song vừa lúc 8 giờ tối, lựa lúc phố xá đông người qua lại, chú Tám đã “bốc” Tâm lên ngồi sau xe Hon-đa của chú để “xuất kích”. Hai chú cháu đã mau chóng hoà vào dòng người tấp nập trên đường và biến dạng vào trung tâm thị xã Phan Rang.

*****

Sau ba buổi tối “vi hành” cùng chú Tám, Lê Văn Tâm đã thu vào trí nhớ tất cả cái thị xã Phan Rang, tuy không lớn lắm, song lại nằm bên quốc lộ 1 và kề sát bờ biển, nơi chiến thuyền địch có thể đổ quân lên tiếp ứng hoặc rút rất nhanh. Sân bay Thành Sơn có đường băng dài rộng có thể cho các loại máy bay chiến đấu lên xuống dễ dàng. Về quân bộ, ngoài ba tiểu đoàn biệt động thường xuyên có mặt, Phan Rang mới được tăng cường một lữ đoàn dù, một sư đoàn thuỷ quân lục chiến thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược từ Xuân Lộc, Biên Hoà phái tới. Xe tăng, xe bọc thép M.113 của hai thiết đoàn được bố trí bảo vệ sân bay. Sau thất bại ở đường số 7, Phan Rang cấm trại suốt ngày đêm. Ban ngày thì cảnh sát, mật vụ rải ra đều khắp trên mọi đường phố, từ bảy giờ tối đến bảy giờ sáng xe quân cảnh đi tuần tiễu trên các ngả đường lớn quanh thị xã. Chung quanh sân bay Thành Sơn đèn pha cực sáng soi như ban ngày. Các chòi canh, bốt gác sẵn sàng báo động cùng với mười xe quân cảnh sẵn sàng nổ súng…

Tâm đã “nhập tâm” tất cả những điều chú Tám nói lại cùng với số liệu, tình hình hoạt động quân sự mới nhất của địch qua ba buổi tiếp xúc với các chú ở ban chỉ huy thị đội Phan Rang. Về nhà chú Tám, lên lầu 1 Tâm còn được chú Tám, dì Tám và Hoà kể lại cho nghe những mẩu chuyện “lộ bí mật quân sự” của cảnh sát, mật vụ khi chúng la cà ở quán ăn này, có tên say xỉn còn ba hoa nữa. Tất cả đều nói lên tâm trạng bạc nhược, chán chường của quân ngy. Sự hoang mang, lo lắng tột cùng của những tên thoát chết ở Plây Cu, Kon Tum mau chóng lan sang những đơn vị tăng cường mới tới như một bệnh dịch làm cho ban sĩ quan chỉ huy luôn luôn khuyến dụ:

-Tụi bay hãy chờ xem: quân lực Việt Nam sẽ tái chiếm Buôn Mê Thuột, Plây Cu và Kon Tum... Bộ tư lệnh tiền phương đã được thiết lập tại Phan Rang này, sẽ giáng trả cho Việt Cộng những đòn đích đáng. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi mới được bổ nhiệm làm tư lệnh ở đây, sẽ nghiền nát Việt Cộng cho tụi bay coi!

Buổi sáng ngày 28 tháng 3, Tâm lại được chú Tám đưa ra bên xe đò ung dung trở lại Nha Trang với giấy tờ tuỳ thân hợp lệ và ba bịch hàng mỹ phẩm như một anh chàng thương lái quá giang về Quy Nhơn.

 

XXIII

 

CHIẾC XE JÉP MÀU VÀNG CHỞ TRẦN VĂN CẨM phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật dừng lại trước ngôi biệt thự của thiếu tướng tư lệnh Phạm Văn Phú tạm dùng làm sở chỉ huy Bộ tư lệnh tiền phương.

Từ trên xe bước xuống, chuẩn tướng Cẩm xồng xộc đẩy cửa vào sân đúng lúc tên lính gác cũng vừa kịp ra mở cổng!

Cẩm rảo bước lên thềm và Phú đã mở cửa ra đón. Cánh cửa phòng khách được khép lại ngay. Cẩm ngồi đối diện với Phú, rút khăn lau mặt đẫm mồ hôi:

- Đà Nẵng thất thủ rồi anh ạ. Việt Cộng tràn vào 7 giờ sáng nay. Ông Ngô Quang Trưởng đã lên trực thăng bay ra tàu chiến để về Sài Gòn. Thế là ngày 26 Việt Cộng vào Huế rồi hôm nay 29, đúng 3 ngày sau họ lại vào Đà Nẵng mà không phải bước qua xác ông Ngô Quang Trưởng! Thật là mỉa mai và cay đắng cho một ông trung tướng, một thời được coi là người hùng của nền đệ nhị cộng hòa đó!

Phú sửng sốt:

- Sao anh nói cứ như là luận điệu của đối phương vậy?

Cẩm xót xa:

- Đối phương nói đúng và hay nữa, ta nhắc lại cũng không thừa! Anh đi họp với Ngô Quang Trưởng, anh còn lạ gì tính hắn! Bây giờ co giò mà chạy cho nhanh, ấy mới là đại... hài kịch vậy!

Phú hỏi lại:

- Anh nghe tin Đà Nẵng thất thủ từ đâu?

- Từ lãnh sự Mỹ ở Nha Trang chứ đâu! Mấy ông Mỹ “phôn” cho tôi biết nguồn tin chính xác từ sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và từ Phủ đầu rồng nữa! Họ yêu cầu ta bố trí cho họ di tản về Sài Gòn!

Phú mở tập hồ sơ trên bàn:

- Ông Thiệu, ông Viên cũng vừa “phôn” cho tôi đây! Nghe còn buồn não ruột hơn nguồn tin của anh!

- Thế nào?

- Lệnh ông Thiệu: sáp nhập tất cả phần đất ven biển miền Trung còn lại của Vùng 2 chiến thuật (cũ) kể cả Ninh Thuận, Bình Thuận vào Vùng 3 chiến thuật của ông trung tướng Nguyễn Văn Toàn để làm một vành đai thép bảo vệ cho Sài Gòn từ xa! Vùng 3 chiến thuật lại lấy Phan Rang làm nơi đóng Bộ tư lệnh tiền phương (tử thủ Phan Rang đấy nhé) và các quý ông lại cử trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm tư lệnh ở Phan Rang!

Nghe giọng nói vừa cay đắng, vừa bất mãn của Phú, Cẩm hỏi:

- Thế nghĩa là quân khu 2 của anh và tôi bị xoá sổ?

- Đúng! Còn gì nữa đâu!

- Ta ngồi đây trở thành vô vị?

- Phải rồi! Tôi là thiếu tướng tư lệnh, anh là chuẩn tướng phó tư lệnh ở Plây Cu, còn ở lại đây thì hai chúng ta là tướng... Không quân, không còn một tấc đất cắm dùi!

- Anh có hỏi ông Viên về việc bàn giao cho ông Vĩnh Nghi không?

- À ông Viên bảo phải giữ bí mật với ông đại tá Lê Khắc Lý, giao cho ông Lý ở lại coi số quân ở Bình Định (sư đoàn 22) và số lính ở Nha Trang nữa. Còn tôi và anh bay về Sài Gòn rồi sẽ tính sau!

- Còn ông chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6 ở Nha Trang?

- Ấy, ông Sang lại phải mang tất cả máy bay còn lại về sân bay Thành Sơn ở Phan Rang cho an toàn và để ứng phó với Việt Cộng! Lát nữa tôi sẽ tin cho ông Sang biết quyết định này và sẽ xin một chuyến C.130 từ Sài Gòn ra đây để bốc mấy ông Mỹ về Sài Gòn chiều nay.

- Còn tôi và anh sẽ về Sài Gòn lúc nào? Ta sẽ thông báo cho ông Lý, ông Sang biết: sáng mai tôi và anh về họp ở Bộ tổng tham mưu và ta sẽ đi xe hơi sớm từ 6 giờ sáng. Chỉ cần vài cái va-li là xong, gọn nhẹ. Còn tối nay ta cứ vui vẻ với em út ở vũ trường Ha-oai..

Trần Văn Cm chớp chớp mắt:

 - "Xừ” Quang cố vấn an ninh của ông Thiệu có nói thêm gì không?

- Có. Hắn nói: tôi với anh cứ về Sài Gòn, hắn sẽ giúp. Tình xưa, nghĩa cũ, dân Bắc Kỳ không bỏ nhau đâu!

Cẩm ngậm ngùi:

- Một cơn ác mộng!

Phú chua chát:

-Tuỳ nghi di tản là một tấn thảm kịch! Có lẽ mai đây ông Thiệu mới sáng mắt ra! Nếu cứ để tôi và anh giữ lấy Cao Nguyên thì đâu đến nỗi bị đát như thế này?

- Ừ, mất Plây Cu thì đã mất luôn Huế, nay lại mất Đà Nẵng! Ngày mai, ngày mốt sẽ còn mất những đâu? Có trời mà biết!

- Còn gì nữa nhỉ?

- Anh về sửa soạn để sáng mai đi sớm với tôi. Còn bây giờ tôi sẽ “phôn” cho Lý và Sang. Phải bí mật đó, nghe!

- Anh cứ yên tâm, mà!

Phú mời Cẩm một điếu thuốc lá thơm:

- Tôi và anh bị Việt Minh bắt làm tù binh một lần ở Điện Biên Phủ năm 1954 rồi lại dắt díu nhau vào đây. Tưởng là yên thân làm ăn, ngờ đâu lại đến bước long đong thế này?

Cm rít một hơi thuốc thật dài:

- Về Sài Gòn, ta sẽ tâm sự nhiều hơn. Chỉ biết rằng: ta không thể để Việt Cộng bắt làm tù binh một lần nữa được!

- Nhất định sẽ là như thế!

*****

Chờ cho Cẩm bước lên xe, Phú mới quay vào gọi dây nói cho Lý và Sang dặn dò công việc để... “sớm mai tôi và anh Cẩm về Sài Gòn họp”. Phú nói thật bình tĩnh, thật rõ ràng nên Lý và Sang đã tin và răm rắp nghe theo.

Phú cũng biết rằng: mọi chuyện đã xảy ra coi như số phận đã an bài, có rối ruột lên cũng vô ích. Chi bằng cứ nén chặt nỗi đau xuống và làm từng việc. Chiến hữu thân thiết nhất còn lại không có ai ngoài Trần Văn Cẩm. Sau những ngày thất bại ê chề, choáng váng tưởng không đứng lên được, bây giờ nỗi đau ấy lại thành một chai sạn nữa rồi! Con đường binh nghiệp có lẽ dừng lại ở đây sao? Phải hỏi Đặng Văn Quang xem sao? Quang sẽ hiến “kế Khổng Minh” gì đây? Hắn nói cứ về Sài Gòn rồi sẽ hay mà! Bạn bè nhờ nhau lúc hoạn nạn là chuyện bình thường!

Nghĩ đến sáng mai về Sài Gòn thì chiều mai sẽ được gặp lại vợ con, Phú gọi dây nói cho Lãng Tử:

 - Ông Lãng Tử thân mến! Tôi Phú đây, Phú ở Nha Trang đây. Tôi thành thật xin lỗi ông là chưa đón được ông và cô Lệ Ninh vì chiến sự xảy ra ác liệt trên đường số 7…

Tiếng Lãng Tử từ đầu dậy nói đằng kia:

- Không có gì đâu! Lẽ ra tôi phải xin lỗi ông vì tôi còn nấn ná ở lại Plây Cu, lại gặp mấy ông biệt động nằm vùng, rồi lại chứng kiến cảnh thằng Cang lợi dụng lúc tuỳ nghi di tản đã bắt cóc tống tiền mấy tiệm buôn giàu có ở Plây Cu, rồi nó bị mấy ông Việt Cộng bắt đi. Chưa biết sống chết ra sao. Tôi và cô Ninh phải cáo lỗi với ông để về Sài Gòn, thằng Lâm có nói lại với ông không?

- Rồi, nó nói rằng ông và cô Ninh đã về Sài Gòn. Tôi rất mừng. Mai tôi với ông Trần Văn Cẩm sẽ về Sài Gòn họp đấy. Sẽ đến thăm ông. Ở Nha Trang nhộn nhạo lắm rồi. Tôi sẽ đem Ngọc Ngà về Sài Gòn lánh nạn. Tôi không muốn bà Lâm Đệ của tôi phải ghen tuông, tôi sẽ gửi Ngọc Ngà tạm ở chỗ ông với cô Ninh được chứ?

- Được! Xin sẵn sàng! Xin mời cô Ngà cứ về đây ở với Ninh cho vui! Tôi đã cho Ninh mở một tủ thuốc lá bán lẻ trước nhà tôi, còn tôi vẫn viết lai rai đó.

- Cám ơn trước nhé! Còn chuyện Huế thất thủ, Đà Nẵng thất thủ ông biết rồi chứ?

- Mới biết sớm nay, nghe BBC mà!

- Thôi, hẹn ông với cô Ninh chiều mai sẽ... tái ngộ nhé!

Buổi tối, Phú đưa Ngọc Ngà đến vũ trường Ha-oai không phải để nhảy mà thể theo lời năn nỉ của Ngà:

- Em về Sài Gòn, chưa biết bao giờ mới trở lại Nha Trang. Anh cho em gặp lại mấy đứa bạn để sau này đỡ nhớ chúng nó…

Khi hai người đến vũ trưởng Ha-oai thì vũ trường đã đóng cửa im m. Cô Năm - bà chủ Ha-oai - nói giọng buồn buồn:

- Mấy ông Mỹ tuỳ nghi di tản hết rồi! Mấy chú phi công cũng trở về Phan Rang. Em út ngơ ngác hỏi tôi, tôi đầu có biết!

Phú hỏi bà chủ:

- Ông Cẩm có đến đây không, chị?

-Có đến và “lĩnh” một em út đi đâu đó rồi!

- Em út tên chi?

- Huệ!

- Chị cứ mở cửa, ngại gì?

- Không có khách thì mở cửa làm gì! Với lại đang nhộn nhạo thế này, lính nó “quậy” thì chả bõ!

Trên đường về nhiệm sở, Phú nói với Ngà:

- Vũ nữ cũng mạnh em nào, em ấy chạy. Rõ thật bun...

Ngà nhún vai:

- Em linh cảm thấy: hình như anh và em sẽ ở lại Sài Gòn mất thôi, cũng như khó lòng trở lại Plây Cu, Nha Trang mà không giữ được thì ở đây sẽ rất nguy hiểm, anh ạ.

Phú hôn lên mái tóc bồng bềnh của Ngọc Ngà.

- Hãy cứ về Sài Gòn, khi nào tình hình ổn định thì ta lại về đây, lo gì!

Ngọc Ngà hiểu mà chẳng dám nói ra: “Khi nào mới ổn định?”

Sự im lặng của Ngọc Ngà làm cho Phú chạnh buồn; hắn thầm nghĩ: “- Nàng nói đúng! Tình hình thế này, phải về Sài Gòn thì chưa biết ngày nào mình mới trở lại Nha Trang, cũng như chẳng bao giờ còn hy vọng trở lại Plây Cu!”

***

Về đến Sài Gòn, Phạm Văn Phú chỉ ghé qua nhà thăm vợ con rồi lại hấp tấp đến gặp Đặng Văn Quang tại nhà riêng.

Quang đón Phú rất nồng nhiệt:

- Vào đây! Tôi đang mong ông.

 Phú bình thản nói:

- Tôi là tướng thất cơ, lỡ vận. Ông có kế gì hay thì giúp tôi với. ..

- Có chứ! Tôi với ông là chỗ chí cốt, tôi mới nói: trước hết việc sáp nhập phần đất còn lại của quân khu 2 và quân khu 3 chỉ là tạm thời để cuộc chiến đấu có hiệu quả hơn. Ông đã biết: Huế, Đà Nẵng đã thất thủ, Việt Cộng đang uy hiếp Nha Trang, Cam Ranh, nếu không ngăn chặn được thì Sài Gòn cũng sẽ bị uy hiếp. Cho nên lập Bộ tư lệnh tiền phương ở Phan Rang là rất cần thiết. Ông Thiệu đã bàn kỹ trước khi quyết định. Còn ông và ông Cẩm, ông Lý thì sẽ về quân khu 3 hoặc về Bộ tổng tham mưu...

Phú chán nản:

- Có lẽ mấy đứa chúng tôi chẳng còn giúp được gì cho ông Thiệu nữa đâu?

Quang lắc đầu:

 - Đừng có bị quan như thế. Ông biết không? Tướng Uây-en tham mưu trưởng lục quân Mỹ đến Sài Gòn ba hôm nay rồi đó. Ông ta đã làm việc với ông Thiệu, đã điện về Mỹ xin tăng viện vũ khí cho ta và đích thân vạch kế hoạch phòng thủ từ xa. Bắc Việt không đủ khả năng giữ được ven biển miền Trung đâu. Ta sẽ “chơi” trận địa chiến, huy động hải, lục, không quân tái chiếm Đà Nẵng, Huế trở ra đến vĩ tuyến 17. Sau đó sẽ tái chiếm Cao Nguyên...

Phú nghe Quang nói đến tướng Mỹ Uây-en đã hỏi ngay:

- Liệu rồi ông Uây-en có thể lật ngược thế cờ được không?

Quang cười thật tươi:

- Ta thiếu vũ khí, khí tài hiện đại, thiếu máy bay F.5, A.37 cần bổ sung gấp thì Mỹ đã lập cầu hàng không từ Băng Cốc đến Tân Sơn Nhất rồi và nguồn viện trợ này đã đến Việt Nam từ chiều hôm qua. Thế là đẹp quá rồi, còn gì phải phàn nàn?

Đặng Văn Quang nổi tiếng trong đám tướng trẻ với tài thuyết phục người khác phải nghe theo mình. Phú không thể không tin Quang, hơn nữa Phú đang cần có một chỗ dựa, một nguồn an ủi trong cơn đen, vận bĩ. Quang lại nói thao thao:

- Có thêm máy bay, xe tăng, đại bác, súng ống thừa thãi thì sẽ cứu vãn được tình thế. Ông Thiệu quyết định cho bế giảng sớm trước thời hạn tất cả các trường huấn luyện tân binh ở Sài Gòn, ở Nha Trang để đưa số lính mới này bổ sung cho các quân đoàn, bù vào số bị thương vong ở quân đoàn 1, quân đoàn 2. Mỹ là nước đồng minh lớn. Sự giúp đỡ của Mỹ sẽ rất có hiệu quả. Về quân số của ta từ chủ lực đến địa phương ta sẽ có đủ một triệu người. Ta có dư sức để chặn đứng và đẩy lùi đối phương. Ông Cao Văn Viên - tổng tham mưu trưởng - hẹn với tôi sẽ đến đây làm việc ngay bây giờ!

Phú sửng sốt:

- Ông Viên sắp đến đây?

 - Phải, ông Viên sẽ nhờ tôi báo cáo với ông Thiệu về khả năng phòng thủ ở Phan Rang. Ông cứ ngồi yên ở đây, ông Viên đến, cùng bàn. Có gì là bí mật đâu...

Ít phút sau, Cao Văn Viên đã đẩy cửa bước vào nợ phòng khách của Quang;

- Xin chào! Ơ kìa! Lại cả anh Phú nữa! Mới về hả?

Quang và Phú bắt tay Viên rồi cùng ngồi xuống ghế. Viên nói tiếp:

- Ông trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi vừa điện cho tôi biết: Việt Cộng đã tràn vào Nha Trang và Cam Ranh, hai nơi này coi như bỏ ngỏ!

Phú kêu lên:

- Thế là hai nơi này đều thất thủ!

Quang khoát tay, cố giấu sự sợ hãi:

- Đành vậy thôi. Nhưng đối phương không thể nào dụng đến Phan Rang được! Và sớm muộn thì ông Vĩnh Nghi cũng sẽ quét sạch đối phương, tái chiếm suốt dải ven biển miền Trung! Đó mới là sự thật. Đó mới là đáp số sau cùng. Trong chiến tranh, từ cổ chí kim, lệnh tiến thoái là chuyện bình thường. Việt Cộng đang rơi vào cái bẫy của ta mà không biết!

Nghe Quang nói, Cao Văn Viên chỉ ầm ừ cho qua, bởi lẽ là bao nhiêu năm ngồi ở ghế tổng tham mưu trưởng mà tài tham mưu của Viên chưa có gì là xuất sắc, thậm chí còn “mù tịt” nữa! Một tháng trước đây, Viên nói: “Việt Cng đánh Plây Cu và Kon Tum, phải tăng cường phòng thủ hai nơi này!” Đùng một cái, Việt Cộng lại đánh Buôn Mê Thuột! Còn Phạm Văn Phú vẫn tin lời Quang nói vì ai dám bảo quân lực Việt Nam cộng hoà hùng hậu như thế mà lại chịu thua Việt Cộng? Cho đến lúc này, sau khi đánh chiếm được Cao Nguyên, đối phương đã tràn ngập Huế, Đà Nẵng rồi Nha Trang, Cam Ranh thì thực lực của họ không phải chỉ có một vài sư đoàn, mà phải kể đến hàng chục sư đoàn. Đối phương còn tung ra trận nhiều xe tăng, thiết giáp, đại bác tầm xa và tên lửa phòng không. Muốn đánh bại được đối phương, nhất thiết phải có thêm vũ khí Mỹ và phải củng cố lại các quân đoàn mạnh.

Cao Văn Viên từ hai hôm nay được Thiệu yêu cầu phải trình lên một kế hoạch phòng thủ từ xa, bắt đầu từ Phan Rang trở vào lấy hai điểm nóng làm hai cái chốt mạnh đó là thị xã Phan Rang và Xuân Lộc ở Phan Rang có trung tướng Vĩnh Nghi, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang. Ở Xuân Lộc có trung tướng Nguyễn Văn Toàn, chuẩn tướng Lê Minh Đạo. Về quân lực, Bộ tổng tham mưu và Bộ quốc phòng có thể chi viện ti đa cả hải, lục, không quân theo yêu cầu của các tư lệnh chiến trường.

Cầm bản kế hoạch phòng thủ trong tay, Đặng Văn Quang nói với Viên:

- Đây là cách “bài binh, bố trận” của ta, song còn tùy thuộc vào thực tế chiến trường.

Viên hỏi lại Quang:

- Ý kiến của tổng thống như thế nào?

- Ông Thiệu rất hài lòng với cách bổ nhiệm các tư lệnh chiến trường và tin tưởng rằng: ông Vĩnh Nghi sẽ làm nên công chuyện. Tổng thống nói: ta không thể lui được nữa. Nếu ta lui nữa thì Việt Cộng sẽ tràn vào và... sẽ là thảm hoạ! Và trách nhiệm sẽ thuộc về Bộ tổng tham mưu đó.

Viên nghe Quang nói, đã thấy lạnh cả người. Vì chỉ nguyên cái việc đánh giá sai các hoạt động của đối phương ở Plây Cu đã gây nên thảm hoạ rồi. Đáng lẽ Viên đã bị mất chức và bị tống về vườn, song Thiệu chưa tìm được ai thay Viên, nên tạm thời cứ phải để Viên điều hành công việc và bên cạnh mình, Thiệu có Đặng Văn Quang - một cố vấn đáng tin cậy nhất. Theo Thiệu thì Quang có tài nắm giữ và điều hành bộ máy tình báo, được CIA kính nể, Quang lại tuyệt đối trung thành với Thiệu. còn với Phú, Thiệu nói cho Quang hiểu hết ý mình: Phú là một tướng… tồi nên mới để mất Cao Nguyên và bây giờ lại mất luôn cả Quy Nhơn, Nha Trang. Cam Ranh. Phú đã là tướng bại trận thì y không còn có thể chỉ huy được nữa. Y được tha tội chết, nhưng y buộc phải về với vợ con ở Chợ Lớn.

Quang hiểu được ý của Thiệu như vậy, nên Quang phải lựa lời nói với Phú cho Phú yên lòng. Quang nghĩ: dù sao thì cũng không nên xử lý phũ phàng với một con người đã từng là bạn của mình - kể cả trong binh nghiệp cũng như chuyện làm ăn trong đường dây buôn bán ma tuý từ Tam giác vàng - vì vậy, Quang nói với Phú:

- Ông đã tin tôi thì ông phải làm đúng bài bản của tôi, đừng vội vàng mà lại hỏng hết đại sự. Ông cứ chờ ít ngày nữa thôi, khi chúng tôi xoay chuyển được tình thể thì ông lại vinh thăng! Còn Đặng Văn Quang thì còn Phạm Văn Phú, đừng có ngại!

Phú lại vui vẻ siết chặt tay Quang:

- Tôi tin ông, tôi chờ đợi một ngày mai tốt đẹp!

- Nhất định sẽ là như thế!

Cao Văn Viên nghe Quang nói chuyện với Phú, biết rằng Quang còn o bế viên tướng bại trận này, nên cũng góp một ý kiến để yên lòng Phú:

- Huế và Đà Nẵng thất thủ, ông Ngô Quang Trưởng chạy về Sài Gòn, còn đang nằm trong viện quân y, nay đến lượt Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh thất thủ, anh Phạm Văn Phú lại chạy về đây. Các anh cứ yên tâm, ông Uây-en tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã đến Sài Gòn thị sát tình hình tại chỗ, Mỹ đang viện trợ thêm vũ khí tối tân để quét sạch Việt Cộng, tái chiếm lãnh thổ Việt Nam cộng hoà trong một vài tuần tới. Việt Cộng chớ vội rùm beng, tưởng là ngon xơi, mà chết! Cái Tết Mậu Thân (1968) Việt Cộng đã tổng tiến cống và nổi dậy và đã bị đánh như thế nào, các anh còn nhớ đó! Lần này, cũng sẽ như vậy thôi, mà họ sẽ còn thất bại nặng nề hơn, cho coi!

Quang rót ba ly rượu mạnh:

 - Xin mời các chiến hữu!

 Ba người cụng ly và cùng “dô” trăm phần trăm. Uống cạn một hơi cả ly rượu đy.

*****

Buổi sáng hôm sau, lúc 9 giờ, nhận lời mời của Phạm Văn Phú, Đặng Văn Quang đã đến khách sạn Pa-lát-xơ (Palace) đường Tự Do.

Trong phòng 301 trên lầu 3, Quang hỏi:

- Có chuyện chi nữa mà ông làm long trọng thế này?

- Chuyện tôi với ông thì... trước sau như một...

Giọng nói thân mật của Phú làm cho Quang càng thấy Phú dễ thương hơn:

- Ừ. Ông cứ nói đi!

Phú chìa tay lên bàn: rượu vang và đồ nhậu bày la liệt, lại có cả 3 cái ly, 3 chiếc chén, ba đôi đũa:

- Khỏi phải nói chi nhiều, ông hiểu cho: đây là lòng thành của tôi đối với riêng ông mà thôi. Vì có chiến sự ác liệt nên Buôn Mê Thuột, Plây Cu rồi đến cả Nha Trang đã bị thất thủ. Và tôi đang là thiếu tướng tư lệnh Vùng 2 chiến thuật, bỗng mất hết tất cả. Còn lại chỉ có chút tình bạn thủa hàn vi của ông dành cho tôi. Suốt đời tôi, dù thể nào, tôi cũng không thể quên án nghĩa đối với ông. Cho nên bữa tiệc nhỏ hôm nay ở đây tôi mời ông chỉ cũng như bao nhiêu lần trước từ 20 năm nay ta ngồi nhậu với nhau mà thôi. Hôm nay có khác là tôi đang gặp bước trầm luân, ông lại ra tay nâng đỡ. Cho nên lần cuối năm ngoái khi ông lên Plây Cu thăm tôi, ta có cùng nhau làm một “phi vụ” từ Tam giác vàng. Kết quả rất là mỹ mãn, tôi đã cho thằng Cang thiếu tá mang hàng về Sài Gòn, bán trôi chảy cho Tây đem về Mác-xây (Pháp). Sau đó, nhờ ảnh hưởng của ông, tôi làm luôn hai chuyến nữa, cũng rất trôi chảy, chưa kịp gặp lại ông thì chiến sự xảy ra, tôi bận tối mắt, tối mũi. Hôm nay tôi phải thân chinh mang về biếu ông một nửa số lời của hai chuyến ấy. Tôi đã chuyển thành vàng và đô-la Mỹ, để cả trong cái cặp này. Ông cứ vui lòng nhận cho tôi để tôi được yên tâm. Còn phần nửa của tôi, tôi đã nhận rồi và giao cho vợ tôi - cô Lâm Đệ - giữ dự phòng khi loạn lạc phải tuỳ nghi di tản cũng đủ xài...

Quang làm bộ sửng sốt:

- Ông bày vẽ ra như thế này, tôi khó nghĩ, khó nói quá!

Phú xua tay;

- Ô hay! Tôi đã nói rất chân thành, đây chỉ là sự “phân phối công bằng” mà thôi, tiền lời từ ma tuý mà ra thì cứ yên tâm mà nhận, tôi cũng vậy. Và ông nên nhớ: Phạm Văn Phú bao giờ cũng thuỷ chung cũng chơi đẹp với chiến hữu - nhất là đối với ông là bạn thuở hàn vi ở ngoài Bắc của tôi thì tôi càng phải quý trọng! “Người là vàng, của là ngãi!” Các cụ ngày xưa nói như thế mà!

 Quang đã xiêu lòng:

- Ông nói như thế mà tôi còn từ chối thì hoá ra tôi lại phụ cả lòng ông...

Phú vẫn thiết tha:

- Ông yên tâm đi! Biết đâu sau này, có lúc ông lại cho tôi gấp đôi ba lần số này thì sao?

Quang nhận chiếc cặp da nặng ký từ tay Phú rồi lại hỏi:

-Tiệc vui hôm nay, ông còn có khách nữa sao mà có tới 3 cái ly?

Phú thấy Quang đã nhận số tiền và vàng trị giá hàng trăm lượng đựng trong chiếc cặp rồi thì rất yên tâm và hoan hỉ lộ ra nét mặt. Hắn giải thích về chiếc ly thứ ba:

- Có một người dự tiệc thứ ba, song không phải là... nam giới, mà lại là một... giai nhân khuynh quốc, khuynh thành!

Nghe nói đến “giai nhân”, Quang sáng mắt lên:

- Chà! Lại nghiêng nước, nghiêng thành? Ai đây?

Phú được thể, càng chậm rãi:

- Tôi biết tính ông, cũng như tính tôi - chúng mình đều là đàn ông cả mà - lại đều là “nhà võ” suốt đời trận mạc, cũng như Na-pô-lê-ông ngày xưa phải có Giô-giê-phin. Anh hùng phải sánh với thuyền quyên đó. Người mà ông sắp gặp ở bữa tiệc hôm nay, đang ngồi chờ ở phòng 304 đây thôi. Đó là một “em út” 20 tuổi, vũ nữ số 1 của vũ trường Ha-oai ở Nha Trang, đã lên Plây Cu hồi tháng 8 năm ngoái khi tôi tổ chức dạ hội “Đêm màu Hồng”. Trong cuộc tuỳ nghi di tản lúc này, các cô vũ nữ khác thì tán lạc mỗi người một phương, kể cả chủ nhân là cô Năm cũng di tản, tôi qua Nha Trang và nhận được lệnh của ông gọi về Sài Gòn, tôi gọi luôn em út này về cùng tôi. Về đây thì tôi lại vướng bà Lâm Đệ, bà ta biết được thì phiền nên tôi nghĩ đến ông, tôi “ký gửi” luôn em ở khách sạn này và xin tặng cho ông làm một món quà đặc sản có một không hai ở Nha Trang đó! Tôi cũng lại mong ông vì tấm lòng thành thật của tôi mà đừng từ chối!

Càng nghe Phú nói, Quang càng cảm thấy thèm khát cô gái, song vẫn làm bộ băn khoăn:

- Ông quá yêu tôi, cho tôi nhiều thứ quá! Biết lấy gì mà đáp lại thịnh tình của ông được?

Phú xua tay:

 - Ông lại khách khí rồi! Tất cả mọi nguồn vui tôi mang đến với ông hôm nay, xin cứ coi như là cái lộc của trời cho Phạm Văn Phú, Phú xin nhường cho ông! Và xin nói lại để ông yên tâm: chuyện làm ăn này là chuyện riêng của Phú và Quang! Sống để dạ, chết mang đi, không có ai là người thứ ba có thể biết được! Quý phu nhân cũng như bà Lâm Đệ của tôi lại càng mù tịt. Ông Thiệu còn có cô bồ nhí tên là Kim Anh để bí mật ở Vũng Tàu kia mà, tại sao ông Quang lại không có một nàng Ngu Cơ hay một nàng Tây Thi nhỉ?

Quang đành phải xoa tay tỏ vẻ mãn nguyện, đồng tình:

- Ông đã nói như thế, thì tôi còn từ chối làm sao? Vậy xin mời nàng qua đây, à, ông chưa giới thiệu quý danh của nàng? Nàng có cái tên đẹp như cả tấm thân của nàng: tên nàng là Ngọc Ngà! Ngọc Ngà còn có đôi mắt luôn bâng khuảng, ngơ ngác như con nai vàng ngơ ngác của Lưu Trọng Lư, nên tài tử ở vũ trường Ha-oai thường gọi nàng là “Cô gái có đôi mắt nai”. Ngọc Ngà mồ côi cha, có một bà má nghèo ở Đà Lạt, nàng là con một, rất hiếu thảo, theo bạn bè đi làm vũ nữ để có tiền nuôi mẹ, thế thôi. Trong buổi loạn ly này, nàng bơ vơ quá theo tôi về Sài Gòn, cũng có ý sẽ tìm chỗ làm việc. Tôi hứa giúp đỡ. Nàng tin tưởng tôi và tôi đã nói thật: tôi sẽ giới thiệu nàng với ông, ông có đầy đủ khả năng bao dung, giúp đỡ tận tình...

- Thôi, được rồi. Ông có thể đưa nàng qua đây, coi thử xem nào!

Phú đứng lên mở cửa, sang phòng 304. Cánh cửa mở sẵn. Ngọc Ngà ngồi chờ đợi, có vẻ sốt ruột.

Phú vui vẻ:

- Em đợi có sốt ruột không? Anh còn phải giới thiệu em tỉ mỉ với ông trung tướng Đặng Văn Quang.

Ngọc Ngà tỏ vẻ sợ sệt, e ngại:

- Anh nói về em những gì với ông Quang?

- Anh chỉ nói em là đứa em út rất là ngoan, vì ở Nha Trang phải di tản, em mất việc làm nên về đây. Anh không nói là em đã ở Plây Cu mấy tháng đâu nhé, nói cho tế nhị mà... Ông Quang có hỏi lại lịch gì thì em cứ bảo là “anh Phú đã nói rồi, anh hỏi thì em khó trả lời lắm. nhà em nghèo nên em mới phải đi làm vũ nữ, anh giúp em thì em xin tình nguyện... chiều anh hết mình, thế thôi!” Em nhớ chưa?

- Dạ, em nhớ!

- Thế thì đi với anh sang phòng 301, ngồi nhậu lai rai rồi anh giới thiệu em với ông Quang. Nhậu xong thì anh về vì có công chuyện ở gia đình. Em ở lại đây. Cận vệ của ông Quang và chủ khách sạn này sẽ bảo đảm an toàn tuyệt đối cho em..

Ngọc Ngà đứng lên, chỉ cầm theo một túi xách tay, thong thả theo Phú sang phòng 301.

Quang mở cửa. Ngọc Ngà cúi đầu chào:

 - Em xin chào trung tướng!

Mặc dù Quang và Phú hôm nay đều mặc thường phục, có dáng công chức cao cấp. Song Ngọc Ngà cũng cứ chào Quang là trung tướng. Quang đáp: “Chào em!”

Ba người ngồi vào bàn nhậu, Năm phút sau một cô tiếp viên đã bưng đồ nhậu vào, toàn là món ăn Tàu nóng bốc hơi nghi ngút. Chờ cho tiếp viên quay ra, Phú khép chặt cánh cửa ra vào và ân cần giới thiệu:

- Giới thiệu với anh Quang: đây là em Ngà ở Nha Trang di tản cùng với tôi về Sài Gòn, hoàn cảnh của Ngà tôi đã nói rõ với anh rồi. Và giới thiệu với em Ngà: đây là anh Đặng Văn Quang, trung tướng làm việc tại phủ tổng thống đã hiểu hoàn cảnh của em. Hôm nay, mừng buổi hội ngộ đầu tiên, tôi mời anh Quang và em dự bữa ăn thân mật này. Em cứ coi bữa cơm này là bữa cơm gia đình và em xưng hô với các anh ở đây như anh em trong gia đình cho tự nhiên, em hiểu không?

- Dạ, em đã hiểu?

 Phú rót đầy ba ly rượu. Quang nâng cốc, cụng ly:

- Nào, xin mời anh Phú, mời em Ngà! Chúc sức khoẻ và mọi điều may mắn, tốt lành!

Vừa bón thức ăn cho Quang, Ngọc Ngà vừa nhắp từng chút rượu. Đôi má của cô cứ ửng đỏ dân lên, khiến cho khuôn mặt thêm hồng hào. Thấy Quang cứ nhìn mình chăm chắm, Ngọc Ngà cúi mặt e thẹn, rồi lại ngước mắt nhìn lên bằng đôi mắt nai ngơ ngác, bâng khuâng. Bộ đồ Ngà mặc hôm nay là bộ đồ “xoa rê” màu lam làm nổi những đường cong tuyệt mỹ với một thân hình dong dỏng cao và cân đối đến mức hoàn hảo. Quang nhìn Ngà từ đầu đến chân rồi lại quay nhìn Phú như muốn nói với Phú rằng: “Anh có con mắt tinh đời thật! Quả là danh bất hư truyền, hoa khôi Sài Gòn cũng chỉ đẹp đến thế này thôi!”

Ngọc Ngà thừa thấy cái nhìn thèm khát của tên trung tướng này. Còn Phú, hắn rất đắc ý là đã làm vừa lòng Quang vừa là bạn vừa là thượng cấp của hắn. Như thế này thì chắc chắn Quang sẽ không tiếc sức mình mà “xả thân” cứu Phú trong bước gian nạn...

Mười hai giờ trưa, Phú rời khách sạn Pa-lát-xơ. Đặng Văn Quang híp mắt cười:

- Cám ơn! Cám ơn anh nhiều! Rồi Quang quay vào dìu Ngọc Ngà sang phòng 304, tay gã không quên xách theo chiếc cặp da căng phồng đô la và vàng của Phú chuyển giao.

 

XXIV

 

THƯỢNG TÁ BÙI HUY BỔNG, CHÍNH UỶ Sư đoàn 320 nhận được tin quân địch đã rút chạy khỏi Nha Trang và Cam Ranh đúng lúc Bộ Tổng tư lệnh thành lập quân đoàn 3 bao gồm ba sư đoàn mạnh: 320, 10 và 316. Ông càng thấy hiệu quả to lớn của chiến dịch giải phóng Tây Nguyên: chỉ một đòn đánh trúng huyệt vào Buôn Mê Thuột (ngày 10-03-1975) đã làm cho quân địch phải choáng váng, vội vã rút bỏ Plây Cu và Kon Tum (ngày 16-03-1975) tháo chạy qua con đường số 7 để về Tuy Hoà. Sư đoàn 320 được giao nhiệm vụ chặn đánh địch trên đường số 7, không cho chúng rút về tăng viện cho ven biển miền Trung. Sau ba ngày đêm chặn đánh quyết liệt, sư đoàn 320 đã xoá sổ toàn bộ chiến đoàn của địch, giải phóng thêm Cheo Reo, Củng Sơn và Phú Bổn, bắt sống tên đại tá Phạm Duy Tất, chỉ huy trưởng các liên đoàn biệt động quân của Vùng 2 chiến thuật. Chưa có chiến dịch nào mà số tướng tá địch bị ta bắt lại nhiều như chiến dịch Tây Nguyên: từ đại tá tỉnh trưởng Đắc Lắc Nguyễn Công Luật, sư đoàn phó sư đoàn 23 Vũ Thế Quang, rồi cố vấn Mỹ và nay là đại tá Phạm Duy Tất! Tên thiếu ng tư lệnh Phạm Văn Phú, chuẩn tướng Trần Văn Cẩm phó tư lệnh, đại tá Lê Khắc Lý bay vội về Nha Trang rồi lại chuồn khỏi Nha Trang khi quân ta đánh tới. Thế là cả quân đoàn 2 của địch gồm 2 sư đoàn bộ binh, 6 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn bị xoá sổ. Số tàn binh còn lại chạy về Phan Rang, tập hợp dưới trướng của tên trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi... Niềm vui của chính uỷ được nhân lên gấp bội khi đại tá sư đoàn trưởng Kim Tuấn mang về quyết định thành lập quân đoàn 3 do thiếu tướng Vũ Lăng làm tư lệnh và đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính uỷ.

Đại tá Kim Tuấn nói:

 - Anh Vũ Lăng cho biết: Bộ Tổng tư lệnh và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập 5 quân đoàn, trong đó quân đoàn 3 đã có 2 sư đoàn 320 và 10 là 2 mũi chủ công góp phần tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch ở Plây Cu rút chạy trên đường số 7. Tàn quân địch đã rút chạy khỏi Nha Trang, Cam Ranh để co cụm về Phan Rang. Ngày 28-03-1975 tướng Uây-en tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã đến Sài Gòn, đang bày mưu tính kế cho Nguyễn Văn Thiệu đối phó với cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta. Chúng đã chọn Phan Rang để “tử thủ” bảo vệ Sài Gòn từ xa. Nhiều sư đoàn chủ lực, lữ đoàn dù, máy bay, xe tăng, đại bác và cả hạm đội hải quân ngoài biển sẵn sàng yểm trợ cho quân bộ ở Phan Rang. Phan Rang được đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Vĩnh Nghi trung tướng ngy cùng với tên chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn không quân số 6 vừa rút chạy từ Plây Cu về đây. Bộ chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm tiêu diệt cứ điểm Phan Rang để giải phóng nốt thị xã Phan Thiết, mở đường cho quân ta áp sát Sài gòn. Ở Phan Rang, địch mới được tăng viện, sẽ chống trả quyết liệt, nhưng nhược điểm cơ bản của chúng là tinh thần của binh lính và sĩ quan chỉ huy hết sức bạc nhược. Về phía ta thì có nhiều cái mạnh hơn hẳn. Bộ đội sau chiến thắng lớn đều hăng hái và có quyết tâm cao. Xe tăng, đại bác, tên lửa, vũ khí đạn dược đủ để tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Phan Rang càng tiêu diệt được nhiều sinh lực địch ở đây thì càng đỡ được “gánh nặng” khi ta đánh vào miền Đông Nam Bộ và đánh vào Sài Gòn.

Đó, anh thấy không? Nhiệm vụ của sư đoàn 320, sư đoàn 10 trong quân đoàn 3 còn nặng nề. Ta chuẩn bị nốt những phần còn lại để ngày mai có thể nổ súng đánh vào Phan Rang phối hợp với sư đoàn 3 của quân khu 5 đó!

Chính uỷ Bùi Huy Bổng cười sảng khoái:

- Nghĩa là chuyến này, anh em mình sẽ “làm ăn lớn” rồi. Khi đánh Buôn Mê Thuột thì Bộ chỉ huy chiến dịch dùng kế nghi binh, nay thì thế cờ đã khác, từ vĩ tuyến 17 vào đến Cam Ranh đã hoàn toàn sạch bóng quân thù. Chúng cụm lại ở Phan Rang trong thế trận hết sức bị động, phòng ngự. Ta lại chủ động đánh công kiên, đánh theo kiểu trận địch chiến, đánh ban đêm và cả ban ngày với hoả lực mạnh và bộ binh thiện chiến. Tôi đề nghị dùng pháo binh bắn cấp tập dọn đường cho thiết giáp và bộ binh tiến vào tiêu diệt hoàn toàn cả cứ điểm này.

Đại tá tư lệnh sư đoàn gật đầu:

 - Anh nói đúng. Tôi xin bổ sung một ý: trận này thì với địch không còn có yếu tố bất ngờ, chỉ nghe tiếng súng nổ là chúng nó biết ta đánh vào rồi. Tuy vậy, ta cứ đánh và chú ý theo dõi diễn biến trận đánh, bọn đầu sỏ ở Sài Gòn sẽ yểm trợ và ứng cứu cho Phan Rang như thế nào? Chúng ỷ vào ưu thế không quân. Ta sẽ trừng trị máy bay của chúng bằng tên lửa phòng không. Cứ bắn rơi mấy chiếc F.5 hoặc A.37 là chúng sẽ phát hoảng lên. Còn chiến hạm của chúng, ta sẽ dùng pháo tầm xa, tầm gần.

Chính uỷ:

- Tiểu đoàn 9, trung đoàn 1 lại sẽ ra quân, làm mũi đột phá?

- Tôi cũng có dự kiến như thế. Anh và tôi sẽ xuống làm việc với anh em để làm công tác tư tưởng đối với từng chiến sĩ. Thuận lợi ta có nhiều, song trong trận này, kẻ địch cũng sẽ quậy rất mạnh trong cơn giẫy chết của chúng. Nếu ta không lường hết được khó khăn thì khi gặp khó khăn sẽ lại rất lúng túng...

Chính uỷ:

- Tôi hoàn toàn nhất trí với anh.

***

Tâm được trở về đơn vị pháo tầm xa sau khi bản báo cáo địch tình ở thị xã Phan Rang được nộp lên cấp trên. Anh Trần Kỳ nói lại nhận xét của trung đoàn: bản báo cáo của Tâm được đánh giá là đy đủ, chi tiết lại có kèm cả sơ đồ cụ thể về các điểm đóng quân, các cụm pháo dã chiến của địch và sân bay Thành Sơn.

Theo anh Kỳ nói lại thì cả sư đoàn chưa hành quân vào miền Đông Nam Bộ, mà còn phải ở lại để chuẩn bị đánh Phan Rang. Quân đoàn 3 đã thành lập, sư đoàn 320 là một đơn vị mạnh của quân đoàn, được tham gia trận đánh Phan Rang.

Trận đánh này theo yêu cầu của cấp trên là trận phải thắng để giải phóng Phan Rang với quyết tâm cao “đánh địch mà tiến, mở đường mà đi”

Phan Rang!

Ở đó có vợ chồng chú Tám, có Huỳnh Văn Hoà, người bạn tâm tình đã giúp đỡ Tâm thật tận tình...

Nhớ lại hôm đến Phan Rang làm nhiệm vụ trinh sát chuẩn bị chiến trường, Tâm đã nói cho chú Tám biết: địch chốt lại ở Phan Rang để “tử thủ” thì quân ta sẽ đánh. Chúng co cụm lại càng đông, càng nhiều thì ta đánh càng lớn, tiêu diệt sinh lực chúng càng nhiều. Bom đạn sẽ tơi bời, tên bay, đạn lạc, dân chúng sẽ phải di tản để tránh tai bay, vạ gió. Chú Tám chỉ cười:

- Hãy cứ để xem tình hình biến chuyển ra sao? Nếu cần phải chạy ra ngoại ô hoặc xa hơn chút nữa thì chú sẽ tính sau. Chú đi đâu thì Hoà cũng đi theo đó....

Giờ này thì đã rõ: ta đang chuẩn bị đánh lớn, đánh vào Phan Rang. Địch cũng sẽ chống trả quyết liệt. Bom rơi, đạn nổ, nhà cửa, phố xá khó tránh khỏi đổ nát... Tâm mong sao cho chú Tám, dì Tám và anh bạn Hoà đóng cửa tiệm, tạm lánh về quê thì hay biết mấy.

*****

Giờ G được chọn để đánh vào Phan Rang là 5 giờ sáng ngày 14 tháng 4. Sư đoàn 3 đã nổ súng. Đơn vị pháo tầm xa của Trần Kỳ được bắn phối hợp vào sân bay Thành Sơn. Tiếp theo là từng loạt đạn bắn cấp tập vào những mục tiêu mà ta đã chọn.

Đứng cạnh Trần Kỳ, Tâm muốn reo lên khi từng cụm khói và chớp lửa ánh lên sáng cả một góc trời phía Đông. Quân địch ở Phan Rang sau một đêm căng thẳng đã bắt đầu náo loạn. Những ổ đề kháng của chúng cũng bắn ra như vãi đạn. Thấy rõ sự hồi hộp, bồn chồn của Tâm, Trần Kỳ đã nói với Tâm:

- Em khỏi lo! Pháo ta bắn rất khéo, rất trúng đích. Bắt đầu là sân bay Thành Sơn, rồi tiếp đến là các điểm đóng quân của lữ đoàn dù, sư đoàn lính thuỷ đánh bộ và liên đoàn biệt động quân. Ta cứ giội bão lửa cho chúng nó hoảng loạn lên rồi chờ xem không quân của chúng phản kích ra sao trước khi ta tung bộ binh ra đánh chiếm các mục tiêu. Khu dân cư không thể trúng đạn được. Gia đình chú Tám và cậu Hoà có thể vẫn an toàn. Điều đáng lo ngại là khi hai bên còn đánh nhau trong khu phố thì khu dân cư có thể bị trúng bom đạn. Rồi nếu địch rút chạy, chúng có thể cướp bóc bừa bãi…

Những khẩu đội pháo tầm xa của ta bắn đến loạt thứ mười thì trời đã sáng rõ. Mặt trời lên từ phía biển. Không khí mát dịu lúc ban đêm bây giờ mỗi lúc một nóng dần lên. Nắng đầu tháng tư ở đây không thua gì cái nắng nóng ở Đà Nẵng.

Trần Kỳ nhìn trời cao rồi nói với Tâm:

- Trời đẹp thế kia thì máy bay địch sẽ bay đến tức thì! Pháo của ta nguỵ trang cẩn thận cả rồi, song từ đây đến Phan Rang cự ly tính theo đường chim bay cũng không xa lắm, ta vẫn phải cẩn thận, trận địa hôm nay không còn là rừng núi nữa rồi...

Ở sở chỉ huy sư đoàn 320, đại tá Kim Tuấn nhận được tin từ phía trước báo về: bộ binh địch chưa thấy đánh ra, song pháo binh của chúng bắn rất dữ dội, chừng như để đề phòng quân ta đánh vào và cũng có thể để chờ không quân của chúng từ Sài Gòn bay tới chi viện. Sân bay Thành Sơn có lẽ đã bị tổn thất nặng nề nên không có một chiếc máy bay nào cất cánh. Chắc chắn là pháo binh của ta đã bắn nát đường băng khiến cho máy bay của chúng được cất giấu cẩn thận cũng không bò ra đường băng được nữa. Pháo binh ta khống chế được sân bay Thành Sơn, làm tê liệt luôn cả sư đoàn không quân số 6 của địch. Tên chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh không quân ở đây chịu bó tay chăng?

Ít phút sau đại tá Kim Tuấn đã nhận được điện thoại của thiếu tướng Vũ Lăng tư lệnh quân đoàn 3:

- Anh Tuấn! Sư đoàn 3 quân khu 5 mới nổ những loạt đạn đầu tiên vào Phan Rang, các anh ấy sẽ tung trung đoàn 25 bộ binh vào thị xã Phan Rang đó. Ta đánh ban ngày nên phải dùng cả tên lửa phòng không để đánh máy bay địch đến ném bom. Pháo tầm xa của ta còn phải đánh cả tàu chiến của chúng có năm chiếc đang lảng vảng ngoài khơi... Anh chuẩn bị đạn cho đầy đủ nhé!

Đại tá Kim Tuấn giọng phấn chấn khác thường:

- Báo cáo tư lệnh! Tư lệnh yên tâm. Tôi và anh Bổng chính uỷ sư đoàn đã tính đến khả năng đánh lớn rồi. Đã đánh lớn thì phải thắng lớn!

*****

 Ở khẩu đội pháo tầm xa, Trần Kỳ được lệnh tạm ngừng bắn cấp tập để bộ binh sư đoàn 3 bắt đầu đánh vào thị xã. Tiếng súng bộ binh xen lẫn tiếng trọng pháo của địch bắn ra rộ lên cùng với tiếng bom nổ ầm ầm: máy bay địch từ Biên Hoà bay đến thả bom vào phía trận địa quân ta ven quốc lộ 1 về phía Tây.

Trần Kỳ nói với Tâm:

- Tên lửa phòng không của ta sắp bay lên đó!

Quả nhiên, khi chiếc A.37 vừa cắt bom xuống trận địa quân ta thì một quả tên lửa của ta vút lên. Chiếc A37 tránh được, vội vã chao nghiêng rồi vút lên cao quay đầu về hướng Nam và... mất hút trên bầu trời xanh.

Đến chiều, khẩu đội pháo tầm xa của Trần Kỳ được lệnh chuyển vị trí và phải “im lặng” để chuẩn bị cho trận chiến đấu mới. Kỳ nói với Tâm:

- Anh nghe “các cụ” trên trung đoàn nói: ta phải thay đổi cách đánh, chứ cứ dánh kiểu bóc vỏ từ ngoài vào như cách đánh của sư đoàn 3, trung đoàn 25 sáng nay thì không “ăn”. Trung đoàn còn cho biết: cùng với việc thành lập quân đoàn 3 của thiếu tướng Vũ Lăng, quân đoàn 2 của thiếu tướng Nguyễn Hữu An cũng đã hành quân thần tốc vào đây rồi. Chiều mai, trung đoàn ta sẽ phổ biến kế hoạch tác chiến mới. Anh em mình tha hồ lập công!

Tâm lại thấy trong lòng rạo rực một niềm vui mới.

5 giờ chiều ngày 15 tháng 4, anh Kỳ họp về, gọi Tâm đến ngay lán tạm của trung đội, anh nói:

- Ngày mai 16 tháng 4 quân ta sẽ mở đợt tấn công lớn vào cứ điểm Phan Rang với sự phối hợp tác chiến của quân đoàn 2 với quân đoàn 3 và một sư đoàn Tây Nguyên. Ta sẽ chia làm 3 mũi tiến công: một mũi từ phía Bắc đánh vào, một mũi từ phía Nam đánh ra, một mũi từ phía Tây quốc lộ 1 đánh vào. Pháo cao xạ, tên lửa phòng không đón đánh máy bay địch từ Sài Gòn, Biên Hoà bay đến, pháo tầm xa không rút xuống tàu biển được. Anh phải đi cùng khẩu đội pháo tầm xa khống chế ven biển. Tâm được trưng dụng đi cùng một đoàn xe tăng T.54 thọc sâu vào trung tâm thị xã Phan Rang rồi toả ra đánh chiếm sân bay Thành Sơn, Sở chỉ huy tiền phương, sở chỉ huy tiểu khu Phan Rang và các sư đoàn bộ binh, liên đoàn biệt động lữ đoàn dù số 2... Tâm đã thuộc đường vào Phan Rang làm nhiệm vụ hướng dẫn cho mũi chủ công thì còn gì hay bằng? Em là người đã vẽ sơ đồ Phan Rang, nay lại trực tiếp dẫn đường cho  bộ đội thiết giáp thọc sâu thì trận đánh sẽ chắc thắng và sẽ đạt hiệu quả cáo, có phải không?

Tâm cảm động nói:

- Dạ, trên đã giao nhiệm vụ, em sẽ có gắng làm tròn.

Anh Trần Kỳ vỗ vai Tâm nói vui: - Thế là em có vinh dự làm một trong “5 anh em trên một chiếc xe tăng” như bài hát rất hay của binh đoàn xe tăng đó! Chuẩn bị gọn nhẹ để 8 giờ tối nay, anh sẽ đưa em lên địa điểm tập trung của đơn vị thiết giáp…

 

XXV

 

ĐẶNG VĂN QUANG ĐẾN BỘ TỔNG THAM MƯU lúc 10 giờ sáng ngày 16 tháng 4 . Hắn không giấu nổi vẻ hoang mang, lo lắng trước mặt Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng:

- Ông Thiệu rất nóng lòng muốn biết tin Phan Rang đến giờ này?

Viên mở tập hồ sơ, rút ra một tờ giấy ghi những tin điện cấp báo từ Phan Rang của Nguyễn Vĩnh Nghi. Quang đọc:

“5 giờ sáng ngày 16 tháng 4.

Phan Rang lại bị đánh lần thứ hai kể từ ngày 14 tháng 4. Việt Cộng có nhiều xe tăng, xe bọc thép từ ba mũi tiến công vào thị xã. Bộ binh Việt Cộng có khoảng một trung đoàn ở mỗi hướng tiến công. Chừng một sư đoàn tràn vào thị xã, đang tiến đánh sân bay Thành Sơn, sở chỉ huy tiền phương, sở chỉ huy sự đoàn không quân số 6, sở chỉ huy tiểu khu, sở chỉ huy sư đoàn 2, lữ dù 2, liên đoàn biệt động quân số 36....

Xin tăng viện thêm bộ binh.

Xin máy bay ném bom vì 40 máy bay ở dây không cất cánh được. Sân bay Thành Sơn đang bị pháo kích dữ dội, đường băng bị bắn hỏng hết! A lô! Xin cấp cứu Phan Rang!"

“7 giờ sáng ngày 16 tháng 4

Việt Cộng tiếp tục đánh phá dữ dội, đã chiếm được sở chỉ huy tiểu khu Phan Rang, đang đánh vào sở chỉ huy Bộ tư lệnh tiền phương và sở chỉ huy sư đoàn không quân số 6. Xin tăng viện máy bay ném bom nhiều hơn nữa. Có 3 lần chiếc ném bom ít quá. Tên lửa phòng không của Việt Cộng đang bắn lên khống chế bầu trời. A lô! Nếu không tăng viện gấp thì Phan Rang rất nguy ngập! Xin cho ngay một lữ dù!"

“8 giờ sáng ngày 16 tháng 4

Phan Rang chưa được tăng viện gì hết! Việt Cộng đánh rất ác liệt, rất nhiều xe tăng và bộ binh tràn ngập thị xã. Quân lực Việt Nam cộng hoà bị thương vong nhiều. Lính đang bỏ chạy. Rất khó tử thủ nếu không được kịp thời tăng viện ngay bằng đường không vn...

A lô! A lô! Phan Rang xin được cấp cứu ngay!"

Quang hỏi Viên:

- Từ sáng tới giờ, Phan Rang đã 3 lần xin cấp cứu?

Viên đáp:

- Đúng như thế! Nhưng lấy gì nữa mà cấp cứu? Tôi đã điện hỏi ông trung tướng Nguyễn Văn Toàn tư lệnh Vùng 3 chiến thuật đang “tử thủ” ở Xuân Lộc, ông Toàn cũng chịu bó tay! Ý kiến anh thế nào? Tổng thống có ý kiến gì mới để cứu nguy cho Phan Rang?

Quang buồn rầu nói từng tiếng một:

- Ông Thiệu nói: tăng viện nhiều rồi, sao không giữ nổi? Không quân thì phải hạn chế xuất kích, sau vụ Nguyễn Thành Trung phi công phản chiến (Việt Cộng nằm vùng) giội bom xuống dinh Độc Lập sáng ngày 8 tháng 4 làm cho cả Sài Gòn hoảng loạn, chúng tôi may mắn vẫn an toàn, nay đều dời về biệt khu thủ đô. Dinh Độc Lập coi như bỏ ngỏ, chưa biết còn có phi công nào giội bom như Nguyễn Thành Trung nữa hay không?

 - Ông Uây-en tham mưu trưởng lục quân Mỹ có ý kiến gì nữa không?

Quang lắc đầu:

- Ông ta đến Sài Gòn ngày 28 tháng 3, có điện về Mỹ xin tổng thống Pho cho thêm đại bác và bom đạn. Ông Uay-en giúp ta tận tình đấy nhưng lính tráng của ta đánh tồi quá. Nói thật với anh, c cái đà này thì Xuân Lộc cũng khó “tử thủ ” lắm! Anh gọi lại cho ông Toàn một lần nữa hỏi về Phan Rang xem sao? Mười giờ mười lăm phút rồi!

Cao Văn Viên gọi dây nói cho Nguyễn Văn Toàn. Từ đầu dậy nói bên kia, Toàn hốt hoảng báo cáo:

 - Chúng tôi tư lệnh Vùng 3 chiến thuật dây! Đã mất liên lạc với Phan Rang rồi. Có thể là Phan Rang đã thất th!

- Viên đặt ống nghe, nói với Quang:

- Bi đát quá anh ơi! Ông đại sứ Mỹ và ông Thiệu đang muốn có một giải pháp chính trị với đối phương nhưng đối phương lại yêu cầu gạt bỏ ông Thiệu! Nghe đài Hà Nội, tôi ngán quá trời!

Quang đứng lên:

- Thôi thế này là tạm đủ! Ông Toàn nói là Phan Rang có thể thất thủ, tôi chắc là đã thất thủ rồi! Nếu bị thất thủ chỉ chiều nay thôi, đài phát thanh Hà Nội sẽ loan tin, ta hãy nghe họ nói xem sao?

Tiễn Quang ra đến công, Viên đã thấy ba chiếc xe Méc-xê-đéc chờ đón Quang rồi. Xe đi giữa là xe của Quang, xe đi trước và xe đi sau đều là xe quân cnh hộ tng. Quang nói nhỏ với Viên:

- Tình hình này đi lại nên cẩn thận. Việt Cộng nằm vùng có thể ném lựu đạn hoặc xả súng bắn vào ta đó!

Viên gật đầu:

- Lúc này, cảnh giác đâu có thừa!

Đoàn xe đưa Đặng Văn Quang về nhiệm sở của biệt khu Thủ Đô, ở đó Nguyễn Văn Thiệu đang đỏ mắt chờ.

Quang ro bước đi vào phòng làm việc của Thiệu. Thiệu hỏi:

- Bi đát lắm rồi, phải không?

Quang hạ thấp giọng nói vừa đủ nghe:

- Dạ, tướng Toàn, tướng Viên đều mất liên lạc với Phan Rang từ lúc 8 giờ sáng nay. Việt Cộng dùng xe tăng trọng pháo, tên lửa và hàng sư đoàn bộ binh đánh như đánh Buôn Mê Thuột. Chắc chắn là Phan Rang đã thất thủ. Chưa ai rõ số phận của Nguyễn Vĩnh Nghi và các tướng, tá khác ra sao? Có thể bị chết thảm hại hoặc đầu hàng, nếu không thì cũng bị bắt sống làm tù binh…

Thiệu lại hỏi:

- Hoạt động quân sự của đối phương theo tin tình báo anh nắm được đến đêm qua và rạng sáng hôm nay có gì mới?

-Tình hình mới có nhiều điều đáng lo ngại: nhiều sư đoàn của đối phương sau khi tràn ngập Plây Cu, Kon Tum đang rầm rập tiến theo đường 14 vào phía Nam, họ hành quân công khai ban ngày cả ban đêm, Xe tăng, thiết giáp, xe vận tải, tên lửa phòng không đi đây đường, đầy lối. Bộ binh phải tính đến hàng chục sư đoàn đi về hướng Tây Ninh. Ở phía Đông, sau khi họ tràn ngập Phan Rang, có thể tiến theo quốc lộ 1 về Phan Thiết, Hàm Tân, uy hiếp Xuân Lộc của ta. Máy bay của ta hoạt động rất yếu vì mấy thằng phi công rất sợ tên lửa bắn rơi. Các sân bay Biên Hoà và Tân Sơn Nhất đều nằm trong tầm súng của Việt Cộng. Tôi đề nghị di tản số máy bay còn lại về sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) cho an toàn...

- Hai ông tướng chạy dài là Ngô Quang Trưởng và Phạm Văn Phú nằm ở đâu rồi?

- Dạ, Ngô Quang Trưởng nằm viện ở Sài Gòn còn Phạm Văn Phú về với cô vợ Ba Tàu ở Chợ Lớn.

- Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn thế nào?

- Hai ông này đang rêu rao: “Sẽ có giải pháp chính trị với phía bên kia!” và rằng “Ông Thiệu rút bỏ Cao Nguyên là độc đoán cá nhân, không tranh thủ ý kiến của Hội đồng tướng lĩnh, cũng không tham khảo ý kiến của đại sứ Mỹ và CIA nên dẫn đến thảm hoạ là mất cả Vùng 1 chiến thuật và Vùng 2 chiến thuật, tạo điều kiện để đối phương tràn ngập lãnh thổ, uy hiếp mạnh mẽ Sài gòn - Gia Định, kể cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ..”.

- Còn dư luận báo chí phương Tây?

- Dạ, họ nói: ông Thiệu đã đi “một nước cờ định mệnh”!

Nguyễn Văn Thiệu buông thông hai tay, khuôn mặt chảy dài, lộ vẻ thất vọng:

- Hừm! Tất cả là tại tôi? Tại tổng thống? Sao các ông ấy không nói là: “Ông Thiệu đang bị bỏ rơi”? Mấy ông muốn tôi từ chức, ra đi để mấy ông lên thay tôi nói chuyện với Mỹ và phía bên kia nữa? Xin mời! Nếu tình hình ngày một xấu đi như vậy thì chỉ còn có tôi và anh, chúng ta sẽ thống nhất hành động. Tôi đi đến đâu, anh đi đấy! Anh có nhất trí không?

- Dạ, tôi hoàn toàn nhất trí.

- Thế thì được. Tôi sẽ bàn kỹ với anh vài ngày tới. Không nên nói gì thêm với Cao Văn Viên, Nguyễn Văn Toàn kể cả với Nguyễn Cao Kỳ nữa! Ai có thân, người ấy lo... Tôi với anh phải gặp nhau từng giờ, từng ngày vì tình hình đang biến chuyển rất nhanh.

Quang hỏi:

- Còn việc “tử thủ” ở Xuân Lộc?

- Cứ phải làm găng lên như lệnh của tôi. Còn như cuối cùng không giữ được thì sẽ tính sau. Ngồi đây chưa thể nói trước được điều gì. Có điều rất đáng bị quan là đối phương đang có gây sức ép tối đa về quân sự, có lẽ để họ đạt đến những tham vọng về chính trị là thành lập chính phủ liên hiệp có lợi nhiều hơn cho họ chăng? Anh cố gắng theo dõi thật sát và cho tôi biết tin tức mới nhất nghe!

- D.

6 giờ chiều cùng ngày, Đặng Văn Quang lại cùng với Thiệu ngồi bên cạnh ra-đi-ô đón nghe buổi phát tin thời sự, mở đầu bằng tin chiến sự miền Nam tiếng phát thanh viên rành rọt:

“- Mời các bạn nghe tin chiến thắng! Sau khi giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh ven biển miền Trung, Quân Giải Phóng miền Nam tiếp tục truy kích tàn quân địch rút chạy về Phan Rang.

 Rạng sáng ngày 16 tháng 4, bằng các binh chủng hợp thành, Quân Giải Phóng tổ chức tấn công thị xã Phan Rang. Trước sức uy hiếp nặng nề của pháo binh và lối đánh thọc sâu táo bạo của các đơn vị thiết giáp và bộ binh Quân Giải phóng, quân địch bị thiệt hại nặng nề và bỏ chạy. Kết quả: ta đã tiêu diệt Bộ tư lệnh tiền phương, Bộ tư lệnh sư đoàn không quân số 6, Bộ tư lệnh sư đoàn số 2, lữ đoàn dù số 2, liên đoàn biệt động số 3, bắt sống tên trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tên chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang thu 40 máy bay nguyên vẹn ở sân bay Thành Sơn."

Thiệu ra hiệu cho Quang tắt máy thu thanh:

 - Hết! Thế là hết tất cả!

Thiệu bực bội nói với Quang:

- Tướng Toàn cũng là đ bị thịt, ăn hại, đái nát cả thôi! Tôi chẳng còn có thể tin tưởng y được nữa!

Không khí nặng nề trong phòng làm cho cả Thiệu và Quang đều cảm thấy ngột ngạt. Thiệu đứng lên:

- Thôi ta tạm nghỉ. Anh về đi, có gì cần thì “phôn” cho tôi ngay.

- Dạ.

Quang bước nặng nề ra cửa. Đường phố đã lên đèn. Ba chiếc Méc-xê-đéc lại đón Quang đi.

 

XXVI

 

KỂ TỪ HÔM TRỐN CHẠY TỪ NHA TRANG VỀ Sài Gòn, hôm nay lần thứ hai Phạm Văn Phú lại gõ cửa nhà báo Lãng Tử với vẻ mặt rất tươi tỉnh:

- Nhà báo có nhà không?

Cánh cửa vừa mở, Phú đã reo lên:

- Đây rồi! Ông Lãng Tử! Tôi chỉ lo ông đi vắng.

Lãng Tử ôm chầm lấy Phú:

- Vào đây! Lại có chuyện gì vui chăng?

- Vui thì có vui mà buồn thì cũng thật buồn.

- Sao vậy?

 Phú ngồi xuống ghế, nói chậm rãi:

- Ông còn chai Na-pô-lê-ông đó, đưa ra đây. Hôm nay tôi phải cụng ly với ông mới được! Uống để mừng tôi không bị bắt làm tù binh một lần nữa! Nguyễn Vĩnh Nghi và chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang cũng bị bắt sống ở Phan Rang rồi! Tôi mà chậm chân thì cũng đã vào tù rồi. May sao, tôi và Trần Văn Cẩm, Lê Khắc Lý đều thoát nạn! Hãy biết giờ này còn được tự do ở đây. Ngày mai số phận rồi sẽ ra sao, ai mà đoán trước được? Ông nghe đài Hà Nội, đài BBC, Tiếng Nói Hoa Kỳ rồi chứ gì?

- Rồi! Rất may cho ông, xin chúc mừng ông! Hai ly rượu mạnh rót đây và cả hai đều được uống cn.

Có chút men say, Phú thêm hăng hái:

- Tôi xin giữ Plây Cu, ông Thiệu buộc tuỳ nghi di tản và bây giờ thực tế chiến trường chứng tỏ tôi đúng, ông Thiệu sai hoàn toàn. Sai lầm này là sai lầm chiến lược. Mất sạch cả quân khu 1, quân khu 2 rồi. Đối phương đang áp sát Xuân Lộc rồi. Sư đoàn 18 của Lê Minh Đảo đang bị đánh tả tơi. Nguyễn Văn Toàn câm họng, hết nói khoác lác rồi! Xuân Lộc sẽ thất thủ chiều nay hoặc sáng mai thôi... Ông là nhà báo trung lập, ông nghe dư luận giới báo chí và giới chính khách có gì hay không?

- Hay lắm! Các giới cánh tả, cánh hữu và cánh trung lập đều muốn phế truất ông Thiệu vì tội tham nhũng và “nướng quân”! Xương máu của hàng vạn anh lính cộng hoà đâu phải là bùn đất để che chắn cho các ông nhậu nhẹt tối ngày? Các ông thi nhau đánh cắp viện trợ Mỹ và đua nhau buôn lậu ma tuý thu lợi từng vali vàng, chẳng làm nên trò trống gì lại còn giả vờ kêu la: “chúng tôi bị Mỹ bỏ rơi!”. Ông có biết không? Lão Xnép cố vấn Mỹ, đại diện CIA ở toà đại sứ Mỹ đã nói chua chát rằng: “Mỹ đã cho các anh tất cả máy bay, xe tăng, đại bác và đô-la, thậm chí đã hy sinh cả sinh mạng của 56.000 lính Mỹ, còn các anh? Các anh đánh chác ra sao? Các anh hãy tự trả lời!”. Ông Thiệu, ông Quang trả lời như thế nào đây với người Mỹ và với quốc dân, đồng bào?

Phủ cười gn:

 - Cúi mặt xuống mà ăn bẩn chứ còn trả lời ra sao nửa? Quang là bạn tôi, y tốt với tôi nhưng y cũng đang ráo riết chuẩn bị đi di tản sang Ca-na-đa rồi!

Lãng Tử thốt lên:

- Đặng Văn Quang sẽ ra đi?

Phú gật đầu:

 - Hôm qua Quang đã thổ lộ với tôi rằng: Ông Thiệu sẽ tự... “thoái vị”. Ngài sẽ đọc một bài “đít-cua” chắc là sẽ nổi khùng nói tầm bậy, tầm bạ rồi xách va-li chuồn sang Đài Bắc với ông anh đang làm đại sứ ở đó! Bà vợ ông Thiệu, bà Mai Anh đã đi Hồng Kông để chuẩn bị cho ông chồng đi Đài Loan đó! Ông Khiêm, ông Kỳ sẽ đi Mỹ, ông Cao Văn Viên cũng sẽ đi Mỹ qua đường Băng Cốc...?

 - Ô hay! Thế còn giải pháp chính trị?

- Có thể có, mà nếu Việt Cộng đại thắng, tràn vào Sài Gòn thì làm gì còn có giải pháp chính trị?

- Tôi nghe lao xao là đại sứ Mỹ Ma-tin muốn dùng lại Dương Văn Minh hoặc Trần Văn Hương, hoặc Nguyễn Bá Cổn kia mà?

 - Ăn nhằm gì đâu? Tất cả là... đồ bỏ!

- Còn những người Mỹ?

- Từ đại sứ Mỹ đến mấy ngàn quân nhân Mỹ, cố vấn Mỹ, tình báo CIA cũng sẽ về nước...

- Còn các tướng tá và công chức của Sài Gòn?

- Sẽ lần lượt di tản nếu muốn di tản. Người Mỹ sẽ thâu nhận hết, song phải lần lượt, cấp cao đi trước, cấp thấp đi sau, ông Đặng Văn Quang nói với tôi như thế! Quang rất thân với CIA nên hắn ra đi lúc nào cũng được.

Phú im lặng. Lãng Tử hỏi tiếp:

- Còn ông? Ông cũng sẽ ra đi?

Phú gật đầu:

- Ngày mai tôi cho cô Lâm Đệ và hai đứa con tôi đi trước với ông bà già. Cứ bay đi Mỹ rồi sẽ đón tôi sang sau. Tôi đã nhận lời hứa đi tháp tùng cho Đặng Văn Quang...

- Vậy, không có ông nào ở lại?

Phú nhún vai:

- Ở lại làm gì? Sài Gòn sẽ tắm máu! Ông có muốn đi cùng chúng tôi không?

Lãng Tử lắc đầu:

- Tôi là anh nhà báo quèn, ra nước ngoài sẽ không sống nổi!

- Ông khiêm tốn thế thôi chứ! Ông nổi tiếng ở Sài Gòn, lại thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, đi đâu mà chẳng sống?

- Tôi cứ ở lại đây, Quốc gia đã không treo c được thì Việt Cộng cũng chẳng làm gì đối với tôi!

Phú bật cười:

- Ừ cứ trung lập như ông mà lại hay! Suốt đời ở trong Tháp Ngà, một thế giới riêng biệt của mình!

Lãng Tử tỏ vẻ đắc ý:

- Tôi rất tâm đắc với quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” của Hoài Thanh trước 1945 vì nghệ thuật không bao giờ có biên giới và không phân biệt màu da. Có người chê Hoài Thanh. Song nếu không có Hoài Thanh thì làm sao có cuốn Thi Nhân Việt Nam với giá trị rất cao của nó trong nền văn học Việt Nam vốn còn quá non trẻ này?

Phú vẫn còn băn khoăn:

- Nhưng ông có nghe chuyện Khơ-me đỏ rồi chứ? Pôn-Pốt với những tên lính áo đen vào Nông Pênh hôm 17 tháng 4 vừa qua đã xua hết dân thủ đô ra ngoài để bắn giết và thực hiện “cướp sạch, phá sạch”. Vậy mà trước đây Pôn-Pốt cũng rêu rao “vì nước, vì dân" đó! Thật dễ sợ cho cái luận điệu tuyên truyền xảo quyệt của Pôn-Pốt!

- Tôi vẫn cho rằng sẽ không có tắm máu ở Sài Gòn sau khi Việt Cộng tràn vào! Việt Cộng khôn ngoan lắm!

Phú vẫn không chịu thua Lãng Tử:

- Dù sao thì ông cũng là nhà báo trung lập. Còn tôi trót đã đứng về phía Mỹ thì phải theo Mỹ đến cùng. Tôi ở lại đây thì Việt Cộng có tin dùng tôi đâu? Tôi lại là sĩ quan cấp tướng bị họ lên án là “có nợ máu với quốc dân đồng bào”, nợ máu thì phải trả bằng máu. Cho nên, tôi chọn con đường di tản là hay hơn cả!

Lãng Tử lại rót đầy hai ly rượu mạnh:

- Ông uống đi! Đến bước đường cùng, ông lại còn nhớ đến thằng bạn nhà báo kiết xác này, ta hãy uống cho say trong buổi chiều vàng úa này. Có thể tôi sẽ nói được với ông đôi điều vì chuyến này ông đi Mỹ chắc còn lâu lắm ta mới lại tái ngộ...

Phú lộ vẻ sung sướng:

- Hay lắm! ngày xưa bên Tàu có chuyện Bá Nha - Tử Kỳ, tôi muốn được nghe ông như nghe tiếng đàn tri kỷ ấy. Ông cứ nói ra và xin ông cho tôi một lời khuyên cuối cùng!

Lãng Tử nhắp một ngụm rượu và đốt thêm một điếu thuốc lá:

- Tôi không phải là nhà viết sử nhưng mấy tháng qua ngẫu nhiên tôi lại được chứng kiến một tấn thảm kịch của “nền Đệ nhị cộng hoà” của các ông. Khi ông lên trấn ải Cao Nguyên tháng 8-1974, ông cứ tưởng là sẽ ăn nên làm ra ở đó. Tôi cũng mù tịt tình hình nên không biết lúc đó ông đang ngồi trên một miệng núi lửa. CIA và tình báo của Đặng Văn Quang không nắm được bao nhiêu sư đoàn Bắc Việt và Việt Cộng đang chuẩn bị tấn công Buôn Mê Thuột! Nếu ví cuộc chiến ở Việt Nam là một cuộc chơi cờ thì các ông đã đi một nước cờ quá thấp: đó là rút bỏ Cao Nguyên bằng một cuộc tuỳ nghi di tản đầy mạo hiểm qua đường số 7. Mấy cha phóng viên hãng UPI gọi nước cờ ấy là “NƯỚC CỜ ĐỊNH MỆNH” của Nguyễn Văn Thiệu! Các ông đã…tự sát rồi đó. Tôi chẳng hiểu tại sao người Mỹ lại đem nửa phần đất nước Việt Nam này trao cho anh em gia đình Ngô Đình Diệm rồi lại lật đổ Diệm để trao lại cho Nguyễn Văn Thiệu và các ông? Một lũ người tham nhũng và buôn lậu ma tuý mà đứng ra điều hành đất nước bằng dùi cui! Mười năm trời “chấp chính” của các ông đã để lại núi xương, sông máu và bây giờ các ông lại cuốn gói ra đi với vàng và đô-la! Tôi chưa kịp viết về cuộc tình của Phạm Văn Phú với bà Lâm Đệ thì đã phải “tuỳ nghi di tản” về Sài Gòn. Các ông sẽ sống lưu vong ở nước ngoài, chắc sẽ làm đủ nghề: buôn gian, bán lậu, lừa bịp kiều bào ta vân vân và vân vân... Với ông, một thiếu tướng có chút vốn liếng rồi đó, là bạn bè, tôi khuyên ông khi chạy ra nước ngoài thì nên làm ăn lương thiện để có thời gian sám hối về những tội ác mình đã làm, đã phạm phải. Hơn 20 năm theo Pháp rồi theo Mỹ, Phạm Văn Phú từ gã lính trơn leo lên đến thiếu tướng, binh nghiệp của ông đã đến lúc tàn! Không phải là Cộng Sản thì Lãng Tử cũng đủ tri thức để nhìn ra điều đó. Bản cáo trạng số 1 và rồi số 2 của mấy thằng cha nhà báo Sài Gòn khá súc tích, nhưng vẫn chưa nói hết tội của các ông. Nếu là nhà chép sử, tôi chỉ cần chép lại “tấn thảm kịch Plây Cu” của các ông cũng đủ là một điều lý thú lắm rồi!

Nhìn khuôn mặt của Phú đỏ lựng rồi lại tái đi, Lãng Tử chợt thấy ân hận vì anh đã hơi nặng lời với hắn, anh đặt ly rượu và nói:

- À, mình xin lỗi nhé! Ông hỏi tôi về một lời khuyên mà tôi lại quá say nên bộc bạch lời hơi khó nghe có phải không? Nếu tôi nói với ông Thiệu thì có lẽ ông ấy sẽ kêu cảnh sát bắn chết tôi như đã bắn chết anh chàng phóng viên hãng AFP của Pháp, song với Phạm Văn Phú, nếu không chê tôi là gàn dở thì hãy lắng nghe vì tôi không nghiêng về Cộng Sản, cũng chẳng ngả về phía Quốc Gia, lời nói của tôi, tôi tin là đúng đắn không vì danh, vì lợi, không vì cơm nặng, áo dày như ai!

Phú nghe hết câu nói của Lãng Tử, đã ngng mặt lên và nói:

- Xin cám ơn Lãng Tử! Tôi sẽ xin sám hối!

Lãng Tử thở phào một khói thuốc:

-Tôi cũng lưu ý ông: đừng vì Lãng Tử nói thẳng mà miễn cưỡng nghe theo, nói sám hối rồi lại chẳng sám hối vì ngồi lại để tính sổ tội ác đâu có dễ, phải không ông?

Đôi mắt Phú đã đục ngầu và có ngấn nước, hắn nói giọng bùi ngùi:

- Lãng Tử nói rất đúng! Thà rằng ăn cơm rau, mặc áo vải như người xưa thường dạy thì cuộc đời thanh thản biết bao nhiêu! Tôi đã lên xe, xuống ngựa, xây sự nghiệp trên xương máu của đồng loại, chưa biết tôi có sám hối được không, nhưng ít nhất ở đây, hôm nay tôi cũng đã được Lãng Tử nói cho nghe về cái đạo làm người! Ác giả thì ác báo, đó là cái lẽ thường tình theo kinh nhà Phật, các tướng tá của ông Thiệu bị bắt sống, bị cầm tù như Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Ngọc Sang, Phạm Duy Tất có nghĩ đến điều đó không? Lãng Tử!  Ông khiêm tốn quá, nhưng quả thật, ông đã cho tôi một lời khuyên bổ ích. Thôi cảm ơn nhé! Tôi phải về để thu xếp cho vợ con di tản ngày mai!

- Ông say xỉn rồi, để tôi đưa ông về!

Phú gạt đi:

- Thôi cám ơn ông, khỏi cần đưa tôi, tôi kêu xích-lô về được mà!

Phú loạng choạng bước ra cửa, xuống đường vẫy xích-lô:

- Cho về Chợ Lớn, nghe!

Lãng Từ nhìn theo “ông bạn quý”, lắc đầu hoài, ngán ngẩm...

*****

Lệ Ninh vừa đẩy tủ thuốc lá ra trước cửa nhà, đã nghe tiếng gọi:

 - Chị Ninh! Chị Ninh ơi!

Ninh ngửng lên: từ bên kia đường, một cô gái mặc váy ngắn đang tươi cười rảo bước ngang đường.

Ninh  nhận ra ngay:

- Ngà! Ngà đấy à?

Ngọc Ngà nắm chặt tay bạn:

- Em định đến chị mấy lần, nay rảnh, mới đi được. Anh Lãng Tử có nhà không?

- Anh ấy đi uống cà phê với ông bạn nhà báo Võ Tùng rồi! Đi vào đây đã, có gì vui không em?

Ninh khoá tủ hàng lại và đưa Ngà vào phòng khách:

- Ngồi xuống đây! Em đẹp hơn hồi còn ở Plây Cu nhiều...

- Chị quá khen em thế thôi. Có gì đâu. Ông Phú di tản rồi mang em về Sài Gòn, khéo léo giới thiệu em với ông trung tướng Đặng Văn Quang, cho em ở khách sạn được mấy bữa, rồi ông Quang cũng “gút bai” em luôn!

- Ô hay! Ông ấy đi đâu?

- Chị không biết sao? Việt Cộng sắp tràn vào Xuân Lộc rồi. Ông Minh Lớn sắp hất cng ông Thiệu rồi. Ông Quang không chạy nhanh chân thì lại bị bắt sống như ông Nguyễn Vĩnh Nghi thôi, cho nên trước đây ba hôm, ông Quang “gút bai” luôn... Em nghe hình như ông Phú cũng sẽ đi Mỹ với ông Quang đó. Mấy ông ấy nói: Việt Cộng vào Sài Gòn thì sẽ có “tắm máu” nên ông nào cũng sợ!

Ninh hỏi:

- Còn em, em có sợ hông?

- Em là dân đen cũng như mọi người khác, vô thưởng vô phạt mà!

 - Bây giờ em vẫn ở khách sạn Pa-lát-xơ?

- Tiền đâu mà ở! Lão Quang đi rồi, em cũng trả phòng, đi luôn.

- Ở đâu? Em thuê một phòng nhỏ ở hẻm đường Nguyễn Du, số 15/2. Em mời chị đến chơi nhé, cả anh Lãng Tử nữa. Làm ăn gì bây giờ?

- Bà Sáu Lan muốn em về vũ trường Hương Lan của bà ấy, em còn phân vân, hỏi ý kiến chị có nên về đấy không? Còn chị buôn bán vặt vãnh thế này, có đủ xài không? Hay là cùng về vũ trường Hương Lan với em cho vui?

- Phải suy nghĩ thêm. Chị làm bạn với anh Lãng Tử thì nghèo quá. Sống chật vật lắm. Ông này chẳng xu nịnh ai, Quốc Gia ông ấy chê, Cộng Sản ông ấy cũng chê nốt. Thế là chỉ nghêu ngao thơ phú suốt ngày rồi lại ghi ghi, chép chép, chả thấy in sách, in báo nào. Cũng đến chết đói mất!

Ngà được thể, lại tấn công thêm:

- Đó, chị coi, lấy chồng nhà văn, nhà báo thì chỉ được cái tiếng thôi. Đời này thực dụng lắm. Người ta vẫn cần miếng chứ ai cần tiếng? Nay mai chị có con nữa thì ôm con ngồi đó mà khóc à?

- Chắc là chị sẽ không có con sớm đâu!

- Tội gì mà phải khổ chị ơi! Chị còn trẻ, còn đẹp, đừng giam hãm đời mình nữa. Hãy về với em, hai chị em ở chung rồi cùng về với bà Sáu Lan.

- Nhưng anh Lãng Tử rất thương chị, bỏ đi không đành lòng đâu!

- Thì cứ là bạn, một tuần gặp nhau một lần không được sao? Em nghe ông Phú nói: Lãng Tử rất lãng mạn kia mà, sống rất “Tây” chứ có cổ hủ đâu mà chị ngại?

- Lãng Tử nói rằng muốn giúp chị “hoàn lương” anh ấy khuyên chị từ giã cuộc đời gió mưa vì mai đây nhan sắc phai tàn thì sao?

Ngọc Ngà nhún vai:

- Tuỳ chị thôi. Em rất quý chị nên lúc nào cũng ngỏ cửa đón chị về. Với em thì ông Phú, ông Quang hay ông Lãng Tử, tất cả chỉ là đàn ông mà thôi, chỉ nên “vui vẻ” mà chớ nên vồ vập, gắn chặt đời mình vào thì sẽ... hệ luỵ và mất hết tự do!

Lệ Ninh cười:

- Em rất thông minh, biết sử dụng nhan sắc và “quyền lực” của riêng em. Chị phải suy nghĩ thêm cho chín chắn...

- Chị còn trẻ, còn đẹp, chị cứ nghe em, đừng để đến khi đã quá muộn... Chiều nay em đi ăn một mình thì buồn quá. Chị đi ăn tiệm với em cho vui. Hãy dẹp cái tủ thuốc này đi một buổi có sao đâu! Lão Quang cho em mấy trăm “đổ” còn xài mệt nghỉ?

Lệ Ninh nghe Ngọc Ngà nói lai rai, thấy vui vui. Cô lại đẩy tủ thuốc lá vào trong nhà, khoá cửa lại và đi với Ngọc Ngà.

Hai cô gái lại thấy tưng bừng rạo rực như hồi còn ở vũ trường Ha-oai...

 

Chương chót cùng

 

PHAN RANG NGÀY 16 THÁNG 4 NĂM 1975

Gửi Hoà thân mến!

Tôi viết thư này cho Hoà giữa thị xã Phan Rang vừa được giải phóng. Trận đánh vùng ven thị xã bắt đầu từ sáng ngày 14, ta đánh rồi lại rút làm cho địch tưởng lầm ta đánh để quấy rối chứ chưa dám đánh một cứ điểm quan trọng mà chúng vừa chọn để đóng “Bộ tư lệnh tiền phương” của Vùng 3 chiến thuật để phòng thủ Sài Gòn từ xa. Hai ngày căng thẳng nặng nề trôi qua, sáng sớm hôm nay 16 tháng 4, ta đã mở cuộc tấn công lớn vào Phan Rang bằng ba mũi tiến công từ Nam đánh lên, từ Bắc đánh xuống, từ Tây đánh sang. Một tiểu đoàn xe tăng T.54 được tung vào mũi chủ công cùng với một đại đội tên lửa phòng không. Ba trung đoàn bộ binh từ ba mặt đánh vào.

Hoà có biết không? Tôi được ngồi trong một chiếc xe tăng xung kích làm nhiệm vụ hướng dẫn cho mũi thọc sâu, đánh thẳng vào Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương của trung tướng nguy Nguyễn Vĩnh Nghi. Cùng một lúc Sở chỉ huy sư đoàn không quân số 6 của chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang cũng bị tấn công dữ dội. Bộ binh theo xe tăng tràn vào tiêu khu Phan Rang, đánh chiếm Sở chỉ huy liên đoàn biệt động quân, sư đoàn 2 và lữ đoàn dù 2 của nguy mới được tầng viện. Cảnh hỗn loạn chưa từng thấy đã hiện ra: tướng, tá, sĩ quan cao cấp chui xuống hầm ngầm kêu gọi binh lính “tử thử”. Binh lính quá nửa là tàn quân từ Nha Trang, Plây Cu rút về được tập hợp vá víu thành sư đoàn 2 đã tháo chạy tán loạn, vứt súng đạn, cởi bỏ giày mũ áo quần trà trộn vào dân chúng cho đến lúc một lá cờ trắng được phất lên ở Sở chỉ huy Bộ tư lệnh tiền phương và xung kích của ta ập vào bắt sống Nguyễn Vĩnh Nghi. Y chắp tay xin Quân Giải Phóng tha cho tội chết. Đến 12 giờ trưa thì toàn thị xã Phan Rang đã im tiếng súng. Tù binh, hàng binh lũ lượt theo sự hướng dẫn của anh bộ đội Giải Phóng vào trại tạm giam dưới trời nắng gay gắt.

Hoà ơi! Thế là trong trận này ta bắt sống tên trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang cùng tất cả sĩ quan cao cấp của chúng, thu 40 máy bay nguyên vẹn ở sân bay Thành Sơn, hơn 3 ngàn khẩu súng và một kho đạn. Nếu kể cả số máy bay 64 chiếc nguyên vẹn ta thu được ở sân bay Cù Hanh (Plây Cu) nữa thì một tháng qua, ta đã thu được 104 máy bay của Sư đoàn không quân số 6 (nguy).

Hoà ơi! Tôi nghe các anh trung đội trưởng Trần Kỳ, đại đội trưởng Hoàng Quân kể lại thì chưa có chiến dịch nào lại thắng lớn như chiến dịch giải phóng Tây Nguyên: trận mở màn là trận đánh vào Buôn Mê Thuột lúc 2 giờ sáng ngày 10-03, kết thúc 10 giờ sáng cùng ngày. Trận đánh “trời long, đất lớ” này làm tan rã luôn hệ thống phòng thủ Tây Nguyên của dịch: ngày 16 tháng 3 chúng “tuỳ nghi di tản" rút qua đường số 7 về Tuy Hoà, bị ta phục kích đánh tan cả một chiến đoàn, đốt cháy hơn một trăm xe tăng. thiết giáp, bắt sống tên đại tá chỉ huy cuộc hành quân Phạm Duy Tất. Các ngài thiếu tướng Phạm Văn Phú tư lệnh và Trần Văn Cẩm chuẩn tướng phó tư lệnh Vùng 2 chiến thuật cùng đại tá tham mưu trưởng Lê Khắc Lý chuồn về Nha Trang, ngồi chưa nóng chỗ đã bị đánh tơi bời, cả “Bộ tư lệnh” dông một mạch về Sai Gòn bỏ mặc lũ tàn quân tơi tả co cụm lại ở Phan Rang dưới quyền trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và bây giờ câu chuyện “tử thủ Phan Rang để phòng thủ Sài Gòn từ xa trở thành tấn thảm kịch lớn của tổng thống Thiệu!

Hoà ơi! Tôi vừa được nghe tin chiến thắng của đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam phát đi từ Hà Nội: “ giải phóng Phan Rang, quân ta đã kết thúc chiến dịch giải phóng Tây Nguyên với thắng lợi chưa từng có, tạo ra một bước ngoặt mới cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mau tới thắng lợi hoàn toàn...

Hoà ơi! Lần thứ ba tôi được đến Phan Rang. Giờ này Phan Rang đã im tiếng súng. Uỷ ban quân quản thị xã bắt đầu hoạt động, giữ gìn an ninh trật tự, đồng bào sơ tán từ ba hôm nay đang lục tục kéo về. Tôi được phép về thăm chú Tám, dì Tám, nhưng dì và chú Tám chưa về. Nhà còn đóng cửa. Bà con hàng xóm nói rằng: cậu Hoà cũng đã về Sài Gòn từ tuần trước rồi. Thế là tôi phải tranh thủ thời gian viết thư này cho Hoà báo tin vui chiến thắng, thư này tôi sẽ bỏ qua khe cửa nhà chú Tám, nhờ dì Tám chuyển về Sài Gòn cho Hoà. Đêm nay, bộ đội ta lại tiếp tục hành quân rầm rộ trên quốc lộ 1 tiến đánh Phan Thiết, tiếp tục truy kích tàn quân địch đang chạy về Xuân Lộc, Biên Hòa. “Vùng 2 chiến thuật” của địch bao gồm Tây Nguyên và các tỉnh ven biển miền Trung từ Bình Định trở vào đã được giải phóng cùng với Huế, Đà Nẵng (thuộc Vùng 1 chiến thuật)!

Hòa ơi! Buổi chiều nay tuy còn bề bộn công việc nhưng thật yên ổn, nơi đây tôi lại không gặp được Hoà và gia đình chú Tám để cụng ly mừng chiến thắng? Một bữa cơm rau hay một ly rượu đế trên đường hành quân với bao nhiêu kỷ niệm của tình quân dân cá nước! Chúng mình gặp nhau trong nhà tù “biệt giam” của tướng Phú ở Plây Cu, từ ngỡ ngàng mặc cảm đến thân thiết và tin yêu. Hoà đã đưa tôi về Phan Rang sau khi chúng mình vượt trại, Hoà và chú Tám giúp tôi trở về đơn vị cũ. Bản sơ đồ thị xã Plây Cu cùng với bản sơ đồ thị xã Phan Rang của tôi mang về đơn vị đều có chung nét vẽ của Hoà. Hai đứa chúng mình đã thuộc từng góc phố, con đường từ thị xã đến sân bay, từ sở chỉ huy của chúng đến các ổ đề kháng đã được ghi chi tiết trên hai bản sơ đồ. Pháo tầm xa của Quân Giải phóng đã đánh trúng từng mục tiêu và hôm nay các sư đoàn “gió lốc” của ta đã xoá sổ cả Bộ tư lệnh tiến phương của địch ở Phan Rang!

Sau những ngày bị động viên “quân dịch” vào lính cộng hoà, Hoà đã cưỡng lại số mệnh, trốn lính rồi bị bắt lại, bị giam cầm rồi trốn trại trở về với gia đình chú Tám. Giờ này thì Hoà đang có mặt ở gia đình, đoàn tụ với ba, má và chị Hiền! Xin cho tôi được gửi lời thăm ba má và chị Hiền nhé! Sài Gòn giờ này chưa được giải phóng nhưng Sài Gòn đang đi qua đêm tối để bước sang buổi bình minh. Tôi được biết: sáng ngày 8 tháng 4, anh phi công yêu nước Nguyễn Thành Trung lái chiếc máy bay F.5 từ sân bay Biên Hoà vút lên bay đi “ném bom vào đội hình Quân Giải Phóng đang tiến về Tây Ninh”, đã bất tuân thượng lệnh để bay trở lại giội bom xuống dinh Độc Lập rồi lại bay về Phước Long hạ cánh an toàn xuống sân bay của Bình Long vừa giải phóng. Tiếng bom Nguyễn Thành Trung làm rung chuyển cả Sài Gòn, hoà cùng tiếng súng của quân Giải phóng khắp nơi đang dội về Sài Gòn làm nức lòng đồng bào, chiến sĩ ta ở nội thành, đồng thời cũng làm tăng thêm nỗi lo âu hoảng loạn đến tột cùng của bọn đầu sỏ nguy quyền và tay sai. Tin từ nội thành báo ra: mật vụ, ác ôn, cảnh sát, quân cảnh đã bớt hung hăng, lùng sục. Nhiều tên thăm dò thái độ của chính quyền cách mạng sẽ đối xử với chúng ra sao? Nhiều tên đang lặng lẽ lo lót cho vợ con về quê và di tản ra nước ngoài. Tôi tin là Hoà và gia đình có thể sống yên ổn trong những ngày này ở Sài Gòn.

Hoà ơi! Trong đời lính của Tâm, chưa có hôm nào vui như hôm nay, được làm lính của sư đoàn “Gió Lốc” tiến về miền Đông Nam Bộ trong đội hình của quân chính quy, tôi làm sao quên được những miền đất tôi đã đi qua? Tôi làm sao quên được chú Tám, di Tám và cả Huỳnh Văn Hoà nữa! Nhớ đến Hoà cũng là nhớ đến những ngày cam go, đầy thử thách ở Plây Cu với “ bàn tay sát bọc nhung” của tên tướng ngy Phạm Văn Phú với mọi thủ đoạn nham hiểm của tên Cang thiếu tá ác ôn sẵn sàng bắn bỏ tất cả những ai rơi vào tay hắn! Và nhớ Play Cu cũng là để nhớ những cô nàng chiêu đãi viên bốc lửa sẵn sàng đưa hai đứa chúng ta vào “mê hồn trận” để được hồi chánh, trở về với “chánh nghĩa quốc gia” đúng bài bản của Sở chiêu hồi!

Nhưng thật là may! Hoà và tôi đã tỉnh táo để phòng và đã vượt qua được tất cả mọi sự cám dỗ thấp hèn để dắt díu nhau cùng tiến bước! Hôm nay, giữa Sài Gòn đang sôi động những đợt sóng ngầm trước giờ giải phóng, Hoà đã gặp lại bạn bè là sinh viên Văn Khoa hoặc là nữ sinh Trưng Vương, Đồng Khánh? Lại nhớ đến những buổi xuống đường, những “Đêm không ngủ”, những bài hát “Hát cho đồng bào tôi nghe"? Trong đêm lửa trại... Tâm cũng như Hoà có cả cuộc đời học sinh thơ mộng, may mắn hơn, Tâm được rời ghế nhà trường, tình nguyện vào bộ đội và trở thành anh Giải phóng quân với đôi dép lốp và chiếc mũ tai bèo! Hoà biết không? Ngày lên đường đi chiến đấu vui nhộn không thể tưởng tượng: các bạn nam thì siết tay nhau hứa hẹn “cậu đi trước, mình sẽ di đợt sau, hẹn gặp nhau ở Trường Sơn nhé!”. Còn các cô bạn gái thì tặng hoa. Ôi! Những bông hoa tươi đủ mẫu rực rỡ, nhưng đẹp sao bằng những ánh mắt, nụ cười? Mình xin tiết lộ với Hoà: ngày lên đường của mình, mình được bốn cô nàng tặng những bốn bông tươi làm cho mình cảm động vô cùng. Mình đã khao cả bốn cô bạn ấy một chầu bánh tôm Hồ Tây ngon có tiếng. Trong không khí tiễn biệt có vẻ đầy hào khí ấy, Tâm đã liều mạng nói rằng:

- Tôi được nhận những bông hoa này đã thấy hạnh phúc lắm rồi, nhưng các bạn đã biết: tôi vốn tính rất là... tham lam. Tôi xin được trồng trước ngõ nhà bạn một “cây si”! Được nhé? Các bạn không đồng ý thì tôi cũng đã... trồng rồi kia mà! Thế là bốn cô bạn cười ầm cả lên. Còn mình thì cũng liều, mặt trơ, trán bóng, nói vậy cho vui, nào ngờ cả bốn cô bạn đều gật đầu lia lịa và nói rằng:

- Khỏi phải trồng “cây si” hãy cứ chiến đấu tốt, lập chiến công thì năm năm, mười năm em cũng chờ!

 Ồn ào, ríu rít bữa ấy rồi lên đường, ấy thế mà, Hoà biết không? Thật không ngờ mình lại có chút xíu duyên thầm mới chết chứ! Tháng nào, ở Tây Nguyên mình cũng nhận được thư của cả bốn cô bạn Hà Nội:

Thứ nhất là Lê Nghĩa, còn được gọi là “Nghĩa mắt xanh” hoa khôi số 1 trường Trưng Vương đó. Cái nhìn của đôi mắt xanh ấy là cái nhìn nghiêng nước nghiêng thành, đi suốt Trường Sơn, mình không bao giờ quên đôi mắt ấy.

Thứ hai là Lệ Hằng, tiếng hát nữ trung làm xao xuyến lòng người với bài hát “Hà Nội, niềm tin và hy vọng” trong bao đêm hội diễn...

Thứ ba là cô bé Ninh em ruột Lệ Hằng với đôi mắt bâng khuâng và tiếng ca dịu ngọt trên sân khấu nhà hát lớn...

Thứ tư là Lê Quyên da trắng, tóc dài, dáng cao mảnh khảnh rất hiền mà mình rất sợ vì cái nhìn lung linh cứ bám mãi hồn mình. Và bây giờ Quyên đã là cô gái thanh niên xung phong đang nghe “ào ào lá đỏ và hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn!” (như lời ca bài hát nhạc Hoàng Hiệp, thơ Nguyễn Đình Thi)

Hoà ạ, chỉ ngày mai thôi, Tâm sẽ đặt chân lên mảnh đất “Miền Đông gian lao và anh dũng” áp sát Sài Gòn. Bộ chỉ huy chiến dịch cho biết: sẽ có những đơn vị đặc công tinh nhuệ đặc biệt chốt chặn những cây cầu quan trọng như cầu Đồng Nai, cầu Sài Gòn, cầu Bến Lức (Long an) để bảo vệ cầu, đón Quân Giải Phóng tiến vào Sài Gòn. “Biệt Động Sài Gòn” của ta một thời gây kinh hoàng cho địch trong các trận đánh cư xá, buyn-đinh, diệt ác, trừ gian cũng sẽ hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy. Ngàn, vạn lá cờ cách mạng đã được bí mật may sắm để trưng lên chào mừng Quân Giải Phóng! Ai sẽ dẫn đường cho bộ đội đánh vào dinh Độc Lập? Chiếc xe tăng nào sẽ húc đổ cánh cổng vào dinh Độc Lập? Ai sẽ được vinh dự cắm lá cờ cách mạng lên dinh luỹ cuối cùng của ngy quyền Sài Gòn?

Ngày về Sài Gòn không còn xa nữa. Tâm hy vọng sẽ gặp lại Hoà trong lực lượng nổi dậy của thanh niên, sinh viên nội thành, cùng đồng bào và chiến sĩ lập công xuất sắc!

Đêm Phan Rang đã yên tĩnh hơn những đêm hôm trước. Thư này Tâm viết đã hơi dài mà sao chưa nói hết được những điều cần nói với Hoà? Sài Gòn đang trải qua “cơn sốt vỡ da” của cô gái vào tuổi trăng rằm, Sài Gòn sẽ thay da, đổi thịt, đang vươn vai đứng dậy như chàng trai Phù Đổng...

Một anh lính xe tăng ngồi bên tôi đang gõ tay nhịp cùng cô ca sĩ trên đài phát thanh hát lại với câu hát thiết tha:

“... Hẹn gặp nhé, giữa Sài Gòn!”

Hoà cho tôi tạm dừng bút ở đây. Chúc Hoà và gia đình mạnh giỏi, an khang và hẹn ngày gặp lại."

 Viết tại Vũng Tàu mùa hạ - mùa thu năm 1994

                                                                             NGUYỄN THIỆN THUẬT


No comments:

Post a Comment