05 February 2024

KÝ ỨC VỀ CHA




Tết này cha tôi đã đi xa tròn 20 năm. Và chỉ sang năm tới, nếu còn sống cha tôi sẽ tròn 100 tuổi.
Thời gian và những bộn bề cuộc sống làm phai mờ đi nhiều kỷ niệm. Vì vậy nhân ngày giỗ 20 năm của cha, tôi muốn hồi tưởng lại những ký ức còn vương vất trong tâm tưởng và viết lại để con cháu sau này hình dung được về cuộc sống và sự nghiệp của ông cha mình, một cuộc đời nghèo khó và lãng mạn cách mạng, đi cùng những cuộc kháng chiến gian khổ của dân tộc và không ngừng mơ ước một cuộc sống tốt đẹp hơn cho con cháu.
Cha tôi sinh ngày 12/9/1926, cầm tinh con Hổ (Bính Dần). Cha tôi là con út trong một gia đình nông dân có 6 anh chị em : hai chị gái và 3 anh trai, trong đó một anh trai của cha tôi là bác Quỳ đã mất khi còn trẻ, bị bệnh nặng khi đi làm thuê ở Quảng Ninh trước Cách mạng tháng 8. Tôi nhớ những câu chuyện rời rạc mà cha mẹ tôi kể từ thuở nhỏ : Ông bà nội tôi tuy là nông dân ở thôn Thọ Bi, xã Tân hòa, huyện Thư trì (nay là huyện Vũ thư), tỉnh Thái Bình, nhưng không quá nghèo, có một chút ruộng đất và tạm đủ ăn. Ông nội tôi là Nguyễn Văn Thiều, thời Pháp thuộc bỏ tiền mua được chức Chưởng bạ, hình như tương đương chức cán bộ địa chính xã bây giờ. Chính vì cái chức vụ vô bổ ấy và mấy mẫu ruộng mà khi cải cách ruộng đất ông nội tôi bị quy là địa chủ, bị đấu tố và đầy đọa ngoài góc vườn đến nỗi đổ bệnh. Sau nhờ cha mẹ tôi từ chiến khu kịp về can thiệp ông nội mới được Đội cải cách cho đưa vào nhà dưỡng bệnh, nhưng đến năm 1956 thì mất vì kiệt sức, chưa kịp nhìn mặt thằng cháu nội út là tôi. Bà nội tôi là Bùi Thị Ảnh, cả đời sống dựa vào chồng con, mất năm 1959, đã bồng bế tôi một thời gian khi bà đến thị xã Ninh Bình thăm cha mẹ tôi sau khi chuyển ngành.
Vì là con trai út nên cha tôi được ông bà nội thương và cho đi học trường Tây ở thị xã Thái Bình, nhưng đi học muộn. Tôi nghe nói cha tôi đã học hết bậc tiểu học (hình như có bằng Xéc-ti-phi-ca) thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Năm ấy cha tôi 19 tuổi, tuổi thanh niên bồng bột và hừng hực khí thế cách mạng. Cha tôi bỏ học (mà chắc cũng không còn trường để mà học) tham gia thanh niên cứu quốc ở thị xã Thái Bình, sau còn làm cán bộ của Liên hiệp công đoàn Thái Bình. Không biết vì sao (có lẽ do có chút năng khiếu viết lách và chút vốn tiếng Pháp) mà cha tôi chuyển công tác lên Sở thông tin Hà Nội trong thời kỳ kháng chiến đóng trụ sở ở chiến khu Hòa Bình. Cha tôi trở thành cán bộ tuyên truyền dưới sự lãnh đạo của nhà báo Hồng Lĩnh. Và chính những ngày công tác ở Hòa Bình, cha tôi gặp mẹ tôi khi đó là bộ đội chính quy thuộc Trung đoàn 12 tham gia chiến dịch Hòa Bình và đóng quân cùng địa bàn. Cha mẹ tôi kết hôn năm 1953 ở Hòa Bình, lễ cưới rất đơn sơ, không có đại diện hai gia đình mà chỉ có đại diện cơ quan cha tôi và chỉ huy đơn vị mẹ tôi. Sau đó cha mẹ tôi di chuyển về huyện Nho Quan (tỉnh Ninh Bình) giáp ranh với tỉnh Hòa Bình và dừng chân ở đó khá lâu, quen biết nhiều người dân và kết nghĩa anh em với nhiều gia đình cơ sở kháng chiến, nhờ đó sau này khi sơ tán về đó trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, cha mẹ tôi được dân làng yêu quý và giúp đỡ rất nhiều.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, cha mẹ tôi được điều động về tiếp quản thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, Ninh Bình làm nhiệm vụ vận động bà con theo đạo Thiên chúa không di cư vào Nam theo Pháp. Tôi được sinh ra ở Phát Diệm và do điều kiện sống kham khổ nên bị suy dinh dưỡng nặng. Mẹ tôi kể khi tôi mới 3 tháng tuổi thì bị kiết lỵ nặng suýt chết, chỉ còn da bọc xương, uống các loại thuốc nam chẳng ăn thua gì. Thậm chí bác sỹ ở bệnh viện Phát Diệm đã bó tay, bảo không thể cứu được, khuyên mẹ tôi đưa con lúc ấy gần như đã tắt thở xuống nhà xác. Nhưng mẹ tôi không nghe, thương con nên cứ ôm ấp và kiên trì xoa bóp chân tay dù đã lạnh ngắt, và may mắn thay (như có phép màu) đến nửa đêm thì con tỉnh lại và bật khóc một tiếng. Bác sỹ chắc cũng cảm động vì tình mẫu tử mà lén cho mẹ tôi mấy viên thuốc kháng sinh con nhộng của Pháp, loại thuốc chỉ được dành cho cán bộ cao cấp. Mẹ tôi cho tôi uống thuốc mấy ngày thì khỏi bệnh. Nhưng có lẽ vì trận ốm ấy mà lớn lên tôi vẫn còi cọc và thấp bé nhẹ cân.
Sau khi tình hình ổn định, cha mẹ tôi được chuyển ngành sang Công ty lương thực tỉnh Ninh Bình và làm việc tại thị xã Ninh Bình, có lẽ là thị xã nhỏ nhất ở đồng bằng Bắc Bộ. Trụ sở Công ty đóng tại trung tâm thị xã, ngay đầu cầu xi măng bắc qua sông Vân, một nhánh của sông Đáy chảy qua thị xã. Cha mẹ tôi được phân một gian nhà cấp 4 phía sau cơ quan, mà cơ quan thời ấy đâu có khang trang như bây giờ, cũng chỉ là mấy dãy nhà cấp 4 lợp tranh nằm sát mặt đường tỉnh lộ (mấy năm trước về lại thành phố Ninh Bình tôi đã cố tìm lại vết tích của khu nhà cũ mà không sao tìm được). Tôi còn nhớ gian nhà cha mẹ tôi được phân rất hẹp và tối tăm, sau này khi tôi đi học thì mới có điện dùng, nhưng điện rất yếu và lúc có lúc không. Trước nhà có một cây sữa to, mùa hoa sữa thơm nức đến mức khó chịu, tôi hay vặt quả sữa để xem nhựa trắng chảy thành giọt. Buổi tối, tôi hay chạy lên khu nhà cơ quan của cha tôi để chầu rìa các bác, các chú trong cơ quan đánh bài tú-lơ-khơ. Phòng làm việc của cha tôi mù mịt khói thuốc lá và ồn ào.
Tôi cũng không hiểu vì sao thời thơ ấu tôi lại gọi cha là “cậu”, gọi mẹ vẫn là “mẹ” và xưng “con”, có lẽ vì cha tôi học mấy năm trường Tây nên cũng bị ảnh hưởng cách xưng hô của các gia đình khá giả trong thị xã Thái Bình, nên khi có con cha tôi muốn tôi gọi là “cậu” chứ không gọi là “bố” hay “thầy” như ở quê. Mãi sau khi sơ tán lên Nho Quan tôi mới chuyển sang gọi “bố” như mọi người, hình như bắt đầu từ lớp 6.
Cha tôi là người có năng lực và chăm chỉ làm việc nên tiến bộ nhanh. Tôi còn nhớ mọi người trong cơ quan đều rất kính nể cha tôi vì chữ viết đẹp, văn phong mạch lạc và giải quyết công việc chu đáo. Chỉ sau mấy năm công tác cha tôi đã được bổ nhiệm Phó phòng nghiệp vụ của Ty lương thực Ninh Bình. Có lẽ đó là chức vụ cao nhất của cha tôi trong suốt cuộc đời công tác. Bởi cha tôi không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt nam (lý lịch gia đình thời cải cách ruộng đất dù đã được sửa sai nhưng vẫn ảnh hưởng nặng nề đến cha tôi mỗi khi xét duyệt, chưa kể chút vốn tiếng Pháp và trình độ văn hóa lớp 6 bổ túc văn hóa được coi là khá cao cũng làm một số người đố kị, vì hầu hết cán bộ lúc đó đều là bộ đội chuyển ngành chỉ có trình độ lớp 2 lớp 3 bổ túc văn hóa), và một sự cố trong công tác khiến con đường công danh của cha tôi bị chặn đứng. Số là khoảng năm 1962-1963, có một gã nào đó tên Hùng giả danh cán bộ một đơn vị quân đội liên hệ mua cám gạo của nhà máy xay Thị xã thuộc quyền quản lý của cha tôi. Do mất cảnh giác và quá tin người, cha tôi ký duyệt cho hắn mua mấy tấn cám theo giá nhà nước quy định, và sau đó hắn bán ra ngoài kiếm được khoản chênh lệch khá lớn, bị bắt đi tù. Cha tôi bị truy cứu trách nhiệm liên quan và bị cách chức Phó Phòng xuống làm chuyên viên. Tôi còn nhỏ chỉ nghe cha mẹ tôi thì thầm cãi nhau về chuyện đó, mẹ tôi mãi sau này vẫn trách móc cha tôi mất cảnh giác làm khổ vợ con, đại ý khi cha tôi mang về cho mẹ tôi lạng cao hổ cốt mà gã Hùng biếu, mẹ tôi đã bảo phải cảnh giác mà cha tôi gạt đi và vẫn giải quyết bán cám cho hắn. Có lẽ sau sự cố đó, cha tôi cảm thấy không thể tiếp tục làm việc ở cơ quan cũ được nữa nên tìm cách chuyển công tác. Bởi có chút năng khiếu viết lách nên trước đó cha tôi đã là cộng tác viên của báo ngành, báo Lương thực thuộc Bộ Lương thực (ngày ấy chưa có Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn như bây giờ) và đã có nhiều bài viết, truyện ngắn, bút ký… trên các báo khác như Thủ đô Hà Nội, Phụ nữ Việt Nam… Vì thế khi cha tôi liên hệ chuyển công tác thì được Báo Lương thực chấp nhận ngay dù chuyển công tác về Hà nội thời đó rất khó. Và từ 1966 cha tôi trở thành phóng viên, rồi biên tập viên của báo Lương thực (sau này còn đổi tên nhiều lần : báo Lương thực-Thực phẩm, báo Nông nghiệp Việt Nam…). Trụ sở báo Lương thực lúc đó ở số 6 phố Ngô Quyền. Cha tôi phải ở tại phòng làm việc, ban ngày làm việc, tối trải chiếu xuống sàn để ngủ hoặc mùa đông lạnh nằm ngủ trên bàn làm việc luôn. Đến mùa hè năm 1969 lần đầu tiên tôi được cha cho lên Hà Nội chơi tôi cũng ngủ luôn với cha tại phòng làm việc như thế. Cho đến năm 1970 cha tôi mới dành dụm đủ tiền mua được một gian nhà cấp 4 rộng khoảng 8m2 ở khu lao động Trại Găng phố Bạch Mai và mới thoát khỏi tình cảnh ngủ trên bàn ở cơ quan. Chuyện nhà cửa của cha tôi xin nói tiếp ở phần sau.
Thuở tôi còn nhỏ khi ở thị xã Ninh Bình, thỉnh thoảng tôi được cha cho về quê Thái Bình thăm các bác. Cha tôi có một chiếc xe đạp nam của Pháp cũ, chắc là mua lại của ai đó. Từ Ninh Bình về Thái Bình khoảng cách gần 40 km, đi theo đường số 10 qua Nam Định, qua phà Tân Đệ. Tuy có đường tầu hỏa từ Ninh Bình đi Nam Định, có thể đi tầu hỏa sau đó đi xe đạp về quê thì đỡ mệt, nhưng thời đó mua vé tầu hỏa rất khó và đắt đỏ so với đồng lương cán bộ. Vì vậy cha tôi luôn chọn giải pháp đi xe đạp. Tôi được cha cho ngồi trên gióng ngang chiếc xe đạp nam của cha, còn mẹ tôi ngồi trên đèo hàng phía sau. Cha tôi gầy gò mà phải chở hai mẹ con tôi và một đống hành lý nên thật vất vả, xe đạp thì cũ kỹ, ọp ẹp, đường thì xấu, trời thì nóng. Vì thế cứ 5-7 km cha tôi lại phải nghỉ để uống nước cho đỡ mệt, đoạn đường chưa đến 40 km mà đi cả buổi sáng mới về đến quê. Tôi chỉ ngồi trên gióng ngang xe mà cũng đau hết cả mông lẫn người, mỗi lần xuống xe là tê chân đi không vững, nói gì đến cha tôi đạp xe mấy tiếng đồng hồ như thế.
Bên họ nội, cha tôi thương nhất anh Nguyễn Thượng Hiền, con trai thứ của bác Nguyễn Trọng Đạt, anh là giáo viên dạy học ở Thanh Hóa, vừa kết hôn xong thì đi bộ đội, và hy sinh ở chiến trường miền Nam khi còn rất trẻ. Nhưng trong 5 anh chị thì cha tôi quý nhất bà chị cả và con trai của bác là anh Vũ Huy Cẩn, cũng là bộ đội, là người thường xuyên quan tâm đến thăm và giúp đỡ gia đình tôi ở Hà Nội khi anh đóng quân ở Sơn Tây. Mỗi khi về quê, cha tôi thường ở nhà bác Đạt vì có vẻ hợp với bác, và cũng là dịp tâm sự về anh Hiền. Cha mẹ tôi cũng có một kỷ niệm sâu sắc với bác Đạt. Số là hồi còn ở Ninh Bình khi mới chuyển ngành sang Công ty lương thực, một buổi trưa mẹ tôi ra sông Vân lấy nước thì thấy một chiếc xe ca dừng lại cho người ngồi trên xuống xe nghỉ giải lao. Mẹ tôi phát hiện ra bác Đạt trong số người xuống xe chạy đến hỏi thăm. Té ra là xe chở phạm nhân là địa chủ bị kết tội trong cải cách ruộng đất đi trại giam ở Nho Quan. Bác Đạt là giáo viên nhưng bị quy là địa chủ vì có mấy mẫu ruộng của hồi môn bên nhà vợ, và có thêm một “sự cố oan sai” đó là khẩu hiệu của đội cải cách treo trước cửa nhà bác bị trẻ trâu xé rách nên đội cải cách quy chụp tội cho bác và xử án tù. Mẹ tôi thương quá mà không biết làm sao, đành dúi vội cho bác 5 đồng để bác có tiền dùng khi vào trại.
Khi chuyển công tác về Hà Nội, cha tôi cũng chịu khó đạp xe từ Hà Nội về Nho Quan thăm mẹ con tôi khi đó sơ tán lên xóm Trại Lạo, xã Đồng Phong. Khoảng cách từ Nho Quan lên Hà Nội gần 100 km lại trong thời chiến tranh phá hoại của Mỹ nên đi đường vừa nguy hiểm vừa vất vả. Vì mấy tháng cha tôi mới về nhà một lần nên các con đều mong ngóng, mỗi lần về cha tôi thường mang quà cho các con, khi thì bánh kẹo, khi thì manh áo mới, khi thì sách báo. Và cũng vì ở xa ít về được nên cha tôi tháng nào cũng gửi tiền lương cho mẹ tôi qua đường bưu điện, mỗi tháng gửi 10 đồng nuôi con. Khi ấy lương của cha tôi thuộc ngạch lương cán sự, chỉ được khoảng hơn 50 đồng, sau này tăng lương mấy lần lên được hơn 60 đồng, trong khi mức sống ở Hà Nội rất đắt đỏ và cha tôi còn dành dụm chuẩn bị mua nhà chứ không thể ngủ trên bàn làm việc ở cơ quan mãi được. Nhưng hình như cha tôi không muốn giải thích rõ nên mẹ tôi hay thắc mắc sao gửi tiền nuôi con ít thế và đôi lần tôi thấy cha mẹ tôi ấm ức với nhau, mãi khi tôi được cha đón lên Hà Nội dịp nghỉ hè năm 1969 tôi mới hình dung hết cuộc sống của cha tôi và nói lại với mẹ để mẹ đỡ thắc mắc. Tôi đã từng làm thêm cùng cha tôi ở cơ quan và hiểu cha tôi vất vả thế nào, số là thời ấy việc in ấn và phát hành báo của ngành chưa hiện đại như bây giờ, báo in xong chưa có máy gấp nên phải gấp bằng tay, sau đó cuộn lại và dán nhãn địa chỉ các nơi đặt báo rồi thuê bưu điện phát hành. Thế là cơ quan cha tôi tổ chức làm thêm : gấp tư tờ báo, đóng gói theo danh sách đặt báo của các tỉnh. Cả tháng hè tôi ở với cha cặm cụi gấp báo cùng các chú, các cô (tôi còn nhớ chú Vũ Kim Dũng và cô Oanh là hai đồng nghiệp thân thiết của cha) mỗi tuần một lần cũng được bồi dưỡng khoảng 2-3 đồng. Mỗi khi cơ quan thanh toán tiền, cha tôi lại cho tiền mua kem ở hiệu kem Hàng Vôi trước cổng cơ quan, mà kem là “đặc sản” tôi chưa từng được ăn khi ở Ninh Bình nên rất háo hức. Ngày chủ nhật cha tôi thường đèo tôi đi thăm những danh lam thắng cảnh của Hà Nội mà tôi vốn chỉ biết trong sách giáo khoa : hồ Gươm, chùa Một cột, hồ Tây…
Có lần cha tôi mời bằng được chú phóng viên ảnh của tòa soạn về Nho Quan cùng và chụp cho cả nhà một vài tấm ảnh, trong đó có tấm ảnh có mặt bà ngoại và cha tôi, nhưng sau đó cha tôi nhờ chú phóng viên ảnh khi in ảnh xóa luôn mặt cha tôi vì sợ cơ quan kiểm điểm việc lợi dụng máy và phim ảnh của cơ quan cho việc riêng. Thời ấy chụp ảnh còn là việc xa xỉ lắm, tôi có chút tiền để dành thỉnh thoảng cũng chỉ dám ra hiệu ảnh của ông Ái ở thị trấn Nho Quan chụp và in mấy tấm ảnh bé xíu cỡ 3x4 hoặc 4x6 cm. Cha tôi thường mua sách và truyện thiếu nhi cho tôi, ở Hà Nội dễ mua chứ ở tỉnh lẻ thì hiệu sách thường phân phối chứ ít bán lẻ. Tôi được mẹ đặt cho tuần báo Thiếu niên tiền phong vì ở xóm tôi còn là liên đội trưởng thiếu niên và chủ nhiệm hợp tác xã măng non, nhưng bưu điện thường làm mất hoặc chuyển chậm. Tôi quý tờ báo này kinh khủng nên cứ thiếu số nào lại viết thư nhờ cha tôi tìm mua ở Hà Nội và mang về cho tôi, cứ được 20 tờ tôi lại dùng kim khâu bao gạo của mẹ tôi đóng lại thành một tập và cất kỹ cùng với sách truyện trong một cái hòm gỗ có khóa, vì bà ngoại cũng hay xé báo của tôi làm giấy vệ sinh (thời ấy làm gì có giấy vệ sinh như bây giờ, dân làng đều dùng lá cây hay giấy xi măng, bìa cứng… cho nhu cầu vệ sinh). Mỗi khi tôi khóc mếu vì báo bị bà xé mất, bà lại lườm tôi và mắng “mày lại coi tờ báo hơn cả bà ngoại mày à?”
Cha tôi rất thương các con, nhất là con gái. Cha không hay đánh mắng con, không dùng roi vọt, chỉ khi nào tôi không ngoan thì bị mắng và cùng lắm là cốc cho một cái vào đầu đau điếng, Tôi còn nhớ mãi Tết năm 1966 trong lúc cha tôi tiếp khách thì tôi cứ trêu em làm cô em khóc váng lên, thế là bị cha tôi cốc một cái rất đau. Sau này cũng vì chiều cô con gái thứ hai mà cha tôi mâu thuẫn với mẹ tôi đến mức kinh khủng, vì mẹ tôi rất khác với cha tôi, cực kỳ nghiêm khắc với các con, hay bắt con nằm sấp rồi dùng roi đét vào mông. Thậm chí mẹ tôi còn giao quyền cho tôi – con trai trưởng – cai quản các em và được dùng roi phạt mỗi khi các em tôi có lỗi. Hoặc khi bà ngoại tôi mách tội các em gái nếu tôi không xử lý thì mẹ tôi đi làm về sẽ trị tội tôi. Vì thế em gái tôi vẫn còn ấm ức đến giờ về ông anh “xấu tính” hay bắt nạt các em.
Cha tôi cũng được bà ngoại tôi nể trọng. Khi nhà tôi bắt đầu đi sơ tán lên Nho Quan thì bà ngoại đến sống cùng chúng tôi, năm ấy bà đã gần 70 tuổi, lưng bắt đầu còng nhưng bà còn khỏe mạnh và sáng suốt, đặc biệt bà làm việc rất chăm chỉ. Cha mẹ tôi mua được mảnh đất 4 sào Bắc bộ (khoảng 1440 m2) đầu xóm Trại Lạo, làm được ngôi nhà tranh 3 gian. Mảnh đất ấy nhờ các bác các chú người quen cũ thời kháng chiến chống Pháp mua giúp với giá 200 đồng, làm nhà mất khoảng 50 đồng vì các bác trong xóm giúp nhiều vật liệu như tre, tranh lợp và công sức. Trừ diện tích nhà và sân khoảng 100 m2, diện tích còn lại bà ngoại tôi trồng rau, mùa nào thức ấy. Trại Lạo lại là đất trồng chè xanh nổi tiếng của huyện Nho Quan, thành ngữ “chè Trại Lạo, gạo Phú Sơn” nói lên điều đó, nên bà ngoại và mẹ tôi cũng tích cực trồng chè một góc vườn, tôi và em gái thường xuyên phải hái chè và đội ra chợ bán. Ở Nho Quan bán chè theo đơn vị đo là nón, tức là đong chè đầy một nón đội đầu để tính tiền, mỗi lần đi chợ một thúng chè xanh chỉ được 3-4 nón và bán được trên dưới 1 đồng nhưng cũng đủ trang trải các khoản chi tiêu của gia đình. Vườn nhà tôi được bao bọc 2 phía bởi lũy tre dày đặc, người không thể chui qua được vì tre lắm gai. Tôi nhớ trước nhà tôi là một cây muỗm lớn, quả to và ngon không kém xoài cát Hòa Lộc bây giờ (hay tại thời xưa đói kém nên ăn gì cũng ngon), và xung quanh vườn còn nhiều cây nhãn hình như là giống nhãn lồng, chỉ khác nhãn lồng Hưng yên là hạt nhãn hơi to, đến mùa nhãn ra quả bà ngoại tôi làm những cái lồng nhỏ bằng tre (tiếng địa phương gọi là sóp) bao bọc chùm quả nhãn để tránh bị chim và chuột ăn, nhãn nhà tôi bán được giá nên mùa nhãn thực sự đem lại thu nhập đáng kể. Ngoài ra, bà ngoại tôi cũng khoán cho 2 anh em tôi mỗi ngày phải cuốc và làm cỏ khoảng 50 m2 vườn để bà trồng rau, khoai, sắn, lạc … Mẹ tôi làm cửa hàng trưởng lương thực thị trấn nên cả nhà được tiêu chuẩn gạo nhà nước, thực phẩm tự túc được nên nhà tôi thuộc loại khá giả trong xóm. Mỗi lần cha tôi về bà ngoại lại nấu ăn ngon và đôi khi thịt gà nên anh em tôi lại càng mong cha về.
Năm 1971, tôi tốt nghiệp phổ thông, đủ điều kiện đi học nước ngoài vì năm học lớp 10 tôi đạt giải nhất học sinh giỏi văn của tỉnh và dự kỳ thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc, nên được ban tuyển sinh Tỉnh Ninh Bình thông báo thi đại học khối A để đi học nước ngoài. Phút chót, mẹ tôi lại được thông báo tôi không được đi nước ngoài vì gia đình chưa có ai đi bộ đội nên phải học trong nước để có thể nhập ngũ. Mẹ tôi tức tốc chở tôi xuống thị xã, tìm Ban tuyển sinh lúc ấy sơ tán ở Trường Yên để đấu tranh đòi quyền lợi cho tôi, vì tôi là con trai duy nhất, và mẹ tôi trước đây đã từng là bộ đội chống Pháp, nhưng ông trưởng ban tuyển sinh tỉnh dứt khoát không chịu. Mẹ tôi làm ầm lên, thậm chí khóc mếu, nhưng kết quả tôi vẫn phải thi trong nước. Ban tuyển sinh tự xếp tôi thi Bách Khoa (khối A) mặc dù nguyện vọng của tôi là thi Tổng hợp văn (khối C). Khi ấy tôi chưa có khái niệm gì về trường Bách khoa, chỉ đôi lần cha tôi cho lên Hà Nội chơi nhìn thấy qua cửa sổ tàu hỏa cái cổng vòm parabol và cầu thang xoắn đầu nhà C9 thì có ấn tượng đó là trường Bách khoa thôi. Khi tôi thi xong chờ mấy tháng tôi vẫn không nhận được giấy gọi của trường, trong khi bạn bè cùng lứa lần lượt được báo điểm và gọi nhập học, một số đủ tuổi thì xã giữ lại để đi bộ đội. Tôi viết thư cho cha tôi nhờ vào trường hỏi kết quả thi thì bất ngờ được biết tôi đã thi đỗ và trường đã phát giấy báo nhập học từ lâu rồi. Mẹ tôi đi hỏi thông tin ở huyện và xã mới tá hỏa là xã ém nhẹm giấy gọi nhập học của tôi để giữ tôi đi bộ đội. Lại ầm ĩ một lần nữa vì mẹ tôi bảo tôi mới 16 tuổi chưa đủ tuổi nhập ngũ, phải cho tôi đi học còn khi nào đủ tuổi sẽ đi bộ đội từ trường đại học cũng được. Cha tôi cũng vào Bách khoa xin lại giấy báo nhập học gửi về. Cuối cùng xã nhượng bộ và tôi được đi học. Cha tôi đón tôi lên Hà Nội và dẫn tôi vào trường, nhập học muộn khoảng 1 tuần so với các bạn. Sau này cha tôi kết thân với ông Đào Hữu Quản, trợ lý tổ chức khoa Điện của Bách khoa nên tôi cũng được khoa quan tâm, quản lý chặt hơn các bạn khác. May mà học giỏi nên cũng ổn.
Có thể nói cha tôi là người căn cơ, chăm lo cho gia đình. Lên Hà Nội 4 năm, cha tôi dành dụm được ít tiền liền chung mua với ông Đê – một người cháu họ - 2 gian nhà nhỏ trong khu tập thể Trại Găng, mái nứa và vách tooc-xi. Ông Đê là cháu họ cha tôi nhưng nhiều tuổi hơn cha tôi và là thợ mộc giỏi chuyên đóng đồ gỗ và mây tre cao cấp, tôi cứ quen gọi là bác Đê. Tuy thoát được cảnh ngủ trên bàn làm việc ở cơ quan, nhưng cha tôi lại phải chống chọi với nhiều khó khăn khác : đường vào lầy lội, nhà dột khi có mưa, khu lao động nên trộm cắp nhiều, đi vắng là không yên tâm, không có nước sạch. Thời ấy Hà Nội chỉ có rất ít máy nước, thường phải lấy nước ở các máy nước công cộng ngoài vỉa hè phố, mà áp lực nước rất yếu, ban ngày nước chảy ri rỉ, đêm mới chảy mạnh hơn, dân chúng phải thức đêm xếp hàng xô chậu hứng nước dài hàng mấy chục mét trên vỉa hè. Cha tôi bận đi làm và sức yếu nên không thể lấy nước ở vòi cách nhà hàng trăm mét được nên đành lấy nước ở nhà vệ sinh công cộng. Cần nói thêm là khu lao động Trại Găng có mấy dãy nhà cấp 4 lụp xụp gồm hàng trăm hộ dân nhưng chỉ có một nhà vệ sinh công cộng, và có một vòi nước máy chảy vào một cái bể nước để dội nước vệ sinh. Gian nhà của cha tôi mua (tôi còn nhớ nhà số 1 lô 3) lại ở ngay cạnh nhà vệ sinh công cộng, mùa hè mùi hôi thối bốc lên kinh khủng, chiều chiều đi làm về cha tôi lấy mấy cái xô nhỏ hứng nước từ vòi trong nhà vệ sinh đem về dùng. Năm 1971, tôi đang học năm thứ nhất Bách Khoa, được ở ký túc xá có nước sạch, chỉ cuối tuần ra ăn cơm với cha, tôi cũng nhiều lần thấy ghê ghê khi hứng nước trong nhà vệ sinh về nấu cơm, mãi rồi cũng quen. Một sự kinh hoàng nữa là muỗi, khu tập thể ẩm thấp và ô nhiễm nên muỗi nhiều vô kể, cha tôi nằm màn mà vẫn bị muỗi đốt vì màn rách và nhà chật. Chưa kể trời nóng thì không thể ngủ được vì điện yếu mà lại không có quạt điện. Mãi sau năm 1970 cha tôi mới có cái quạt điện tai voi của Liên Xô – là phần thưởng cuộc thi thơ của Thông tấn xã Novosti Liên Xô nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lê-Nin mà cha tôi sáng tác bài thơ “Trăm năm trái đất sang tên Người” và được giải ba. Đó cũng là lần đầu tiên cha tôi mặc com-lê vào Đại sứ quán Liên Xô nhận thưởng. Nhờ cái quạt tai voi ấy mà cha tôi đỡ khổ khi chống chọi với nhiều mùa hè oi nóng của Hà Nội ở Trại Găng và Vân Hồ sau này. Cuối tuần tôi thường đi bộ từ ký túc xá B6 qua cổng Bạch Mai ra Trại Găng ăn cơm với cha. Đôi lần cha tôi dẫn tôi ra nhà ông thợ may ở mặt phố Bạch Mai để may đo hoặc sửa chữa quần áo cho tôi. Ông thợ may tên là Đích, Việt kiều ở Thái Lan về nước năm 1962, có con trai đi bộ đội và hy sinh ở chiến trường miền Nam như trường hợp anh Hiền con Bác Đạt quê tôi nên cha tôi rất đồng cảm. Ông Đích có một cô con gái, học kém tôi vài lớp và tôi chỉ thấy loáng thoáng qua hàng rào mỗi lần đi lấy nước, sau này cô ấy đi nước ngoài học Hóa học ở Tiệp Khắc, và tình cờ gặp lại ở AIT Bangkok tôi mới biết cô ấy cũng là giảng viên Bách khoa và sang học Master sau tôi 2 term.
Sau ngày Mỹ ném bom Hà Nội bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 ngày 16/4/1972, tôi đi sơ tán theo Trường Bách khoa lên huyện Việt Yên (Hà Bắc) thì cha tôi cũng phải đi sơ tán theo cơ quan lên vùng Xuân Mai (Hòa Bình), có vài lần tôi về Hà Nội vẫn tìm về Trại Găng gặp cha và ngủ lại vài đêm. Cha tôi cũng kết hợp đi công tác ghé qua Việt Yên thăm tôi và tiếp tế đồ ăn, tiền tiêu vặt cho tôi. Tôi rất thương cha tôi phải đạp xe hàng trăm cây số dưới trời nắng và bom đạn, tôi vẫn còn lưu trong sổ tay một bài thơ viết cho cha hồi đó có tiêu đề “Lòng Cha” :
“Cha đến thăm con,
Khi nắng chiều đã ngả.
Có phải không cha, bụi đường vất vả
Đọng trên trán cha đã thêm những nếp nhăn.
Lòng cha thương con,
Mênh mông hơn nẻo đường xa nắng lửa.
Mồ hôi ơi xin đừng chảy nhiều thêm nữa,
Gió nổi lên đi quạt mát cho cha…
Cha nằm bên con, ủ ấm tình thương
Đêm bỗng trôi qua trong chốc lát…
Sáng mai, cha lại lên đường công tác,
Nắng bỏng lưng, áo cha chắc ướt đầm.
Lòng con muốn thành đám mây bông
Che mát cho cha suốt chặng đường xa lắc.
Con đứng đây giữa đồng quê phương bắc
Nhìn theo cha nỗi nhớ lại trào dâng,
Lắng bước cha đi trong tiếng máy bay gầm…
…Đường dài nắng lắm cha ơi,
Thủy triều nỗi nhớ chưa vơi đã đầy”.


Năm 1972 cũng là năm chiến tranh ác liệt nhất. Tôi đi sơ tán cùng trường Bách khoa, mấy tuần đầu tiên sau ngày 16/4/1972 chúng tôi sơ tán ở Chương Mỹ, Hà Tây. Ngay lập tức có đợt tuyển quân đầu tiên, gần 1/3 sinh viên khóa tôi nhập ngũ. Tôi chưa đủ tuổi vì đến thời điểm ấy tôi còn hơn một tháng nữa mới tròn 17 tuổi nên không được vào danh sách đi bộ đội đợt tháng 5/1972. Các bạn tôi may mắn nhập ngũ đợt này được đi Liên Xô học sử dụng tên lửa SAM-3. Có lẽ ngay từ lúc ấy lãnh đạo Việt Nam đã nhận thấy mối nguy hiểm của chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ với mối đe dọa của “pháo đài bay” B52, trong khi pháo cao xạ và tên lửa SAM-2 không đủ để chống lại. Tôi cũng muốn đi bộ đội, thậm chí viết đơn tình nguyện và trích máu ngón tay ký đơn, nhưng không được chấp nhận. Các bạn đi rồi, số chúng tôi còn lại di chuyển lên địa điểm sơ tán mới : làng Chàng, Việt Yên, Bắc Giang, cách Hà Nội hơn 50 km. Chúng tôi có nhiệm vụ lao động khôi phục máy móc thiết bị điện tại Tổng kho của Tổng công ty điện lực bị trận lụt lịch sử năm 1971 làm hư hỏng. Hàng nghìn thùng máy móc và sứ cao thế đặt trong các lán trại trên các đồi bạch đàn đã được chúng tôi tháo dỡ, bảo dưỡng và sửa chữa.
Đến tháng 9 năm 1972 lại có đợt tuyển quân thứ hai. Lúc này chiến trường Quảng Trị đang rất căng thẳng, nhất là chiến dịch Thành cổ. Lớp tôi lại có thêm mấy bạn được gọi nhập ngũ, tôi và bạn Nguyễn Quốc Dũng cũng nằm trong danh sách đi đợt này, thậm chí tôi đã được gọi tập trung chuẩn bị nhận quân trang, đã liên hoan chia tay các bạn trong lớp. Tôi còn nhớ trong đêm liên hoan đã hát tặng các bạn bài hát “Bài ca Trường Sơn” được Dũng khen hay. Nhưng cũng lại chuyện chưa đủ tuổi nên sau vài ngày tôi bị trả lại trường. Tôi gặp trợ lý tổ chức khoa đề đạt nguyện vọng, ông ấy bảo tôi chưa đủ tuổi nên nếu muốn đi thì cha mẹ tôi phải cùng ký vào đơn mới được xem xét. Tôi viết thư cho cha và mẹ tôi xin ký vào đơn tình nguyện của tôi. Mẹ tôi khóc vì thương tôi nhưng đồng ý ký, bởi mẹ tôi – được kết nạp đảng từ năm 18 tuổi khi còn mù chữ - là người mà ngày ấy thường được gọi là “bôn sệt” nghĩa là rất cách mạng và lý trí đến mức tuyệt đối, và tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều từ mẹ, cũng tuyệt đối hóa lý tưởng và thực sự muốn đi bộ đội trực tiếp chiến đấu đóng góp cho đất nước (thời ấy rất nhiều người như thế). Nhưng cha tôi thì không chịu ký. Cha tôi bảo có mỗi mình tôi là con trai, chiến tranh thì ác liệt, nhỡ tôi có mệnh hệ gì thì cha tôi không chịu nổi. Nhiều tháng sau này tôi về thăm mẹ tôi ở Phủ Lý (Hà Nam), mẹ tôi kể : bố mày cãi nhau với mẹ rất căng thẳng, thậm chí bố mày còn bảo mày chỉ được cái ra vẻ gì đó, không quan tâm đến nỗi khổ của ai. Mặc dù có một đêm tôi từ Bắc Giang về Hà Nội ngủ với cha tôi ở Trại Găng, tôi khẩn khoản xin cha tôi ký đơn, cha tôi khóc và lắc đầu. Nước mắt đàn ông thật có sức thuyết phục và đáng sợ, tôi không dám mè nheo nữa. Thế là đơn của tôi không có chữ ký của cha, đương nhiên không được xem xét, cuối cùng chỉ có hai bạn lớp tôi nhập ngũ đợt tháng 9, làm lính bộ binh vào chiến trường và may mắn đều chỉ là thương binh, sau này quay về học tiếp sau tôi 3-4 khóa. Đã một thời gian tôi oán trách cha tôi nhiều lắm, nghĩ đơn giản tại sao cha tôi lại ngăn cản nguyện vọng làm nghĩa vụ với Tổ Quốc của tôi. Nhưng đến khi có con của mình, tôi mới thấy hiểu lòng cha tôi, và tôi biết ơn cha tôi vì sự lựa chọn khó khăn thời ấy.
Tuy tôi không đi bộ đội đợt ấy nhưng tình hình chiến tranh ngày càng căng thẳng và nếu còn kéo dài tôi cũng sẽ đủ tuổi và lúc đó chắc chắn không cần cha tôi ký đơn thì tôi vẫn phải đi bộ đội. Cha tôi lo lắng mất ăn mất ngủ. Lúc ấy mẹ tôi đã chuyển công tác từ Nho Quan ra thị xã Phủ Lý (theo ý tưởng dịch chuyển dần về gần Hà Nội) và làm cửa hàng trưởng cửa hàng lương thực thị xã Phủ Lý, ngay cạnh bờ sông. Hai em gái tôi thì mẹ tôi phải gửi đi Vĩnh Trụ cách Phủ Lý khoảng 10 km để đi học vì Phủ Lý là ngã ba từ Hà Nội đi Nam Định và Ninh Bình, là địa điểm bị ném bom rất thường xuyên. Chắc cha tôi sợ năm sau tôi đi bộ đội, nên không biết cha mẹ tôi bàn tính thế nào mà quyết định phải có thêm một đứa con, hy vọng là con trai, để dự phòng cho tình huống xấu nhất. Kết quả là tháng 6 năm 1973 tôi có thêm đứa em út, nhưng vẫn là con gái. Khi Mỹ ném bom Hà Nội bằng B52 và trận Điện Biên Phủ trên không cuối tháng 12/1972, chúng tôi đã chuyển về xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang, gần Hà Nội hơn, đêm đêm nhìn bầu trời Hà Nội rực sáng vì đạn pháo và tên lửa cùng tiếng nổ rền vang của bom Mỹ, tôi lại thấy lo lắng cho cha tôi vô cùng. May mắn, cuối cùng Mỹ dừng ném bom và chịu ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 nên không có đợt tuyển quân tiếp theo, tôi lại trở về Hà Nội học tiếp từ tháng 2/1973 sau Tết âm lịch. Khi mẹ tôi sinh em bé, tôi đã 18 tuổi, được tin của mẹ tôi rất ngượng vì trong khóa học của tôi chẳng có đứa nào lớn tướng như tôi lại còn có em bé thế. Tôi xin phép về thăm mẹ mà không dám nói với ai là mình về bế em. Hòa bình rồi nên các em tôi cũng về Phủ Lý đi học và ở cùng mẹ tôi trong gian nhà kho bờ sông. Tội nghiệp cả nhà tôi vì gian nhà nhỏ liền với kho gạo, ẩm thấp và mọt gạo nhiều kinh khủng, buổi tối mọt bay đầy trời nên phải ăn cơm trong màn, điện không có nên thắp đèn dầu, mùa hè nóng không ngủ được. Tôi biết cha tôi mừng và yên tâm, vì nhà có thêm con mà tôi vẫn ổn, tôi cảm nhận được cha tôi cưng chiều tôi hơn thông qua cách cư xử khi tôi ra Trại Găng ăn cơm cuối tuần cùng cha.
Ở Trại Găng được khoảng 3 năm thì cha tôi và ông Đê một lần nữa mua chung 2 gian nhà nhỏ cạnh nhau ở số 89 Vân Hồ 3, vừa rộng hơn một chút, vừa sạch sẽ hơn và tiện nghi hơn, nước máy cũng gần hơn. Khi đó tôi đã về lại trường Bách khoa đi học tiếp và cuối tuần lại chạy bộ từ ký túc xá B6 ra Vân Hồ qua cổng Đại Cồ Việt. Từ khi vào đại học tôi được học bổng 18 đồng/tháng nên đỡ gánh nặng cho mẹ, vì lúc đó mẹ còn phải nuôi 2 em gái tôi đi học, sau này còn thêm em gái út. Cha tôi vẫn gửi tiền cho mẹ tôi và chịu thêm trách nhiệm chu cấp tiền tiêu vặt cho tôi, vì học bổng chỉ đủ 60 bữa ăn chính ở nhà ăn tập thể sinh viên. Mỗi tuần ra ăn cơm với cha, tôi lại được nhận 1,5-2 đồng tiêu vặt, số tiền đủ ăn sáng cả tuần và mua bút giấy, thỉnh thoảng tôi còn phải xin thêm cha tiền mua từ điển, sách kỹ thuật hoặc thước tính… Cha tôi vẫn tự mình đi chợ, nấu ăn, cơm niêu nước lọ suốt mấy năm trời.
Lúc tôi lên Hà Nội đi học, tôi mang theo cái xe đạp thiếu nhi Đức màu xanh lá cây – phần thưởng cha mẹ dành cho tôi từ năm học lớp 9 vì thành tích học giỏi. Cả trường cấp 3B Nho Quan lúc ấy chỉ có mấy đứa được tiêu chuẩn phân phối xe đạp do Đức viện trợ, xe sơn xanh cả khung và vành bánh, cỡ vành 600, giá mua 220 đồng, nhiều hơn tiền mua 4 sào vườn nhà tôi. Thương con nên cha mẹ tôi cố mua, thậm chí vay tiền họ hàng mãi mới trả hết. Tôi đi học xa nên từ khi có xe đạp đỡ vất vả nhiều. Cha tôi bán nhà Trại Găng mua nhà Vân Hồ nên phải bán cái xe đạp Pháp nam cũ mới đủ tiền, và tôi mang xe của tôi lên cho cha sử dụng. Nhìn cha tôi đi cái xe đạp thiếu nhi thấp bé rất buồn cười, bọn bạn tôi cứ bảo cha tôi đi xe “Peugio con vịt”. Thế mà cái xe đạp ấy đã chở cha tôi đi hàng nghìn cây số, mấy lần đi thăm tôi ở nơi sơ tán cha tôi cũng đi cái xe thiếu nhi ấy.
Sau Đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, cha tôi được cơ quan điều động vào bộ phận thường trú của báo Lương thực-Thực phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh, hình như từ đầu năm 1976. Lúc ấy đi lại giữa hai miền Nam-Bắc còn khó khăn, hai miền vẫn chưa dùng chung một đồng tiền, ngoài Bắc vẫn dùng đồng tiền cũ của Ngân hàng nhà nước phát hành, còn miền Nam dùng đồng tiền Giải phóng, có mệnh giá tương đương 1 ăn 1 nhưng không tiêu lẫn được. Thời gian đầu dù cùng mệnh giá nhưng tiền Giải phóng vẫn có giá trị hơn, có lẽ vì hàng hóa phía Nam phong phú hơn và tốt hơn nên mua hàng đem ra Bắc có chênh lệch lợi nhuận lớn. Tôi vào ký túc xá ở, làm đồ án tốt nghiệp và cuối năm 1976 bảo vệ tốt nghiệp đạt loại xuất sắc, được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy và giữa năm 1977 chuyển lên ở khu tập thể độc thân của cán bộ, 3 người một phòng khoảng 26 m2 trong tòa nhà A1. Khi cha tôi đi thường trú Sài Gòn dài hạn, cha tôi bán gian nhà ở Vân Hồ và mang tiền đổi tiền Giải phóng đem vào Sài Gòn. Tôi còn nhớ địa chỉ cơ quan thường trú của cha tôi là 213 Đồng Khởi, Quận 1, Thành phố HCM vì hàng tuần tôi và cha tôi đều viết thư cho nhau. Lâu lâu cha tôi kết hợp công tác ra Hà Nội bằng tầu hỏa hoặc ô tô cơ quan lại mang theo một số hàng hóa Sài Gòn, lúc ấy thực sự là của quý, nhất là các anh bộ đội về phép ai cũng mang theo cái khung xe đạp, con búp-bê nhựa cho đến radio Nhật cũ… Năm 1977 và 1978, cha tôi mua được cái tủ lạnh Sanyo còn khá mới, một cái quạt điện 4 số tốc độ rất đẹp kiểu “nồi đồng cối đá” của Nhật và một dàn máy quay băng cối AKAI kèm các cuộn băng nhạc của Khánh Ly- Trịnh Công Sơn, mỗi buổi chiều mở nhạc là cả tầng khu tập thể kéo đến nghe rất vui.
Đầu năm 1978, cha tôi kết thúc thời gian thường trú và được rút về Hà Nội, cha mẹ tôi bàn bạc để gia đình đoàn tụ, vì suốt mười mấy năm từ khi cha tôi lên Hà Nội, mẹ tôi và các con phải sống xa cha tôi, lúc ở Nho Quan, lúc ở Phủ Lý. Cha mẹ tôi bắt đầu cảm thấy tuổi già ập đến không thể đi lại nhiều như trước được nữa. Vì thế cha tôi tìm cách chuyển công tác cho mẹ tôi về Hà Nội. Nhưng để mẹ tôi về Hà Nội thì phải chuẩn bị nhà cửa, chứ mấy năm cha tôi đi thường trú Sài Gòn, mỗi lần ra Hà Nội mấy tuần cha tôi phải ở cùng tôi trong phòng tập thể, hai cha con nằm chung một cái giường cá nhân. May là cha tôi dành dụm được một món tiền nên đi tìm mua đất làm nhà, chấp nhận xa trung tâm thành phố một chút thì mới đủ tiền mua đám đất nhỏ và làm nhà cho mẹ con tôi. Cha tôi mua được 100 m2 đất của ông Tư Giá trong làng Khương Thượng, Quận Đống Đa, giá mua khoảng 25 đồng/m2. Mảnh đất bên cạnh một cái ao lớn, đường vào ngoắt nghéo vòng thúng nhưng sạch sẽ vì được lát gạch như các làng cổ. Và ngôi nhà cấp 4 lợp ngói 3 gian khoảng 48 m2, tường xây con kiến, nền gạch hoa đã được xây dựng. Hai cha con thay nhau trông thợ, mua vật liệu và tự thiết kế ngôi nhà đầu tiên của gia đình. Vì không tính hết các khoản chi phí nên thời gian cuối thiếu tiền, tôi bàn với cha tôi bán cái tủ lạnh, lúc ấy có thể bán được 2000 đồng, nhưng cha tôi tiếc công mang tủ lạnh từ Sài Gòn ra nên nhất định không bán, chỉ bán dàn máy AKAI mà cha tôi cũng rất quý (nhưng đã cũ kỹ hư hỏng nhiều nên không được giá) để hoàn thiện ngôi nhà chứ phải giữ cái tủ lạnh để “kinh doanh”, vì hồi ấy có mốt dùng tủ lạnh làm nước đá viên bán cũng được tiền, mặc dù tủ lạnh nhà tôi chạy cả đêm cũng chỉ được 2 khay đá nhỏ, mỗi khay khoảng 1 kg đá, nhiều hôm điện yếu còn không được mẻ nước đá nào.
Cuối cùng nhà đã làm xong, nhà có cửa chính rộng và hai cửa sổ nhìn ra phía ao. Cha tôi không muốn mở cửa sổ phía sau nhà vì sợ trộm cắp. Ngõ vào nhà cũng nhỏ, chỉ đủ dắt xe đạp, có một cánh cổng gỗ nhỏ có khóa. Nhà hàng xóm tôi còn nhớ là nhà ông Hải, xây to đẹp hơn nhà tôi nhiều. Cha tôi cũng xây một gian bếp nhỏ và nhà vệ sinh cạnh bờ ao. Tiếc là thời xưa nghèo khó tôi chẳng có được một tấm ảnh lưu niệm nào về ngôi nhà.
Cha tôi xúc tiến thủ tục chuyển công tác cho mẹ tôi, cái khó là phải lo hộ khẩu cho cả nhà gồm mẹ tôi, hai em tôi và bà ngoại tôi (lúc ấy em Vân đã đi học ở nước ngoài), cha tôi phải cầu cứu đến tận Bộ trưởng Ngô Minh Loan, may là mẹ tôi cũng được lãnh đạo Bộ biết đến do có nhiều thành tích và được khen thưởng nên có phần thuận lợi. Ngày 19/9/1978, Bộ Lương thực – Thực phẩm có quyết định chuyển công tác cho mẹ tôi về Hà Nội và ngày 25/10/1978 Sở Lương thực Hà Nội có quyết định tiếp nhận mẹ tôi, phân công làm cửa hàng trưởng Cửa hàng lương thực Ngã tư Sở thuộc phòng lương thực khu phố Đống Đa (ngày ấy chưa gọi là quận), nơi làm việc mới của mẹ tôi khá gần nhà. Ngay trong tháng 10/1978, bà ngoại, mẹ và các em tôi đã lên Hà Nội và về luôn nhà mới.
Làng Khương Thượng vốn nổi tiếng là làng “chặt đầu, lột da”, bởi hầu hết các hộ dân trong làng đều có nghề truyền thống là làm chả nhái và chim quay, đêm nào cũng đi ra ngoại thành bắt nhái về làm chả nhái cung cấp cho các chợ đầu mối, cả làng đêm đêm vang tiếng dao thớt. Mùa chim ngói hay chim sẻ thì đặt bẫy, giăng lưới bắt chim, vặt lông rồi bán cho các nhà hàng làm món chim quay, lông chim bay khắp làng. Cả làng chỉ có một cái máy nước ở bên kia cái ao, đối diện nhà tôi, ban ngày hầu như nước không chảy, đêm mới có nước chảy mạnh nên các hộ dân phải xếp hàng các loại xô, thùng lấy nước suốt đêm. Nhà tôi cũng xây một bể chứa nước khoảng 2 m3, tôi và em Hoa mỗi tuần một lần trực đêm thay nhau gánh nước về đổ đầy bể đủ dùng cho ăn uống cả tuần. Dĩ nhiên giặt giũ thì dùng nước ao hoặc đêm khuya đem quần áo ra máy nước giặt, vì gánh nước chạy hơn 300 m thì anh em tôi quá mệt. Khi trời mưa thì hứng thêm nước mưa giọt gianh cũng đỡ phải đi gánh xa. Tôi vẫn ở tập thể A1 Bách Khoa để giữ tiêu chuẩn nhà, dù phải ở 3 người một phòng, cũng vay mượn tiền mua được một cái xe đạp Sài Gòn ở chợ Trời giá 400 đồng, hàng tuần chạy về Khương Thượng thăm bà, thăm cha mẹ và các em, cùng em Hoa gánh nước đêm.
Khi mọi việc có vẻ ổn, thì đầu năm 1979 tình hình biên giới phía Bắc lại căng thẳng, và ngày 17/2/1979 Trung Quốc bất ngờ tấn công toàn tuyến biên giới mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược. Đầu tháng 3/1979 Chủ tịch nước ban hành lệnh Tổng động viên. Thanh niên các quận huyện nhập ngũ rất đông. Nhưng sinh viên và giảng viên các trường đại học thì không thấy gọi khám sức khỏe, chỉ phải đi xây dựng phòng tuyến sông Cầu chuẩn bị cho tình huống chặn quân Trung Quốc đánh xuống Hà Nội. Tôi đang là cán bộ giảng dạy và cán bộ Đoàn nên tham gia nhiều hoạt động, mít-tinh, biểu tình, đi lao động cộng sản… Sau khi Trung Quốc tuyên bố rút quân, tình hình chùng xuống và ở Hà Nội mọi việc có vẻ trở lại bình thường. Tôi nghĩ sau khi đi làm 2 năm cũng phải tính chuyện lập gia đình, tôi biết cha mẹ tôi cũng mong như vậy vì tôi là con trai một. Lúc ấy tôi đã có người yêu do một chị bạn cùng bộ môn mai mối. Tôi thưa chuyện với cha mẹ và được ủng hộ, cha mẹ tôi sang nói chuyện với cha mẹ vợ tôi, hai bên đều hài lòng và ấn định ngày cưới là 9/12/1979. Tôi biết cha tôi vui lắm. Cha tôi lập tức mua thêm 30 m2 đất nữa của ông Tư Giá và xây nối thêm một gian nhà nhỏ cho tôi lấy vợ, có cửa sổ nhìn ra phía khu tập thể trường đại học Y Hà Nội. Tiếc là sau ngày cưới, tôi vẫn trụ lại nhà tập thể của Bách Khoa, vừa để tiện đi làm, vừa giữ chỗ để còn xin nhà riêng vì thỉnh thoảng trường cũng có một số nhà cấp 4 phân phối cho cán bộ, hoặc thành phố cấp đất cho cán bộ tự xây nhà.
Tháng 9 năm 1980 con trai đầu lòng của tôi ra đời tại nhà hộ sinh A Ngô Quyền, tôi đón cả hai mẹ con về Bách Khoa và suốt ngày lo cơm nước, giặt giũ, đi chợ... Công việc ấy thời nay thì không có gì phải kể, nhưng thời xưa thì cơ cực. Hãy hình dung cả tầng nhà có 12 phòng tập thể khoảng hơn 30 hộ gia đình ở lẫn với cán bộ độc thân, chỉ có 2 nhà vệ sinh chung ở hai đầu tầng, nước chỉ bơm theo giờ, điện thì vừa yếu vừa phập phù, buổi tối mới có điện, bóng điện chỉ sáng lờ mờ, hầu như không dám dùng bếp điện vì trường quy định ai dùng bếp điện sẽ bị kỷ luật. Tôi dùng bếp dầu, đến bữa thì đem ra hành lang nấu cơm, nấu xong lại đem cất vào gầm giường, phòng thì nhỏ được ngăn bằng ri-đô, đêm ngủ toàn ngửi mùi dầu hỏa. Buổi tối nghe tiếng máy bơm nước thì ôm chậu quần áo ra đầu tầng giặt, phơi quần áo ngay trước cửa phòng. Hàng tuần tôi chở vợ con về thăm cụ ngoại và ông bà nội. Cụ ngoại đã có mấy lần bồng bế chắt của cụ nên sau này khi cụ về quê với bác Nho cụ vẫn hay nhắc đến thằng chắt.
Khi con trai tôi được 3 tháng tuổi thì một sự kiện bất ngờ xảy đến. Tôi bị sốt xuất huyết phải vào nằm điều trị ở bệnh viện Bạch mai đầu tháng 12/1980. Chưa kịp ra viện thì tôi nhận được giấy báo khám sức khỏe của khu phố Hai Bà Trưng để nhập ngũ. Thật chán vì lúc muốn đi bộ đội thì không được, lúc đã tưởng không phải đi bộ đội nữa nên lấy vợ, đẻ con thì lại bị gọi đi. Nhiều đồng nghiệp khuyên tôi làm đơn xin hoãn vì chỉ sau 1 tháng nữa là tôi hết tuổi nhập ngũ và đang bị ốm nằm viện, lại có nhiều đồng nghiệp khác trẻ, khỏe hơn tôi, chưa vướng bận gia đình, có thể đi thay tôi. Nhưng tôi nghĩ dù sao cũng là trai thời loạn, phải một lần làm nghĩa vụ với Tổ Quốc, nếu mình xin hoãn thì lại có một đồng nghiệp khác của mình phải đi, cộng với cái tính “bôn sệt” vẫn còn trong máu, thế nên tôi đi khám sức khỏe và ba ngày sau nhận được giấy triệu tập nhập ngũ. Lúc ấy cha tôi đi công tác Sài Gòn vắng nên tôi đỡ lo phải thuyết phục cha tôi, và tôi đoán cha tôi cũng yên tâm hơn vì đã có thằng cháu nội “đít nhôm”, tôi cũng đủ chín chắn ở tuổi 25, chiến tranh cũng tạm lắng không ác liệt như năm 1979.
Ngày 16/12/1980, tôi tập trung làm lễ giao quân ở quảng trường C1 Bách Khoa cùng 18 cán bộ giảng dạy và hơn 400 sinh viên K20 vừa tốt nghiệp. Con tôi còn quá bé nên tôi bảo vợ đừng đem con ra tiễn tôi, mà tôi cũng sợ nhìn con nhỏ dễ bị xúc động. Bạn đồng ngũ của tôi – Trần Kim Liêm, CBGD khoa Hóa- có cậu con trai 3 tuổi, khi xe chở chúng tôi lăn bánh, cháu cứ chạy theo xe gọi bố làm tôi không cầm được nước mắt. Tối hôm ấy, chúng tôi tập kết ở xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Sơn Tây, “thủ phủ” huấn luyện tân binh của Quân khu Thủ đô. Tôi được biên chế vào A1 B2 C5 D1 E828 F354 và cuộc sống của tôi bắt đầu rẽ sang ngả khác. Tôi trở nên cứng rắn hơn, liều lĩnh hơn, thậm chí lần đầu tiên trong đời dám tham gia đánh nhau với cán bộ khung khi họ đối xử không tốt với lính mới. Vài ba tuần một lần tôi và mấy đồng ngũ lại rủ nhau trốn đơn vị về Hà Nội thăm nhà cho đỡ nhớ vợ con. Thỉnh thoảng bị phát hiện trốn về, bị kiểm điểm nhưng tôi không ngán, còn viết sẵn bản kiểm điểm đưa cho các bạn trước khi trốn (sau này xuất ngũ hồ sơ quân nhân của tôi còn lưu một tập bản kiểm điểm). Mà trốn về thì phải đi bộ khoảng 5-6 km ra đầu thị xã Sơn Tây mới có xe khách về Hà Nội, khó mua vé thì chờ xe xuất bến là bám trèo lên nóc xe rồi tụt xuống qua cửa trời xe. Ngủ nhà một tối, hôm sau lại ra bến Kim Mã bắt xe lên đơn vị. Cha tôi buồn và lo cho tôi, nhưng cũng chỉ có thể đôi lần dúi cho tôi chút tiền, vì đang là giảng viên lương 64 đồng lại chỉ còn phụ cấp binh nhì 5 đồng tôi thực sự khó khăn.
May là sau 3 tháng huấn luyện tân binh, tôi được điều động về Quân chủng Không quân. Đang hoang mang liệu có phải đi các cơ sở của Quân chủng ở phía Nam hay không, thì tình cờ mẹ tôi quen một ông trung tá không quân hay mua gạo ở cửa hàng mẹ tôi ở Ngã Tư Sở, ông ấy nói Cục Kỹ thuật Không Quân đang cần một kỹ sư điện để đào tạo công nhân các xưởng sửa chữa máy bay và khí tài. Nhờ ông ấy giúp mà tôi được về công tác ở cơ quan Cục kỹ thuật Không quân, đóng ở đường Tầu Bay, sau gọi là đường Trường Chinh, cách nhà cha mẹ tôi ở Khương Thượng chỉ mấy trăm mét. Vậy là tôi đón vợ con về nhà cha mẹ để tiện chăm sóc và đoàn tụ vì khi tôi đi bộ đội thì Bách Khoa đòi nhà, vợ con tôi phải nương nhờ nhà ngoại, cho dù ở Khương Thượng vợ tôi đi làm xa hơn.
Đơn vị tôi toàn là sĩ quan, chỉ mình tôi là lính mang quân hàm binh nhì, nên các thủ trưởng cũng thương. Mấy tuần đầu tôi bị cấm trại không được về nhà, nhưng sau Thủ trưởng phòng – trung tá Nguyễn Văn Hiến – bảo tôi sau 9h tối thì được về nhà, sáng hôm sau vào đơn vị sớm, đừng để ai nhìn thấy và thắc mắc là được. Dân làng Khương Thượng ngạc nhiên lắm vì thấy tôi đi bộ đội mà hầu như tối nào cũng về nhà, họ bảo chắc tôi là “bộ đội phường”. Tôi về nhà để ngoài việc trông con, còn lo cùng em Hoa gánh nước cho cha mẹ tôi có nước sạch dùng. Thỉnh thoảng tôi cũng phải đi công tác vào các xưởng sửa chữa máy bay ở phía Nam, A32 Đà Nẵng, A41 Tân Sơn Nhất, A42 Biên Hòa, A45 Đa Phúc. Mỗi lần đi công tác các anh sĩ quan lại phải bao bọc chú em binh nhì, vì tôi phải bán hết quân trang (trừ 2 bộ quần áo được phát khi nhập ngũ) lấy tiền tự chi tiêu cá nhân, không dám lấy tiền của cha mẹ và vợ.
Năm 1982, mẹ tôi xin nghỉ hưu sớm vì môi trường làm việc ở cơ quan mới quá khác với những cơ quan trước đây của mẹ tôi. Mẹ tôi bảo nhân viên ở cửa hàng ít người tử tế, nhiều người xấu, thường xuyên ăn cắp của nhà nước và móc ngoặc với bên ngoài để tư lợi. Mẹ tôi là thủ trưởng cơ quan nhưng đấu tranh không lại với họ, và có nguy cơ bị họ giăng bẫy làm hại. Thêm nữa mẹ tôi thương con và cháu nội, muốn có thời gian chăm cháu thay tôi. Mẹ tôi bàn với tôi và tôi cũng ủng hộ mẹ nghỉ hưu vì mẹ tôi đi làm cũng quá vất vả. (Phải nói thêm là mẹ tôi sức khỏe kém, mắt mờ, chân trái từng bị gẫy vì nhẩy từ tầng 2 một ngôi nhà khi mẹ tôi là du kích hoạt động địch hậu ở Nam Định, tay trái mẹ tôi từng bị đạn bắn thời bộ đội chống Pháp, tay phải bị gẫy cổ tay năm 1968 khi ô tô dỡ hàng không kéo phanh tay nên tự lùi ép mẹ tôi vào tường nhà kho). Thế là mẹ tôi chính thức nghỉ hưu từ tháng 6 năm 1982. Tôi đâu ngờ việc đó lại có hậu quả rất khốn khổ cho cả nhà.


Mẹ tôi nghỉ hưu nhưng cha tôi vẫn đi làm vì năm ấy cha tôi mới 56 tuổi và là biên tập viên chủ chốt của tòa soạn báo Lương thực-Thực phẩm. Cha tôi phải thường xuyên đi công tác các địa phương, từ Nam Bộ đến các tỉnh miền núi phía Bắc. Các truyện ký trong tập “Thóc từ sông Hậu” và “Sắn về nhà máy” của cha tôi được ra đời chính trong giai đoạn này. Tôi thì vẫn trong quân ngũ, chỉ được về nhà ban đêm. Em Vân đi học nước ngoài chưa về. Vợ tôi cũng đi làm từ sáng đến tối, và cũng hay mang con tôi về bên ngoại. Ở nhà thường xuyên chỉ có mẹ tôi và hai em Hoa, Hà.
Khi còn ở Phủ Lý, mẹ tôi rất thương em Hoa vì nó rất chăm chỉ, giúp mẹ tôi mọi việc từ chợ búa, cơm nước, trông em, suốt ngày lặn ngụp dưới sông mò ốc hến… Thành ra lực học của nó bị giảm sút, không phải là học sinh giỏi như mấy năm đầu cấp 1. Về Hà Nội, môi trường hoàn toàn thay đổi, nhiều áp lực, em Hoa không thích ứng được, học hành tiếp tục sa sút dần. Và quan trọng là rạn nứt trong quan hệ gia đình giữa em Hoa với bà ngoại và mẹ tôi. Ban đầu là sự bất đồng với bà ngoại. Khi mẹ tôi chuyển công tác từ Nho Quan về Phủ lý giữa lúc chiến tranh ác liệt nên phải gửi bà ngoại về quê với bác Nho cho an toàn. Sau năm 1975, mẹ tôi mới đón bà ngoại lên Phủ Lý ở cùng và đến năm 1978 thì cả nhà chuyển về Hà Nội. Bà ngoại tôi vốn chăm làm, ở Hà Nội không có vườn tược rộng rãi như ở Nho Quan, sức khỏe cũng yếu đi nhiều nên hầu như không làm gì được, mà tính bà cầu toàn, hay nói nên thường xuyên va chạm với em Hoa đang tuổi ăn tuổi ngủ. Mẹ tôi đi làm cả ngày mệt mỏi, về lại phải nghe chuyện bà ngoại phàn nàn, khóc mếu nên rất phiền lòng. Sự việc căng thẳng đến mức cuối năm 1980 mẹ tôi lại phải đưa bà ngoại về quê nhờ bác Nho chăm sóc. Từ bất hòa giữa hai bà cháu dẫn đến bất hòa giữa hai mẹ con. Mẹ tôi về hưu suốt ngày ở nhà lo nội trợ cũng tù túng, buồn bực, cha tôi đi vắng nhiều, mỗi khi về lại phải nghe mẹ tôi than thở. Mà cha tôi thương con gái, đứa con chịu thiệt thòi và vất vả nhất nhà, vì sinh ra và lớn lên đúng thời gian chiến tranh và gia cảnh nghèo khó, nên cũng không nỡ trách mắng con gái, điều đó không làm mẹ tôi hài lòng. Nên mỗi khi có chuyện mẹ tôi lại làm ầm lên là tại cha tôi nuông chiều con làm hư nó, nó mới dám không nghe lời mẹ. Thế là mâu thuẫn lại chuyển sang quan hệ giữa cha và mẹ tôi. Không biết bao nhiêu lần tôi phải đứng ra hòa giải cha mẹ, nhưng cuối cùng không thuyết phục nổi cha mẹ tôi. Kết quả là em Hoa không thi đỗ đại học, còn cha mẹ tôi không nói chuyện được với nhau dù vẫn sống chung dưới một mái nhà. Đến năm 1986 cha tôi cũng nghỉ hưu, tình hình lại càng tệ. Vì khi còn đi làm cha tôi ít ở nhà, ít phải nghe mẹ tôi ca cẩm, nay nghỉ hưu cũng ở nhà suốt ngày như mẹ tôi nên mâu thuẫn càng nặng, đến nỗi cha mẹ tôi phải ăn riêng, mỗi người một nồi, em Hoa ăn cơm với bố, em Hà ăn cơm với mẹ. Quá nhiều nước mắt và đau khổ.
Cha tôi cậy cục xin việc làm cho em Hoa, thời gian đầu làm hợp đồng ở cửa hàng lương thực Ngô Thì Nhậm, chuyên bốc vác và đóng bao gạo bán cho các hộ dân. Thu nhập chẳng được là bao mà vất vả. Đến khoảng năm 1986-1987 cha tôi xin được cho em Hoa đi xuất khẩu lao động ở Liên xô, làm thợ dệt ở Ivanovo, hy vọng em sẽ có cuộc sống khá hơn và cũng để tránh nỗi khổ vì bất hòa với mẹ tôi. Khi tôi đi học ở AIT Bangkok, cha tôi bảo tôi cố gắng dành dụm hỗ trợ thêm cho em Hoa vì lao động nghề dệt thu nhập cũng thấp, cứ vài tháng tôi lại gửi bưu điện cho em Hoa một hộp quà khoảng 1 kg, có vài hộp mỹ phẩm make-up, bút chì kẻ mắt, vài cái áo phông Thái…, những thứ hàng chợ tôi mua ở chợ Pò Pê Bangkok khá rẻ nhưng lại rất có giá ở Liên Xô thời đó.
Sau khi học xong ở Bangkok, tháng 8 năm 1989 tôi về nước và lao vào kiếm tiền bằng nhiều nghề khác nhau, buôn đất, thiết kế thuê các công trình điều hòa không khí, sửa chữa lắp đặt máy điều hòa trung tâm và kho lạnh… Đến năm 1991 tôi mua được mảnh đất 153 m2 vốn là đất trận địa pháo của Sư đoàn 361 Quân chủng Phòng không ở bãi sông An Dương ngoài đê Yên Phụ và quyết định sẽ làm nhà. Tôi bán nửa gian nhà được phân trong khu tập thể A2 Bách Khoa cộng với tiền vay mượn và dành dụm được đủ để xây một ngôi nhà 3 tầng tổng diện tích sàn gần 270 m2. Tôi tự thiết kế, tự mua vật liệu và thuê thợ thi công. Tôi phải nhờ cha tôi giúp trông thợ hàng ngày vì tôi còn phải lo đi làm, đi mua vật liệu. Vì thế ngày nào cha tôi cũng phải lọ mọ đạp xe từ Khương Thượng lên An Dương, quãng đường chắc phải 6-7 km. Tôi còn nhớ cha tôi rất cần mẫn, dù mưa hay nắng cha tôi vẫn cố gắng đạp xe, nhiều hôm thấy cha tôi mồ hôi ướt đầm lưng áo. Cha tôi vừa trông thợ vừa tranh thủ viết lách, đọc sách, thỉnh thoảng lại bị thợ sai vặt lấy nước uống hoặc đưa vật liệu. Cuối năm 1991 xây xong ngôi nhà 3 tầng 260 m2 sàn, tôi gợi ý cha mẹ tôi dọn lên ở cùng vì tôi đã thiết kế nhà đủ rộng và nhiều phòng, nhưng vì nhiều lý do cha mẹ tôi từ chối.
Đến năm 1992, ngôi nhà ở Khương Thượng bắt đầu xuống cấp, dột nhiều, cha mẹ tôi cũng không đủ khả năng cải tạo nâng cấp, tôi cũng nghĩ cha mẹ tôi không nên ở lại Khương Thượng vì nhiều lý do : nhà xa nên các con không thường xuyên về thăm được, nhà ẩm thấp nhiều ruồi muỗi và bẩn mỗi khi trời nồm, tiện nghi trong nhà rất bất tiện vì không khép kín, hàng xóm là dân lao động nên khó hòa đồng… Đúng dịp ấy, anh Hoàng Bá Chư cũng là cán bộ giảng dạy cùng khoa với tôi có ý định bán căn hộ tập thể vì được phân đất làm nhà ở nơi khác, vậy là tôi thuyết phục cha mẹ bán nhà Khương Thượng để mua lại nhà của anh Chư trong khu tập thể cao tầng Bách Khoa khoảng tháng 4 năm 1992. Việc mua bán diễn ra chóng vánh. Nhà của cha mẹ tôi ở Khương Thượng bán cho cô Mai, một người làng đang cần nhà cho con ở riêng được 7,8 cây vàng 98%, mua căn hộ 310 nhà E2 Bách Khoa mất 5,5 cây vàng 98%, vậy là cha mẹ tôi còn dư được hơn 2 cây vàng để mua sắm và dự phòng dưỡng già. Quả thực sống trong căn hộ tầng 3 của tòa nhà 5 tầng cũng thuận tiện hơn, sạch sẽ hơn, cha mẹ tôi vui hơn và thời gian đầu cũng ít cãi vã hơn, thậm chí tôi đã thuyết phục được cha mẹ tôi ăn chung trở lại và cha tôi đồng ý để mẹ tôi quản luôn lương hưu của cả hai người để chi tiêu, thiếu đâu thì các con hỗ trợ bù thêm. Nhưng được ít lâu thì mọi chuyện lại căng thẳng như cũ, mỗi khi có chuyện cha tôi lại bỏ đi mua báo hay ra quán nước để khỏi xung đột. Lúc ấy nhà cha mẹ tôi cũng đã lắp điện thoại bàn nên mỗi khi nghe chuông điện thoại của mẹ là tôi lại phải chạy về để hòa giải.
Sau này, cha tôi phải “sơ tán” vào Vũng Tàu ở cùng với em Vân mỗi khi có xung đột, mà ai hỏi thì cha tôi nói tránh đi là vào Vũng Tàu để trông nhà cho con gái và khí hậu phía Nam tốt hơn cho người già. Với lại cha tôi cũng muốn có thời gian yên tĩnh để theo đuổi đam mê viết báo, viết sách. Chính trong thời gian ở Vũng Tàu, cha tôi đã viết được rất nhiều tiểu thuyết hình sự và thời sự. Vì lương hưu của cha tôi do mẹ tôi quản lý, con cái cùng nhau hỗ trợ để cha tôi có tiền tiêu vặt, nhưng cha tôi vẫn muốn tự mình tạo ra thu nhập đỡ phiền đến các con. Cha tôi thường nói đùa là mỗi tác phẩm của cha tôi đều được 2 đến 3 lần nhuận bút. Đầu tiên là viết như bài báo, bài điều tra nhiều kỳ và đăng tải trên các báo ngày, báo tuần như báo Vũng Tàu, báo Sài Gòn giải phóng, báo Thanh Niên… Sau đó tập hợp lại và đăng ký với các nhà xuất bản để in thành sách. Thậm chí có một số cuốn tiểu thuyết của cha tôi đã được in sách rồi, cha tôi lại thay tên sách hoặc thay tên nhân vật để gửi nhà xuất bản khác và lại được xuất bản như cuốn sách mới. Âu cũng là một cách kiếm sống giữa thời buổi kinh tế khó khăn. Cha tôi chịu khó nghiên cứu hồ sơ các vụ án hình sự lớn thời đó, thu thập thêm thông tin trên báo chí và sáng tác thành truyện dài và tiểu thuyết. Đặc biệt các nhân vật chính trong các cuốn sách của cha tôi đều có tên của các cháu nội ngoại, ví dụ trung úy Duy Phong, trinh sát Quỳnh Hoa, Đại tá Hồng Quang, Giám đốc Hoàng Vũ… Trong khoảng hơn 10 năm cha tôi đã có một “gia tài” đồ sộ về văn chương với hơn 20 đầu sách, kết quả của nhiều đêm không ngủ. Thường cha tôi hay viết vào ban đêm, chập tối cha tôi ngủ sớm và nửa đêm tỉnh giấc là bật đèn viết, có khi thức đến sáng. Mỗi khi sách được in, cha tôi lại viết thư nhờ tôi tìm mua ở các quầy sách vì số lượng sách biếu cho tác giả không đủ để cha tôi tặng cho bạn bè.
Năm 1996 tôi bắt đầu tham gia công tác quản lý ở Bách Khoa, làm phó chủ nhiệm khoa Đại học Tại chức. Khoa Tại chức có xưởng in phục vụ việc in ấn giáo trình và tài liệu của Trường. Tôi nảy ra ý định muốn giúp cha tôi in một tập thơ, vì hồi đó tiểu thuyết của cha tôi khá dễ bán ra sạp và cha tôi không phải bỏ tiền cho việc xuất bản lại còn được lĩnh nhuận bút, nhưng xuất bản thơ thì không được như vậy vì thơ khó bán, thường các tác giả phải bỏ tiền túi để in, sau đó bán được chút nào thì thu lại chút đó, hầu hết thơ đều lỗ vốn. Tôi biết cha tôi rất muốn tập hợp lại tất cả các bài thơ trong cuộc đời thơ của mình mà cha tôi ngại tốn tiền nên chưa làm được. Tôi tự mình biên tập các bài thơ mà cha tôi lưu trữ được, thời đó tôi sắm được cái máy tính AT-286 màn hình mo-no không có ổ cứng, nhưng thế cũng là oách lắm rồi vì đầu thập kỷ 90 ít người có máy tính để bàn lắm, nói gì đến Laptop. Sau đó tôi nhờ anh Tuệ, xưởng trưởng xưởng in Tại chức in ti-po giúp. Cha tôi lo xin giấy phép xuất bản của Nhà xuất bản Hà Nội, tôi lo chế bản và tiền in. Tôi phải nói với cha tôi là in sách không mất tiền, vì tôi tự biên tập và làm chế bản, xưởng in Tại chức thuộc quyền quản lý của tôi nên không mất tiền in (!) để cha tôi yên tâm và đỡ xót ruột. Riêng cái bìa cuốn sách thì cha tôi tự thiết kế, dứt khoát phải có hình ảnh Tháp Rùa Hồ Gươm vì năm 1998 Hà Nội đang rầm rộ tuyên truyền cho sự kiện 1000 năm Thăng Long. Cha tôi đặt tên tập thơ là “Nghìn năm Thăng Long” cho đúng trào lưu thời sự và quyết định in 500 cuốn. Cuối năm 1998 in xong, không may bị lỗi nên phải in lại 500 bản khác. Tôi rất cảm ơn anh Tuệ ủng hộ không lấy tiền in lại nên cũng đỡ tốn. Tôi đóng gói gửi vào Vũng Tàu cho cha tôi một thùng khoảng 200 cuốn để cha tôi tặng bạn bè, còn lại tôi giữ ở nhà để khi cha tôi ra Hà Nội sẽ sử dụng (đến bây giờ tập thơ ấy vẫn còn “ế” khoảng vài trăm bản).
Năm 2000, cha tôi dẫn các con về quê nội, ra nghĩa trang viếng mộ ông bà nội và hai bác mới được quy tập về một nơi. Đó là chuyến về quê cuối cùng của cha tôi. Cha tôi áy náy vì phần mộ của ông bà còn quá đơn sơ, nên năm sau đó từ Vũng Tàu cha tôi viết thư cho tôi nói về nguyện vọng xây mộ cho ông bà được khang trang hơn. Cha tôi bàn với các anh họ tôi ở quê về việc xây dựng khu mộ và dự định sẽ về dự lễ khánh thành vào năm sau. Tôi đưa cháu Khuê - lúc này đã tốt nghiệp đại học và được giữ lại làm giảng viên Bách Khoa- mang 5 triệu đồng về để nhờ anh Mỹ, anh Đạo, anh Cẩn ở quê thuê thợ xây dựng. Nhờ sự nhiệt tình của các anh mà mọi việc suôn sẻ, thời điểm ấy khu mộ của ông bà nội tôi vào loại khang trang nhất nghĩa trang của xã. Tiếc là cha tôi sức khỏe yếu nên không về quê được mà giao cho các con cháu về làm lễ khánh thành năm 2001, nhưng tôi biết cha tôi rất hài lòng và yên lòng vì đã làm tròn trách nhiệm với ông bà.
Lúc chưa vào Vũng Tàu, cha tôi thường xuyên phải nằm viện, ở khoa Tim Mạch bệnh viện Bạch Mai. Tôi quen một bác sỹ ở Bạch Mai là bác sỹ Tiến, mỗi khi cha tôi mệt lại nhờ anh ấy đến khám và đưa vào nằm viện. Đêm ở trong viện trông nom cha tôi, nhìn ông thiêm thiếp trên giường bệnh và thở ô-xy, tôi thực sự lo lắng. Năm nào cũng vài lần như vậy nên cha tôi cũng yếu đi nhiều. Đến khi ở Vũng Tàu khí hậu tốt và không bị áp lực của việc cãi vã với mẹ tôi nên sức khỏe cha tôi có vẻ tốt hơn. Nhưng tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng kém là điều không tránh khỏi. Có lẽ một phần vì nghĩ đến tuổi già, một phần nhớ con cháu và bạn bè ở Hà Nội, nên cha tôi không ở yên trong Vũng Tàu được lâu mà thỉnh thoảng lại ra Hà Nội, sau mỗi lần như vậy dù thêm mệt mỏi vì mâu thuẫn với mẹ tôi, nhưng cha tôi cũng rút kinh nghiệm, không nổi cáu mỗi khi xung đột, kiên nhẫn và nhẹ nhàng hơn nên dần dần cũng đỡ căng thẳng. Khi ở Vũng Tàu gần như tuần nào cha tôi cũng viết thư gửi bưu điện cho tôi, dặn dò đủ thứ, đôi khi gửi kèm thư cho cháu nội và các em tôi nhờ tôi chuyển giúp.
Cha tôi là người nghiện thuốc lá nặng, từ thời còn trẻ đã hút thuốc nhiều, đến lúc già lại còn hút nhiều hơn, hết điếu này cha tôi lại châm nối luôn điếu khác. Đến nỗi quần áo cha tôi hầu hết đều bị thủng lỗ chỗ vì tàn thuốc, bởi nhiều khi đang ngồi hút thuốc cha tôi ngủ thiếp đi, điều thuốc vẫn ngậm trên môi rơi tàn xuống quần áo. Con cái kêu ca thì cha tôi đùa là đi khám bệnh bác sỹ chiếu X-quang bảo phổi cụ vẫn sáng choang (!). Hồi cha tôi ở Vũng Tàu, có lần tôi vào thăm, khi ra ban-công nhà em Vân tôi ngạc nhiên thấy khe tường giữa 2 nhà có rất nhiều vỏ bao thuốc lá, sau mới biết cha tôi hay bị ho nên em tôi không cho hút thuốc, cha tôi đành hút trộm khi em tôi đi làm vắng và ném vỏ bao thuốc vào khe tường hàng xóm. Em tôi đi làm về biết ngay là cha tôi hút thuốc vì không khí trong nhà hôi rình mùi khói thuốc, nhưng cha tôi cứ cãi là không có hút vì làm gì có bao thuốc lá nào đâu (!). Chỉ có điều cha tôi không lường được là thuốc lá ảnh hưởng đến tim mạch và cuối cùng cha tôi đã ra đi vì bệnh tim, người ta thường gọi là bệnh to tim, khi sức khỏe yếu tim bị giãn to và không co lại được dẫn đến tụt huyết áp và dễ tử vong.
Cuối năm 2003, cha tôi bị ốm nặng. Em Vân đưa cha tôi vào cấp cứu ở bệnh viện Lê Lợi Vũng Tàu. Tôi và các em, các con thay nhau vào chăm cha tôi. Có lẽ linh cảm thấy gì đó nên cha tôi bảo muốn ra Hà Nội, không muốn nằm viện ở Vũng Tàu. Tôi mới chuyển công tác về Bộ Khoa học và Công nghệ nên rất bận, đành nhờ anh bạn chủ doanh nghiệp ở Sài Gòn thuê giúp một xe cứu thương có bác sỹ và thiết bị cấp cứu đi kèm chạy xuống Vũng Tàu đưa cha tôi về Sài Gòn. Kẹt nỗi hàng không Việt Nam không chịu chuyên chở người bệnh tim nặng vì sợ có sự cố khi bay, tôi lại phải nhờ bạn bè can thiệp nên cuối cùng cha tôi được lên máy bay bằng xe lăn. Em Hoa tháp tùng cha tôi từ Vũng Tàu về Sài Gòn và bay cùng cha tôi ra Hà Nội. Tôi đón cha tôi ở Nội Bài và đưa cha tôi về thẳng nhà em Hoa, lúc ấy em Hoa mới mua một căn hộ ở khu chung cư cao tầng Linh Đàm khá rộng rãi và tiện nghi. Cha tôi có vẻ vui và yên tâm vì đã được về Hà Nội với con cháu.
Tết nguyên đán năm 2004, tôi và các em chuẩn bị cho cha tôi một cái Tết chu đáo và đầy đủ. Đêm giao thừa, tôi ở cùng cha tôi. Sáng mùng 1 tôi cho con gái đi cùng đến mừng tuổi cha tôi, cha tôi có vẻ khỏe hơn và vui. Nhưng tối mùng 1 em Hoa gọi cho tôi nói là cha tôi bị mệt, không ăn uống gì được, hai chân lạnh và khó cử động. Sáng mùng 2 Tết tôi chạy xuống Linh Đàm sớm, thấy cha tôi mệt thật sự, thở nặng nhọc và không chịu ăn. Tôi hoảng quá gọi điện cho bác sỹ Tiến nói anh ấy đến khám cho cha tôi, nếu cần thì cho nhập viện. Bác sỹ Tiến đang đi chúc Tết hai bên nội ngoại, nhưng nghe tôi khẩn khoản cũng bỏ dở chuyến đi, đến khám cho cha tôi. Sau khi đo huyết áp, nghe tim phổi, bác sỹ bảo ông không sao, chỉ sức yếu thôi, sau mấy ngày Tết sẽ đưa cha tôi vào Bạch Mai khám lại. Tôi cảm ơn bác sỹ và tiễn anh ấy ra thang máy rồi quay vào. Bỗng cha tôi thều thào bảo muốn ăn cơm, tôi nói em Hoa lấy cơm còn tôi ngồi trên giường ôm cha tôi ngồi dựa vào tôi. Em Hoa vừa xúc thìa cơm đầu tiên thì cha tôi bỗng nấc một tiếng rồi người mềm oặt trong vòng tay tôi. Tôi lay gọi mà cha tôi không trả lời, không nói được nữa. Tôi vội bảo cháu Phong chạy xuống dưới nhà gọi bác sỹ Tiến, lúc ấy bác sỹ còn đang lấy xe máy chưa kịp đi. Bác sỹ Tiến vội vã quay lại kiểm tra cho cha tôi và thất thần báo tin cha tôi đã mất rồi. Lúc ấy đúng 12h ngày mùng 2 Tết Giáp Thân (23/1/2004). Bác sỹ cũng an ủi “còn nước còn tát”, cứ đưa cha tôi vào A9 Bạch Mai để hồi sức, may ra còn cứu được, và gọi xe 115 đến ngay. Chúng tôi theo xe vào Bạch Mai và hồi hộp chờ cho đến khi bác sỹ thông báo không thể cứu được cha tôi. Thế là chúng tôi mồ côi cha thật rồi!
Lễ tang cha tôi được ấn định vào ngày 5 Tết tại Nhà tang lễ Bệnh viện Bạch Mai. Vì cha tôi mất vào 12h trưa, giờ được coi là giờ xấu, nên phải nhờ thầy chùa xem giờ tang lễ cẩn thận, nếu không sẽ phải lo lắng có sự trùng tang, tức là sẽ có người trong gia đình bị “bắt” đi theo cha tôi. Em Hoa được giao việc tìm thầy xem ngày giờ và các thủ tục cho lễ tang. Lại còn chuyện tìm nơi an táng cha tôi, vì chuyện xảy ra đột ngột nên tôi hầu như chưa chuẩn bị gì. May mà các bạn học đại học với tôi rất nhiệt tình đứng ra lo giúp, bạn Minh có quen ông quản trang ở nghĩa trang xã Tây Mỗ nên dẫn tôi tới gặp để xin một ô đất đặt phần mộ cha tôi. Nghĩa trang của làng có quy ước ngầm định là chỉ dành riêng cho người làng, kể cả người làng đi làm ăn xa, còn người ngoài thì rất khó được phép chôn cất ở đó. Nhưng may nhờ sự quen biết và kèm theo cam kết sẽ bốc mộ sau 3 năm để di chuyển đi nơi khác nên cuối cùng ông quản trang cũng đồng ý cho đóng tiền lệ phí 2 triệu đồng và chỉ cho tôi vị trí đất an táng cha tôi là đất ruộng mới được mở rộng làm nghĩa trang. Bạn Nhiêm lo giúp việc thuê người đào huyệt và chuẩn bị các thủ tục tang lễ tại nghĩa trang (bạn Nhiêm vốn tự coi là con nuôi của cha mẹ tôi và nhiều năm gắn bó với gia đình tôi, thậm chí nhiều tháng ăn ở luôn trong nhà tôi khi sa cơ lỡ vận).
Ngày mùng 5 Tết, tức ngày 26/1/2004, mặc dù còn trong thời gian nghỉ Tết nhưng lễ viếng và đưa tang cha tôi diễn ra rất trang trọng. Tôi mới chuyển công tác về Bộ KH&CN được nửa năm nên tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp ở Đại học Bách Khoa và Bộ Khoa học và Công nghệ đều khá sâu đậm, lãnh đạo 2 cơ quan và chính quyền phường Bách Khoa, phường Khương Thượng đều đến phúng viếng chu đáo. Gần trưa đoàn xe tang đưa cha tôi đi Đại Mỗ, lúc ấy đường cao tốc Láng-Hòa Lạc còn khó đi vì đang thi công, từ đường cao tốc vào nghĩa trang còn phải đi mấy trăm mét đường làng, và xe ô tô phải đỗ cách huyệt mộ hơn 100m. Tôi rất cảm động khi đưa cha tôi đến nghĩa trang, mọi người lội ruộng lầy lội khiêng quan tài và chuyền tay nhau mang hàng trăm vòng hoa viếng ra mộ, đích thân Bộ trưởng Hoàng Văn Phong, Hiệu trưởng Trần Quốc Thắng chuyển các vòng hoa từ xe ô tô xuống và mang ra tận mộ cha tôi.
Ngay sau khi an táng cha tôi, tôi lập tức đi tìm mua đất ở nghĩa trang Vĩnh Hằng (Ba Vì). Cách đó mấy năm tôi đã biết đến nghĩa trang này khi đi dự đám tang của thân phụ anh Bùi Mạnh Hải, nhưng thấy xa Hà Nội quá nên còn chần chừ chưa mua đất. Năm 2004 lên Vĩnh Hằng thì giá đất đã lên gấp đôi : 1,2 triệu/m2. Tôi và các em chọn được một ô đất lưng chừng đồi có diện tích 109 m2 và thấy cũng ưng ý nên ký hợp đồng luôn. Dự định sau 3 năm chúng tôi sẽ thay áo cho cha và an táng cha tôi ở Vĩnh Hằng. Nhưng rồi vì những lý do bất khả kháng mà phải gần 9 năm sau cha tôi mới được về nơi an nghỉ vĩnh hằng. Trong thời gian cha tôi ở Đại Mỗ, năm nào chúng tôi cũng đến viếng mộ 4-5 lần, trồng cỏ và tôn nền mộ, nhưng vì nghĩa trang không có tường rào và người bảo vệ nên trâu bò phá phách thường xuyên, đến bia mộ của cha tôi cũng bị vỡ khi người ta làm con đường nội bộ qua sát mộ. Lễ cải táng cha tôi diễn ra rạng sáng ngày 24/12/2012 (tức ngày 12/11 Nhâm Thìn). Tôi phải thuê thầy giúp thay áo cho cha tôi, rất may là toàn bộ xương cốt của cha đều được thu thập đầy đủ, được xếp gọn vào tiểu sành và tôi ôm cốt cha lên Vĩnh Hằng đặt vào quách gỗ quý. Lễ tái an táng cha tôi diễn ra cùng ngày tại Công viên Vĩnh hằng, Ba vì, Hà Nội.
Hơn 1 tuần sau, hai bộ mộ phần bằng đá cẩm thạch Bình Định mà tôi đặt mua đã được vận chuyển về đến Hà Nội, mỗi bộ nặng hơn 2 tấn, việc vận chuyển lên Vĩnh Hằng và lắp ráp tại nghĩa trang thật vất vả. Việc này tôi phải ghi nhận sự tận tâm của cháu Khuê cùng với tấm lòng thơm thảo của chị Trần Thị Thu Hà, phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, người đã giúp tôi tìm được nơi sản xuất đá cẩm thạch và tài trợ toàn bộ chi phí mua 2 bộ mộ phần của cha mẹ tôi, chị kiên quyết không cho tôi thanh toán tiền mua và chế tác hai bộ đá cẩm thạch (chị Hà vốn là con cán bộ miền Nam tập kết, sống ở Thái Bình từ nhỏ, nên chị thường nhận là đồng hương với tôi. Sau ngày thống nhất đất nước, chị về Bình Định công tác và có một thời gian làm Giám đốc Sở KH&CN Bình Định, sau đó được bổ nhiệm làm phó chủ tịch UBND tỉnh).
Lễ khánh thành mộ chí cho cha mẹ tôi diễn ra ngày 1/1/2013. Thế là cha mẹ tôi có nơi an nghỉ bên nhau. Chúng tôi trồng 2 cây đại ở hai bên mộ cha mẹ, cây đại dễ sống và lớn nhanh, cây bên mộ cha tôi có hoa màu trắng, còn cây bên mộ mẹ tôi có hoa màu đỏ. Sau này chúng tôi còn trồng thêm hoa mẫu đơn và cau trong khuôn viên. Tôi tin là cha mẹ tôi cảm thấy an yên và chắc là sẽ tĩnh tâm lại sau bao năm bất đồng và chịu nhiều đau khổ.
Cha tôi đi xa đã 20 năm tròn.
Sinh thời, cha tôi là một cán bộ mẫn cán và trung thành với chế độ, mặc dù chưa phải là đảng viên nhưng cha tôi sống và làm việc như một đảng viên, từng trải qua nhiều gian khổ trong 2 cuộc kháng chiến, chưa từng được nhà nước phân phối nhà đất, về hưu với mức lương cán sự 6 đạm bạc. Cha tôi phải tự lực mua nhà, mua đất làm nhà và cùng mẹ tôi tận lực kiếm tiền nuôi 4 đứa con. Là một nhà báo chuyên nghiệp và nhà văn nghiệp dư, cha tôi sống đôi khi theo phong cách nghệ sỹ, rất lãng mạn và bay bổng. Thời trẻ mối quan hệ của cha tôi cũng gây ra những hệ lụy, là nguyên nhân để mẹ tôi phiền não mà tôi phải chứng kiến từ thuở tôi còn nhỏ. Mẹ tôi thường tâm sự với con trai về những bất đồng với cha tôi và quy lỗi cho cha tôi. Tôi đã từng đứng về phía mẹ tôi và phần nào xa cách và oán trách cha tôi. Sau này lớn lên tôi hiểu cha tôi hơn và thương cha hơn. Bởi tôi nhận ra dù có lúc sai lầm nhưng cha tôi vẫn luôn đúng mực, sống có trách nhiệm với gia đình và bạn bè.
Cha tôi đã để lại di sản nghề nghiệp không hề nhỏ, đó là hàng nghìn bài báo và bài thơ được đăng tải trên các báo trung ương và địa phương, rất tiếc chúng tôi chỉ còn lưu giữ được một số ít bài ký và thơ. Niềm an ủi lớn nhất là chúng tôi còn giữ được 20 cuốn tiểu thuyết của cha tôi, đó là những tác phẩm được viết sau khi nghỉ hưu và giữa sóng gió của nối khổ gia đình. Cha tôi viết sách vừa để kiếm sống vừa để quên đi những buồn phiền trong cuộc sống. Tôi đã biên tập lại toàn bộ 20 cuốn tiểu thuyết và sẽ tái bản vài ba cuốn trong thời gian này để tưởng nhớ cha tôi nhân 20 năm ngày cha tôi đi xa và sắp tới là 100 năm ngày sinh của cha.
Tuy nhiên tôi vẫn còn một điều phải ân hận với cha tôi. Đó là trong hơn 40 năm công tác, cha tôi đã đi qua hầu hết 63 tỉnh thành của Việt Nam, nhưng cha tôi chưa từng được bước chân ra khỏi biên giới. Khi cha tôi còn trẻ và khỏe thì hoàn cảnh đất nước chưa cho phép và cha tôi cũng không có cơ hội nào để đi nước ngoài công tác. Khi đất nước mở cửa và chúng tôi đã khôn lớn, có đủ khả năng hỗ trợ cha tôi đi du lịch thì sức khỏe của cha tôi lại không cho phép, cha tôi bị bệnh to tim và bác sỹ khuyên không nên đi máy bay đường dài. Vậy nên đôi lần tôi gợi ý cha tôi đi du lịch mấy nước lân cận nhưng cha tôi đều từ chối, phần vì sức khỏe, phần vì sợ tốn kém cho con. Tôi vẫn hy vọng cha tôi sẽ đỡ bệnh to tim và có dịp để cha tôi được ra khỏi biên giới, nhưng cuối cùng số mệnh đã đưa cha tôi đi xa với nỗi hối tiếc khôn nguôi của chúng tôi.
Thế là ký ức về cha tôi đã được tái hiện lại phần nào sau 20 năm cha tôi đi xa. Còn nhiều mảng ký ức khác nữa mà thời gian đã làm nhạt nhòa và tôi không thể tái hiện được. Tôi cầu mong cha tôi luôn an yên ở nơi xa ấy và dõi theo chúng tôi, độ trì cho chúng tôi ở nơi trần gian, tránh được mọi tai ương, cạm bẫy và sống bình an đến tận cuối đời.

(Nguyễn Quân)

No comments:

Post a Comment