1. TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU
Ngược đường Hàm Nghi, Văn
Sinh bước đi chậm chậm trên hè phố. Buổi sáng mùa thu mát dịu, Văn Sinh thấy
lòng mình nhẹ nhõm hơn mọi ngày. Không khí ồn ào náo nhiệt chung quanh không
thể làm anh bận tâm. Anh đang nghĩ đến một mục tiêu, một trận đánh sắp xảy ra.
Văn Sinh xốc lại chiếc túi du lịch nhỏ đeo lệch bên vai. Chỉ còn mười bước nữa là đến quán cà phê “Lan”. Anh dừng lại bật lửa châm một điếu thuốc lá Samit. Nét mặt tươi tỉnh của anh bỗng đổi thành nét mặt buồn phiền. Bước đi của anh lại thất thểu như bước đi của một gã thất tình. Văn Sinh vào quán, đi giữa hai hàng ghế đã có người ngồi tìm được một bàn còn bỏ trống ở cuối căn phòng. Đôi mắt lơ đãng của Sinh nhìn suốt một lượt hai dãy bàn mà như chẳng nhìn ai. Sinh gọi một ly cà phê đen rồi cúi xuống xem một tờ báo ảnh của chủ quán để trên bàn.
Sinh ngồi uống cà phê được
mươi phút thì quán cà
phê lại có thêm hai người khách, một người đàn ông và một người đàn bà. Người
đàn ông mặc quần chẽn, áo phông cá sấu thật đỏm dáng. Anh ta có hàng ria con
kiến và gương mặt phong trần. Người đàn bà trạc tuổi 40, trang điểm khá công
phu, tóc uốn đuôi dài về phía sau. Chị ta mặc chiếc áo màu hồng ngắn tay, rộng
cổ để lộ một sợi dây chuyền vàng lấp lánh. Hai người ngồi vào một bàn ở góc bên
trái. Họ nói cười vui vẻ và gọi hai ly nước cam. Chỉ nhìn qua thái độ, cử chỉ
của hai người này, ai cũng có thể đoán biết họ đang tính chuyện làm ăn.
Văn Sinh, ngược lại, ngồi
có một mình, nét mặt buồn rười rượi, khó đăm đăm, chẳng làm cho ai chú ý. Anh
rít từng hơi thuốc dài và cúi đầu trên trang báo ảnh. Anh chẳng hề đọc một chữ
nào, bởi anh còn chăm chú lắng nghe những tiếng nói lúc trầm, lúc bổng của hai
người khách mới đến. Và anh đã nghe được tiếng nói xuýt xoa của người đàn bà: “Như vậy thì mắc quá, anh Hai!”. Người đàn ông đã đáp lại: “Hàng của tôi
đâu có mắc? Chị cứ rút một giá thì tôi sẽ rút cho chị hai giá, chịu không nào?”.
Người đàn bà cười thật
tươi, tỏ vẻ hài lòng lắm. Chị ta nói tiếp:
- Vậy thì chiều nay, đúng
5 giờ!
Người đàn ông hỏi: - Tại đâu?
Người đàn bà hạ thấp giọng:
- Cà phê “Hồng Ngọc”!
Người đàn ông cũng vui
không kém:
- Ô kê!
Anh ta vẫy cô chủ quán lại
và đặt lên bàn tờ giấy bạc hai ngàn đồng rồi cùng người đàn bà bước ra cửa. Hai chiếc xe gắn máy đưa họ về phía cảng
Sài Gòn.
Văn Sinh biết rằng trận
đánh này sẽ phải lui lại đến chiều ở quán cà phê Hồng Ngọc. Anh tủm tỉm cười. Khuôn mặt khó đăm đăm đã tươi tỉnh hẳn
lên, Văn Sinh tự thưởng cho mình một điếu Samit nữa. Từ giờ này đến năm giờ
chiều, còn có khá nhiều thời gian đề anh chuẩn bị cho thật chu đáo.
o0o
Quán Hồng Ngọc nằm bên số lẻ đường Cách mạng
Tháng 8, trong một vườn cây rộng. Mỗi bàn được kê riêng biệt dưới một lùm cây
xanh và chỉ có hai ghế. Chủ nhân đã có nhã ý chiều khách hàng là thanh niên nam
nữ, từng cặp lại từng cặp lui tới quán này, từ 7 giờ sáng tới 22 giờ khuya. Nhiều vị
khách là văn nghệ sĩ cũng thường lui tới quán này, có cả những người bàn chuyện mánh mung đã
chọn nơi này làm điểm hẹn lý tưởng vì yên tĩnh, kín đáo.
Chiều nay, Văn Sinh có mặt ở quán Hồng Ngọc từ trước
4 giờ. Anh đã cải trang thành một sinh viên đại học với cặp kính trắng, chiếc
áo sơ mi kẻ sọc. Đặc biệt nét mặt lại hết sức tươi tỉnh, dáng vẻ thật yêu đời,
sánh vai cùng một cô bạn gái mặc bộ đồ màu xanh lá cây.
Hai người chọn một bàn dưới
lùm cây hoa tím và
gọi hai ly cà phê sữa, một đĩa bánh ngọt. Văn Sinh đốt một điếu thuốc và nói với cô bạn gái:
- Lan thấy không? Ở đây,
chung quanh chúng ta, mọi người có lẽ đều nghĩ rằng anh và em đang say sưa
trong một tình yêu của tuổi học trò với tất cả mộng mơ...
Lan mỉm cười, nhón một
chiếc bánh, cắn một miếng phô hai hàm răng trắng như ngọc. Văn Sinh nói tiếp:
- Anh đã chọn một nghề
vất vả mà người ta cứ
tưởng là một nghề nhàn nhã. Em cũng vậy.
Lan cười:
- Thì... nam nữ bình đẳng mà! Ngăn chặn những bàn tay tội phạm đâu có
dễ, phải không anh?
- Chúng mình chọn cái
nghề trinh sát này, đương nhiên đã chấp nhận tất cả gian nan. Chiều nay, Lan
biết không, anh hy vọng sẽ góp được với các đồng nghiệp một chút gì đây?
Văn Sinh thoáng nhìn đồng
hồ trên tay rồi lại nhìn ra phía cửa vườn hoa: một chiếc honda vừa tắt máy.
Người trên xe bước xuống lại là người đàn ông đã đi cùng người đàn bà vào quán cà phê “Lan” buổi sáng. Anh ta đến đây có một mình và phía sau xe có một bịch
hàng lớn nằm lồ lộ, có tới vài chục “cây” thuốc
lá Sa-mit. Anh ta khệnh khạng
vào quán Hồng Ngọc với vẻ vừa tự hào, vừa mãn nguyện, say sưa với bịch hàng,
toàn là hàng Thái Lan nhập khẩu, không hề giấu giếm ai!
Chẳng cần để ý đến ai, anh
chọn một bàn bên trái và gọi một ly cà phê đen.
Vừa hút thuốc, vừa gõ tay
lên mặt bàn nhịp với lời ca bài “Diễm xưa” đang
phát ra từ phía quầy hàng. Chủ quán Hồng Ngọc nhận ra khách quen, nhìn lại,
chào anh ta bằng một nụ cười duyên dáng.
Văn Sinh không bỏ sót một cử chỉ nào
của ông khách mới vào. Anh bấm tay cô bạn gái như thầm nhủ:
- Em hãy chú ý: giờ G đang tới gần...
Mười phút trôi qua.
Văn Sinh và Tuyết Lan liếc
nhìn ra cửa: lại một chiếc Honda tắt máy. Người đàn bà có sợi dây chuyền vàng
buổi sáng đã xuất hiện. Trên tay chị ta xách một giỏ đầy ắp bánh, kẹo. Rất tự
nhiên, chị ta ngồi vào bàn của người đàn ông mới tới. Họ nghiêng đầu chào nhau,
im lặng trong giây lát, rồi người đàn bà hỏi nhỏ:
- Anh Ba chờ em lâu chưa?
- Dạ. Mới mười phút! Chị
dùng cà phê hay nước ngọt?
- Nước ngọt!
Cô chủ quán đã bưng ra ly nước ngọt đặt trước người khách
mới vào.
Người đàn ông ngả người
trên thành ghế:
- Tôi mang cho chị đủ 50 “cây” Samit, còn chị?
Người đàn bà đong đưa con
mắt:
- Tôi chỉ có một. Thế
là... “huề”!
Chị ta vừa dứt tiếng “huề” thì từ ngoài cửa có tiếng hỏi thật to:
– Chiếc xe chở thuốc lá
Samit này của vị nào đây?
Người đàn ông giả vờ hoảng
hốt:
- Mấy cha thuế vụ lại làm
phiền chi đây.
Nói rồi, anh ta lên tiếng:
- Của tôi đó! Mấy anh
muốn gì?
Hai thanh niên bước vào,
nghiêm trang nói:
- Chúng tôi là ban quản lý
thị trường quận, yêu cầu ông cho xem số hàng nhập ngoại này đã nộp thuế chưa?
Nụ cười vụt tắt trên môi
người đàn bà, chị ta hơi biến sắc, song lại kịp lấy lại vẻ điềm tĩnh, chờ đợi
đối phó với tình hình xấu có thể xảy ra. Chiếc giỏ cói chứa đầy bánh kẹo dưới
chân chị ta được gạt ngay vào gầm bàn. Cùng lúc, hai cán bộ quản lý thị trường
đã tiến đến sát mặt người đàn ông:
- Xin lỗi. chúng tôi muốn
hỏi: số thuốc lá nhập ngoại của ông sao chưa được dán tem thuế?
- Dạ, chưa. Mấy anh thông
cảm, châm chước cho tôi chút xíu mà!
Anh ta chìa bao thuốc lá ra
mời hai thanh niên. Cả hai đều xua tay:
- Cảm ơn! Chúng tôi yêu
cầu ông đưa hàng về công an phường để xử lý...
- Dạ, tôi xin nộp phạt và
xin được dán tem thuế ngay ở đây để trao hàng luôn cho chị đây là người mua có được không ạ? Anh ta
hướng sang người đàn bà.
Hai cán bộ quản lý thị
trường như chỉ chờ có thế,
nên hỏi ngay:
– Bà là người mua số thuốc này?
Người đàn bà càng lúng túng
hơn:
- Dạ!
- Vậy xin mời bà, mời ông
đi cùng chúng tôi về phường…
Khách uống ở các bàn chung
quanh đều nhìn đồ xô về phía người đàn bà. Cô chủ quán Hồng Ngọc cũng bước tới.
Một anh cán bộ quản lý nói với cô chủ quán:
- Chúng tôi kiểm tra số
hàng của ông đây là chủ chiếc xe máy ngoài kia!
Anh ta cũng chìa ra trước cô chủ quản hai
chiếc thẻ kiểm tra có đóng dấu son đỏ chói.
Cô chủ quán dịu dàng:
- Dạ, xin mời hai anh cứ
làm nhiệm vụ!
Hai người khách được hai
thanh niên mời ra khỏi quản.
Người đàn bà bước đi và cố
ý bỏ quên chiếc giỏ cói đầy
bánh, kẹo dưới gầm bàn. Văn Sinh đã kịp thời đứng lên nhắc chị ta:
- Thưa bà, bà còn bỏ quên
giỏ đồ dưới gầm bàn đó!
Hai anh thanh niên quay lại:
- Kìa, xin mời bà mang theo chiếc giỏ!
Người đàn bà tái mặt, tay
run run, chị ta cúi xuống miễn cưỡng xách chiếc giỏ cói đi theo ba người ra
cửa.
Hai chiếc honda cùng nổ
máy. Hai anh cán bộ quản lý thị trường cùng cho xe nổ máy hộ tống hai chiếc xe
hàng lậu rời khỏi quán cà phê.
Có tiếng một người khách nói với cô chủ quán:
- Thế là đổ bể hết!
Văn Sinh lại ngồi xuống
cạnh Tuyết Lan:
- Chúng ta đã làm xong
bước một sau những phút giây đợi chờ căng thẳng!
Tuyết Lan nở một nụ cười,
ăn thêm một chiếc bánh ngọt như đề chia sẻ niềm vui với đồng đội.
o0o
Ở trụ sở Công an phường 9,
toàn bộ số hàng của hai người được kiểm kê để lập biên bản xử lý.
Người đàn ông khai tên là
Nguyễn Văn Nam có số hàng 50 “cây” thuốc
lá Samit tính thành bao là 500
bao, trị giá tiền theo giá bán buôn là 800.000 đồng.
Người đàn bà khai tên là
Trần Thị Bích Liên với số hàng gồm có 5 gói kẹo cà phê và 5 gói bánh quy hiệu “Thiên Hương”, giá trị thành tiền là 15.000đ.
Người đàn ông có tên là Nam
tỏ vẻ thành khẩn:
– Tôi xin chịu phạt và nộp
thuế theo quy định của nhà nước. Song để chứng tỏ lòng minh bạch của tôi, tôi
xin bóc tất cả 50 cây thuốc đề các ông coi!
Vừa nói, anh ta vừa xé giấy, bóc từng cây thuốc lá, 500 gói
thuốc lá được xếp thành một đống cao trên bàn.
- Còn phần chị, xin chị
bóc hết số bánh, kẹo này đề kiểm tra!
Người đàn bà run tay, buộc
phải xé từng gói kẹo, bánh. Năm gói kẹo thì đích thực là kẹo cà phê. Còn năm
gói bánh quy thì chỉ có lớp bên ngoài là bánh quy, còn trong ruột lại là một phong bánh có màu đen.
Mặt người đàn bà đã tái
xanh lại càng tái thêm khi anh cán bộ quản lý cất tiếng hỏi:
- Tại sao lại có loại
bánh quy đen này?
Bích Liên cúi gằm mặt,
không sao trả lời được.
Anh cán bộ lại hỏi tiếp:
- Nếu tôi không lầm thì
đây là... thuốc phiện có phải không chị Liên?
Bích Liên buộc phải trả lời:
- Dạ, phải !
- Trọng lượng bao nhiêu?
- Dạ, thưa: mỗi gói 100
gam, 5 gói là 500 gam!
- Chị mang theo để bán trao
tay cho ông Nam?
- Dạ, phải. Tôi đổi lấy 50 “cây”
Samit của ông này.
- Thế là đã rõ. Chúng tôi sẽ lập biên bản xử
lý...
Nguyễn Văn Nam nét mặt rầu
rầu, đốt thuốc hút từng hơi dài, chốc chốc lại lắc đầu tỏ vẻ chán nản và mỏi
mệt.
Bích Liên càng thêm lo sợ,
đôi mắt trân trân nhìn hết anh cán bộ quản lý lại nhìn anh công an trực ban với
vẻ mặt oán hờn, xót xa, tiếc công, tiếc của. Hai bàn tay có những ngón thon nhỏ
của Bích Liên nắm chặt vào nhau, chị ta cắn chặt môi như cố giữ cho nước mắt
khỏi trào ra.
Đôi mắt Liên tối xầm cả
lại. Tâm trí Liên rối bời với ý nghĩ cay đắng: “Thế là hết! Thế là hết!”
Trước mặt Bích Liên, anh
cán bộ quản lý đang chuẩn bị bút, giấy để lấy lời khai ban đầu của các đương sự...
2. “LUẬT
RỪNG”
Bích Liên ngồi một mình
giữa bốn bức tường trại giam, đầu óc tưởng chừng muốn vỡ tung ra vì đang suy
nghĩ mung lung về câu hỏi của cơ quan điều tra.
- Ai đã bán cho chị số thuốc phiện 500 gam
bị bắt quả tang tại quán cà phê Hồng Ngọc và cả 500 gam cất giấu trong tủ hai
đáy ở nhà chị mà công an đã khám xét thấy?
Suốt 15 ngày qua, chị chỉ
trả lời một câu:
- Số thuốc đó tôi mua của
một người đàn ông tình cờ gặp ở quán cà phê mụ Tư Mập gần bến Bạch Đằng, do một
tên chuyên chích xì ke giới thiệu...
Công an đã xác minh lời
khai của chị và baó cho chị biết:
- Mụ Tư Mập nói rằng: mụ
không hề quen biết chị. Hàng ngày có hàng trăm lượt khách đến uống cà phê, mụ
làm sao nhớ nổi? Còn tên chích xì ke bụi đời kia cũng biến dạng luôn. Người đàn
ông bán thuốc cho chị là ai, ở đâu? Có trời mà biết được!
Công an không dễ gì chịu đề
chị lừa gạt, nên đã nói dứt khoát:
- Chị khai chưa thành
khẩn đâu chị Liên ạ. Chị nên nhớ rằng pháp luật chỉ khoan hồng, giảm nhẹ cho
những ai tỏ ra ăn năn, hối lỗi và thành thật khai báo rõ ràng. Chúng tôi đang
tiếp tục làm sáng rõ vụ án và sẽ tìm ra tất cả...
Được dịp, Bích Liên nói lại
anh công an:
- Đối với tôi, sự thật chỉ có thế. Các ông nói rằng các ông
sẽ tìm ra, sẽ biết tất cả, vậy cần gì còn phải hỏi tôi?
Chiều hôm qua, anh công an
còn hỏi thêm chị:
- Chị gặp ông Nguyễn Văn
Nam ở tiệm Quảng Phát, chị đã chủ động đặt vấn đề bán thuốc cho ông Nam có phải
không?
Chị đã trả lời:
- Dạ phải. Ông Quảng Phát
có bàn đèn tiệm thuốc và bán thuốc chín cho khách hút hàng ngày. Ông Nam là
khách hút. Tôi không nghiện, song phải dò ra, tìm đến nhà Quảng Phát để tìm mối bán thuốc. Quen ông Nam rồi qua
ánh mắt nhìn, qua lời nói thăm dò đôi ba lần, tôi đã chủ động hỏi ông Nam có
cần mua thuốc không? Ông Nam đã nhận mua. Song qua diễn biến sự việc, dẫn đến đổ bể hôm nay, tôi có thể khẳng định rằng: chính ông Nam là công an “mật”, còn tôi thì đã nhẹ dạ, cả tin, đã mất cảnh giác với ông ta nên
tôi mới đến nông nỗi này. Tôi chỉ tự trách mình là thiếu thận trọng trong công
việc làm ăn. Tội của tôi, do tôi làm, tôi xin chịu tội đi tù, chỉ có thế thôi,
các ông có hỏi nữa cũng bằng thừa.
Bích Liên tự nhủ:
“Bằng giá nào ta cũng
không để lộ đường dây. Khai báo là phản bội những người cùng hội, cùng thuyền.
Chị nhớ lại cái “Hội
Thề” với ba nhân vật: hai
người đàn ông kia mang mật hiệu C1, C2, còn chị mang mật hiệu C3. Hội Thề hôm
chị tự nguyện nhập băng đã được tổ chức rất trang nghiêm. C1 đã giới thiệu C2
với chị. C2 nói:
- Chúng ta chỉ có “Luật Rừng”, ai giữ được bí mật thì sống, ai để lộ thì... mất mạng!
Nếu không may bị bắt thì cắn răng mà chịu, “Hội Thề” sẽ thăm nuôi tiếp tế thức ăn, đồ uống
hoặc lo lót để sớm được ra tù. Ngược lại thì có thể bị lũ “đại bàng”, “quỷ cái” trong
trại giam sát hại hoặc sẽ bị chết bất ngờ, thê thảm, chưa kể vợ hoặc chồng, cha
hoặc con bị hại ngay “tại
gia” (!). Hội Thề không có
biên bản, ghi âm, song tất cả đều phải “nhập tâm” và phải bảo đảm bí mật của “Hội” bằng chính mạng sống của mình.”
Bích Liên đã cụng ly rượu
mạnh, uống 100% với hai gã đàn ông có cái tên C1, C2.
Các anh công an không dùng
roi vọt nhục hình mà chỉ thuyết phục bằng lời nói, điều đó khiến cho Bích Liên
yên tâm, vững dạ, tin tưởng rằng chị ta sẽ giữ được trọn vẹn “lời thề” sống chết với C1, C2. Những mật danh này chỉ dùng để viết thư
hoặc điện tín bảo tin cho nhau khi cần thiết. Trong khi tiếp xúc với nhau, lại
dùng những cái tên thật giản dị: anh Hai (C1) anh Ba (C2), chị Tư Liên (C3).
Địa chỉ của anh Hai, anh Ba, Bích Liên cũng không được biết. Ngược lại, họ cũng
không cần biết địa chỉ của chị Tư Liên. Họ quen nhau ở tiệm hút Quảng Phát và
dự “Hội Thề” ở khách sạn Hoa Sen. Tiền, vàng và hàng
hóa đều phải đủ và là thứ thiệt, ai làm trái “điều lệ” này đều bị xử phạt theo “Luật Rừng”.
Bích Liên chỉ còn một hy
vọng, một hy vọng rất mỏng manh ở Nguyễn Nhân chồng chị – Nếu Nhân giữ được mọi
điều bí mật thì công an cũng đành chịu bó tay. Mà Nhân làm sao biết được công việc làm ăn của vợ! Từ lâu,
anh ta chỉ biết coi nhà và quản lý cho được thằng con trai mười tuổi để nó khỏi
lêu lổng, trốn học đi chơi với
lũ trẻ hư ngoài đường phố. Có lần Nhân hỏi về thứ “cơm đen” để trong nhà, Bích Liên đã trừng mắt:
- Ông đừng có thóc mách
vào việc làm ăn của tôi! Ông vớ vẩn thì lại rũ tù. Tôi mà ngồi tù thì bố con
ông đi ăn mày sớm!
Bị vợ cho “một thôi, một hồi” anh chồng vội cúi mặt ngồi im thin thít. Lúc ấy, quả thật
Bích Liên cũng thấy thương
hại anh, song không thể làm thế nào khác được! Ba hoa hoặc bép xép đều có hại nên chị cứ
phải giả vờ thịnh nộ với chồng con để chồng con liệu mà “giữ mồm, giữ miệng”
Còn bà con hàng xóm, láng
giềng, chắc chắn không ai biết gì hơn về cái nghề chạy chợ của chị ta: mua về
cho chồng đủ loại thuốc lá nội, ngoại đề anh chồng ngồi bán bên cạnh tủ thuốc
lá bán lẻ đặt ở trước nhà làm tấm bình phong che mắt thế gian.
Bất giác Liên nhếch mép
cười, nụ cười nửa miệng vừa cay đắng vừa kiêu hãnh.
Bên ngoài song sắt nhà
giam, ánh nắng ban mai đã rạng. Song Bích Liên vẫn thấy tâm trí rối bời với
những ý nghĩ đen tối, chưa biết ngày mai sẽ còn xảy ra những gì khi các anh
công an lại gọi chị đến phòng hỏi cung.
3. TÂM TƯ CỦA NGƯỜI CHỒNG BẤT
HẠNH
Văn Sinh bấm nút chiếc máy
ghi âm và nhìn người đàn ông đang ngồi trước mặt nhẹ nhàng nói:
- Anh Nhân! Anh cứ cho chúng tôi nghe những ý kiến khách
quan của anh về những việc làm phạm pháp của chị Liên, vợ anh!
Khuôn mặt khắc khổ của Nhân càng khắc khổ hơn,
anh ta nói chậm chạp:
- Dạ, tôi xin trình bày
về gia đình tôi và về cô Liên, vợ tôi. Tôi trước là giáo viên cấp 2 và vợ tôi
là nhân viên thu mua của Công ty nông thổ sản. Sau khi miền Nam được giải
phóng, năm 1976 chúng tôi xin vào công tác tại Sài Gòn, vẫn làm việc cũ. Hai
năm sau, vợ tôi sinh một cháu trai - cháu Tuấn - nay
đã 10 tuổi. Khi mới vào Sài Gòn, chúng tôi dồn tiền mua được căn nhà nhỏ có lầu
đúc và ở đó cho đến ngày nay. Tiện nghi sinh hoạt mua từ ngày ấy đến nay đều đã
cũ, cuộc sống ngày thêm khó khăn. Nhân có việc vợ tôi tham ô công quỹ năm 1980, chúng tôi đều
xin về nghỉ theo chế độ mất sức, tôi đứng bán thuốc lá, vợ tôi chạy chợ, buôn
hàng xách, đủ các thứ hàng “thập cẩm”, gặp thứ gì buôn có lãi là mua như: vải, quần áo, mỹ phẩm, thuốc
tây, thuốc lá ngoại và đến nay cô ấy tha về cả thuốc phiện mà các anh đã bắt
được quả tang. Nếu cứ
làm ăn chân chính thì cuộc
sống cũng khá sung túc rồi, song vợ tôi lại không muốn thế. Cô ấy muốn phất lên
thành tỷ phú, nên tìm con đường buôn hàng quốc cấm. Hàng ngày cô ấy tiếp xúc
với đủ loại tư thương, tiêu xài xả láng, uống rượu, hút thuốc như nam giới. Cô
ấy nói với tôi: anh là con mọt sách, sống khổ hạnh như thầy tu, anh không thể
bắt buộc tôi phải sống như anh. Tôi có cuộc sống riêng của tôi. Người ta làm giàu
đầy ra đấy, mình có cái đầu, cái tay, cái chân, cái miệng, lại có vốn, không
biết buôn bán là hâm! Buôn bán khôn khéo thì... còn lâu công an mới bắt được
tôi! Mà có bắt được tôi thì chỉ ba ngày là tôi lại ra, dễ ợt! Cô ta cứ trượt
mãi theo cái đà ấy. Mâm cơm có đầy thịt cá, nhưng mà... tôi đâu có sung
sướng...
Người đàn ông rầu rầu nét
mặt, tiếng nói bỗng tắc nghẹn trong cổ. Anh ta im bặt và cúi xuống, khuôn mặt
như tối xầm lại. Một lúc lâu, Văn Sinh cử đề mặc anh ta ngồi im. Sinh rót một
ly nước mát, đầy về phía anh ta và nói:
- Anh Nhân uống nước đi,
suy nghĩ và kể tiếp cho tôi nghe :
Nhân uống một ngụm nước, đặt cái ly xuống bàn
và nghẹn ngào nói tiếp:
- Tôi vừa nói với anh,
tôi đâu có sung sướng, có
hạnh phúc! Điều này tôi chưa nói với ai bao giờ, song hôm nay tôi xin nói với
anh, chẳng phải để làm giảm nhẹ tội cho vợ tôi đâu, vì vợ tôi đã phạm tội lớn,
tôi chỉ nói rằng, tôi rất khổ tâm khi được biết cuộc sống sa đọa của cô ấy, từ khi
cô ấy có nhiều tiền thì cô ấy không còn chung thủy với tôi nữa. Cô ấy lang chạ
với nhiều người mà cô ta gọi chung là “bạn buôn”, “buôn có bạn, bán có phường, anh cấm tôi
thế nào được!”. Tôi
âm thầm đau khổ. Nói ra thì ầm cửa, ầm nhà,
ảnh hưởng xấu tới con cái, mà cũng chẳng giải quyết được gì. Tôi đành nhắm mắt
làm ngơ, mặc cho cô ấy làm gì thì làm. Kết quả bây giờ, cô ấy đã phải vào tù!
Nói thật với anh, tôi có thể xin ly dị với cô ấy được rồi, tôi không muốn chung
sống với cô ấy nữa, nhục lắm và con tôi sau này sẽ còn nhục hơn nữa khi nó biết
mẹ nó hư hỏng và phạm pháp. Buôn thuốc phiện lậu, tôi biết tòa sẽ xử nặng, ít
nhất cũng 5, 10 năm tù giam, còn chi nữa mà mong hàn gắn lại gia đình?
Nước mắt giàn dụa trên
khuôn mặt người chồng bất hạnh. Anh ta lại ngồi câm lặng hồi lâu.
Văn Sinh đốt một điếu
thuốc, đứng dậy đi đi lại lại trong không khí oi ả và nặng nề. Anh lại ngồi
xuống ghế, ôn tồn:
- Anh Nhân ạ, tôi cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh của
anh. Chị Liên phạm tội, pháp luật sẽ nghiêm trị, song nếu chị ấy thành khẩn
khai báo thi án tù vẫn có thể giảm nhẹ một phần. Anh nên góp phần làm cho sáng
tỏ vụ án. Chúng tôi mời anh đến đây hôm nay chỉ muốn anh nói cho rõ mối quan hệ
của chị ấy với những tên buôn lậu. Chị ấy còn muốn che giấu cho đồng bọn, gây khó
khăn cho việc điều tra. Vậy anh cho biết: gần đây có những người nào là bạn
hàng của chị ấy thường tui tới nhà anh?
– Dạ, không có ai đến nhà
tôi, bởi cô ấy thường quan hệ với họ ở ngoài chợ, ngoài phố hoặc ở nơi nào
khác, vì cô ấy thường nói: “Hàng xóm lắm đứa hay xoi mói lắm, tôi không tin ai cả. Làm ăn là
phải kín đáo, nên tôi mua bán là phải mua bán ở nơi khác”.
– Có bao giờ chị ấy đi chơi
xa, nhiều ngày hoặc một vài ngày vắng nhà?
– Dạ, có! Mỗi năm cô ấy về Bắc một lần để thăm bà
mẹ đẻ ở Hà Nội. Ở miền Nam, có ấy thỉnh thoảng có đi Long Xuyên, Tây Ninh, để mua hàng và đi Nha Trang, Vũng Tàu đề
nghỉ mát.
Văn Sinh đặt bút, xoa tay:
– Thôi, cảm ơn anh đã cho
chúng tôi biết ý kiến về chị Bích Liên, chúng tôi đã hiểu thêm về tư cách đạo
đức của chị ấy, đồng thời biết được do đâu mà dẫn đến phạm tội. Dù sao anh cũng
nên viết thư cho chị ấy, động viên chị ấy khai báo rõ ràng. Còn việc anh nói
rằng sẽ ly dị, thì tôi thành thực khuyên anh là không nên, vì dù sao chị ấy
cũng là một người bị hoàn cảnh bên ngoài cám dỗ, tự mình không làm chủ được mình, nên mới dấn
sâu mãi vào con đường tội lỗi.
- Dạ. Xin cảm ơn anh. Xin
anh đề cho tôi có thời gian suy nghĩ thêm...
4. ĐỘNG PHÙ DUNG
Vũ Hùng phanh áo, để lộ ra
một bộ ngực nở nang có xăm hình một con rồng bay và hỏi Văn Sinh:
- Cậu trông thử xem mình
đã có tướng “Đại
bàng” chưa ? Hai cánh tay áo
ngắn còn đề lộ bên trái: hai chữ “Hận Đời” bên
phải hai chữ “Hiệp
Khách”.
Văn Sinh cười lên thành
tiếng, nghe thật sảng khoái:
- Dữ dằn quá đấy! Hôm
trước anh đóng vai thương lái Nguyễn Văn Nam để cùng bị bắt với mụ Bích Liên ở quán Hồng
Ngọc, lúc ấy trông anh cứ hiền khô. Bây giờ thì đầu tóc bù xù, lại xăm ngực, xăm cánh tay quái
đản như thế này, ai còn nhận ra Vũ Hùng nữa! Nào ta đi!
Vũ Hùng xốc lại áo, cài lại
khuy, song vẫn đề ngỏ một
khuy để thiên hạ nhìn rõ cái đầu con rồng bay trên ngực. Anh dắt tay Văn Sinh khệnh khạng bước
ra cửa. Hai người bước lên chiếc xe Honda 90. Xe nổ máy lướt trên đường Trần
Hưng Đạo. Tay lái của Vũ Hùng làm cho Văn Sinh thêm yên tâm.
Vũ Hùng nói vừa đủ đề Văn
Sinh nghe:
- Tôi quen thân lão Quảng
Phát rồi, nên thường kêu lão bằng chú và xưng là cháu. Còn đối với mụ Dung là vợ lão
ấy thì mình kêu là “dì” Năm, và cũng xưng là cháu. Cậu cứ theo
mình là vợ chồng lão ấy tin ngay, chỉ cần “chi” cho đẹp, nghe!
Văn Sinh cười:
- Được, được, mình cứ coi ông là “Sếp “ của mình là có thể yên tâm lọt vào “Động Phù Dung” chứ gì!
Mười lăm phút sau chiếc xe
chở Vũ Hùng - Văn Sinh đã dừng lại trước “Quảng Phát tửu điếm”. Từ năm mươi năm trước, tửu điếm Quảng Phát là một tiệm nhậu nổi
tiếng của ông chủ người Hoa, nay chỉ còn lại cái tên cũ. Nội dung hoạt động của
Quảng Phát nay đã khác xưa: nơi giải sầu với một bàn đèn thuốc phiện và 5 phòng
cho thuê kín đáo. Chủ nhân Quảng Phát đã là cháu ba đời của ông cố nội. Vợ chủ
nhân có cái tên thật đẹp: Mỹ Dung, nguyên là một vũ nữ người Việt tại một vũ
trường đường Tự Do cũ. Mỹ Dung bay giờ đã ở tuổi ngoại tứ tuần và được khách
làng chơi tặng cho cái tên đẹp hơn: “Phù Dung
tiên nữ”, bởi vì quầy thuốc lá
của Mỹ Dung chỉ đề ngụy trang cho một “Hôtel trá hình” với tiệm hút thuốc phiện cho khách loại sang.
Vũ Hùng với cái tên “chú Nam” đã lọt được vào đây từ một năm nay như một môn đệ, khi cần có thể
làm vệ sĩ cho vợ chồng Quảng Phát.
Thấy “chú Nam” dắt xe vào, “dì Năm” nhoẻn một nụ cười và nhìn bằng một cái
nhìn kín đáo như muốn hỏi “ai đi cùng chú Nam đó?”.
Vũ Hùng giới thiệu ngay:
- Thằng em này tên gọi “Ba Xa Cảng”, vừa trúng mánh cả triệu đồng, xin đến
thăm Động Phù Dung, cháu
đưa nó đến đây ngay.
Mỹ Dung nói nhỏ:
– Các cháu lên lầu I, có
chú Năm trên đó.
Vũ Hùng và Văn Sinh lên lầu
I, vào phòng khách có đèn nê-ông tỏa ánh sáng màu hồng, ấm áp. Trên một giường
rộng trải đệm mút, chủ nhân Năm Phát đang nằm lim dim mắt sau khi đã hút hết
điếu thuốc thứ ba.
Đối diện với Năm Phát là một cô bồi tiêm hai mươi tuổi có dáng người mảnh mai,
mặc bộ đồ ngủ cực mỏng màu hồng đang nằm nghiêng, tay nâng dọc tẩu, điếu thuốc
phiện đang xèo xèo trên ngọn lửa đèn dầu lạc, tỏa mùi thơm thật quyến rũ.
Vẫn trong tư thế nằm
nghiêng, cô gái cất tiếng dịu dàng:
- Em chào hai anh!
Vũ Hùng đáp lại :
- Chào Lệ Huyền xinh đẹp!
Giới thiệu với em: Ba Xa Cảng, em anh, đến xin làm môn đệ hôm nay đấy!
- Mời hai anh ngồi!
Nghe tiếng nói lao xao, Năm
Phát mở bừng hai mắt, ngồi nhỏm dậy, nói như reo lên:
– A! Thằng Nam! Tụi bay đi
đâu mà giờ này mới tới?
- Dạ thưa chú, cháu bị
thằng em này lôi đi nhậu hoài vì nó mới “trúng mảnh” cả
triệu đồng mà chú!
Năm Phát vui vẻ bước xuống,
lê đôi dép cói đến bắt tay hai người bạn trẻ và cùng ngồi xuống đi-văng:
- Cháu này là cháu Ba Xa
Cảng đây hả?
- Dạ, thưa chú nó là trợ
lý cho một giám đốc công ty xuất nhập khẩu, vừa mua giúp xí nghiệp một xe Toyota, được “Sếp” trích thưởng 5 triệu đồng, bằng 10% giá xe. Phải cống nạp cho “Sếp” hai triệu, còn ba triệu nó mang theo cháu đến đây...
- Ờ, ờ, uống nước, hút
thuốc đi, rồi ở đây với chú một ngày cho... đã!
Năm Phát vừa dứt lời thì Mỹ
Dung cũng xúng xính lên lầu, bước
vào phòng, ngồi xuống cạnh chồng:
– Anh thấy thằng Ba này dễ
thương không?
Năm Phật gật đầu:
- Được, thẳng Nam đã giới
thiệu, đã bảo đảm thì chú chấp nhận!
Rồi như sục nhớ ra, Năm
Phát hỏi Vũ Hùng:
- Cháu có nghe tin con mẹ
Bích Liên bị công an bắt giữ và khám nhà rồi không ?
Vũ Hùng thản nhiên:
- Có lẽ người của đường
dây nó phản đó. Bà ta chưa kịp giao hàng cho cháu thì công an đã tóm cổ. Cháu
cũng bị giữ luôn ba ngày, phải đóng thuế và phạt về 50 cây thuốc lá Samit. Thế
là lỗ vốn luôn một nửa! Cháu phải trình bày, năn nỉ mãi công an mới thả cháu
ra. Cháu đang buồn thiu thì gặp thằng Ba này, thế là cháu đưa nó đến trình diện
chú, trình diện dì Năm
luôn!
Mỹ Dung nhìn Ba Xa Cảng
bằng một cái nhìn trìu mến:
– Ở động Phù Dung một đêm
cho khoẻ!
Văn Sinh “dạ” một tiếng, rồi rút từ túi ra một gíi bạc đặt lên bàn:
- Cháu có ba triệu, xin biếu chủ và dì Năm 500 ngàn, coi như một món
quà nhỏ mọn của chúng cháu!
Mỹ Dung vờ kêu lên:
- Nhiều vậy?
Vũ Hùng vội đỡ lời Văn
Sinh:
- Có gì đâu dì Năm! Chúng
cháu còn phiền chú Năm
nhiều kia mà!
Năm Phát cười, nhìn vợ :
- Các cháu đã cho quà, em
cử nhận đi rồi cho chúng nó lên lầu hai, gọi hai con nhỏ Lệ Hằng, Lệ Hồng cho
chúng nó làm quen với nhau từ hôm nay!
Trong lúc Mỹ Dung lên lầu
2, Năm Phát gọi ngay cô bồi tiêm:
- Lệ Huyền! Cháu hãy dẹp đi chút đã, lấy Uyt-ky ra đây mời khách, nghe!
Cô gái có tên Lệ Huyền đặt
dọc tẩu xuống khay đèn dầu lạc, ngồi nhỏm dậy, buông thõng hai chân xuống đất
và đi về phía góc phòng, mở tủ lạnh, lấy ra một chai rượu mạnh mang đến chỗ Năm
Phát, rồi nhẹ bước lên lầu 2.
Còn lại Năm Phát, Vũ Hùng
và Văn Sinh. Ba người cụng ly.
Vũ Hùng gợi chuyện:
- Thưa chú, hôm nay nhà
có đông khách không ạ?
Năm Phát thủng thẳng đáp:
- Có đâu mà đông! Như cháu đã biết, nhà này chỉ có 5
phòng. Hôm nay hai cháu ở phòng số 1. Phòng số 2 đã có một ông giám đốc mới ở
Hà Nội vô với cô “bồ nhí”, ông ta phải nạp cho chú 3 chỉ vàng rồi! Phòng số 3 dành cho một tổng giám đốc vừa
mất chức vì tội bán chữ ký lấy xe cúp. Lão ta tìm thú giải sầu và chịu chơi với giá 1 cây vàng
đề được hưởng một đêm “nhất
dạ để vương”. Chú đã cho gọi 10 con nhỏ đóng vai 10 cung nữ
đề hầu “Hoàng Đế” hôm nay!
Văn Sinh vờ kêu lên:
- Mắc dễ sợ hả chú?
Năm Phát:
- Có thể gọi đây là “tiểu Bồng Lai” hay “tiểu Hồng Kông” cũng được! Cái giá một cây vàng đâu có mắc, vì tất cả tiền,
vàng đều hốt được của nhà nước mà! Đâu có phải của mồ hôi, nước mắt mà tiếc!
Lão tổng giám đốc này đến tuổi nghỉ mà chưa chịu nghỉ hưu, còn cố ở lại bám ghế
để bản chữ ký lấy xe cúp.
Trong nhà ông ta còn đầy ắp bạc, vàng. Đáng lẽ phải tù, song có ô dù nên chỉ bị
buộc phải về hưu thôi...
Vũ Hùng trở lại mục đích
của mình:
- Dạ, thưa chú, ban nãy,
chú có nói đến chuyện mụ
Bích Liên sa lưới công an, chú có cách nào gia ân cứu giúp cho mụ ta thoát tù được không?
Năm Phát lắc đầu:
- Chú chịu đó. Hai cái
nghề tiêm chích và cho mướn phòng này, chú đã hốt bạc lắm rồi, cần gì phải theo
nghề thầy cò nữa. Mụ Bích Liên cứ ráng chịu lãnh án mấy năm tù giam rồi “chạy” sau để được giảm nhẹ hoặc ân xá vì “đã cải tạo tốt” vào dịp Quốc Khánh một năm nào đó là ngon
nhất!
Vũ Hùng khơi thêm:
- Cháu nghe bà Bích Liên
có ông bồ cỡ bự lắm cơ mà! Sao không nhờ ông ấy “chạy” cho?
- Chẳng biết có phải bồ không, trước đâythỉnh thoảng mụ ấy có dắt lão ta đến đây nói chuyện hàng hóa gì
đó. Chú không quan tâm. Chỉ nhớ
lão ấy tên là Hai Râu vì có một bộ râu kiểu râu Nguyễn Cao Kỳ đó!
Năm Phát bật cười làm cho
hai anh bạn trẻ cũng cười theo.
Vũ Hùng giả vờ ngỡ ngàng:
- Thưa chủ, có phải cái lão
mập mập, hay mặc bộ đồ xanh rêu đó không, cháu đã có lần gặp đi với bà Liên?
Năm Phát gật gù:
- Chính y đó ! Đến đây y
tỏ ra rất lễ độ và cũng chơi rất đẹp!
Văn Sinh ngồi im nghe câu
chuyện đổi thoại giữa Năm Phát và Vũ Hùng. Anh có thói quen không cần ghi chép
mà mọi chi tiết đều được ghi vào bộ nhớ của cái đầu thông minh, chẳng khi nào
sai sót.
“Người mập mập, có bộ râu
kiều râu Nguyễn Cao Kỳ”. Văn
Sinh mỉm cười với Năm Phát và nói một câu để thăm dò:
- Có một ông bồ cỡ bự thì
sớm muộn bà Liên cũng được về thôi, phải không chú?
Năm Phát cười khà khà:
- Các cháu biết không? Ở
Cô-lông-bi-a bọn Maphia buôn
ma túy hoành hành dữ nhất thế giới, làm cho chánh phủ phải điên đầu. Cả guồng
máy cảnh sát có xe, có súng, có máy bay trực thăng đang truy quét bọn này. Ở
Xanh-ga-po kẻ nào mang 300 gam bạch phiến đã bị án tử hình, năm vừa qua, hơn 20
người đã bị treo cổ, luật nghiêm như vậy nên mới cấm được buôn lậu ma túy, giữ cho thế hệ thanh niên ở đó không bị
băng hoại. Còn ở ta đây, các cháu thấy đó: năm trước mụ Phương tích trữ 26 kg
thuốc phiện mà chỉ bị kết án 12 năm tù giam, nếu “cải tạo tốt” thì đâu có phải là 12 năm? Bà Bích Liên
bị tịch thu có 1 kg thì sẽ xử mấy năm nhỉ? Vì biết được “luật” như thế, nên Năm Phát này cứ ung dung hành nghề mà các cháu thì
cứ yên tâm đến Động Phù Dung nghe không? Phép vua thua lệ làng, chỉ cần “ông Phường” cho qua là được. Quận và thành phố thì
cao xa vời vợi, dễ gì đã đến được đây? Và nếu có vị nào xông xáo đến đây thì
chú sẽ huy động đội nữ binh trẻ kia cho các vị vào “mê hồn trận” là... huề! Nhà nước còn bận nhiều công
to, việc lớn, chứ ai đã quan tâm đến Năm Phát, có phải không, các cháu?
Vũ Hùng bật cười:
- Chú Năm nói có lý!
Văn Sinh thêm:
- Chú cứ làm nhẹ nhàng như thế này thì công an biết đầu mà mò, phải
không chú?
Khói thuốc, hơi men làm cho
câu chuyện của ba người thêm rôm rả.
Văn Sinh nhủ mình:
– Không vào hang sâu, làm sao bắt được cọp dữ. Ở lại đây một đêm, biết đâu mình và Vũ
Hùng lại chẳng tìm ra được một cái gì bổ ích ?
5.
LẦN THEO DẤU VẾT
Sau khi nghe Văn Sinh báo
cáo những diễn biến chung quanh vụ án trong ba tuần qua, đại tá Trần Vinh,
trưởng ban chuyên án hỏi lại:
- Các cậu nhận xét thế nào về mụ Bích Liên? Nó
là vệ tinh hay là trùm sò?
Trước mặt ông là ba trinh
sát trẻ: Văn Sinh, Vũ Hùng và Tuyết Lan. Họ ngồi im lặng, chừng như còn phải
tìm câu trả lời sao cho chính xác đề thủ trưởng có cơ sở vững chắc chỉ đạo các
trận đánh tiếp theo.
Đại tá Trần Vinh nói
tiếp:
- Ta mới phát hiện một đầu
mối tiêu thụ và bắt giữ được một đối tượng với lượng hàng chỉ có 1 kg ta chưa
thể hài lòng được.
Văn Sinh trả lời thẳng vào
nỗi băn khoăn của đại tá:
- Thưa chú, cháu và anh Vũ
Hùng khẳng định mụ Liên là một vệ tinh, một đầu mối tiêu thụ ở đây.
- Vậy trùm sò của nó là ai? Ở đâu? Lượng ma
túy còn nằm ở kho bí mật nào? Các cậu còn phải tìm kiếm vất vả!
Câu hỏi này thì cả hai bạn
trẻ đều chưa trả lời được. Đại tá Trần Vinh cười rung rung cả mái tóc đã hoa
râm của ông. Ông nhìn thẳng vào Tuyết Lan:
- Còn cháu gái của chú! Thế
nào? Cháu có thể trả lời chủ được chưa?
Tuyết Lan chớp chớp hàng
mi:
- Dạ, thưa chú, giữa cái
thành phố ngót 4 triệu dân này, tìm ra được tên trùm sò quả thực là khó. Cháu
xin cùng các anh Văn Sinh, Vũ Hùng cố gắng hết sức mình để sớm phá án.
Đại tá Trần Vinh xoa xoa
cái cằm, nói ôn tồn:
– Phá án vụ này quả thật là
khó, khó lắm đó. Song chú cũng lưu ý: Vũ Hùng và Văn Sinh đã vào được Động Phù
Dung, đã thu được một vài tín hiệu ban đầu, cần tiếp tục sàng lọc, đừng để bị
nhiễu sóng, Và Tuyết Lan với khả năng riêng của cháu, cháu cố gắng góp công,
góp sức để tìm ra được bí mật của đường dây buôn lậu ma túy này, chú sẽ góp
thêm kinh nghiệm nghiệp vụ với các cháu. Văn Sinh! Cho chú nghe ý kiến của cháu
xem nào!
Văn Sinh nói sôi nổi:
- Dạ, thưa chú, qua việc
tiếp xúc với ông chồng mụ Bích Liên, cháu biết: trong gia đình, mụ này lấn át
hết chồng con; ngoài xã hội, mụ ta rất giảo hoạt, nhất định mụ phải có đồng
bọn. Mụ ta sẵn sàng chịu trận một mình để che chở cho đồng bọn. Theo cháu, cần
phải lần tìm theo dấu chân của Bích Liên ở Sài Gòn cũng như ở những nơi mụ ta
thường lui tới, mới có thề phát hiện được bí mật của đường dây...
Đại tá Trần Vinh điềm đạm:
- Văn Sinh nói có lý! Ta
không thể nào ngây thơ đến mức tin được lời khai bịp bợm của mụ Bích Liên mà sa
lầy vào quán mụ Tư Mập cho mất thì giờ. Hãy mở rộng diện điều tra ra nhiều điểm
khác, tìm hiểu thêm nhiều đối tượng khác. Nên hỏi chuyện thêm ông chồng mụ
Liên. Từ mâu thuẫn gia đình, anh ta có thể thổ lộ thêm những chi tiết có ích,
phải làm công tác tư tưởng tốt với anh ta... Đó là ý kiến của chú hôm nay, tuần
sau, cũng vào chiều thứ bảy, chú cháu ta lại về đây hội ý, chú hy vọng sẽ có
được những thông tin mới. Chúc các cháu thành công.
o0o
Buổi sáng hôm sau, một sáng
chủ nhật đẹp trời, ba trinh sát trẻ chia tay nhau lên đường làm nhiệm vụ. Tuyết
Lan ra xa cảng miền Đông đi Nha Trang. Văn Sinh và Vũ Hùng ra xa cảng miền Tây,
rồi Văn Sinh đi Tây Ninh, Vũ Hùng đi An Giang.
Năm ngày sau, cả ba người
đều quay trở lại Sài Gòn. Trừ Văn Sinh có bộ mặt ủ rũ, còn Vũ Hùng và Tuyết Lan
đều vui mừng hớn hở.
Văn Sinh báo cáo trước:
- Mình đi khắp cả 10 khách
sạn lớn nhỏ ở Tây Ninh, theo dõi số nhật biên của các quản lý khách sạn, không
hề thấy có ghi tên người khách nào là Nguyễn Thị Bích Liên đến đây trong tháng
8. Có thể là tuần đầu tháng Liên có đến đây, song lại ngủ tại một cơ sở chứa
hàng lậu nào đó chăng?
Vũ Hùng mở một trang sổ tay
có ghi rõ: ngày 10 tháng 8, tại phòng số 5 khách sạn An Giang có hai người
khách trọ mang tên Nguyễn Thị Bích Liên chứng minh thư số... và Nguyễn Thị Kim
mang CMT sổ... thời gian lưu trú: 2 ngày 10 và 11 tháng 8.
Tuyết Lan long lanh đôi mắt
báo cáo:
- Em cũng đạt yêu cầu: đoán biết mụ Liên không
thể ở khách sạn loại bình thường, nên em đến ngay khách Hải Yến, một khách sạn
nổi tiếng của Du lịch Nha Trang, em đã ghi được như sau...
Lan chỉ vào một trang số
tay: tại phòng 201 ngày 18, 19 và 20 tháng 8 có hai người thuê ở là Nguyễn Thị
Bích Liên CMT số... và Nguyễn Thị Mai CMT số... Như vậy, đúng như lời khai báo
của ông chồng bà Bích Liên: trong tháng 8, Bích Liên đã có mặt ở Nha Trang và
An Giang đề hoạt động mua bán hàng lậu, còn hai người bạn hàng là Nguyễn Thị
Kim và Nguyễn Thị Mai đều là dân Sài Gòn; ta sẽ lần theo địa chỉ của họ ghi trong
CMT, sẽ tìm ra “quý vị” này thôi!
Văn Sinh gật gù:
– Xin hoan nghênh kết quả ban đầu của các bạn.
Ngày mai, chúng mình sẽ báo cáo với đại tá Vinh đề xin chỉ thị của ban chuyên
án. Tôi sẽ lập phương án tác chiến mới...
o0o
Tiệm phở bắc “Thủy Tiên” là
tiệm phở ngon nổi tiếng ở đường Đồng Khởi, mới bốn giờ chiều đã đông khách vào
ăn.
Dừng xe Honda trước quán,
Văn Sinh trong bộ đồ sinh viên với cặp kính trắng, sánh vai cùng Tuyết Lan vào
quán.
Họ ngồi vào bàn ở góc trong
cùng và gọi hai tô đặc biệt.
Năm phút sau, hai tô phở
bốc khói đã được đặt trước mặt hai người.
Văn Sinh vui vẻ:
- Mời Lan thưởng thức tài
nghệ của bà chủ quán Thủy Tiên.
Hai người cầm đũa. Vừa ăn
họ vừa bí mật đưa mắt nhìn về bàn số 5, cách họ bốn bàn. Bàn số 5 có hai người
vào ăn trước họ mười phút. Người dàn bà là Nguyễn Thị Mai — cái tên mà Tuyết
Lan đã ghi được ở khách sạn Hải Yến và truy ra lý lịch – Còn người đàn ông là
người có bộ râu kiểu Nguyễn Cao Kỳ mà Văn Sinh đã được nghe Vũ Hùng miêu tả ở
“Động Phù Dung”, nguyên là bạn hàng có quan hệ với Bích Liên.
Từ Nha Trang, Tuyết Lan đã
phát hiện được địa chỉ của thị Mai và cũng như dự đoán của Văn Sinh rằng sẽ có
cuộc móc nối của thị Mai với đường dây buôn lậu mà tên Hai Râu kia là một mắt
xích quan trọng.
Cuộc gặp gỡ của hai tên
buôn lậu này đang ở trong tầm tay của Văn Sinh. Anh càng cảm thấy phấn chấn
trong lòng. Chút ít phút nữa, anh sẽ phát hiện được địa chỉ của Hai Râu. Hẳn là
ai? Hoạt động thế nào? Văn Sinh sẽ nắm được dễ dàng hay còn có khó khăn? Chừng như
đã đọc được ý nghĩ của đồng nghiệp, Tuyết Lan mim cười nói nhỏ chỉ đủ hai người
cùng nghe:
- Y thật dữ dằn, hẳn là y
còn có lắm mưu ma, chước quỷ!
6.
ĐƯỜNG DÂY BỊ LỘ
Bích Liên bị bắt đã làm cho
Lê Quý thực sự hoang mang, lo lắng. Mặc dù Bích Liên không biết địa chỉ của
Quý, chưa một lần nào đặt chân đến căn nhà này, song công an sẽ khai thác đủ
mọi nguồn tin đề tìm ra xuất xứ của cơm đen! Hoặc mụ Liên có lúc nào mong mạnh
nghe nói đến địa chỉ của Lê Quý thì sao?
Dù sao thì phòng bị từ xa
vẫn là hơn. Ngay sau khi nghe tin Liên bị bắt, Quý đã xa lánh ngay cái “Động
Phù Dung” của lão Quảng Phát, mặc dù hắn biết ở đó còn có hàng chục “bồ nhí”,
mà hắn có thể bỏ tiền ra mua bất cứ lúc nào để hưởng mọi khoái lạc ở đời! Tự
mình Quý đã phải hạn chế đi lại, chỉ ra đường khi cần thiết, thường là vào buổi
tối.
Thấy hắn tự nhiên ít đi
chơi, Thị Minh vợ hắn phải hỏi:
- Sao dạo này anh lại “cấm
cung” thế?
Quý đáp:
- Mụ Liên bị bắt, tức là
công an đã thấy được “đầu ra” của ma túy, họ sẽ tìm “đầu vào”, mình không cảnh
giác, cứ đi lại, quan hệ bừa bãi là... chết!
Cho đến hôm qua, đột nhiên
lại có hàng đến, Quý không để hàng quả lâu ở nhà mình được, nên hắn lại phải
cưỡi xe máy ra cảng Bạch Đằng tìm “vệ tinh”.
Thị Mai đã có mặt ở quán nhậu Bạch Đằng. Thấy
Lê Quý xuất hiện, Mai reo lên khe khẽ:
- Anh Hai Râu! Anh đi đâu
mà anh để em kiếm anh hoài?
Nghe Mai gọi đúng biệt hiệu
“Hai Râu” của mình, Quý nháy mắt:
- Chớ có ồn ào! Tôi đi khai
thác nguồn hàng cho Mai đây!
Lập tức, Mai phốc lên ngồi
sau xe của Quý và cùng và đến quán phở Bắc “Thủy Tiên” ở cuối đường Đồng Khởi.
Thị Mai cũng không ngờ bị
hai chiến sĩ trinh sát Văn Sinh và Tuyết Lan bám sát ngay từ khi thị rời khỏi
nhà mình.
Ăn phở xong, cũng có nghĩa
là thông báo cho Mai biết là “đã có hàng, ở chỗ hẹn cũ”, Lê Quý không nói thêm
một câu. Xe lại nổ máy, Quý đưa Mai ra đường Lê Lợi, đi từ từ rồi đột nhiên
tăng tốc như bay về đường Cách Mạng Tháng 8 và mất hút trong tầm nhìn của hai
trinh sát.
Kinh nghiệm làm ăn đã dậy
cho Lê Quý bài học cảnh giác và khôn ngoan như một con cáo, luôn luôn bứt khỏi
mọi cuộc theo dõi, bủa vây của cảnh sát.
Quả nhiên, Văn Sinh và
Tuyết Lan đã để mất con mồi. Văn Sinh đành tự an ủi:
- Hắn ranh ma thật! Hắn đề
phòng mọi sự bất trắc nên, đã tăng tốc cực nhanh trong khi mình còn chậm chạp.
Tuyết Lan cười gượng:
- Thua keo này, ta bày keo
khác. Ta đã nắm được địa chỉ của thị Mai, thì sớm muộn cũng sẽ biết được địa
chỉ của Hai Râu!
Và bây giờ Hai Râu đã ung
dung ở nhà bàn soạn với vợ công việc làm ăn trong những ngày tới.
Lê Quý hỏi vợ:
- Bây giờ em có thể đi giúp
anh một chút được không?
- Đi gặp cô Mai?
Quý gật đầu nhìn thị Minh:
- Không hẳn như thế. Em chỉ
cần phóng xe qua Bưu điện, nhìn về phía đầu đường Nguyễn Du, nếu em thấy cô Mai
ngồi ở quán cà phê cóc trên vỉa hè, thì em xuống xe ngồi vào cùng bàn với Mai.
Không cần nói một câu nào, em chỉ cần gọi một ly cà phê đen. Uống xong, em làm
như người vô tình bỏ quên gói bánh quy nhỏ này ở bên là đủ. Mai sẽ nhận gói
bánh này, đủ một ký “cơm đen” đấy. Ngày mai, cô ấy sẽ trả tiền mình ở một điềm
khác!
Thị Minh vui vẻ:
- Được, em sẽ làm thật lẹ!
Thị Minh đón gói hàng từ
tay chồng, bỏ vào chiếc giỏ cói, phủ một tờ báo lên trên, rồi dắt xe ra cửa.
Còn lại một mình, Lê Quý
ngồi thừ người trên ghế. Hắn châm lửa đốt một điếu thuốc, mắt nhìn trân trận
vào khoảng không ngoài cửa sổ căn lầu. Hắn nghiến răng lại trong một tư thế
thấp thỏm chờ mong một cái gì đó sẽ xảy đến, có thể là một điều may mắn: đường
dây không bại lộ, vợ chồng hắn được sống yên ổn, an toàn; hoặc là điều rủi ro:
công an cứ từng bước lần tìm ra đầu mối và... đổ bể!
Hắn rùng mình khi nghĩ đến
điều rủi ro ấy: nếu lại phải chịu chung số phận với Bich Liên?
Từ khi Lê Quý dấn thân vào
nghề buôn bán “cơm đen”, hắn đã tự nhủ: nếu gặp phải bước đường cùng, sa lưới
công an thì đành chấp nhận mấy năm tù đề có một số vốn sau này, hoặc cùng lắm
là... vượt biên!
Lê Quý chìm đắm trong những
suy nghĩ miên man, hầu như bất động trên ghế cho đến khi vợ hắn, dắt xe đẩy cửa
vào. Thị Minh buồn rầu nói:
- Có thể có chuyện chẳng lành đã xảy ra, nên
Mai không có mặt ở quán cà phê cóc, em đã lượn đi lượn lại đến năm lần qua điểm
hẹn mà không hề gặp.
Từ trước đến nay, có bao
giờ cô ấy lỡ hẹn? Nếu vì ốm đau, bận bịu thì phải có chồng con ra đợi và báo
tin cho mình ở điểm hẹn chứ!
Thị Minh dựng xe vào góc nhà rồi đặt trả lại
gói hàng lên bàn.
Lê Quý nghe tim đập dồn
dập, song y vẫn cố trấn tĩnh:
- Cứ bình tĩnh đề đợi xem
sao…
Thị Minh biết có ngồi lại
nữa cũng không hiểu thêm được gì, nên bỏ mặc chồng ngồi một mình và lui vào
phòng ngủ.
Lê Quý dụi mẩu thuốc lá
đang chảy vào chiếc gạt tàn. Hắn lại đốt điếu thuốc mới. Làn khói thuốc xanh
bay tỏa lặng lờ. Bên ngoài cửa sổ, nắng chiều đã tắt. Bóng chiều đang xẫm dần
lại. Lê Quý cầm gói hàng vợ vừa đem về, ném vào tủ lạnh rồi lại về oải gieo
mình xuống đi-văng.
Đến khi thành phố đã lên
đèn, Lê Quý lại nghe có tiếng gõ cửa dè dặt. Hắn chậm chạp đi ra phía cửa. Mở
cửa, Quý giật mình kêu lên:
- Chị Kim! Người đàn bà bé
nhỏ lặng lẽ bước vào. Chị ta ngồi xuống ghế, nói như muốn đứt hơi:
- Anh Quý! Cô Mai... bị...
bắt rồi!
Thoáng nghe có tiếng người
nói chuyện với chồng, Thị Minh cũng lò dò từ trong phòng ngủ đi ra, ngồi xuống
cạnh chồng:
- Chị Mai bị bắt rồi sao?
Thị Kim chưa hết hoảng sợ:
- Em đến Động Phù Dung, tìm
mấy thằng chích xì ke định hỏi thăm giá hàng hôm nay thì được lão Quảng Phát
cho biết tin chị Mai vừa bị công an bắt tại nhà và bị khám nhà. Công an có tịch
thu 500 gam thuốc phiện, một số vàng và tiền mặt. Có lẽ vì bà Bích Liên khai
bậy, khai bạ gì đó rồi. Tình hình xấu đến như vậy, bây giờ anh chị tính sao?
Lê Quý bật thêm một ngọn
đèn cho sáng, rót nước mời thị Kim rồi nói nhỏ:
- Động rồi đó! Song cô Mai
là người gan dạ và thường sống hết mình với bạn bè. Ta có thể tin ở cô ấy được.
Cô ấy dễ gì đã khai báo lung tung. Tuy nhiên, không ai được chủ quan. Trước hết
là thanh lý cho nhanh số hàng còn đọng ở trong nhà. Phải phân tán hết ngay tối
nay, kể cả tiền, vàng nếu còn đồng nào cũng phải “yểm” ngay ở nhà bà con quen
thuộc thân tín, để nếu rủi ro có bị công an khám nhà thì cũng chẳng có tang
chứng gì đề làm tội mình.
Thị Kim thổ lộ ngay:
- Trong nhà em cũng chẳng
còn gì! Em chỉ lo cho anh chị thôi.
Lê Quý nói với vợ:
- Đó, em thấy chưa? Phải
giải quyết cho lẹ đi!
Thị Minh nhìn chồng:
- Dạ. Em hiều.
Nửa giờ sau, thị Kim đã lén
ra khỏi nhà Lê Quý. Vợ Quý cũng gói hàng, gói vàng, gói tiền bỏ vào giỏ xách,
dắt xe ra cửa, đem đi cất giấu.
Còn lại một mình, Lê Quỷ
khép cửa, khóa lại và nằm vật ra giường chán nản, buồn bã, lo âu... Cả một
chuỗi dài những năm tháng vật lộn để kiếm sống và phất lên giàu có như một cuốn
phim dài lần lượt diễn ra trong tâm trí tay đàn anh trong đường dây buôn lậu có
hạng này. Ngày hai vợ chồng từ Hà Nội lếch thếch mang “khăn gói quả mướp” vào
Sài Gòn lập nghiệp, chung quanh hắn là tất cả sự giàu có đến sửng sốt, sự sang
trọng đến ngỡ ngàng. Buổi đầu hai vợ chồng chưa hết hoa mắt vì Sài Gòn hoa lệ,
đã được phân phối một căn phòng 15 mét vuông trên lầu 4 của một công ty ăn uống
dịch vụ.
Hai vợ chồng để ra một tuần
lễ đi dạo quanh thị trường, lang thang như người “nhà quê ra tỉnh”. Ừ mà quê
thật! Từ cái ăn, cái mặc đến sự giao tiếp, vợ chồng hắn đều cảm thấy thấm thía
rằng quả là mình “quê” thật, “quê một cục” chứ chẳng phải đùa nữa!
Thành phố vừa giải phóng,
nhà hàng, cửa tiệm còn ăm ắp hàng hóa, cái gì cũng đẹp, cũng rẻ hơn ở Hà nội.
Kết luận sau cùng của vợ chồng hắn là: mình ít tiền! Mình nghèo quá!
Bên tai hắn chỉ còn những
hồi trống giục cứ như vang lên từng đợt: Tiền! Tiền! Và tiền!
Hắn dò la, thăm hỏi những
người vào Sài Gòn sớm hơn hắn về cách thức làm ăn buôn bán. Một hy vọng đã loé
lên trong đầu hắn: phải có ít vốn đề tập sự làm ăn, buôn bản, mánh mung... Buôn
đài, xe, vải lụa, son phấn, nước hoa, thậm chí mua cả búp bê, đồ chơi trẻ con
bằng nhựa gửi ra Bắc bán kiếm lời!
Từ hai bàn tay trắng, vợ
chồng Quý đã có được một vài cây vàng. Đến lúc ấy hẳn mới bảo vợ :
- Từ trước đến nay mình ngu quá, cử sa đà mãi
vào các cuộc đấu đá vô nghĩa lý, vào đây mới tỉnh ngộ ra rằng họ “làm ăn” dữ
quá. Thôi từ nay mình phải thay đổi cách sống mới được. Thế là hai vợ chồng cứ
“nhũn như con chi chi” đối với thủ trưởng thì dạ dạ vâng vâng cho qua chuyện,
đối với anh chị em cơ quan thì chín bỏ làm mười; mười lăm cũng ừ, mười tư cũng
gật, lấy cơ quan làm nơi dựa dẫm đề có cái “thế chính trị”, tỏ cho thiên hạ
biết mình là “cán bộ cách mạng”. Ngoài
giờ ở cơ quan là ba chân, bốn cẳng đi... “cầy trên đường phố”. Cuộc sống của
hắn cứ nhẵn như một hòn bi, vô thưởng, vô phạt, trong lúc bên ngoài cơ quan giá
cả ngày một lên cao, cách kiếm sống của Quý cũng khó khăn hơn. Người miền Bắc,
miền Trung vào Sài Gòn nhiều hơn, nên hình thành cái cảnh “người khôn, của
khó”.
Mười năm trôi qua, sao mà
nhanh thế? Mới ngày nào còn là những năm 1976 – 1977, mà nay đã là 1986 –
1987... Nếu cứ kiếm ăn nhì nhằng thế này thì không ổn! Hai đứa con đã ra đời,
một gái 8 tuổi và một trai 5 tuổi, lại còn phải thỉnh thoảng tiếp tế ra Bắc cho
ông bà bên nội, bên ngoại... Cho đến một hôm, vào cuối năm 1986, đi chơi phố
về, Quý đã nói nhỏ vào tai vợ:
- Anh đã tìm ra lối thoát ở cuối con đường hầm
rồi!
Thị Minh hỏi lại:
- Cái gì vậy, anh?
Quýhôn nhẹ vào mà vợ và vui
vẻ nói:
- Đây, nó là cái này đây!
Quý lôi từ trong túi du lịch nhỏ khoác bên vai
ra một bịch vuông vức như phong bánh khảo đặt lên bàn:
- Em có biết cái gì đây
không?
Thị Minh cầm gói nhỏ lên
tay, mở lần giấy bóng kinh ra xem và nói:
- Cao ban long chứ gì!
- Sao em lại nói là cao ban
long?
- Thì hồi trước, có lần anh
chả khoe với em rằng: anh có một ông bạn Đông y có nghề nấu cao hổ cốt và cao
ban long đó thôi? Hay đây là cao hổ cốt?
Quý ôm ngang lưng vợ, dìu vợ ngồi xuống
đi-văng:
- Anh mà nói rằng em “quê lắm” thì chắc là em
tự ái đỏ mặt lên! Đây không phải là cao hồ cốt, cũng chẳng phải là cao ban
long, mà là... là “cơm đen” đó!
Đến lượt thị Minh tròn xoe
đôi mắt:
- “Cơm đen”? Anh mò ở đâu
ra được cái “của quỷ” này?
- Em đừng gọi nó là ở “của
quỷ” nữa! Nó là liều thuốc tiên có thể cứu nguy cho mình đấy! Có nó thì anh và
em sẽ có trong tay một chiếc “đũa thần” có thể xoay chuyền được tình thế đó!
Truyện cổ tích ngày xưa, có người được ông tiên ban cho một chiếc đũa thần đề
anh ta gõ vào mọi cửa lâu đài, ước cái gì, được cái ấy, có cả kho vàng và đương
nhiên là có cả hạnh phúc tuyệt vời!
Thế rồi, sau câu nói đó,
mặc cho vợ còn ngỡ ngàng đến tròn xoe cả hai mắt vì kinh ngạc, Lê Quý đã ôm
chặt vợ vào lòng. Thị Minh tưởng như mình đến hết thở trong cái hôn đắm đuối
hiếm thấy của chồng!
Và chỉ mới hơn hai năm buôn
bán ở “cơm đen”, Lê Quý đã có cả trăm cây vàng, vì vậy, mặc dù cơ quan hành
chính sự nghiệp của hắn đang có khó khăn, đang giảm nhẹ biên chế gián tiếp,
nhiều người có khó khăn về đời sống thì vợ chồng Lê Quý vẫn cứ phây phây với
nghề buôn nguy hiểm của mình. Hắn hí hửng nói riêng với vợ:
- Mấy ai đã có được “chiếc
đũa thần”, như ta? Mặc kệ cuộc đời, ai có khó khăn thì cứ khó khăn, còn ta
thì... đâu có khó khăn?
Ấy vậy mà, hắn có ngờ đầu, hai “con mồi” của
hắn là thị Liên và thị Mai lại đến nỗi sa lưới pháp luật? Mặc dù Quý đã căn dặn
các mụ kia là: buôn bán “cơm đen” là chơi với lửa. Mỗi người trong đường dây
đều phải tự mình lo lấy thân mình, đề xảy ra đỗ vỡ thì... mất nghiệp, lại còn có
thể bị “đường dây” xử lý bằng “luật giang hồ”.
…Bây giờ đã xảy ra cơ sự
này thì tự mình phải lo xa chạy, cao bay. Nếu cứ lấn cấn với mấy mụ vệ tinh này
thì có khi lại ôm nhau chết chìm cả lũ mất thôi!
Vì vậy, lúc này là lúc mà
Lê Quý phải “quyết”! Cái quyết định này của hắn, hắn chỉ nói nhỏ vào tai vợ hắn
mà thôi:
- Đang lúc anh được cơ quan cho nghỉ không ăn
lương một năm, anh phải tạm lánh mặt xa hẳn Sài Gòn để đề phòng mọi sự bất trắc
có thể xảy ra!
Thị Minh hỏi:
- Anh lánh đi đâu?
- Anh đi ngay bây giờ, ra
xa cảng miền Đông đề đi Đà Lạt...
Thị Minh lo lắng:
- Giờ này còn xe đâu nữa mà
đi?
- Anh lấy vé để sớm mai đi
chuyến 6 giờ. Tối nay anh ngủ ở nhà một anh bạn, anh Tuyên, em nhớ không?
- Em nhớ. Anh Tuyên ở Tân Bình phải không?
Được đấy!
Lê Quý dặn vợ:
- Anh đi Đà Lạt, nếu có ai
hỏi, em cứ nói là anh đi Cần Thơ, có lẽ là anh đi với bồ bịch nào đó. Em phải
vờ tỏ ra nghi ngờ hoặc ghen tuông để đánh lạc hướng dư luận về anh, em hiểu
chưa? Anh cũng không loại trừ cả khả năng chúng ta bị công an phát hiện và làm
rầy rà. Nếu có bị hỏi thì em phải suy nghĩ kỹ khi trả lời và phải khôn khéo mới
có thể thoát được...
Thị Minh còn đắn đo:
- Nếu ai đó, bạn bè, người
quen, hoặc có thể cả công an nữa, hỏi em rằng: bao giờ anh về thì trả lời sao?
- Em cứ nói rằng: cơ quan đã cho anh ấy nghỉ
không lương, anh ấy đi miền Tây buôn lúa gạo với một cô bồ nào đó ở xa cảng
miền Tây...
Thị Minh nhỏ nhẹ:
- Dạ. Em sẽ cố gắng.
Lê Quý như sực nhớ ra:
- Các con đâu cả rồi?
- Chúng nó đang xem tivi
trên lầu.
- Anh phải lên hôn các con
trước khi đi mới được. Ở nhà em nhớ chăm sóc cho các con nhé. Thằng Thành dễ hư
lắm đấy. Con Ly thì ngoan rồi, anh cũng đỡ lo. Bây giờ em vào chuẩn bị cho anh
vài bộ quần áo thay đồi và vài “cây”, tiền lẻ tiêu vặt anh có rồi.
Khác với mọi hôm, tối nay
vợ chồng Lê Quý như linh cảm thấy một điều không may có thể ấp đến bất ngờ. Một
người ở lại thấp thỏm lo âu. Một người lén lút ra đi trên con đường đầy chông
gai, đe dọa...
7.
BÓNG CHIM TĂM CÁ.
Văn Sinh tạm xếp tập hồ sơ
vụ án mang ký hiệu M.2. Anh đặt bút, đứng lên đi đi, lại lại trong phòng. Anh
không quên tự thưởng cho mình phần thưởng bẻ nhỏ là một điếu thuốc lá thơm. Đó
là thói quen của anh mỗi khi đạt được một kết quả. Anh cũng muốn tặng cho Tuyết
Lan, cô bạn trinh sát của anh, một vé đi xem phim “Nô tỳ ISAURA” đang chiếu ở
rạp Mini-Rex. Anh sẽ nói với Tuyết Lan:
- Nhờ có Lan mà anh Vũ Hùng đã kiên trì bám
trụ, từ địa chỉ của thị Mai tìm ra địa chỉ của Hai Râu – tên thực là Lê Quý –
một mắt xích quan trọng của đường dây ma túy. Rồi cũng từ lời cung của Bích
Liên trong trại tạm giam mà anh đã tìm ra tội phạm thị Mai, khám nhà thị Mai,
tịch thu thêm 0,5kg thuốc phiện và bắt giữ thị Mai, mở rộng cuộc điều tra vụ
án. Anh đã hỏi Bích Liên: “Chị đã đi nghỉ với ai ở Nha Trang, và đi nghỉ với ai
ở An Giang? Chắc chị chưa quên hai người bạn này? Chúng tôi có đầy đủ chứng cớ
do các khách sạn cung cấp, và cũng có địa chỉ của thị Mai, thị Kim và một số
người khác có liên quan đến những gói “cơm đen”, của chị. Chị hãy khai báo cho
đúng. Chị làm sao giấu được chúng tôi?
Với thị Mai, Văn Sinh đã
hỏi:
- Chị đi với ai vào quán
phở bắc “Thủy Tiên” sau đó lại cùng nhau lao xe máy về đường Cách mạng tháng 8.
Con người có bộ râu đẹp ấy đã trao cho chị bao nhiêu hàng, bao nhiêu lần? Chị
có cần xem tấm hình chụp chị cùng ngồi ăn phở với hắn không?
Thị Mai đã thú nhận tất cả
mối quan hệ buôn bán với Lê Quý. Song có một điều hoàn toàn giống với thị Kim
là thị Mai chỉ biết đến Lê Quý là người có hàng, còn Lê Quý nhận hàng từ đâu,
của ai, thì hoàn toàn... mù tịt!
Hai lời khai của hai “vệ
tinh” này ở hai thời điểm khác nhau đều giống nhau, đủ để cho Văn Sinh thấy cái
lô-gic của vấn đề. Bởi vì thị Mai, thị Kim đều là đầu mối tiêu thụ, ở “đầu ra”
cho nên không thể biết được “đầu vào”, đó là nguyên tắc phải có của bất cứ
đường dây buôn lậu nào! Buôn lậu ma túy lại càng “tuyệt mật”. Kẻ nào để lộ
đường dây còn phải xử theo luật rừng kia mà. Cho nên Văn Sinh tạm chấm một dấu
chấm ở địa chỉ của tên Lê Quý.
Từ đó, anh biết thêm được
Lê Quý và vợ là thị Minh đều là cán bộ, nhân viên từ miền Bắc vào công tác tại
Sài Gòn từ năm 1976, hắn đã chuyền qua ba cơ quan, sống tròn như một viên bi,
hiện nay cả hai vợ chồng đang nghỉ việc không ăn lương...
Văn Sinh thấy thời gian
điều tra mới chưa đầy một hai tháng, và tổ trinh sát chỉ có năm người, đạt được
bấy nhiêu kết quả đã là khá lắm.
Thời gian tới sẽ còn nhiều
thử thách mới trong việc điều tra đường dây bí mật này.
Phương án II bắt đầu hình
thành trong tâm trí anh trinh sát trẻ...
Một tuần sau, buổi chiều
thứ bảy, Tuyết Lan gõ cửa phòng làm việc của Văn Sinh, báo một tin quan trọng:
- Lê Quý đã chạy khỏi Sài Gòn từ năm ngày nay rồi.
Theo vợ hắn cho biết thì hắn đã đi Cần Thơ với một cô gái mà vợ hắn nghi là bồ
bịch gì đó!
Văn Sinh tủm tỉm cười:
- Lan nghĩ thế nào về nguồn
tin ấy?
Tuyết Lan hồn nhiên nói:
- Em đã cử người tiếp cận
với thị Minh, xác minh việc Quý vắng nhà là có thật. Song hắn đi Cần Thơ thì
chưa chắc đã là đúng.
- Vì sao?
- Vì có thể hắn đồng tình
với vợ nói như thế đề đánh lạc hướng điều tra của chúng ta...
Văn Sinh gật đầu:
- Vậy thì hắn đi đâu?
- Em chưa rõ.
Văn Sinh nhìn thật sâu vào
đôi mắt của Lan:
- Tôi dự đoán một hướng đi
của Quý: hắn quê ở miền Bắc, còn có cha mẹ, anh em ngoài đó. Có thể là nguồn
“cơm đen” cũng từ phía Bắc đưa vào như vụ thị Phương, quê Nghệ Tĩnh, vào đây
lấy lão Coóng làm chỗ dựa để đưa hàng từ Bắc vào Nam, ta đã phát hiện hai năm
trước và đã tịch thu 26 kg thuốc phiện, xử 12 năm tù giam. Hơn nữa, các vụ “cơm
đen” ta bắt được mấy năm nay đều là thuốc phiện Bắc Hà, Mường Xén từ Bắc đưa
vào Nam bán cho các tiệm hút Sài Gòn, bán cho bọn chích xì ke ở đây, phần còn
lại bán cho tàu Viễn Dương hoặc đưa sang Cam-pu-chia, Băng Kốc...
Tuyết Lan tỏ ra phục Văn
Sinh dầy dạn kinh nghiệm:
- Anh nói có lý. Như vậy hướng điều tra của ta
có thề còn phải phát triển ra Bắc?
- Phải báo cáo, xin ý kiến
của Ban chuyên án trước khi triển khai, song tôi lại nghĩ thêm: nhỡ Lê Quý vẫn
còn lẩn lút ở Sài Gòn thì sao?
Tuyết Lan thận trọng hơn:
- Em chưa trả lời anh câu
hỏi này được, cần có thời gian.
Văn Sinh thân mật hơn:
- Tôi có dự đoán một vài
tình huống, một vài giả thuyết, một vài trận đánh sẽ diễn ra... Tất cả đã được
ghi vào bản dự thảo phương án III để trình Ban chuyên án...
o0o
Ông Xuân Sơn, trưởng phòng
tổ chức công ty thực phẩm, đặt trước mặt Văn Sinh một công văn của công ty báo
cáo việc Lê Quý, cán bộ nghiệp vụ trong thời gian xin nghỉ việc không ăn lương
đã trốn bỏ Tổ quốc, vượt biên ra nước ngoài từ hai tuần nay theo đơn trình bày
của vợ là Nguyễn Thị Minh.
Bên cạnh văn bản báo cáo
của công ty còn có thêm cả bức thư của Lê Quý gửi từ Cần Thơ về Sài Gòn cho vợ
trước khi xuống thuyền vượt biển. Đọc xong báo cáo, Văn Sinh xem tiếp đến bức
thư của Quý gửi thị Minh.
“Em yêu quý và các con!
Khi em nhận được lá thư này thì anh đã ở rất xa Tổ quốc, nếu không
có bão và không gặp hải tặc thì anh có thể đã đổ bộ lên bờ biển Mã Lai hoặc
Phi-lip pin rồi! Em gắng tần tảo nuôi con, khi anh đã được định cư sẽ bảo lãnh
cho em và các con cùng sang đây với anh.
Chồng của em.
Lê Quý»
Văn Sinh hỏi ông trưởng
phòng tổ chức:
- Trong trường hợp này có
phải vì cơ quan ta đang có khó khăn không?
- Không phải như vậy, vì từ
lâu vợ chồng Quý vẫn buôn bán và có thu nhập khá. Theo vợ anh ta cho biết thì
có thể vì Quý mê gái mà đi di tản.
Văn Sinh cảm ơn và nói:
- Chúng tôi ghi nhận báo
cáo của các đồng chí và xin lưu giữ các tài liệu này. Nếu có tin tức gì mới
nữa, các đồng chí nhớ cho chúng tôi biết sớm.
Tiễn trưởng phòng tổ chức
ra về, Văn Sinh quay vào với những băn khoăn day dứt:
- Lại thêm những diễn biến
mới chung quanh cái đường dây bị ẩn này. Ta sẽ phải làm gì nữa đây?
Anh sắp xếp lại hồ sơ để
kịp thời báo cáo với đại tá Trần Vinh.
8.
ĐI NGƯỢC ĐƯỜNG DÂY RA BẮC.
Buổi sáng mùa thu mát dịu.
Hà Nội bước vào một ngày
mới. Phố xá tấp nập người đi làm. Tiếng còi xe inh ỏi.
Văn Sinh thả bộ trên đường
Thanh Niên. Tầm mắt anh dõi theo bóng mấy con chim sâm cầm đang bay qua mặt Hồ
Tây lộng gió.
Đi bên Văn Sinh là thiếu úy
Đỗ Vân, người bạn trinh sát Hà Nội mới được cử phối hợp điều tra với công an
thành phố Hồ Chí Minh.
Đỗ Vân kể chuyện lai rai về
mấy ngày khoanh vùng truy tìm đối tượng:
- Mình có rà soát một số
đối tượng trong số bè bạn và người quen thân của Lê Quý ở Hà Nội. Còn lại một
đối tượng nổi cộm lên là Phan Chi, người anh họ bên ngoại của Lê Quý. Ông này
tuổi tròn 50, là trợ lý giám đốc công ty, lương bậc chuyên viên 2, có vợ nghỉ
mất sức, bà này mở một quầy bán sách báo, văn hóa phẩm có thu nhập bình thường.
Đôi vợ chồng này có một cô con gái độc nhất 19 tuổi. Nếu chỉ làm ăn lương thiện
như thế thì gia đình Phan Chi phải có mức sống chật vật so với vật giá Hà Nội
hiện nay. Song, cứ như cô con gái khoe với bạn bè thì gia đình này giàu sang
nhất ở khu phố này, một sự “giàu ngầm” mà chẳng mấy ai hay! Nghiên cứu về Phan
Chi, tôi được biết: anh ta không có nghề chuyên môn, một người ở cơ quan sống
“ba phải”, có nhiều năm làm thi đua, rồi công đoàn, rồi trợ lý giám đốc, sống
tròn như một hòn bi, người hiểu biết thì chê anh ta chỉ biết “ăn theo –nói
leo”, người nông cạn thì thích anh ta ở điểm “dĩ hòa vi quý”, cần cù, và... “có
đạo đức”. Anh ta thì lại lấy tiếng cười hề hề làm cách sống, bữa tiệc nào
cũng... nâng cốc, cụng ly! Vậy thì bằng cách nào mà anh ta có cuộc sống rất
“vương giả”. Vào thăm ngôi nhà anh ta — một căn hộ khép kín có 4 phòng — thì sẽ
thấy tất cả “của nổi” của anh ta đều là tiện nghi sinh hoạt đắt tiền, toàn hàng
Nhật Bản, Thái Lan có giá trị bằng 5–7 cây vàng. Chỉ khoản thuốc là tiếp khách
và hút thường xuyên cũng là ba số 5, Samit, Héro... Nói rằng mức sống gia đình
Phan Chi cao hơn gia đình Bộ trưởng cũng không ngoa! Hoặc không thua kém giới
thương mại Hàng Đào cũng được. Anh ta không có con đi Tây hoặc bà con ở nước
ngoài. Chúng tôi đi đến kết luận rằng: Vợ chồng Chi phải buôn bán cỡ bự.
Văn Sinh vẫn giữ thói quen:
nghe là chính, nghe và nhớ kỹ! Với ý
thức tôn trọng bạn bè, anh cứ đề cho Đỗ Vân kể chuyện tùy hứng.
Đến cuối đường Thanh Niên,
đôi bạn trai ghé ngồi xuống một ghế đá, quay mặt về phía Hồ Tây.
Văn Sinh mời Đỗ Vân hút
thuốc, rồi lại nghe bạn kể tiếp câu chuyện về Phan Chi:
- Tuần trước, gia đình ông trợ lý giám đốc
Phan Chi xảy ra một chuyện làm ầm ĩ phố phường, cảnh sát phải đến can thiệp,
mới giải tỏa được đám đông hàng trăm người tò mò quây kín vòng trong, vòng
ngoài trước cửa. Đó là trận đánh ghen kinh khủng của bà vợ máu Hoạn Thư, tính
nết “Sư tử Hà Đông” của bà ta làm cho bà ta nổi trận tam bành. Chuyện là như
thế này: tranh thủ lúc bà vợ đi vắng, ông chồng đã đưa một cô bồ vào phòng
khách và không cài then của. Bất ngờ quên ví tiền, bà vợ quay về lấy chợt nghe
tiếng nỉ non tình tự “anh anh, em em” của đội gian phu dâm phụ, bà ta nhón gót
đi đến bên cửa, ghé mắt nhìn qua lỗ khóa, bắt quả tang “Chàng” đang ôm ấp
“Nàng” và… hôn nhau đắm đuối! Ấy thế là đất bằng sóng dậy, bà ta hét lên và đạp
tung cánh cửa:
- A! Gớm chưa? Đẹp chưa kìa! Con ơi, hàng xóm,
láng giềng ơi! Sang mà xem ông cán bộ đang “ưu ái” nhân viên kìa! Ối giời đất
ơi! Thảo nào mà tiền của cứ đi đâu! Túi vơi, túi đầy bao nhiêu cũng hết! Thì ra
anh còn phải bao em!
Nói rồi bà ta xông vào túm
ngực, túm tóc cô bồ:
- Con khốn nạn, con phò,
con phạch, tao thề xé xác mày ra! Này bồ này! này bịch này!
Mỗi câu nói thịnh nộ lại
kèm theo một cái tát, một cải đấm! “Chàng” phải xông ra cứu “Nàng”, vừa gỡ tay
vợ, vừa che cho bồ:
- Thôi mà! Bà làm gì mà dữ
dằn vậy! Thôi tôi xin bà! Bà bêu xấu tôi thì xấu cả bà, xấu cả cái nhà này!
Ông ta gạt phắt vợ ra và lôi được cô bồ ra
cửa, đẩy cô ta sang nhà hàng xóm. Tiếp đó là ly chén vỡ loảng xoảng. Bà con
hàng phố kéo đến vây quanh, bình phẩm mỗi người một câu. Bà ta mặt mũi hầm hầm
đứng ngay trước cửa phân bua:
- Nó là nhân viên kế toán cơ
quan đấy! Lợi dụng tôi vừa ra khỏi nhà, nó lên ngay vào phòng khách, ôm lấy...
“bố” nó đề làm tiền! Con khốn kiếp! Kỳ này thì tôi cho nó mất việc, cho nó tan
cửa, nát nhà luôn!
Ông Phan Chi mặt còn tái
mét, chạy ra run rẩy nói:
- Thôi tôi xin bà! Cô ấy
đến đưa thư của giám đốc mời đi họp mà!
Được thể, bả vợ lại thịnh
nộ:
- Họp à! Họp ở cái ghế
đi-văng kia kìa!
Ông chồng thấy cần phải thực hiện cải quyền
làm chồng, ông quát:
- Có im đi không, ông cho
mấy cái tát vỡ mặt bây giờ!
Tức thì bà vợ tru tréo:
- Muốn
giết tao hả? Tao truyền đời cho mà biết: tao sẽ cho hai đứa chúng mày đi tù vì
buôn gian, bán lậu! Tù mọt gông, tù rũ xương, hiều chưa? Gái đĩ còn già mồm!
Còn bênh nó hả? Vừa ăn cướp, vừa la làng! Ối giời ơi! Có ai khốn khổ như tôi
không? Vừa mất của, lại vừa mất chồng, thiệt đơn, thiệt kép!
Khi cảnh sát khu vực đến
can thiệp thì hai cảnh cửa mới được khép lại, bà con mới lục tục ra về và cô bồ
từ bên nhà hàng xóm, áo xoạc vai, tóc rối bù, chạy lao ra đường, vẫy xích lô
chuồn thẳng.
Văn Sinh càng nghe càng bật
cười, anh hỏi Đỗ Vân:
- Thật là đại bi hài kịch! Ghen chi mà ghen quá
trời? Phụ nữ miền Bắc còn dữ dằn hơn cả mấy bà, mấy cô Sài Gòn đó.
Ngừng một lát, Văn Sinh lại
hỏi:
- Mấy anh đánh giá thế nào
về hiện tượng đánh - ghen này?
- Chúng tôi cho rằng “sự
kiện” này xảy ra ngoài ý muốn của vợ chồng Phan Chi vì từ trước đến nay họ kín
tiếng lắm, làm ăn ra sao có ai biết? Chỉ thấy của cải đem về đầy nhà thì ai
cũng cho là ông này thân giám đốc, nên vơ vét được nhiều. Song qua vụ đánh ghen,
nó bục ra một nhược điểm thông thường của bà vợ là bà ta đã khẳng định rằng:
ông chồng đã lấy tiền của bà đi bao gái. Ông chồng vì bị mất mặt nên nổi khùng.
Bà vợ buột miệng nói toạc móng heo: “Tao sẽ cho chúng mày rũ tù vì buôn gian, bán lậu. Chúng tôi chú ý ngay
đến câu nói này của bà vợ, nó gián tiếp tự tố cáo rằng họ phất lên vì buôn lậu!
Buôn lậu mặt hàng gì, có liên quan gì đến Lê Quý và Bích Liên là việc ta phải
xác minh.
Văn Sinh gật đầu:
- Anh nói có lý. Mấy bữa nay tình hình đến đâu
rồi?
- À, không khí gia đình ấy
vẫn còn căng thẳng, song vì sĩ diện và vì chuyện làm ăn, nên vợ chồng Phan Chi
phải tạm hòa hoãn...
Văn Sinh:
- Theo tôi, thì ta nên
triển khai điều tra về cách làm giàu đầy bí ẩn của Phan Chi xem sao...
Đỗ Vân nói:
– Tôi hoàn toàn nhất trí
với anh.
o0o
Chiếc xe Lada màu vàng từ
Sơn La qua chợ Bờ, suối Rút về đến thị xã Hòa Bình thì trời đã tối. Xe dừng lại
một quán phở bên đường. Từ trên xe bước xuống, Phan Chi bảo lái xe:
– Kha! Ta vào đây làm bát phở cho ấm cái bụng
đã!
Hai người gọi hai bát tái
và ngồi ăn ngay ở bàn đầu. Đến tô thứ hai thì cả hai đều đã thấy bụng no anh
ách.
Phan Chi bảo Kha:
- Tớ không muốn mời cậu
uống rượu vì sợ cậu say loạng choạng lại đưa xe xuống ruộng thì phiền!
Kha cuời:
– Không sao! Xin anh yên tâm,
em có thèm rượu đâu! Về Hà Nội thì tha hồ say. Dọc đường cần an toàn trên hết!
Hai người trả tiền phở rồi
lên xe về Hà Nội. Họ không thể ngờ, một chiếc xe mô-kích chở hai trinh sát đã
bám theo họ từ lâu cách xa chừng trên 200 mét. Riêng lái xe Nguyễn Văn Kha thì
rất khoái với miếng võ “mê hồn trận”, gã đã đưa được trợ lý giám đốc Phan Chi
vào đường dây ma túy. Kha đã có hàng chục cây vàng, làm được một nhà mái bằng ở
gần khu Trương Định, ngoài ra còn góp vốn với Phan Chi 5 cây vàng nữa. Kha
không thể nào quên được buổi ban đầu “đặt vấn đề” với Phan Chi...
Hôm ấy, trước đây hai năm, một buổi sớm tinh
mơ... ông Phan Chi vừa thức dậy. Bên hàng xóm, đồng hồ nhà ai đã điểm năm
tiếng. So với ngày thường thì hôm nay ông Phan Chi dậy sớm hơn. Ông dậy sớm vì từ
tối hôm qua ông nghe tin có ông bạn Hàng Không đến chơi. Ấy thể là ông lục sục
suốt đêm, ít ngủ hẳn, cứ chập chờn mong trời mau sáng. Chuyện làm ăn mà không
lo sao được, không vui sao được!
Ông tắt ngọn đèn ngủ và bật
ngọn đèn sáng. Ông bước sang phòng khách, pha một ấm trà “móc câu”, loại trà
Thái Nguyên ngon có tiếng. Ông rút một điếu thuốc lá ba số 5, bật ngọn lửa ga,
ngồi ghếch chân lên bàn, ngả đầu ra phía sau, lim dim đôi mắt trên chiếc ghế
sa-lông cẩm lai bọc đệm nhung màu mận chín, thở từng hơi thuốc lững lờ.
Ông ngồi im lặng, mặc cho
vợ con cứ việc ngủ say ở phòng bên trong. Ông thật mãn nguyện với cách sống
riêng của mình. Ngày thường giò chả ăn đã bã cả miệng, còn thèm khát gì đâu!
Hôm nay có bạn đến chơi thì tùy khách, ông ta thích thứ gì, có thứ ấy. Gà mái
tơ nhốt cả chục con trong chuồng đề lấy trứng ăn. Mở tủ lạnh ra thì tầng trên
là táo Trung Quốc, đường sữa Liên Xô, bia lon Tiệp Khắc. Tầng dưới là chim
quay, cá rán. Tùy khách thích món gì ông cũng chiều ngay.
Bà vợ ông Chi và cô con gái
quý thì... vụng ơi là vụng! Có phải người gốc Hà Nội đâu mà khéo tay xào nấu.
Cả ông và bà đều quê Nam Định, đặc sệt nông dân, mới nhập cư Hà Nội từ cuối năm
1951 thôi mà! Mấy năm trước còn nghèo thì cơm dưa muối, vợ con ông cả tháng mới
mua vài ba lần thịt cá. Vài năm nay khác rồi. Của cải vào nhà ông như nước
chảy. Nhà ông mua sắm đủ loại tiện nghi sinh hoạt đắt tiền. Còn thực phẩm
thì... cửa hàng cung cấp Tôn Đản thời bao cấp ngày xưa còn kém xa. Tất cả thức
ăn sống, chín đều mua ngoài chợ. Tiêu tiền không cần đếm nữa. Mỗi tháng bán đi
năm ba “chỉ” là thừa mua sắm.
Cái quầy hàng bút giấy,
sách báo của bà gọi chung là “Dịch vụ văn hóa phẩm” bán được bao nhiêu thì bán,
chỉ cốt đề “che mắt thế gian” thôi. Quan trọng là cái khoản dịch vụ “sau quầy
hàng” của ông bà. Mà cái chuyện làm ăn riêng lẻ này thì mấy ai biết được!
Bề ngoài ông vẫn là cán bộ
cơ quan nhà nước đĩnh đạc ở tuổi năm mươi. Nghề của ông thì ôi thôi khỏi phải
bàn nhiều, tha hồ trịnh trọng vào Nam ra Bắc, lên Vôn-ga, xuống Lada, cái thứ
com-măng-ca thì ông... chê! Ngày xưa ông nói “tự cấp, tự túc”, ngày nay ông nói
“năng động, tự chủ, sáng tạo” cho hợp thời trang thế thôi, chứ theo ông ta
thì... Ối trời ơi, còn là vô vàn khó khăn. Cách sống ở cơ quan của ông là...
gió chiều nào, che chiều ấy, xuề xòa lại được lòng anh em. Ông nói: “Cuộc đời
này như bản báo cáo tôi viết hầu giám đốc của tôi ấy mà, nghĩa là khó khăn khắc
phục, vươn lên đạt nhiều thành tích và cuối cùng là còn có vấn đề tồn tại, mong
các vị “chỉ ra đề chúng tôi rút kinh nghiệm làm tốt hơn năm trước”. Đại loại là
như thế và ông đã sống an nhàn, rất vui vẻ! Thế nhưng nếu ông ta chỉ làm “trợ
lý”, vợ lại về nghỉ mất sức rồi, bán mấy thứ văn hóa phẩm kia thì vắt mũi chỉ
đủ đút miệng, không thiếu đói là may. Nhận quà cáp tí chút thì được chứ ăn hối
lộ thì gay. Vả lại ông có là giám đốc đầu mà người ta hối lộ. Cho nên đến cái
tuổi 48 rồi- năm kia - cách đây 2 năm,
ông mới gặp vận may, ông bèn... chuyển hướng!
Trúng quả đầu tiên, kiếm
được bạc triệu, ông vỗ đùi đen đét nói với bà rằng:
- Chả lẽ tôi lại cứ vất vả
mãi, cứ cắp cặp hầu giám đốc mãi sao? Thật là trời có mắt. Mồ mả họ nhà ta đến
ngày phát to rồi bà ạ! Cuộc đời này, mình phải sống cho mình trước đã! Bấy lâu
ta ngu quá, u mê quả. Nay phải tỉnh ra mới được! Thế là ông lao vào cuộc làm
lớn! Ông nhớ lại mà vui... Ấy là cái buổi chiều hôm ấy, đến nay đã hai năm rồi,
cả Hà Nội đang giờ tan tầm người, xe đổ ra đường đồng như trẩy hội, ông đi làm
về thì anh lái xe cho giám đốc đã ngồi chờ ông ở phòng khách.
Hắn mở đầu câu chuyện:
- Em thấy anh chị sống khổ
quá.
Ông cũng cởi mở:
- Ừ, sao? Tớ đi công tác
với giám đốc lần nào cũng được lái xe cho đi đến nơi, về đến chốn. Suốt ngày
làm báo cáo, báo cầy đã hết cả thì giờ. Có biết buôn bán, xoay xở gì đâu mà
giàu có được.
- Ấy vì vậy mà em muốn giúp
anh một tay đấy!
- Ử, cậu Kha cử nói đi xem
nào!
Kha xòe tay:
- Này nhé: anh là trợ lý
giám đốc, em là lái xe. Em có một ông bạn làm ăn khá lắm, kiếm tiền vạn, tiền
triệu muốn mời em cộng tác. Nếu được anh hỗ trợ, cùng cộng tác thì anh em mình
phất lên ngay thôi!
- Nhưng mà làm gì chứ?
- Buôn! Buôn, anh ạ!
Ông nóng lòng muốn biết, nên hỏi:
- Buôn hàng gì mới được
chứ?
- Từ mạn ngược về miền
xuôi, thiếu gì thứ buôn được? Mình có xe cộ trong tay, thuận lợi hơn con buôn
nhiều. Em chỉ cần anh đừng khinh em, coi em là làm ăn phi pháp thì em mới dám
nói. Một mình em phải nuôi bốn cái tàu há mồm, chỉ trông vào lương ba cọc, ba
đồng thì đói nhăn răng…
- Ử, lại buôn măng, nấm
hương, mộc nhĩ, lâm sản chứ gì?
- Không phải!
- Mật ong hay gỗ lát?
- Không phải!
- Hay đồng, chì, nhôm, hoa
hồi?
- Không phải! Anh cố đoán
xem sao...
- Chịu! Thế thì tớ chịu cậu!
- Tất cả các thứ anh vừa kẻ
chẳng lời, lãi bao nhiêu mà lại vất vả! Em chọn thứ hàng nhẹ, lãi to mà rất
gọn. Là cái gì, anh có biết không? Đó là cái khoản “cơm đen!”.
Ông Chi mở to mắt, kinh
ngạc:
- Cậu không nói đùa đấy chứ? Cậu tìm ở đâu ra
cái của “quốc cấm” ấy?
- Họ tìm đến em, thử thách em và đưa em “nhập hội”.
Em đi mấy chuyến rồi nhưng còn bí chỗ bán, tức là nơi tiêu thụ, cái “đầu ra”
ấy! Anh xem có giúp em được không?
Ông Chi kêu lên khe khẽ:
- Kha ơi! Nguy hiểm lắm, tù như chơi.
Kha curời:
- Anh nhút nhát quá! Em lái, có giám đốc và
anh ngồi trên xe con, ai ngờ mà khám. Em lại vi vu quen khá nhiều công an, thuế
vụ, em đi qua cử tỉnh bơ. Anh nào vui vẻ, tử tế thì mời điếu thuốc lá. Cứ bỏ
vào cốp xe hoặc nhét vào bánh “xơ cua” ai ngờ gì đầu? Nếu cẩn thận hơn nữa thì
mua vài bỏ củi, vải cân măng tươi, vài con gà bỏ bừa bãi lên trên là ổn. Em chở
thuê, anh bán, sau này có vốn thì hùn vốn buồn chung…
Từ bấy đến nay, Phan Chi đã
phất lên, có số vốn hàng trăm cây vàng. Kha cũng thấy thực hiện được giấc mộng
làm giàu mà từ trước đến nay gã chưa có điều kiện làm. Trong chuyến đi này, Kha
đã nghe Phan Chi phàn nàn rất nhiều về cái máu ghen tuông của vợ làm cho Chi
mất mặt đã đánh, lại còn làm lộ cả bí mật việc buôn bán nữa chứ!
Kha nói:
- Nếu lộ bí mật mà đổ bể
thì anh phải chịu trách nhiệm đấy. Cho nên em nghĩ: ngay hôm nay, anh phải báo
động cho ông Hoàng, để nếu có chuyện gì xảy ra thì ông ấy không còn trách mình
được nữa chứ!
Phan Chi cho ý kiến của Kha
là phải, nên ông quyết định đưa Kha đến gặp ông Hoàng để Kha đỡ lời cho ông,
bởi vì ông biết ông Hoàng còn có tên là “Hoàng Đại Ca” – là người rất khắc
nghiệt, chịu trách nhiệm “đi mây về gió” chuyển vận “cơm đen” qua đường Hàng
Không từ Nội Bài vào sân bay Tân Sơn Nhất.
Chiếc xe Lada dừng lại trong
một ngõ hẻm sau đường Ngũ Xã, ven Hồ Tây.
Ngôi nhà nhỏ của Hoàng Đại
Ca rực ánh đèn. Hoàng đang ngồi nghe nhạc Disco.
Thấy hai người khách bước
vào, Hoàng vồn vã:
- Xin chào! Xin chào! Hôm
nay “thủ trưởng” của tôi sang quá!
Phan Chi giới thiệu với Hoàng:
- Giới thiệu với anh: anh Kha, lái xe, một
cộng sự thân tín của tôi.
- Rất hân hạnh! - Hoàng Đại Ca xiết chặt tay
anh lái xe.
Cả ba ngồi vào bộ ghế cẩm
lai. Sau mấy câu chuyện thời tiết, Chi nhập đề ngay:
- Anh Hoàng ạ, mấy bữa nay
tôi không có tin tức gì ở trong kia!
Tôi e rằng có chuyện không bình thường chăng? Vì vậy tôi nhờ anh, ngày mai có
chuyến bay buổi chiều, anh vào trong ấy thẩm tra dùm tôi một chút nhé!
Hoàng cười sảng khoái:
– Sẵn sàng!
Kha kể thêm:
- Anh Hoàng ạ, ở nhà anh Chi cũng có một chuyện
đáng tiếc xảy ra.
Hoàng thản nhiên:
- Chuyện bà Chi “Hoạn Thư”
chứ gì!
- Dạ, đúng! Sao anh biết?
- Biết chứ, chuyện đánh nhau, chuyện cướp của,
giết người, chuyện giám đốc đi tù, tôi đều biết cả. Tụi đàn em đưa tin rất
chính xác...
Mới nghe câu nói của Hoàng,
Phan Chi ngượng chín cả người vì chuyện mình “ăn vụng” mà không biết “chùi
miệng”, vì cái thói lăng loàn của vợ, vuốt mặt mà không nề mũi, chẳng biết “xấu
chàng thì hồ ai”. Cái quan trọng bậc nhất và thậm tệ nhất trong trận đánh ghen
ấy là những câu nói có thể làm cho nhiều người chú ý đến việc buôn bán, làm ăn
phi pháp của mình.
Thấy được sự bối rối, lo âu
của Phan Chi, Hoàng Đại Ca chống hai tay lên đầu gối, đôi mắt gườm gườm nhìn
hai ông khách rồi cười lạnh lùng mà phán quyết:
- Ông Chi quá vụng về, sơ
hở, cái chuyện bồ bịch làm lộ liễu quá, nên mới tan hoang cửa nhà, mà “làm ăn”
cũng bất ổn. Việc này là đột xuất, không liên quan gì đến sự trục trặc ở trong
Nam, nếu có. Song vì công việc chung, tôi xin góp ý: Ông Chi chấm dứt ngay mọi
chuyện bồ bịch, bê bối đề cho yên ấm cửa nhà, chớ đề cái sảy nảy thành cái ung.
Còn việc trong Nam, ngày mai tôi vào nắm lại đường dây, khi tôi bay ra mới dám
có ý kiến. Ngồi đây mà phán quyết thì lại quan liêu cả lũ! Thôi xin tạm biệt.
Các vị cho phép tôi đi nghỉ sớm để mai còn bay!
Phan Chi rút từ trong cặp
ra một gói hàng được bọc phía chung quanh bằng một lớp bánh quy có dán nhãn
hiệu “Hải Châu” và nói nhỏ vào tai Hoàng Đai Ca:
- Phẩm chất, định lượng như
lần trước!
Hoàng nhận gói hàng, xiết
chặt tay hai người bạn, tiễn ra cửa.
Chiếc xe Lada quay đầu đi
về phía đường Nguyễn Trường Tộ. Phan Chi và Kha không hề biết rằng cùng lúc ấy
ở quán nước đầu dốc chợ Châu Long, chiếc xe mô-kích chở hai trinh sát đang đỗ
lại dưới bóng cây sấu bên đường.
9.
NỖI KHỔ TÂM CỦA MỘT BÀ VỢ.
Gia đình Phan Chi hôm nay
có khách từ miền Nam ra. Đó là thị Kim, người đàn bà ít nói, có nét mặt u buồn.
Sau một giờ trao đổi chung, Phan Chi đã bỏ lên gác nằm. Ở phòng khách chỉ còn
hai người đàn bà: vợ Phan Chi và thị Kim.
Vợ Phan Chi than thở:
- Đấy, chị thấy chưa, ông
ấy làm khổ tôi biết chừng nào. Nhà này còn có thiếu thứ gì mà lại lắm chuyện
lôi thôi với cái con Phương, nhân viên kế toán của công ty? Trong Nam thì như
chị nói bà Bích Liên, bà Mai bị bắt, bị khám nhà, bị tịch thu hàng, rồi lại
chuyện chú Quý vượt biên, chạy trốn ra nước ngoài. Công an họ đang điều tra,
như thể là vỡ lở mất rồi. Việc làm ăn chẳng lo, lại còn bồ với bịch, có sốt
ruột không chứ!
Thị Kim lựa lời an ủi:
- Thôi chị ạ, đàn ông thì
ông nào chả có cái tính “lơ mơ” như vậy. Chị nên bỏ qua cho anh ấy để gia đình
vui vẻ trở lại mà lo việc làm ăn.
Vợ Phan Chi miễn cưỡng phải
nghe theo:
- Nếu ông ấy “cắt đứt” với con phải giỏ kia
thì tôi cũng tha cho. Đấy, chị xem, từ hôm vợ chồng lủng củng thì con Nguyệt,
con gái tôi cũng bỏ đi suốt, nó buồn lắm, hôm nào cũng đi đến khuya. Rồi nó
bảo: Bố mẹ có thấy xấu hổ với nhà bác Dương không? Chả là con bé đang yêu thằng
Tuấn, kỹ sư, con trai ông Dương. Ông Dương lại là vụ trưởng, nhà người ta danh
giá lắm...
Thị Kim thấy vợ Phan Chi đã
nguôi nguội, mới nói:
- Anh Lê Quý vượt biên rồi,
công an nhất định họ theo dõi, chị nên tạm ngừng việc giao hàng vào nhé. Lỡ ra
mà họ vồ được thì lại mất cả chì lẫn chài!
Vợ Phan Chi phát hoảng:
- Chết nỗi, nhà tôi vì
không biết tin chú Quý trốn đi nên vẫn gửi hàng qua đường máy bay vào đó!
Thị Kim thở dài thườn
thượt:
- Thế có chết không? Em lo
cho cô Minh, vợ chú Quý lắm. Lớ ngớ lại ra chỗ hẹn, công an tóm được thì khốn
khổ. Chị ạ, từ hôm chú Quý bỏ đi, em chỉ dám gặp cô Minh có một lần, nói được
vài câu, cô ấy tháo cái nhẫn 3 chỉ đeo ở tay đưa cho em, bảo em ra ngay Hà Nội
báo tin cho anh chị biết. Em liên hệ được với một xe du lịch, khởi hành từ 4
giờ sáng, đi ngày, đi đêm ra đây đấy! Công việc làm ăn như vậy là xấu đi lắm
rồi. Vận hạn cả thôi chị ạ. Em đã biện cái lễ lên chùa Vĩnh Nghiêm ở Sài Gòn
rồi đề mấy vị hòa thượng ở đó lễ giải hạn cho em. Ngày mai chị dẫn em lên chùa
Quán Sứ nhé. Có thờ có thiêng, có kiêng có lành, em tin lắm chị ạ. Phải làm lễ
giải hạn đi, cái vận, cái hạn nó còn theo đuổi mình thì chỉ có thua lỗ, gặp cái
đại hạn thì còn tù tội nữa chứ! Em thấy cô Minh vợ chú Quý cứ khóc ròng, khóc
sưng cả mắt đấy!
Vợ Phan Chi cũng thở dài:
- Chú Quý giao dịch thế nào
mà lại để lộ, cho nên bà Bich Liên mới bị bắt, rồi lại bắt lây lan sang cả bà
Mai nữa chứ! Công an kinh tế Sài Gòn họ tinh lắm. Chỗ nào chả có công an mật,
tại sao lại không cảnh giác?
Thị Kim rầu rầu nét mặt:
- Em nghe là vì bà Bích
Liên qua lại nhà lão Quảng Phát tìm mối bán thuốc, chẳng may lại “cặp” ngay với
“cá chìm”, thế là... đi tiêu một ký thuốc tốt, lại còn tù nữa chứ! Rõ khổ!
o0o
Chiều hôm sau, trong lúc vợ
Phan Chi cùng với thị Kim lên lễ ở chùa Quán Sứ thì Hoàng Đại Ca từ Sài Gòn bay
ra. Hắn đã đi xe máy đến ngay nhà Phan Chi.
Khép chặt của phòng khách,
hắn rút từ trong túi du lịch ra gói hàng hôm trước để trả lại Phan Chi:
- Các ông làm ăn như vậy
thì chết cả lũ! Thằng Quý bỏ trốn đi đâu rồi. Vợ nó nói là vượt biên! Còn hai
mụ Bích Liên và Mai đều bị khám nhà, tịch thu hàng và tạm giam. Thế mà ông cứ
bình chân như vại ở đây!
Phan Chi cãi:
- Tôi thấy mất liên lạc, đã
có nghi vấn và tôi đã nhờ ông vào thầm tra đó thôi.
Phan Chi vờ như không hề có
chuyện thị Kim vừa ra báo tin Lê Quý bỏ trốn ra nước ngoài. Hoàng Đại Ca vẫn
còn giận dữ:
- Như vậy là đường dây lộ rồi. Ở ngoài này,
công an nắm được đến đâu thì chưa rõ, nhưng tôi với ông và thằng Kha phải đề
phòng. Chưa bao giờ tôi thấy gay go như lúc này. Ông có biết không? Vào Sài Gòn
tôi cải trang và đến động Phù Dung ngay, nghe lão Quảng Phát nói lại, tôi rụng
rời cả chân tay, chẳng thiết gì nữa, ba chân, bốn cẳng bay ra ngoài này ngay,
chẳng còn thì giờ đầu mà “du hý”! Tôi dặn ông nhé: hàng hóa còn gói nào thì sơ
tán ngay khỏi nhà mình, cắt đứt ngay mọi mối quan hệ với bên ngoài, với cả Sài
Gòn nữa. Tạm thời “án binh bất động”, nghe ngóng một thời gian nữa rồi hãy hoạt
động trở lại, nghe chưa?
Phan Chi trả lời gọn lỏn:
- Tôi đã rõ! Anh yên tâm!
Ngoài này không thể lộ được!
Chỉ truyền đạt có bấy nhiêu
tin tức, Hoàng Đại Ca lại chụp mũ lên đầu, mở cửa và dắt xe máy đi luôn.
Mờ sáng hôm sau, thị Kim đã
từ biệt vợ chồng Phan Chi, trở lại miền Nam bằng một chuyến xe du lịch. Vợ Phan
Chi nghe chồng kể lại chuyện Hoàng Đại Ca trả lại gói hàng thì buồn phiền ra
mặt. Đang ở thời kỳ thuốc phiện lên giá, bán chạy mà phải “nghỉ”, như thế này
thì tức là đã để tuột khỏi tay mình hàng triệu bạc! Lại còn mua thêm cái lo,
cái sợ vào mình nữa chứ. Cho nên cứ nghĩ đến cái cảnh ngoại tình của chồng thì
chị ta lại thấy máu ứ lên cổ, chỉ muốn băm vắm, xẻ xác “con đĩ” cho hả giận,
song lại nghĩ đến chuyện làm ăn cứ ầm ĩ mãi thì láng giềng, hàng phố sẽ chú ý,
lỡ ra người ta lại thóc mách đến cái chuyện làm giàu của mình thì quá là phiền.
Vì vậy, vợ Phan Chi lại đành ngậm bồ hòn làm ngọt, cho qua mọi chuyện.
Và sớm nào, chị ta cũng đi
chợ mua hương, hoa, sửa lễ vật đặt lên bàn thờ, thắp nhang khấn vái thần phật
phù hộ cho gia đình được tai qua, nạn khỏi.
Để yên lòng vợ, Phan Chi đã
chuyển hết số hàng đi gửi ở vài nơi tin cậy. Buổi tối y trở về, xoa tay nói với
vợ:
- Kỵ nhất là hàng đề ở nhà
mình. Tôi đã sơ tán đi hết rồi. Bà yên tâm! Lão Hoàng nói đúng! Thắng cha có
nhiều kinh nghiệm thật!
10.
HỘP ĐÊM
Căn nhà của Ba Du nằm lọt
thỏm vào một cái ngõ hẹp, giữa những hộ công nhân viên chức. Ba Du có nghề in
trong phim ảnh, vợ hắn có nghề áp phe phim, giấy ảnh. Hàng ngày, vào giờ các hộ
khác đóng cửa đi làm thì Ba Du tỉnh dậy và mở cửa hành nghề. Khách hàng của Ba
Du ra vào lẻ tẻ, chẳng mấy ai để ý.
Ba Du thường than thở với
hàng xóm:
- Thời buổi này khó khăn
thật, kiếm được một đồng phải chảy máu mắt! Thỉnh thoảng mới có người mời đi
chụp đám cưới, hội nghị, thù lao ít ỏi cũng phải chấp nhận, làm cho vui thôi
mà!
Song khách lui tới nhà Ba
Du lại không nghĩ thế. Họ biết Ba Du tung ra những lời than vãn là để “hỏa mù”
cho việc làm ăn phi pháp. Ngay cả cái tên Ba Du, nếu ai tò mò một chút, thì sẽ
được chủ nhân kẻ cho nghe: tên chủ nhân là Lê Văn Du, từ sau giải phóng miền
Nam, Du về thăm quê hương đôi ba lần và tự gọi mình cho đúng “mốt” thời trang
là Ba Du. Du bảo:
- Các vị cử gọi tôi là Ba Du cho dễ nhớ!
Quả thật Ba Du là tay chịu
chơi. Hắn có cả một bộ sưu tập ảnh đàn bà lõa thể khiến từ mấy chú choai đến
mấy “thủ trưởng” lớn tuổi nhìn vào cũng muốn... chết luôn! Từ đó hắn quy tụ
được một lũ đàn em “hảo hớn giang hồ”. Căn gác xép của Ba Du trở thành sân bãi,
một cái “vòm” theo lối nói của mấy tên dâm đãng. Từ lũ đàn em cờ bạc, hút xách,
Ba Du đã mau chóng có thêm mấy ả mặt hoa, da phấn: cô trùm áp phe vé xổ số, cô
“Huệ mù” mang kính cận mà lại chuyên áp phe thuốc tây giả ở chợ trời Hòa Bình.
Với năm, bảy cặp trai tứ chiếng, gái giang hồ, căn nhà kín đáo của Ba Du đã trở
thành một “hộp đêm” mà lại chứa khách cả... ban ngày!
Ba Du gần đây có thêm một
ông khách sộp: Hoàng Đại Ca!
Sau vài lần đến đây du hý,
Hoàng gợi ý với Ba Du:
- Sao ông không bảo đàn em kiếm cho một cái
đầu máy vidéo và mấy cuốn băng loại “xịn”? Vừa giải trí lại vừa “chém” thiên hạ
chết như ngả rạ
Ba Du long lanh đôi mắt:
- Hay! Đúng là đại ca họ Hoàng! Tôi sẽ thực
thi ngay! Lần sau xin mời ông tới và ông sẽ thấy dịch vụ của tôi!
Hôm nay, sau chuyến đi miền Nam trở ra, Hoàng
Đại Ca tìm đến nhà Ba Du vào lúc 9 giờ sáng. Sau ba tiếng gõ cửa rụt rè làm ám
hiệu, cánh cửa bật mở. Ba Du đã ôm chầm lấy Hoàng. Hoàng bước vào. Phòng ngoài
có ánh sáng lờ mờ. Phòng bên trong thì hoàn toàn tối om. Ở cuối phòng còn có
một điểm sáng: đó là màn ảnh nhỏ của chiếc tivi màu. Trên màn ảnh là những thân
hình đang ngọ ngoạy, cảnh làm tình của một đôi trai gái được phát ra từ một
băng ghi hình Nhật mang tên “gái giang hồ”. Đích thân điều khiển máy chiếu là
thị Hồng, vợ lẽ của Ba Du. Khán giả là một đôi trai gái.
- Mời anh ngồi đây coi chơi!
Hoàng lắc đầu:
- Tôi đã coi nhiều lần phim này ở Gò Vấp, và
Tân Bình rồi. Cho tôi lên gác xép vui hơn!
Hoàng được mời lên gác xép. Cái gác xép rộng 6
mét vuông có màn gió che kín đáo, có trải chiếu hoa. Một cô gái “bán hoa” đã
ngồi chờ hắn từ lúc nào.
Sau cái hôn “mở hàng”,
Hoàng đã được cô gái quàng tay qua cổ, nỉ non:
- Anh Hai đi đâu mà bỏ em
hoài!
- Ồ, đi có công chuyện chứ,
em! Em tên gì nhỉ?
- Em tên Duyên! Em quê ở Thanh Trì, ngoại thành
ấy mà, em mới bỏ chồng, lên đây chơi cho vui thôi! Hôm nay anh Hai cho em đủ
tiền mua một bộ đồ ngủ nhé!
- Anh sẽ cho em... hai bộ
đồ ngủ, được chưa?
Dĩ nhiên là cô gái gật sái
cổ vì cô đã được chủ nhà giới thiệu khách hôm nay đến với cô là khách sộp!
Một giờ sau, Hoàng rút khỏi nhà Ba Du.
Trên căn gác xép, cô gái
lại nằm chờ khách. Cô hút từng hơi thuốc lá thơm mà ông khách có tên là Hoàng
vừa mời cô. Từ trên gác xép, cô vén màn gió, ghé mắt nhìn xuống phòng chiếu
vidéo, cuộc chiến băng hình vẫn tiếp tục, cuốn băng mới lại có những cảnh mới,
rất “tươi mát”, khán giả vẫn là đôi trai gái đang ngồi vừa ôm nhau vừa dán mắt
vào màn ảnh nhỏ. Ba Du và vợ cùng ngồi xem rất đam mê.
Lại có tiếng gõ cửa rụt rè,
đúng ám hiệu. Ba Du bảo vợ:
- Lại thằng Cường và con Loan, hôm qua chúng nó
đã hẹn với anh!
Ba Du lò dò ra mở cửa. Cửa
vừa hé thì ba thanh niên đã đầy mạnh vào. Trời ơi! Nào có phải “thằng Cường và
con Loan” nào đâu! Mà lại là 3 người lạ mặt, rồi ai nữa kia, hóa ra là ông tổ
trưởng dân phố! Cả bốn người khách đã xô vào phòng. Màn ảnh vẫn chiếu sáng. Một
tiếng nói rất đanh, rất dõng dạc:
- Chúng tôi là đội bảo vệ văn hóa của công an
quận! Yêu cầu mọi người đứng im, ngồi im tại chỗ!
Ánh đèn pin lóe sáng soi rõ
từng khuôn mặt xám ngoét. Người đội trưởng nói tiếp:
- Yêu cầu ông chủ bật đèn
sáng lên để anh em làm nhiệm vụ...
Ba Du bật đèn. Ánh sáng đèn
nê-ông soi rõ tất cả căn phòng với máy chiếu vidéo và 5 cuốn phim “con heo”,
được đặt tên là “phim tươi mát”, cũng như ở Sài Gòn được đặt tên là “phim chăn
nuôi”.
Anh công an soi đèn pin lên
gác xép và ra lệnh:
- Yêu cầu cô xuống ngay để chúng tôi lập biên
bản.
Thị Duyên sửa lại quần áo,
lóp ngóp từ gác xép đi xuống. Đôi trai gái ngồi xem phim đã buông nhau ra ngay
khi biết là có “biến”.
Người đội trưởng lại ra
lệnh tiếp:
- Mời ông chủ, bà chủ và
các vị khách ngồi cả xuống đây. Yêu cầu ông Ba Du cho chúng tôi biết: máy và
băng ghi hình này của ai? Ba thanh niên này tên gì, ở đâu? Vì sao ông bà lại tổ
chức chiếu phim đồi trụy khi thành phố đã có lệnh cấm?
Ba Du run rẩy, nói lắp bắp:
- Dạ, báo cáo các anh: gia
đình chúng tôi chiếu chơi thôi ạ. Không có bản vé thu tiền. Đầu máy là của anh
này cho mượn. Anh này tên là Tuấn, con trai ông Dương, vụ trưởng, còn cô này
tên là Ánh Nguyệt học sinh đại học, con gái ông Phan Chi, trợ lý giám đốc, còn
cô này tên là Duyên, người họ hàng bên ngoại ở Thanh Trì mới ra chơi ạ…
Người đội trưởng nói tiếp:
– Chúng tôi được nhân dân cho biết: đây là một
ổ gái mãi dâm và một ổ chiếu video đen trái phép. Chúng tôi lập biên bản xong
xin mời tất cả về công an quận xử lý!
Nửa giờ sau, căn nhà được
đóng cửa lại. Vợ chồng Ba Du và ba “khán giả” xem vidéo được mời về quận, họ đi
theo sau một xe xích lô chở đầy tang vật.
Buổi chiều, vợ chồng Ba Du
được dẫn trở về nghe đọc lệnh khám nhà, chứng kiến cuộc khám nhà còn có cả
chính quyền phường. Kết quả: nhà chức trách thu thêm 50 ảnh khỏa thân chụp các
kiều làm tình của trai gái, tiền mặt có một triệu đồng, vàng có 2 “cây”.
Vụ án Ba Du hành nghề tổ
chức mãi dâm và chiếu viddo đen cũng được khởi tố luôn.
o0o
Về đến nhà rồi, Hoàng Đại
Ca vẫn còn chưa hết sợ khi nghe tin vợ chồng Ba Du bị tóm gọn. Hẳn nghĩ thầm:
thật là nhà mình còn tốt phúc, nên mới gặp may đến thế. Sau khi hành lạc với
thị Duyên trên gác xép, nếu chỉ nằm lại một chút thôi thì giờ này đã nghỉ mát...
ở nhà đá rồi! Thật hú vía! Buổi tối, hắn phóng xe đến nhà Phan Chi vì hắn vào
nhà Ba Du buổi sáng đã nhìn thấy rõ cả cô bé Ánh Nguyệt, con gái Phan Chi, đang
cặp bồ với thằng Tuấn, con trai lão Dương vụ trưởng, ngồi xem phim. Hắn thừa
biết giờ này vợ chồng Phan Chi đang đau khổ, lo sợ biết chừng nào khi ngày mai
báo sẽ đăng, đài sẽ phát về cái vụ mại dám và vidéo đen này!
Thấy Hoàng đến, vợ chồng
Phan Chi đã bíu ngay lấy như kẻ sắp chết đuối vớ phải... bọt:
- Anh Hoàng ơi! Anh xem có
cách gì cứu cháu với, chúng nó đua đòi, dại dột quả mà! Cái thằng Tuấn hư đốn,
mất dạy kia nó hại cả đời con gái tôi!
Hoàng an ủi:
- Thôi, chuyện đã xảy ra
rồi, để sẽ liệu dần dần, nếu có khả năng chạy chọt mà giảm án tù thì cứ chạy,
tôi nói là giảm án thôi vì có mấy vụ vidéo đen bị tóm, tất cả đều 2, 3 năm tù
giam. Thời điểm nóng bỏng này thì càng con ông to, càng nặng tội. Tòa án buộc
phải xử nghiêm. Tôi nghe cái thằng Ba Du này còn kiêm cả cái nghề chích xì ke
ma túy nữa kia. Cho nên nó bị quét là cũng đáng đời! Hắn thừa biết trường hợp
này là cái cảnh “cha nào, con ấy”. Chỉ có may hoặc rủi mà thôi. Con Ánh Nguyệt
học dốt như bò mà cứ lên lớp vù vù, lại sắp đi học nước ngoài nữa chứ! Thằng
con trai lão Dương thì cũng là thứ đầu nậu, hư đốn cả thôi.
Trước lúc đứng dậy ra về,
Hoàng còn nói nhỏ với Phan Chi:
- Này, tuyến miền Nam thì
đành phải stop, tôi đã có mối tiêu thụ cái món “cơm đen” ở Quảng Ninh đề chúng
nó bán sang Hồng Kông, vậy ngày mai ông bớt thì giờ đi cùng với thằng Kha lên
Sơn La lấy hàng đi. Mình không thân chinh đi lấy là người ta cắt vĩnh viễn đấy.
Được càng nhiều càng tốt. Tôi đợi ông ở nhà tôi đấy. Này, tôi dặn thêm để ông
khỏi quên: Ít nhất cũng 10 kg trở lên mới bõ. Ít quá là họ chê! Lại ế cả người
đấy ông ạ!
Phan Chi, mặc dù đang đau
đớn vì chuyện con gái, vẫn phải đáp gọn:
- Ông cứ đề tôi lo!
Vợ Phan Chi lại dè dặt:
- Nhà mình đang cơn đen, vận bĩ, ông đi phải
cẩn thận nhé. Cứ là... “cẩn tắc vô ưu” ông ạ!
11.
TAI NẠN ĐƯỜNG RỪNG
Thị xã Sơn La vừa mới lên
đèn.
Đường phố chính chạy qua
thị xã đã ít hẳn người đi, trông lèo tèo như một phố huyện miền xuôi.
Chiếc xe Lada màu vàng đi
qua thị xã, từ từ lăn bánh về phía chợ có những lều quán đã vắng tanh, vắng
ngắt.
Xe đỗ lại trước cửa hàng ăn
uống quốc doanh. Từ trên xe bước xuống là trợ lý giám đốc Phan Chi và anh lái
xe Nguyễn Văn Kha.
Nhận ra người quen, cô Thoa
mậu dịch viên đon đả:
- Hai anh vào hàng em, còn
phở, còn bia và nem rán, ngon không kém phở Tạ Hiền Hà Nội đâu nhé!
Phan Chi và Kha vào quán
gọi đầy một bàn thức ăn. Nhậu nhẹt no say rồi, Kha mới nói với cô Thoa:
- Bọn anh lên thăm một ông
bạn mới về hưu ở trong bản Chiềng Von, đường đi hẹp quá, xe không vào được,
phải đi bộ hơn cây số. Vậy phiền em Thoa cho anh gửi cái xe con này, cho đỗ nhờ
trong sân của hàng một đêm, sáng mai bọn anh xin để đi về Hà Nội, được không?
- Được chứ! Anh cứ cho xe vào sân, khóa lại, cơ
quan có bảo vệ gác, lo gì!
Gửi xe xong, Chi và Kha
lững thững xách túi du lịch đi vào bản. Con đường mòn hun hút, gập ghềnh đưa
hai người khách đến trước một ngôi nhà nhỏ xây kiên cố, tường bằng đá hộc, mái
ngói rêu phong.
Ở gần thị xã nên bản này có
điện thắp sáng. Ngôi nhà dựa lưng vào vách núi và quay xuống con suối nước chảy
lặng lờ. Một dàn hoa tím leo trước hiện nhà.
Dừng bước trước cổng, Kha cất tiếng gọi:
– Chị Trang ơi!
Có tiếng vọng ra:
- Ai gọi tôi đấy?
Ngọn đèn ngoài hiện bật
sáng.
Chủ nhân bước ra với bộ đồ
xanh lá cây sẫm. Nhan sắc, dáng người của chủ nhân lần nào cũng làm cho Phan
Chi xao xuyến. Kể cả cái tên của chủ nhân nữa cũng đẹp và nhẹ như hơi gió: Đoàn
Thị Thu Trang.
Phan Chi đã từng nói với Kha:
- Ở nơi núi rừng hẻo lánh này, gặp được một
người như Thu Trang thật là hiếm có! Thu Trang có dáng cao dong dỏng, đẹp như
đầm lai. Ở tuổi tứ tuần rồi mà Trang trông còn trẻ hơn đến 5 - 7 tuổi bởi nước
da trắng, khuôn mặt thanh tú, phảng phất một thời đài các xa xưa còn đọng lại.
Cánh cổng hé mở, Trang kêu
lên:
- Chào hai anh! Cứ tưởng là
khách lạ, hóa ra khách quen. Mời hai anh vào chơi!
Chủ nhân đi trước. Hai người khách theo sau.
Vào phòng khách, Thu Trang nói:
- Mời hai anh ngồi chơi! Bà
cụ tôi hôm nay bị mệt, cụ vừa đi nghỉ sớm.
Còn lại ba người trong căn
nhà khá yên tĩnh. Có lẽ chỉ có tiếng suối chảy róc rách phía trước nhà là vẫn
đều đều không dứt...
- Hai anh có hàng gì lên không?
Phan Chi lắc đầu:
- Đi vội nên không có hàng
gì đâu. Chỉ có quà biếu chị và biểu cụ...
Kha lấy từ trong túi ra hai
lọ sâm nhung Trung Quốc và bốn mét vải hoa màu hồng đều là hàng nhập lậu qua
biên giới và bày bán la liệt ở vỉa hè Hà Nội.
Phan Chi nói:
- Của ít, lòng nhiều, chị Trang đừng chê nhé!
Trang cười duyên dáng:
– Em đâu dám chê! Anh cho
quả là quý rồi. Của một đồng công một nén, xin cảm ơn hai anh...
Sau một tuần trà nước,
Trang đi vào đề ngay:
– Có nhiều hàng về đấy! Hôm nay các anh lấy
được bao nhiêu?
Phan Chi cởi mở:
– Chúng tôi có thể lấy được
10 ký!
– Thế thì vừa đẹp. Vậy xin
mời các anh qua luôn nhà ông Giàng A-Man, ông ta đang có ở nhà đấy!
Thu Trang thoăn thoắt dẫn
đường cho hai người khách đi sâu vào thung lũng, nơi có những mái nhà sàn cao
cao in rõ nét trên nền trời màu tro xám.
Trang nói:
- Em đưa hai anh sang. Hai anh cứ làm việc cụ
thề với ông Giàng, nhận hàng, trả tiền, vàng ngay ở bên đó. Ngủ một giấc rồi
sáng mai về sớm. Ở với ông Giàng là phải uống rượu say với thịt núi đấy. Ông ta
mới săn được một con nai hôm qua, thịt nướng vẫn còn!
Nửa giờ sau, để hai người khách ngồi lại nhà
Giàng A-Man, Thu Trang quay về nhà mình. Anh đèn pin soi loang loáng trên lối
đi rải đầy đá dăm.
Khép cổng, Thu Trang bước
lên thềm còn sáng ánh đèn. Trang thấy lỏng mình thanh thản như mỗi khi có tin
bạn bè từ Sài Gòn gửi ra. Hai ông khách sộp này, hai anh chàng “chịu chơi” này
mua hàng it khi mặc cả. Về phía mình, bao giờ chị cũng giữ tín nhiệm: cân đong
chính xác và phẩm chất hàng tốt. Có điều chị luôn luôn nhắc nhở khách hàng:
– Bí mật là vấn đề sinh tử
đó. Ai phản bội lời thề, phản bội lời giao ước thì phải tự xử, nếu không thì
“tổ chức đường dây” sẽ phải “ra tay”! Câu nói ấy từ miệng một người thiếu phụ
xinh đẹp đôi lúc nghe sắc lạnh như một lưỡi dao.
- Biết làm thế nào khác
được, công việc làm ăn đầy nguy hiểm này nó buộc mọi người phải tuân thủ những
“luật” thật chặt chẽ. Ai bỏ cuộc, xin hãy “rút êm” …
Đôi lúc, ngồi trước bàn
trang điểm, nhìn lại gương mặt mình trong gương, Trang lại nở một nụ cười kiêu
hãnh. Kem, phấn đã xóa đi đôi, ba nếp nhăn trên má, song đôi mắt của Trang thì
chẳng bao giờ đổi thay. khi âu yếm và tỏ cảm tình với ai thì đôi mắt ấy như
đang “cười” với bạn, khi giận hờn, căm uất đôi mắt ấy lại sắc như dao. Trong ký
ức của mình, suốt hai mươi năm tuổi trẻ từ tuổi 20 đến tuổi 40, Thu Trang đã trải
qua bao nhiêu thăng trầm khổ ải. Cô nữ sinh trường Đồng Khánh ấy đã lấy chồng
là thiếu tá của “quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Ngày 29-4-1975, trước khi quân
giải phóng tràn vào Sài Gòn, thì ông “thiếu tá thủy quân lục chiến” còn lênh
đênh ở bờ biển Malaixia. Quân ngụy ào ào di tản. Thu Trang kẹt lại ở Sài Gòn.
Khi hòa bình lập lại, đất nước yên hàn, Thu Trang mới tìm ra Bắc, bà mẹ đã đi
bước nữa và lấy chồng ở Sơn La. Ông chồng thứ hai này cũng chết nốt. Bà già góa
bụa buôn bán vặt ở chợ Sơn La. Thu Trang tìm về ở với mẹ đã được mười năm sau
khi được tin ông chồng thiếu tá đã di tản sang Mỹ và lấy vợ là Việt kiều ở
Oa-sinh-tơn.
Với số vốn vài chục cây
vàng, Thu Trang quyết định ở lại với núi rừng Tây Bắc, phụng dưỡng mẹ già sau
bao năm xa cách. Tình cảm mẹ con đã thức dậy trong lòng người thiếu phụ này.
Thấy hoàn cảnh của Trang như vậy, có người góa vợ đã ngỏ lời đeo đuổi, song
Trang đã từ chối bởi vì Trang nghĩ đàn ông thật khó tin làm sao! Trang có ý
định đưa mẹ về sinh sống ở Đà Lạt, nơi chị có nhiều bạn bè từ Sài Gòn chạy lên,
sau khi Sài Gòn được giải phóng. Đà Lạt, theo Trang là vùng đất lý tưởng, nó có
thể giúp chị quên đi dĩ vãng đắng cay, và những phiền muộn, nhọc nhằn. Ý định
rời bỏ quê hương miền Bắc đề chuyển về Đà Lạt đã nảy sinh từ mấy năm nay, song
muốn về Đà Lạt thì phải có trăm lạng vàng. Số tiền, vàng ấy chưa đủ, nên Trang
quyết định phải buôn bán một thử hàng gì đây đề kiếm được nhiều lời!
Sau nhiều lần thăm dò, thử
thách, Trang kết thân với Giàng A-man, một người lái xe đứng tuổi bỏ nghề đang
có cửa hàng sửa chữa xe máy ở thị xã Sơn La. Giàng A-man chấp nhận “liên minh”
với Thu Trang để thu gom thuốc phiện từ Bắc Hà về, tổ chức bán về xuôi. Tiền
lãi thì chia đôi mặc dù vốn của Giàng có ít hơn, vì anh có công móc nối với
tuyến Bắc Hà.
Năm năm trời làm ăn trót
lọt, nên cả Thu Trang và Giàng A-man đều xây được nhà cửa khang trang trong bản
làm “đại bản doanh”. Nay mai khi đã thôi cái nghề buôn nguy hiểm này, Trang sẽ
bán ngôi nhà đề thu gom vốn đưa mẹ già vào Đà Lạt, mở tiệm buôn lớn hơn.
Chuyến hàng hôm nay là một
trong nhiều chuyến cuối cùng mà Trang thực hiện từ nay đến cuối năm.
10 giờ tối, Giàng A-man lại
tìm sang nhà Thu Trang. Anh ta đặt lên bàn một gói vàng bọc trong chiếc khăn
mùi xoa:
– Tôi đã nhận đủ 10 “cây”, đây của chị 5
“cây”. Số hàng tôi giao cho nó 10kg. Thừa thiếu đâu thì bù sau, tuy nhiên, số
vàng đó chắc chắn phải giá trị hơn 10 kg để buộc nó chuyến sau lại phải tìm lên
với ta. Nhưng có điều này, tôi phải hỏi ý kiến chị...
Thu Trang hỏi:
- Điều gì vậy?
- Hai thẳng này tỉ tê nói
ra tôi mới biết, đường dây tiêu thụ của chúng nó ở Sài Gòn bị lộ do con mụ tên
là Bích Liên bị gài, công an tóm mất 2 mụ. Còn một thằng tên là Quý thì bỏ trốn
biệt tăm... Tôi e rằng hai thằng này có thể đã bị công an theo dõi mà chúng nó
không biết. Nếu mình hám lợi, cứ giao dịch với hai thằng này lớn hơn thì có lúc
nguy!
Thu Trang dằn giọng:
– Hừ! Lũ khốn kiếp này, ta phải xử thôi. Anh
thấy thế nào?
Giàng A-man thản nhiên:
- Chị cứ đề tôi lo việc cắt đứt đường dây với
bọn này!
– Tôi tin tưởng ở hai bàn
tay anh đấy. Làm cho ngon, cho lẹ, nghe!
- Ngày mai chúng nó sẽ về
xuôi sớm từ 4 giờ sáng đi bằng Lada. Xe của chúng nó còn gửi ở cửa hàng ăn uống
tổng hợp. Tôi đã có cách... bí mật và tuyệt đối an toàn.
Nói xong, Giàng A-man đúng
dậy:
- Thôi chị đi nghỉ đi. Tôi
về đề sửa soạn ngày mai cho tụi chúng nó biết thế nào là “luật rừng”!
o0o
Chiều hôm sau, Thu Trang bỏ
buổi chợ, để một mình bà cụ ngồi bán hàng, chị ta ở nhà, đi ra, đi vào, thấp
thỏm chờ mong tin tức của Gìàng A-man.
Đúng 4 giờ, Giàng đã xuất
hiện với nụ cười vừa cởi mở, vừa bí hiểm.
Đợi cho anh là bước vào
phòng khách, Thu Trang mới hỏi nhỏ:
– Xong chưa?
Người đàn ông gật đầu:
– Xong rồi! Chị phải thưởng
cho tôi đấy!
Thu Trang rót nước cho
Giàng A-man:
- Anh uống nước đi rồi kể cho tôi nghe, dĩ
nhiên là công đầu của anh, anh có quyền tự ở trích thưởng.
Giàng xoa xoa hai tay rồi
kể, giọng trầm trầm:
– 3 giờ sáng nay, tôi dựng hai tên ấy dậy, làm
một mâm cơm thịnh soạn, chuốc rượu cho chúng nó uống thật say rồi mới dẫn chúng
nó ra chỗ gửi xe Lada. Tôi thủng thỉnh đi trước, khi xe ra đến đầu đường, tôi
mới lên xe ngồi phía sau với lão Phan Chi.
Tôi bảo thẳng Kha, lái xe:
– Ông tướng đang say rượu,
đi từ từ nhé.
Nó cho xe đi từ từ. Nửa giờ
sau, xe đi khỏi thị xã chừng hơn 10 cây số, trời còn tối, tôi bảo nó dừng xe để
tôi xuống đi tiểu. Nó vẫn còn say, tôi bảo:
- Hai ông ngồi cả về phía
sau, ngả đầu nghỉ một chốc cho hết cơn say rồi hãy đi cho an toàn. Tôi đi nhờ
xe các ông về Hà Nội thì có muộn cũng không sao! Thằng Kha nghe theo lời tôi,
nó mở cửa xe bước vào băng sau cùng ngồi say lơ mơ với Phan Chi. Tôi vờ đi tiểu
xong, quay về chỗ xe đỗ, xe vẫn nổ máy, tôi mở cửa phía trước và nhấn ga cho xe
từ từ lăn bánh, tôi xoay vô lăng về bên phải thế là chỉ vài tích tắc, cả chiếc
xe và hai “ông chủ” đã lao “rầm” xuống vực thẩm bên đường! Chỗ này vực sâu lắm!
Tôi rút “êm”, cuốc bộ đến
một nhà quen, mượn xe đạp về đến thị xã được một giờ trời mới sáng rõ. Hai vị
khách chắc chắn đã tan xương nát thịt dưới vực sâu thăm thẳm. Trên đường lúc ấy
chưa có một bóng người qua lại, đường rừng mà! Tôi lại mở cửa hàng sửa xe như
mọi ngày và để ý nghe ngóng tin về tai nạn xe hơi. Quả nhiên đến 9 giờ, dân
chúng đã kháo nhau: có một cái xe con màu vàng bị tai nạn giao thông lao xuống
vực sâu, cả hai người ngồi trên xe đều chết!
Thu Trang cười:
- Tuyệt! Thế anh có sợ
người ta sẽ phát hiện không?
- Chị nên nhớ: tôi đã mang găng tay, nên có mó
vào vô-lăng cũng không để lại vết tay. Công an có khám nghiệm hai nạn nhân thì
sẽ thấy cả hai “vị” vẫn còn sặc sụa mùi rượu! Xe bị tai nạn chỉ vì lái xe say
rượu mà thôi!
- Còn 10 ký thuốc phiện của
hắn?
- Tôi không quên đoạt lại
ngay, hiện đề ở nhà tôi rồi!
Thu Trang mở nút chai rượu,
rót đầy hai chén:
- Thế là cắt đứt được một đường dây có nguy cơ
bị lộ từ Sài Gòn. Ta sẽ tìm đường dây khác làm ăn. Mời anh cạn chén rượu này đề
mừng anh đã hoàn thành nhiệm vụ.
Hai người nâng chén.
Giàng A-man uống luôn hai
chén rượu, nét mặt của hắn trông càng thêm dữ tợn...
12.
BÀI TOÁN CHƯA CÓ LỜI GIẢI
Cái chết của Phan Chi và
lái xe Nguyễn Văn Kha trên đường đi công tác làm cho mọi người trong cơ quan
đều thương cảm. Nhiều tiếng than thở:
- Rõ khổ! Ông Chi hiền lành
như vậy mà lại không may! Anh Kha nữa, tội nghiệp quá! Song cũng có nhiều người
trách móc:
- Chỉ tại ông tướng Kha say
rượu, lái ẩu thôi, chết là phải!
Biên bản khám nghiệm hiện
trường của công an địa phương còn ghi rõ: hai nạn nhân đều bị chấn thương mạnh
ở sọ não, nguyên nhân vì lái xe say rượu, cả Phan Chi cũng còn sặc sụa mùi
rượu, chứng tỏ nạn nhân đã uống rượu ở đâu đó trước khi khởi hành về Hà Nội.
Giám đốc công ty thì nhăn
nhó:
- Ông trợ lý của tôi cứ
nằng nặc đòi đi giao dịch bản vật tư tồn kho. Ông ấy nói rằng quen biết nhiều
cơ quan ở Tây Bắc từ nông trường Mộc Châu trở lên. Chưa ký được một hợp đồng
nào đã gặp tai nạn rủi ro. Lại cả cái cậu Kha lái xe nữa chứ, bị vạ lây vì
chuyến đi của ông Chi!
Chỉ có Văn Sinh và Đỗ Vân là chưa hết bàng hoàng.
Hai đối tượng Phan Chi và Kha vừa mới được các anh xác định đề khoanh vùng, đã
lại lăn cổ ra chết vì tai nạn giao thông. Tìm hiểu tại công ty – cơ quan quản
lý Phan Chi và Kha– các anh chỉ được nghe giám đốc thông báo: vật tư cơ quan
tôi đang ứ đọng, tôi giao cho ông Chi giúp tôi tìm mối tiêu thụ hồi vốn. Đáng
tiếc là ông Chi chưa hoàn thành nhiệm vụ đã gặp tai nạn! Tìm hiểu sâu hơn nữa,
Văn Sinh được biết Phan Chi thường có quyền “nhân danh trợ lý giám đốc”, cánh
tay phải của giám đốc, để lấy xe đi công tác bất cứ lúc nào. Cậu Kha lại là lái
xe được Phan Chi tín nhiệm, nên rất được giám đốc tin cậy, và cùng đi với Phan
Chi như hình với bóng.
Cũng theo biên bản khám
nghiệm hiện trường thì ngoài mấy bộ quần áo và đồ dùng lặt vặt, hai nạn nhân
không mang theo một thứ hàng gì. Tiền mặt còn lại trong tủi Phan Chi có 50.000
đồng và Kha có 20.000 đồng. Đồng hồ, kính, bút máy không mất thứ gì. Giấy tờ
tùy thân chỉ có hai giấy công lệnh và một giấy giới thiệu đi bán vật tư, gửi
các cơ quan, xí nghiệp quốc doanh...
Văn Sinh đặt câu hỏi trước
Đỗ Vân:
- Tôi muốn biết xe xuất phát từ Hà Nội lúc mấy
giờ ngày 25 mà trên đường về xe đã lao xuống vực sâu ngay rạng sáng hôm 26? Và
đêm 25 hai nạn nhân đã ngủ lại ở đâu? Sáng sớm ngày 26 đã say sưa nhậu nhẹt ở
đâu? Nhà ai? Hàng quán nào? Đó là những điều mà ta chưa biết.
Theo giám đốc công ty cho
biết thì ngày 24 Phan Chi có báo cáo chuyến đi rao bán vật tư ngày 25 và xe ra
khỏi ga-ra lúc 7 giờ sáng. Đó, chúng ta mới chỉ biết đến thế. Hai nạn nhân đều
đã chết! Bài toán ta đặt ra, chưa có lời giải đáp.
Đỗ Vân nhấn mạnh thêm:
- Theo tôi, ta hãy tập trung làm rõ đối tượng
mới phát sinh, tức là tên Hoàng Đại tức “Hoàng Đại Ca” mà hôm trước tôi và anh
đã biết địa chỉ của hắn khi ta theo hai đối tượng Phan Chi và Kha. Tên Hoàng có
quan hệ gì với Chi và Kha? Về lai lịch của tên Hoàng thì theo tài liệu của cơ
sở tên thật hắn là Nguyễn Đức, sống bằng sự nịnh bợ, ô dù. Sau vụ đổ bể vì lập
quỹ đen, cho vay séc của cơ quan và buôn giấy in lậu ở Sài Gòn, hắn bị cách
chức trưởng phòng và đuổi ra khỏi đảng, hiện nay hắn là nhân viên của công ty
thu mua nông sản. Sau vụ kỷ luật ở Sài Gòn, hắn bỏ vợ và hai con ở trong đó,
xin chuyền ra Bắc, cặp bồ với một nữ nhân viên cùng cơ quan. Cô này là vợ một
giáo viên. Hắn dùng vàng, tiền đề chiếm đoạt cô ta làm vợ lẽ và đang sống ở địa
chỉ mà ta đã biết. Đôi gian phu, dâm phụ này có quan hệ buôn bán với Phan Chi
thì đã rõ, song hoạt động của nó thì ta chưa nắm được bao nhiêu. Cần phải có
thời gian.
- Công việc của chúng ta
còn có khó khăn nhiều lắm - Văn Sinh nói -
Tôi sẽ báo cáo và xin chỉ thị của đại tá Trần Vinh.
o0o
Ánh Nguyệt con gái Phan Chi
– bị bắt tại hộp đêm cùng với Tuấn, người yêu của cô, khi đang chiếu vidéo đen
với băng hình đồi trụy. Xét vì Nguyệt chỉ là cô gái đua đòi ăn chơi, nên công
an chỉ lấy lời khai của cô rồi cho về. Còn lại tên Tuấn, kẻ chủ mưu với chiếc
đầu máy, công an đã tạm giam để sẽ đưa ra truy tố trước pháp luật.
Nguyệt về nhà trong tâm
trạng vừa xấu hổ, vừa tủi nhục. Bạn bè biết chuyện đến thăm, an ủi, cô đều lánh
mặt, lên gác nằm khóc một mình.
Chưa bao lâu thì xảy ra tai
nạn làm chết ông Phan Chi. Hai mẹ con Ánh Nguyệt như điên như dại, vật vã, kêu
khóc.
Một tuần sau đám tang của
chồng, vợ Phan Chi làm đến nhà Hoàng, năn nỉ:
– Nhà tôi không may thiệt phận đi rồi. Cháu
Nguyệt lại dính vào vụ vidéo đen. Tôi thật khốn khổ quá chừng! Thỉnh thoảng mời
anh qua lại nhà tôi, khuyên bảo cháu Nguyệt dùm tôi. Tương lai của cháu còn
dài, nó bỏ học, bỏ hành thì tôi cũng đến chết mất thôi.
Nhìn người đàn bà trong
hoàn cảnh tang tóc, Hoàng tỏ ra ái ngại, hắn nói:
- Chị cứ về đi. Tôi sẽ cố
gắng giúp chị, khuyên bảo cháu. Lại còn hàng bị kẹt lại đó. Của anh chị và của
tôi, ta phải tính kế tiêu thụ để chuyển sang hàng nhập ngoại. Hàng qua biên
giới đều trốn thuế hải quan nên rất rẻ, không tranh thủ mua vào nay mai hải quan
sờ đến, lại đắt vọt lên thì còn ăn thua gì?
13.
MA BIẾN
Đại tá Trần Vinh lần xem
từng trang viết trong tập hồ sợ vụ án M.2. Từng chi tiết của vụ án đã được ghi
lại qua sự sắp xếp của cô chiến sĩ trinh sát Tuyết Lan. Ông rất hài lòng về tập
hồ sơ này. Kể cả cái tên vụ án cũng là do Tuyết Lan đặt. Hôm ấy, Ban chuyên án
được thành lập sau khi Thị Liên bị tóm gọn để lộ đầu dây tiêu thụ ma túy. Trần
Vinh đã hỏi các chiến sĩ:
- Từ đầu mối của mụ Bích
Liên, ta cố gắng tìm cho ra đường dây ma túy này. Vậy ta nên đặt tên cho vụ án
là gì nhỉ?
Trong khi anh em trinh sát
còn đang suy nghĩ thì Tuyết Lan đã nói:
- Dạ. Thra chú, chán xin có
ý kiến ạ...
- Cháu cứ nói!
- Dạ, đây là vụ án buôn lậu
ma túy, cháu đề nghị lấy chữ M. để đặt cho vụ án. Trước đã có vụ án Thị Phương
là vụ thứ nhất, vụ này là vụ thứ 2, nên đặt là M.2 ạ!
– Hay đó! Chú nhất trí với
cháu Lan.
Đại tá Trần Vinh đưa tay
lấy chiếc bút chì đỏ, gạch một gạch đậm dưới chữ: Hoàng Đại, tức “Hoàng Đại
Ca”, tức Nguyễn Đức một mắt xích đáng chú ý trên đường dây ma túy này mà ông
đang chăm chủ theo dõi...
Vừa lúc ấy, như có một điều
linh cảm, chuông điện thoại đỗ một hồi dài, ông nhắc ống nghe, vui vẻ:
- Ai đó? Tôi nghe đây! Văn Sinh hả? Thế nào?
Đến đâu rồi?
Từ đầu dây bên kia, từng
câu nói của Văn Sinh làm cho đại tá phải chau mày: Sao? Nó trốn rồi à? “Hoàng
Đại Ca” biệt tăm tích? Nó đi đường nào? Đi bằng phương tiện gì? Không ai biết!
Mạng lưới trinh sát của ta cũng mù tịt à? Gay nhỉ. Đỗ Vân đã chốt chặn cả đường
hàng không, sân bay, bến xe, sân ga cũng không hay biết gì à? Thôi được, có lẽ
vì Văn Sinh là người Sài Gòn, chưa thuộc địa bàn Hà Nội đấy thôi. Này Văn Sinh
sớm mai bay ngay về Tân Sơn Nhất, rồi về đây ngay nhé! Nhớ mang theo tất cả
thông tin mới nhất của vụ M.2 nhé. Công việc bàn giao hết lại cho Đỗ Vân. Mình
chờ cậu hai giờ chiều mai nhé!
Thế là ông đã lệnh cho Văn
Sinh bay trở lại Sài Gòn.
Trong đầu ông đã hình thành
một phương án tác chiến mới. Ông mỉm cười một mình rồi ấn chuông gọi Tuyết Lan
ở phòng bên.
Tuyết Lan đầy cửa vào, được
nghe ngay một câu nói vui:
- Cháu! Chú vừa nhận được
báo cáo của Văn Sinh qua điện thoại; tên “Hoàng Đại Ca” đã trốn biệt tăm khỏi
nhà nó mà mạng lưới trinh sát của ta không biết gì cả! Thế có buồn không? Chú
đã lệnh cho Văn Sinh sáng mai đáp máy bay vào Sài Gòn đề nhận chỉ thị mới. Cháu
chuẩn bị cho chú thêm tư liệu, phần trong này. Văn Sinh lo việc ngoài kia, các
cháu cho chú nghe thêm một lần nữa để ta đánh cho chắc, nghe!
– Dạ!
Tuyết Lan lui về phòng
mình.
14.
CHẠY TRỐN
Đã chín giờ tối. Đường
Nguyễn Huệ vẫn nhộn nhịp người qua lại. Từ đại lộ rẽ vào một con hẻm sâu, người
đàn ông xách một túi du lịch nặng, đi vội vã. Đến trước cửa nhà số 5, cửa còn
đang ngỏ, người đàn ông bước thật nhanh vào nhà và khuất sau bức rèm xanh.
Có tiếng hỏi của phụ nữ:
- Ai đó?
Có tiếng đáp lại của người
đàn ông:
- Chị Kim! Chị không nhận
ra tôi sao?
Nguyễn Thị Kim bàng hoàng
khi nhận ra người đứng trước mặt mình là Hoàng Đại Ca.
- Trời! Anh Hoàng! Anh vô
hồi nào vậy?
Hoàng đặt chiếc túi du lịch
xuống một góc nhà rồi ngồi xuống ghế:
- Chị ơi! Vất vả quá chừng!
Hôm trước chị về rồi thì xảy ra vụ tai nạn xe hơi và ông Chi đã chết cùng với
lái xe. Bà Chi ngất lên, ngất xuống mấy lần và... tôi cũng phải lo lấy thân
tôi, cao chạy xa bay, miễn sao thoát khỏi địa bàn Hà Nội, nơi mà tôi biết đang
có một mạng lưới vô hình vây bọc chung quanh vụ tai nạn giao thông kia!
Thị Kim đặt lên bàn một ly
cà phê đá:
– Mời anh! Anh có thể kể
cho tôi nghe chút xíu được không?
Hoàng đỡ lấy ly cà phê từ
tay Thị Kim, uống một ngụm rồi y kể:
- Từ hôm chị ra Hà Nội
thông báo cho tụi tôi biết chuyện bà Bích Liên và bà Mai bị công an bắt, tôi
đoán rằng công an sẽ làm ra Hà Nội. Nhất là sau khi ông Lê Quý bỏ trốn ra nước
ngoài, tôi chắc mọi hành vi của Phan Chi và anh Kha lái xe đã nằm gọn trong
đường ngắm của công an. Phan Chi và Kha lại biết địa chỉ nhà tôi, như vậy tôi
cũng có thể đã lọt vào đường ngắm của công an. Khi tôi nghe tin sét đánh về tại
nạn ô tô mà Chi và Kha đã tử nạn thì thú thật với chị, tôi không còn bụng dạ
nào luẩn quẩn ở Hà Nội được nữa. Tôi để lại cho vợ con một số vốn, xóa mọi dấu
vết, thu vén hàng và tiền bạc, rút êm khỏi Hà Nội bằng xe máy, do một chiến hữu
đưa ra khỏi Hà Nội. Về đến Thường Tín mới vẫy xe tải đi Thanh Hóa, lại kiếm
được xe du lịch vào Đà Nẵng, đi tàu vào Nha Trang, rồi đáp xe du lịch vào đây.
Chị biết không? Phải mất 3 ngày 4 đêm, thay hình đổi dạng 5 lần mới thoát được
vào đây, an toàn đến với chị ở con hẻm này!
Thị Kim xuýt xoa:
- Buôn bán mà gặp phải bước
gian nan thì đành phải chấp nhận, chứ biết làm sao bây giờ? Ở đây, xin nói với
anh rằng, anh chỉ nên ở lại một đêm thôi. Mời anh lên lầu nghỉ ngơi, tắm giặt,
xong anh ăn cơm, rồi ta sẽ làm việc, anh có hàng phải không?
- Dạ, có!
– Làm việc xong, anh đi nghỉ cho khỏe để sáng
mai anh lại đi, đi về đâu, có định hướng chưa?
- Vào được đến đây, tức là
hổ đã về rừng, lo gì. Chị khỏi lo cho tôi!
11 giờ khuya.
Hoàng đã xúng xính trong bộ
đồ ngủ, mặt mũi sáng sủa, không ai còn có thể nhận ra Hoàng đầy bụi bậm trên
đường chạy trốn nữa. Hắn mở túi du lịch, bày lên bản hai mươi bánh thuốc phiện
đã được gói kín trước mặt Thị Kim và nói ân cần:
- 20 ký chẵn đó, nghe!
Thị Kim kiềm đếm rồi nhận xếp
vào tủ lạnh. Xong xuôi, Thị Kim lại mở tủ đứng, lấy ra một cái hộp, mở nắp, xếp
ra trước mặt Hoàng 15 cây vàng, toàn là vàng lá Kim Thành.
Việc trao đổi làm thật
nhanh gọn với thái độ hoàn toàn tin cậy lẫn nhau, như đã tin cậy nhau từ bao
giờ rồi.
8 giờ sáng hôm sau. Đợi cho
đường phố đông nghẹt, người xe qua lại tấp nập giữa giờ cao điểm, trong bộ đồ
màu ghi sáng, Hoàng xách một cặp da như khách tàu Viễn Dương, bước vội ra
đường, qua con hẻm, đổ về đại lộ Nguyễn Huệ. Hắn vẫy một xe xích lô:
- Cho tôi về xa càng miền
Tây!
Chiếc xe xích lô lao vun vút ra đường Hàm
Nghi, xuôi về xa cảng. Hoàng châm một điếu thuốc, nhìn dòng người tấp nập, thở
ra khoan khoái.
15.
NGƯỢC DÒNG SÔNG HẬU
Chiếc xe lam chở đầy khách
quá giang dừng lại ở huyện lỵ Châu Thành. Từ trên xe bước xuống, Hoàng tìm đến
nhà Bích Thủy, một cửa hàng tạp hóa bán toàn đồ Thái Lan.
Chợt thấy Hoàng, Bích Thủy
reo lên:
- Anh Hoàng! Em tưởng anh
chết chìm ngoài Hà Nội rồi chứ! Sao tận bây giờ mới vô đây?
Hoàng vứt cái cặp xuống
bàn.
- Làm ăn thua lỗ muốn chết
đây!
Thủy long lanh đôi mắt:
- Anh mà chết thì em đã hết sống từ lâu rồi!
Anh coi, quầy của em lúc nào cũng đầy nhóc hàng Thái Lan thế này kia mà! Anh đi
có một mình hay còn ai nữa?
- Một mình! Anh đói rồi, có cái gì ăn được, em
cho anh ăn đi!
- Thôi, khỏi phải nấu cơm.
Anh lên lầu đi, em mua hủ tiếu cho anh ăn.
Năm phút sau, từ quán hủ tiếu trước cửa nhà,
Bích Thủy đã bưng về bốn tô hủ tiếu và đặt lên bàn. Thủy quay lại, khép chặt
cánh cửa rồi bê món ăn lên lầu.
- Mời anh ăn đi cho nóng!
Hoàng đã ăn liền hai tô
trong lúc Bích Thủy chỉ ăn hết một tô.
Ăn xong, Thủy pha một bình
trà rồi ngôi kề vai với Hoàng:
- Anh Hoàng! Bấy lâu anh chê em hả? Nói mau,
không có em giận cho coi!
Không đợi Hoàng trả lời, ả
đã vòng cánh tay để trần qua cổ người tình, chờ đợi.
Hoàng chỉ chờ có thế. Hắn đã
đặt lên môi cô gái một cái hôn thật nồng nàn, thật cháy bỏng.
Sau cái hôn mở màn ấy, Thủy mới thổ lộ:
– Bữa trước, anh ra Bắc
rồi, em mới gom hàng Thái Lan về đây. Song đạo này hàng nhập về nhiều quá nên
bán chậm, chẳng lẽ lại hạ giá đề bị lỗ vốn? Anh có cách nào tiêu thụ về thành
phố dùm em được không?
Hoàng cũng không cần giấu giếm:
– Anh cũng đang còn bị kẹt
đây! À quên, chưa hỏi em: má đi đâu rồi?
– Má em về bên ngoại! Anh
cứ yên tâm ở đây với em...
Thủy đổi sang giọng suồng
sã hơn:
– Cưng của em đừng có ngại, nghe. Ở đây rồi
lát nữa em chiếu video cho anh coi! Toàn là băng ghi hình Nhật, thứ “xịn” hết
chê!
Nói rồi, ả cười khúc khích:
– Phim hay thế mà mấy ông cứ lên án hoài! Rõ
thật “quê một cục”!
Hoàng ngả người trên ghế:
- Hàng của em vẫn là những loại như trước?
Thủy gật đầu:
– Chủ yếu là phụ tùng ô tô, honda và thuốc
tây, loại kháng sinh thứ thiệt. Trời, sao bây giờ thanh niên đau bịnh hiểm
nghèo nhiều thế?
Thấy Hoàng có vẻ buồn ngủ,
Thủy nói ngay:
– Em buông mùng cho anh ngủ nhé. Đêm qua anh
lại thức khuya rồi phải không? Ngủ một giấc cho khỏe!
o0o
Thấm thoát đã bảy ngày trôi
qua. Hoàng nghỉ lại nhà Bích Thủy không mảy may lo sợ. Hắn nghĩ thầm: nếu cùng
lắm thì đưa Bích Thủy đi Rạch Giá nằm khách sạn là xong.
Sang ngày thứ tám, Bích Thủy đưa Hoàng xuống
một chiếc ghe chất đầy hàng hóa:
- Anh đi cùng em về thành
phố. Vào sông Sài Gòn, em giao cho mấy tên đầu nậu rồi lại quay về đây đi Rạch
Giá là vừa đẹp, nghe cưng!
Hoàng đành phải ngoan ngoãn
vâng lời ả như một kẻ ngoan đạo.
Buổi chiều buông xuống bến
sông thật êm ả. Ghe hàng đang chuẩn bị rời bến. Anh tài công và mấy thủy thủ,
thuyền viên đón Thủy và Hoàng như hai người chủ hàng cỡ bự.
Một khoang rộng ở cuối ghe
đã trải chiếu hoa, buông rèm hoa, dành riêng cho bà chủ, ông chủ.
Hoàng và Thủy khom lưng
bước vào khoang đặc biệt này. Thủy vén màn, ra lệnh cho người tài công:
- Thôi, ta đi, anh Ba!
Chiếc ghe từ từ rời bến, rẽ
sóng, ngược dòng sông Hậu.
Màn đêm buông xuống từ bao
giờ không hay.
Ánh trăng thượng tuần soi
vào khoang thuyền như thực, như mơ…
Hoàng nắm tay Thủy:
- Có thể giao hàng lên
thành phố vào sớm ngày thứ ba được đó!
Thủy nhìn ra ngoài sông
rộng. Đôi bờ từng quãng le lói ánh đèn của những quán hàng trên khắp mé sông...
12 giờ khuya.
Hoàng và Thủy bỗng giật mình tỉnh dậy vì tiếng
gọi của anh tài công:
- Cô Thủy! Cô Thủy!
- Gì vậy?
– Cô có nghe tiếng máy ca
nô đó không? Ca nô tuần tiễu đấy. Hình như họ đang lao thẳng đến ghe của ta đó!
- Được, đề tôi coi!
Thủy lay Hoàng dựng gã ngồi
dậy.
- Dậy đi, cưng! Có ca nô
của công an.
Tiếng máy ca nô mỗi lúc một
gần, cho đến khi ánh đèn pin loang loáng soi vào ghe, rồi có tiếng hỏi:
– Ghe chở hàng gì đấy? Xin
mời ghé vào trạm kiểm soát bờ Nam!
Chiếc ca nô lướt chậm lại
và áp sát mạn chiếc ghe. Thủy thò cổ ra, gặp một anh công an bên ca nô ngó
sang:
- Xin chào mấy anh. Ghe của em chở hàng cho
hợp tác xã mua bán thành phố đây mà! Có chút hàng thôi. Mời mấy anh qua ghe của
em chút xíu đã nào!
Một đồng chí công an bước
sang chiếc ghe:
- Yêu cầu các anh, các chị
cho ghe vào bờ và tất cả mọi người lên bờ để chúng tội kiểm tra!
Thấy thái độ kiên quyết của
người kiềm tra, Bích Thủy đành phải bảo người tài công:
- Anh cứ cho ghe áp sát vào
bờ.
Riêng Hoàng Đại Ca đã thấy
sởn gai ốc. Hắn đảo mắt nhìn quanh: nếu nguy cấp quá thì tầu thoát đường nào
đây?
Bích Thủy cũng đã thấy
nguy, song ả vẫn còn hy vọng ở tài năn nỉ của ả đối với mấy anh công an.
Khi chiếc ghe đã áp sát bờ
Nam, tất cả mọi người đều phải lên bờ, vào trạm kiểm soát. Bích Thủy đưa ra
trước mặt anh công an tờ phiếu vận chuyển hàng hóa có ghi rõ đơn vị nhận hàng
là hợp tác xã mua bán thành phố, người áp tải hàng là Bích Thủy, các loại hàng
được ghi chung là: tạp phẩm Thái Lan nhập khẩu.
Trạm trưởng nói:
- Chúng tôi được tin quần chúng cho biết: ghe
của chị chở hàng lậu. Phiếu vận chuyển này lại ghi rất chung chung, mập mờ và
không ghi rõ số lượng...
Thủy cười, năn nỉ:
- Anh thông cảm dùm cho em, em không quên ơn
anh mà...
Ả rút trong túi ra một
phong bì dầy cộm đựng 300 ngàn đồng rụt rè đặt lên bàn.
Người trạm trưởng nghiêm
nét mặt, gọi một anh công an đến:
- Tôi ủy nhiệm cho đồng chí
lập biên bản ngay về tội đưa hối lộ của chủ thuyền đối với công an. Sau đó yêu
cầu bốc hết hàng lên bờ lập biên bản xử lý!
Bích Thủy run lập cập, đứng
im, ả lại đảo mắt nhìn tên Hoàng như thăm dò, xin một ý kiến cầu cứu.
Người trạm trưởng đã nhìn
thấy, anh hỏi?
- Chị cho biết anh này là
ai?
- Dạ, thưa anh, đó là “ông xã” của em, đi quá
giang với em về thành phố...
Phải một giờ sau, hàng hóa
mới được bốc hết lên bờ. Phụ tùng ô tô, xe máy, thuốc tây, xa xỉ phẩm, tất cả
đều được kiểm đếm và phân loại rành rọt ghi vào biên bản.
Dưới ánh sáng ngọn đèn măng
sông, hàng lậu có giá trị bằng hàng mấy chục cây vàng. Thủy thủ, thuyền viên cả
chục người buồn bã ngồi một bên. Còn bên kia là chủ hàng Bích Thủy và “Hoàng
Đại Ca” không những buồn bã mà còn lo sợ đến muốn xỉu đi.
Khi trời sáng rõ thì từ
hàng hóa đến con người đều được phơi bày rất rõ. Màn đêm đã không còn nữa, ánh
đèn loang loáng không còn nữa. Bích Thủy đã buộc phải ký vào biên bản và đứng
chờ một bên. Còn những người khác kề cả Hoàng Đại Ca cũng ngơ ngác, kẻ đứng,
người ngồi chờ lệnh của trạm trưởng.
Trạm trưởng bước ra, nhìn
thẳng vào Hoàng Đại Ca nói:
– Yêu cầu anh cho kiềm tra
giấy tờ tùy thân!
Hoàng thực sự lúng túng:
- Tôi có chứng minh nhân
dân đây ạ.
Anh công an cầm giấy chứng
minh của Hoàng và hỏi:
- Anh là chồng của chị Thủy?
- Dạ... dạ... tôi là bạn
thôi ạ!
Mời anh vào trong trạm, mời
anh ngồi, chúng tôi có câu chuyện cần nói với anh!
Hoàng run lẩy bẩy, nhìn Thủy
rồi lại nhìn anh công an, củi đầu chờ đợi.
Anh công an lên tiếng:
- Anh Hoàng! Giấy tờ của
anh ghi rõ tên anh là Nguyễn Đức. Chúng tôi còn biết anh có biệt hiệu là Hoàng
Đại, tức Hoàng Đại Ca có phải không?
- Vâng vâng...
Chưa nói được thêm lời nào
thì Hoàng đã nghe anh công an nói tiếp:
- Anh Đức! Anh có lệnh truy nã đây!
Tờ lệnh truy nã có dán ảnh
tên Hoàng ở góc bên trái được đặt lên bàn.
- Anh nhìn rõ rồi chứ? Hành lý anh mang theo
có những gì?
Hoàng mở chiếc cặp da: hai
bộ quần áo, 100 ngàn đồng tiền mặt và 15 cây vàng (mới nhận của Thị Kim từ mấy
hôm trước). Tất cả được ghi vào biên bản. Hoàng run rầy ký vào biên bản và sau
đó, hắn được chỉ định ngồi vào một xó nhà với chiếc còng số 8 khóa chặt hai
tay.
Hắn nghe rất rõ tiếng máy
bộ đàm của anh công an báo về thành phố:
- Báo cáo đội trưởng: tên
Hoàng Đại Ca có lệnh truy nã đã bị bắt.
16.
LỜI KHAI VÀ CHỨNG CỚ
Cuộc thẩm vấn Hoàng Đại Ca
kéo dài đã hơn một tuần. Văn Sinh đã có cả một tập hồ sơ dầy về hắn.
Hôm nay hắn đang ngồi đây,
vẻ lì lợm in hằn trên bộ mặt hốc hác vì lo âu và mất ngủ.
Công an hỏi:
- Anh là cán bộ, nhân viên, tại sao lại mang
cái tên dữ dằn vậy?
Hắn đáp:
- Dạ, thưa ông, lý lịch của
tôi các ông đã có trong tay, tôi tên thật theo giấy khai sinh là Nguyễn Đức,
tức Hoàng Đại. Anh em đùa tôi nên gọi tôi là “Hoàng Đại Ca” cho vui thôi...
- Số vàng 15 cây là của
anh?
- Dạ, thưa ông không phải
đâu ạ, đó là của cô Bích Thủy, tôi giữ hộ cô ấy...
- Anh buôn chung?
- Dạ, thưa ông, tôi trót
“cặp bồ” với cô ta thôi ạ. Cô ta là gái không chồng, tôi thì có khuyết điểm ạ,
vì tôi đã có đến hai đời vợ.
- Khi anh ly dị vợ cả, chia
gia tài với chị ấy anh có mấy cây vàng?
- Dạ, có 9 cây, chia đôi,
tôi được 4 cây rưỡi ạ.
- Quà cáp anh biếu thủ
trưởng có nằm trong số này không?
- Dạ, tivi tủ lạnh tôi mua biếu 2 vị thủ
trưởng cũ của tôi là do tôi buôn bán ở Sài Gòn kiếm ăn được, nên phải có quà
biếu thủ trưởng ạ.
Văn Sinh nghiêm giọng hơn:
- Anh Hoàng! Anh chỉ nói
thật những điều mà công an đã biết và như vậy thì anh đâu có tội. Anh nghe đây,
tôi hỏi điều quan trọng, anh hãy trả lời cho đúng: anh quen vợ chồng ông Phan
Chi từ bao giờ? Quan hệ buôn bán với nhau ra sao?
- Dạ, tôi quen ông Chi thôi
ạ, vì khi tôi còn là trưởng phòng thì ông Chi thỉnh thoảng có bán cho cơ quan
tôi xi măng, sắt thép (trả bằng séc). Đó là quan hệ bình thường giữa 2 cơ
quan...
- Anh có biết ông Chi chết?
- Dạ tôi có nghe ông ấy
chết vì lái xe say rượu, nên xe lao xuống vực sâu...
- Anh có đến chia buồn với
vợ ông ta?
- Dạ, có ạ.
- Chỉ chia buồn không thôi.
- Dạ, vâng ạ.
Văn Sinh lắc đầu:
- Không chỉ có chia buồn
theo xã giao thông thường, mà anh còn “giúp đỡ” vợ ông Chi nữa kia mà!
- Đâu có chuyện gì?
- Để anh khỏi quên, tôi cho
anh nghe lời khai của bà vợ ông Chi nhé! Anh nghe đây!
Văn Sính ấn nút chiếc máy
ghi âm và tiếng bà Chi đã phát ra nghe rất rõ:
- Thưa
ông, sau khi nhà tôi chết, ông Hoàng đến thăm tôi 3 lần vào ngày, 28, 29, 30
tháng 8. Ông ta nói rằng: “Chị chỉ nên giữ tiền và vàng, còn số thuốc phiện đề
trong nhà là nguy hiểm lắm vì công an tìm ra là chị sẽ đi tù. Tốt hơn hết là
chị đưa cho tôi bán giùm. Tôi bán cho tụi tàu viễn dương Hải Phòng, Quảng Ninh,
tôi sẽ thanh toán sau với chị. Từ mấy năm nay, tôi với anh chị có sai lời hứa
bao giờ!”. Tôi đã buồn phiền về chuyện chồng con, sợ lại tù tội thì khổ thêm,
nên đã đưa cả 20kg thuốc phiện mà chồng tôi đã cất giấu trong tủ hai ngăn cho
ông Hoàng vào ngày 30 tháng 8.
Hoàng Đại liếm môi, lắp bắp
nói:
- Dạ,
thưa ông bà ấy nói sai ạ. Tôi đến chia buồn có một lần thôi.
Văn Sinh cười nhạt:
- Anh Nguyễn Đức! Anh hãy khai thật thà! Anh
trốn vào Sài Gòn, anh ngủ tại nhà ai ở con hẻm gần đường Nguyễn Huệ.
Nghe câu hỏi này, tên Hoàng toát mồ hôi hột,
hắn đưa tay gạt mồ hôi trên mặt, trên cổ, rồi nói:
- Dạ, thưa ông, ở nhà cô
Kim ạ!
- Đó! Anh thấy chưa? Từ 20kg thuốc phiện anh đã
có 15 cây vàng lá và anh đã về Châu Thành xả láng với cô Bích Thủy phải không?
Vậy thì 15 cây vàng lá của anh, chứ đâu phải của cô Thủy mà anh giữ giùm? Rồi
lại khai bậy với chúng tôi? Thôi, bây giờ thì anh về phòng tạm giam và suy nghĩ
cho kỹ đi! Tôi nhắc lại để anh nghe cũng không thừa, tội của anh đã rõ ràng,
anh hãy khai cho đầy đủ, đường dây ma túy của anh từ Bắc vào Nam có tất cả
những ai? Anh đã đưa thuốc phiện vào đây mấy chuyến? Bao nhiêu ki-lô-gam? Anh
muốn được xem xét, giảm nhẹ một phần mức án thì phải khai thành khẩn. Ngược
lại, thì pháp luật sẽ không tha thứ! Anh nghe rõ chứ?
- Dạ, thưa ông, tôi đã nghe
rõ ạ.
Văn Sinh bấm chuông. Một
đồng chí cảnh vệ bước vào, dẫn tên can phạm về phòng giam.
17.
CÁI LÝ CỦA TUYẾT LAN
Văn Sinh bước vào phòng làm
việc của Tuyết Lan khi cô đang loay hoay với bức điện của Đỗ Vân từ Hà Nội gửi
vào cho Đại tá Trần Vinh. Thấy Sinh vào, có vồn vã ngay:
- Ta tìm ra địa chỉ của mụ
Kim hơi chậm, nên tên Hoàng mới kịp chuồn về Châu Thành và mụ Kim cũng đã ôm cả
khối thuốc phiện ấy... dông tuốt! Tại anh Sinh đấy!
Văn Sinh ngồi xuống ghế,
đối diện với Lan:
- Tại tôi hay tại ai? Nếu
“nữ thám tử” tài năng của tôi nặng nề hơn một chút nữa thì bọn tội phạm giờ đâu
có thoát được?
Lan đối đáp ngay:
- Dạ, xin thưa với “ngài
thanh tra”, ngài đã bỏ sót mụ Kim khi lấy lời khai của bà vợ Phan Chi. Nếu không
có tài liệu bổ sung của anh Đỗ Vân thì trong này làm sao biết được mụ Kim đã vi
hành ra Hà Nội rồi về Sài Gòn. Sau đó lại có tên Hoàng xuất hiện ở con hẻm gần
đường Nguyễn Huệ và lệnh truy nã tên Hoàng cũng hơi chậm đấy ạ!
Văn Sinh đành phải xuống
thang:
- Xin thua cô em gái rồi! Thôi nói chuyện
nghiêm chỉnh nhé. Sự chậm trễ của tôi đã được khắc phục bằng cách truy bắt được
tên Hoàng, lại thu thêm được cả ghe hàng lậu của mụ Bích Thủy...
- Anh đã chịu nhận thua anh
Đỗ Vân một bàn, nên lại bổ sung thêm một bàn thắng ở Châu Thành (Hậu Giang). Em
cử tạm ghi đã, phần bình xét sẽ do thủ trưởng. Bây giờ, em xin hỏi “nhà thảm tứ
đại tài”: Mụ Kim đã ôm trọn gói thuốc
phiện chuồn đi đâu? Ta sẽ làm gì để khui ra mụ Kim, hay lại để nó tuột khỏi tay
ta một lần nữa?
Văn Sinh ngửa mặt lên trần
nhà:
- Đó! Đó! Đau đầu là ở chỗ
này đây.
- Theo em thì còn đâu nữa
mà truy tìm! Nếu ta ra sức tìm thì họa may chỉ tóm được mu Kim tay không mà
thôi!
- Vì sao?
-Vì từ hẻm đường Nguyễn Huệ đến cảng Bạch Đảng
chỉ có ba bước chân thôi. Mụ Kim “hất” cho tụi tàu Viễn Dương là xong ngay! Cho
nên số hàng đó bây giờ đã ở Xanh-ga-po hoặc Hồng Kông rồi còn gì! Và mụ Kim có
thể cũng ra biển rồi.
- Sao Lan lại khẳng định
như vậy?
- Vì qua nhiều vụ trước, em
thấy khi đường dây của chúng đã bị ta cắt đứt lung tung, nghĩa là có động thì ở
mắt xích nào chúng cũng chuyền hàng ra tiền và vàng cả thôi đề tránh nguy hiểm.
Văn Sinh gật gù:
- Lan nói có lý! Song tôi
vẫn phải xin lệnh truy nã thị Kim!
18.
CUỘC GẶP GỠ Ở ĐƯỜNG TÔN THẤT ĐẠM
Đường Tôn Thất Đạm (quận I)
không dài lắm, song lại là nơi buôn bán thật sầm uất. Có lẽ vì con đường này
gần chợ Bến Thành, lại không xa cảng Sài Gòn. Những sạp hàng chạy dài suốt hai
bên hè phố. Thuốc là, đường, sữa, kẹo đủ loại đều có bày bán ở đây. Hàng nhập
ngoại chiếm tỷ lệ tới 90%. Hàng bày bán mấy bữa này đã được dán tem thuế đàng
hoàng. Song khách mua lẻ, mua buôn lại thường được giao các loại hàng chưa dán
tem, trốn thuế để trong các con hẻm.
Hàng dán tem rồi thì được phép lưu thông đàng
hoàng. Cán bộ thuế cũng chẳng ngó ngàng đến làm chi.
Sáng nay có một người đàn bà đi xe Honda P.C
qua đường Tôn Thất Đạm. Phía sau xe của chị ta là một bịch hàng gồm hai loại
thuốc lá ngoại đã dán tem. 20 cây thuốc Samit và 20 cây Gallant. Hàng dán tem
rồi nên chị ta cứ đàng hoàng đi, ghé vào các sạp chào hàng.
Ghé vào sạp hàng của một cô gái người Hoa, chị
ta hỏi:
- Có lấy Samit và Gallant
không?
Cô chủ sạp hàng đưa mắt
nhìn bịch hàng rồi lắc đầu:
- Hàng dán tem rồi à? Không
mua đâu!
Chị ta lại kiên nhẫn đi chào ở mấy sạp kế bên.
Sạp nào, chị ta cũng nhận được một câu trả lời:
- Không mua đâu! Mắc lắm!
Khi chị ta dắt xe vào cuối
dẫy phổ thì người bạn hàng đỡ lấy bịch thuốc, nói đôi lời về giả cả và gom ngay
cả bịch. Bà chủ sạp ném ra một cục tiền loại giấy bạc 5 ngàn đồng. Không cần
đếm, chị ta bỏ ngay vào giỏ đặt trước tay lái xe máy và quay ra. Họ chào nhau
bằng một cái nhìn thầm lặng.
Chiếc xe Honda P.C vừa quay
ra, chưa kịp nổ máy thì chị ta đã nghe tiếng gọi:
- Cô Ba!
Nghe rõ ám hiệu, người đàn bà nhìn lên:
- Kìa, anh Quý!
Lê Quý tiến sát đến bên
người đàn bà:
– Chị Kim! Chị đợi tôi lấy
xe rồi ta cùng về đường Cách mạng tháng 8, rẽ sang Tân Bình, tôi có việc phải
bàn với chị!
Vài phút sau, hai chiếc xe
cùng nổ máy, ra đường Hàm Nghi, lên đường Cách mạng tháng 8, về Tân Bình.
Thị Kim hỏi:
- Ta về đâu bây giờ?
- Về nhà bà Bảy, người mà
chị vừa đưa hàng đó?
Thị Kim kinh ngạc:
- Thì ra anh đã quan sát
thấy tất cả?
- Đúng thế!
Tại nhà bà Bảy, út Quyên - con
gái bà Bảy – đưa hai người lên lầu I rồi út Quyên xuống nhà dưới để cho hai
người khách của mẹ tiện bàn công chuyện buôn bán.
Lê Quý báo tin tức mới
nhất:
- Từ hôm tôi bỏ nhà, lánh
mặt đi Rạch Giá hai tuần, bà con hàng phố đồn đại là tôi theo bồ đi vượt biên.
Tôi biết chị ra Bắc rồi lại vào. Bà xã tôi biết cả tin ông Phan Chi và thằng
Kha chết vì tai nạn xe hơi, tin ông Hoàng Đại Ca đem hàng vào nhà chị, tin ông
Hoàng bị bắt với Bích Thủy ở Hậu Giang, rồi lại biết chị sẽ đưa hàng cho bà
Bảy, nên tôi đã đến đường Tôn Thất Đạm đón chị về đây!
Thị Kim khen:
- Anh giỏi quá! Giỏi hơn cả công an. Anh xứng
đáng là “Sếp” của tôi!
- Chị quá khen tôi đấy thôi. Nếu tôi giỏi giang
thì đã chẳng đến nỗi phải trốn chạy như thế này! Đường dây của ta xem ra chỉ còn
lại có tôi với chị. Ta chờ bà Bảy giải quyết xong số hàng kia thu hồi vốn lãi
rồi tôi và chị sẽ định ngày giờ đi khỏi Sài Gòn. Ở lại đây là rất nguy hiểm.
Công an đang tung lưới bủa vây, nhất là sau khi họ tóm được ông Hoàng Đại Ca!
Thị Kim chưa hết lo âu:
- Không hiểu bà Bảy có đẩy
được hàng cho tàu Viễn Dương không?
Lê Quý hỏi :
-
Chị đã gói cẩn thận chứ?
- Rồi. Mỗi ký bọc trong một cây thuốc lá
Samit có dán tem thuế hẳn hoi, ai còn ngờ được nữa?
- Tình hình này thì dù có sút một vài giá cũng phải bán. Đừng có già néo đứt dây!
Buổi chiều, mụ Bảy lại đem cả số hàng về
cho Lê Quý và thị Kim với tiếng thở dài thườn thượt :
- Nó nói giá thuốc ở Hồng Kông đang hạ,
nên nó rút những 5 giá. Tôi bực mình không bán!
Mụ Bảy xếp lên bàn cả bịch thuốc mà buổi sang mụ nhận từ tay thị Kim.
Lê Quý quyết định:
- Tôi sẽ đi tìm mối bán. Bà
cứ cho chúng tôi tạm gửi ở đây một vài hôm!
Mụ Bảy rên lên khe khẽ:
– Cái của Bom Nổ Chậm này
không nên để lâu ở đây. Tôi ngại lắm!
Thị Kim nằm lại nhà mụ Bảy với bịch hàng, còn Lê Quý lại cưỡi xe quay về
quận 5.
19.
NỐI LẠI ĐƯỜNG DÂY
Gã đàn ông mang bí số C.2,
người thứ hai tham dự “Hội thề” với Lê Quý và Bích Liên hôm nay ngồi uống rượu
một mình trên căn gác hẹp. Hắn có thói quen tận hưởng cái thứ “độc ẩm” để say
một mình vì hắn sợ lũ đàn em quá chén thường gây lộn, cản quấy sẽ làm lộ hết
dấu vết của gã.
Gã thường nói:
- Tao say mà rất tỉnh.
Chúng bay còn cần đến rượu mới dám lao vào đâm thuê, chém mướn nên dễ bị hạ,
chết như rạ là phải! Tao khi xung trận là không được say, mới đủ minh mẫn để đá
những cú song phi như trời giáng vào kẻ địch. Thắng trận rồi tao mới uống rượu
say, say để ngủ ở cái sào huyệt này.
Hôm nay, vừa uống đến ly
thứ hai thì hẳn nghe tiếng gõ cửa, gõ đủ 5 tiếng rụt rè, đúng mật hiệu. Hắn mở
cửa và ôm chầm lấy Lê Quý:
- Có tin gì mới? Gửi được
gì cho Bích Liên chưa? Liên còn giữ được “luật rừng” hay đã khai hết với công
an rồi?
Lê Quý chậm rãi:
- Chưa có tin tức gì của
Liên, song có việc nhờ anh đây.
C.2 nói vừa đủ nghe:
- Tôi vừa mới uống được một
ly. Thôi dẹp! Tôi không uống nữa đề còn tỉnh táo mà nghe ông nói. Ông nói đi!
Lê Quý nói:
- Chuyện đổ bề trong này,
ngoài kia thì anh đã biết rồi. Tôi rất ngại là lão Hoàng Đại Ca bị bắt cùng với
cô bồ của nó ở Hậu Giang sẽ làm cho đường dây của mình bị đứt thêm. Vì vậy cô
Kim cũng phải chuồn khỏi đường Nguyễn Huệ.
- Kim đang ở đâu?
- Ở nhà bà Bảy Tân Bình!
- Có hàng hóa gì không?
- Có 20 ký của lão Hoàng
mới giao cho.
- Sao không bán đi cho gọn?
- Mấy thẳng Viễn Dương trả giá rẻ mạt quả!
- Đưa đây, thằng Ba này bán cho bằng giá cũ!
- Anh giỏi lắm!
- Đâu có giỏi! Ông đừng
khen tôi quá lời. Ông nên nhớ “thiên hạ nhân, thiên hạ tài”! Tôi luôn luôn xác
định cho mình là... hạng bét để không bao giờ chủ quan. Còn khi hành động là
phải hết mình nên tôi đã…bách chiến, bách thắng. Nếu mai đây có bại ấy là lúc
Trời đã phụ mình đó. Nếu ông còn tín nhiệm tôi, ông bảo cô Kim đem 2 ký hàng
mẫu đến đây, tôi chắp nối cho một đường dây mới thật an toàn. Và như vậy có
nghĩa là ta lại làm một cuộc “kết nghĩa đào viên”, chỉ có tôi, ông và cô Kim! Ở
đời thành hay bại là chuyện thường tình, đừng có hoang mang, chán nản! Tôi sẽ
tìm cho ông một nơi và cô Kim một nơi ở thật kín đáo ngay lại Sài Gòn này thôi.
Đừng có ngu dại như tên Hoàng vớ vẩn cặp bồ với con nhỏ Bích Thủy mà... sụp đổ
luôn cả “cơ đồ nhà Hán”!
Lê Quý nghe hắn nói như kẻ
sắp chết đuối vớ được cọc vội nói:
– Tôi tin anh! Anh giúp tôi
và cô Kim nữa nhé! Vậy bao giờ thì anh có thể gặp cô Kim?
- Ngay bây giờ! Nhớ kèm theo 2 kỷ hàng làm
mẫu! Phải tống đi ngay với giá có thể chấp nhận được. Giữ cái thứ quốc cấm ấy
làm gì! Thôi, ông đi đi, dặn cô Kim đến đây cho thật lẹ, nghe!
Hai gã chia tay.
C. 2 đóng chặt cửa, rồi dẹp
bàn rượu, không thèm uống nữa! Phải tỉnh táo để hành động! Hắn tự nhủ như vậy
và xoa xoa hai bàn tay nằm chờ Kim đến.
Hắn không phải đợi lâu. Một
giờ sau, Kim đã xuất hiện sau 5 tiếng gõ cửa đúng ám hiệu.
Hắn dang rộng vòng tay đòn
Kim:
- Xin chào chiến hữu! Cô
Kim vào đây! Ta sẽ bàn công chuyện!
Đợi cho Kim đặt cái giỏ
xách tay xuống bàn và lúc ngồi vào ghế, hắn mới nói: Mọi việc Lê Quý đã nói hết
cho tôi nghe rồi, vì vậy mà Kim mới đến đây vào giờ này. Hàng mẫu đây phỏng?
Tôi sẽ giới thiệu mẫu hàng cho khách và sẽ bán hết cả 20 ký ngay đêm nay với
giá như chuyến trước. Thế là được chứ gì! Còn chỗ tạm trú của Lê Quý, tôi sẽ
lo. Chỗ ở của cô tôi cũng sẽ lo! Cùng lắm thì Kim ở đây với... kẻ hèn này, có
chịu không? Hay là lại... « nam nữ thụ thụ bất thân?
C.2 vừa nói vừa liếc nhìn Kim một cái nhìn
thật tình tử làm cho Kim hơi lúng túng:
- Anh Ba đến là liều lĩnh! Anh coi em là... thế
nào?
- Dạ, tôi rất kính trọng và
không bao giờ làm gì với Kim nếu Kim không cho phép! Vì ở đời này, nhục nhã
nhất là chơi không đẹp với nhau! Trong giới làm ăn với nhau lại càng phải chơi
cho đẹp!
- Em nhất trí với anh Ba! Muốn làm ăn lâu dài
là phải “chơi đẹp”. Mọi chuyện anh Ba vừa đề nghị thì em xin anh hãy đề “hạ hồi
phân giải”. Bây giờ chuyện 20 ký “cơm đen” này. Anh lo dùm em. Anh đừng uống
rượu nữa! Em mời anh ăn ổ bánh mì pa-tê này, em đã chuẩn bị sẵn cho anh đây!
C.2 cười:
- Xin cám ơn! Cảm ơn sự tin
cậy của Kim, chiến hữu nghiêng nước, nghiêng thành của tôi!
Gã đàn ông bẻ chiếc bánh mì
làm hai phần và nói:
- Kim cùng ăn với tôi cho vui!
Kim nhìn người đang đối diện với mình. Cô chỉ
thấy hắn là một gã... rất hiền! Vẻ mặt dữ dằn của hắn lúc này đã biến đâu mất?
Ăn bánh xong, Kim nói:
- Thôi anh Ba đi đi. Em ở lại đây coi nhà cho
anh đến chiều, nghe!
Gã đàn ông khoác cái túi
lên vai:
-
Ô kê!
Thị Kim khép chặt cánh của
sau lưng gã!
20.
TRỞ LẠI ĐỘNG PHÙ DUNG
Văn Sinh nằm ngả người bên
cạnh bàn đèn, đầu gối lên chiếc gối xếp. Nằm đối diện với Sinh là Lệ Huyền, cô
bồi tiêm của Năm Phát. Sinh đỡ cái dọc tầu thuốc phiện từ tay Lệ Huyền đưa
sang. Sinh bập môi vào đầu dọc tẩu và rít mạnh từng hơi khói thuốc. Điều thuốc
phiện cháy xèo xèo tỏa mùi thơm phức trên ngọn đèn dầu lạc.
Từ bàn trà bên cạnh, Năm
Phát nhìn sang anh bạn đang bắt đầu nghiện thực thụ, tỏ ý hài lòng về một môn
sinh đã tự nguyện làm đồ đệ cho Nàng Tiên Nâu.
Vũ Hùng ngồi cạnh Năm Phát cũng gật gù:
- Chú ạ, tụi cháu hút một điếu lơ mơ, cảm thấy
bay bổng, nhẹ nhõm hẳn người, còn khoái hơn cả chích!
Năm Phát cười khà khà:
- Các cháu cứ “làm” hai, ba
điếu liền rồi lên phòng số 1 cho con nhỏ Lệ Hồng, Lệ Hằng mat-sa thì còn sướng
gấp mười lần!
Hút xong hai điếu thuốc phiện, Văn Sinh đã
nhỏm dậy, vươn vai rồi cùng Vũ Hùng lên phòng số 1, Sinh nói với Hùng:
- Ta phải “ba cùng” với bọn
này thì chúng mới tin ta.
Ngồi nói chuyện với Lệ
Hồng, Lệ Hằng được một lúc thì có tiếng gõ cửa, rồi Mỹ Dung xuất hiện, gọi:
- Hồng ơi!
Văn Sinh nói ngay:
- Mời Dì Năm vào, tụi cháu
đang còn nói chuyện suông mà!
- Này! Có một thằng nhỏ
muốn bán thuốc, loại Bắc Hà tốt đó. Giá cũng mềm thôi! Chú Năm lấy 2 ký, còn
lại 18 ký, các cháu có làm mai bán cho tàu Viễn Dương thì “thầu” luôn!
Văn Sinh ngỡ ngàng, vội
nói:
- Dạ. Cháu có mối tiêu thụ mà! Dì cứ nhận đi!
Hẹn nó đến 8 giờ tối có được không?
- Nó hẹn đến chiều mai kia mà!
- Vậy thì càng có thời gian để nâng giá, dì Năm
cứ tin ở cháu!
Mỹ Dung đứng dây, ra khỏi
phòng.
Văn Sinh vui như mở cờ
trong bụng, anh nói với Vũ Hùng:
- Ta cứ thử chạy mánh thêm
một lần nữa xem sao?
Lệ Hồng và Lệ Hằng nghe nói
có mánh là mừng quýnh lên:
- Hai anh trúng mánh thì
nhớ khao tụi em nhé!
Văn Sinh cười tủm tỉm:
- Các em cứ yên tâm!
Chiều hôm sau, theo địa chỉ
của vợ Năm Phát ghi, Văn Sinh và Vũ Hùng đến quán cà phê Hồng Ngọc tìm gã thanh
niên có bộ mặt choắt, mặc sơ mi ca-rô ngồi ở bàn số 5 với mật khẩu “các anh có
dùng Samit không?”
Sinh và Hùng ngồi cho đến 2 giờ chiều mà chẳng
thấy gã mặc áo ca-rô đâu! Ngồi nán thêm 15 phút nữa cũng không thấy.
Sinh nói với Hùng:
- Lại xạo rồi!
Hai người lững thững rời
khỏi quán Hồng Ngọc. Về đến Động Phù Dung, kể lại cho Mỹ Dung nghe, Văn Sinh
thở dài ngao ngán:
- Có lẽ nó thử thách chúng
cháu đấy dì ạ. Làm thế nào bây giờ?
- Các cháu cứ lên lầu nghỉ
đi. Nếu nó còn trở lại đây, dì sẽ gọi các cháu!
Quả nhiên, 8 giờ tối gã bụi
đời lại xuất hiện trước cửa nhà Năm Phát. Hắn đến trước quầy thuốc lá của Mỹ
Dung nói:
- Má ơi! Con xin lỗi má,
lúc 2 giờ chiều con không đến được quán Hồng Ngọc vì kẹt ở nơi giao hàng. Bây
giờ con mang đến cho má đủ 2 ký đây. Còn 18 ký chiều mai mới có.
Đến lượt Mỹ Dung từ chối:
- Tôi chưa hề buôn bán với ai sai hẹn như thể
bao giờ! Bây giờ tôi đâu có cần thuốc nữa! Cậu về đi!
Thấy về mặt lạnh như tiền
của vợ Năm Phát, gã bụi đời không năn nỉ thêm, gã cầm 2 ký thuốc lủi thủi bỏ
đi. Đi được vài chục mét, hắn rẽ vô gặp một người dắt xe Honda đứng đợi, gọi từ
xa:
– Chú Ba! Chủ Ba Quậy!
Người có tên “Ba Quậy” hất
hàm hỏi:
– Không xong hả?
Gã thanh niên bụi đời nói
như mếu:
– Mụ ấy bảo vì mình sai hẹn
nên mụ hết tin, mụ từ chối không mua nữa!
Ba Quậy ra lệnh:
– Ngồi lên đây, tao đưa mày đến chỗ khác vậy!
Chiếc Honda chưa kịp nổ máy
thì một anh cảnh sát đường phố từ quán nước mía bên kia đường đã lao vút sang
nói như ra lệnh:
- Chiếc xe của các anh mang
biển số giả, yêu cầu dắt xe về phường!
Ba Quậy định nổ máy chạy trốn, nhưng bàn tay
cứng như thép của anh cảnh sát đã nắm chặt cổ tay hắn ra lệnh:
– Yêu cầu anh xuống dắt xe.
Hắn miễn cưỡng tuân lệnh,
xuống xe cùng với gã bụi đời. Nhìn thấy gã bụi đời ôm khư khư một gói bọc giấy
báo, anh cảnh sát nói:
– Lại còn gói gì đây nữa?
Hàng lậu hả? Đem cả về phường giải quyết.
Cùng lúc, một anh cảnh sát thứ hai cao lớn hơn
đã xuất hiện, cùng áp giải Ba Quậy và gã bụi đời về phường.
Đi được mươi bước, Ba Quậy
lại thấy một anh cảnh sát thứ ba lái xe Honda lướt tới, cũng “hộ tống” hai tên
du đãng về nơi xử lý. Ba Quậy cảm thấy hết đường tàu thoát. nghĩ thầm: Hắn
nghiến răng, nhăn mặt nghĩ thầm:
- Thế là sa vào ô phục kích
của công an rồi!
Từ lầu 2 nhà Quảng Phát,
Văn Sinh nhìn xuống đường, chứng kiến toàn cảnh hai tên gian bị tóm gọn. Anh
mỉm cười sung sưởng:
- Cho bõ những ngày ta chờ
đợi.
Anh châm lửa hút một điếu thuốc lá thơm, thả
khói bay lặng lờ…
o0o
Ba Quậy bị bắt với chiếc xe
mang biển số giả... cùng với 2 ký thuốc phiện mà hắn giao cho gã bụi đời có tên
là Tý “bụi” đã làm cho Thị Kim và Lê Quý vô cùng hoảng sợ. Cả hai vội chuồn đến
tạm lánh ở nhà mụ Bảy Tân Bình với 18kg thuốc còn lại.
Riêng Ba Quậy chưa nghĩ ra
cách nào để trốn khỏi trại giam. Y khai:
- Dạ, thưa cán bộ, em mồ
côi từ nhỏ, không cha, không mẹ, bà con cô bác bảo rằng em là đứa con hoang. Em
sống như con mèo hoang, từ nhỏ đã được các bạn bụi đời gọi là Ba tức Ba Quậy.
Có lúc còn được lũ trẻ suy tôn là “đại bàng em”. Lớn lên em sống bằng nghề
“chụp giựt” và đâm thuê, chém mướn. Hiện nay em nhập một băng chích xì ke ở
quảng trường Quách Thị Trang, kiêm nghề tiêu thụ ma túy, dạ, đúng ra là bán xì
ke, ma túy, ăn chặn của lũ “tiểu yêu”, ai thuê em bán thuốc phiện lậu, em cũng
làm ngay. Hôm vừa qua, em gặp Hai Râu tức Lê Quý và Thị Kim, họ thuê em bán 20
ký thuốc, họ đưa trước 2 ký để chào hàng. Em giao cho thẳng nhỏ đến bán cho vợ
chồng Quảng Phát tức Năm Phát, không ngờ bị các anh công an bắt giữ. Nếu cán bộ
không thương em, thì em phải đi tù. Đi tù thì khổ lắm ạ, vì em cũng đã vào tù,
ra khám về tội “quậy” và tội chích xì ke ma túy mấy năm trước đây...
Anh công an hỏi:
- Chiếc xe Honda, anh sử dụng là của ai?
- Dạ, xe của em mua ở chợ trời.
- Anh có biết tội buôn
thuốc phiện lại của anh có thề bị phạt từ 10 đến 15 năm tù không?
“Ba Quậy” lặng hẳn người khi nghe đến cái mức
án 10 – 15 năm tù mà anh công an vừa nói. Cái cảnh mất tự do trong bốn bức
tường trại giam đăng đẳng 10 – 15 năm trời thật sự làm cho y ngán ngẩm.
Anh công an lại nói tiếp:
- Song nếu anh biết hối cải và khai báo thật
thà thì mức án ấy có thể được xét giảm nhẹ, anh suy nghĩ kỹ đi! Chớ vì cái lợi
trước mắt mà làm hại cả đời mình, để kẻ khác ăn ốc mà anh lại đi đổ vỏ cho
chúng!
- Dạ, xin cán bộ thương em,
khổ ải đã nhiều...
Thì ra Ba Quậy cũng không
phải là kẻ can trường. Ngoài đời thì quậy, song vào tù, mới nghe đến mức ản có
thể bị xử phạt đã... xanh mặt.
Hai hôm sau, trời vừa đổ tối, một xe Honda chở
hai thanh niên lướt đến đậu ở cửa tiệm Quảng Phát. Người ngồi sau xe bước thật
nhanh đến quầy thuốc lá của vợ Năm Phát, đặt một lá thư trước mặt Mỹ Dung, nói:
- Nhận lấy, nghe!
Nói rồi, người ấy vội vã chạy ra xe, nhảy phốc
lên phía sau chiếc Honda đang nổ máy, ôm ngang lưng tên cầm lái. Chiếc xe lao
như tên bắn về phía đường Trần Hưng Đạo, xuôi về Chợ Lớn.
Mỹ Dung giật mình hoảng sợ,
mụ nhìn theo chiếc xe đã mất hút và run run mở chiếc phong bì: tờ giấy trắng
vẻn vẹn có một dòng chữ: “Lời cảnh cáo
của Ba Quậy: tao bị bắt vì vợ chồng mày. Chúng mày sẽ phải trả giả một ngày gần
đây!
Ký tên: Ba Quậy
Mỹ Dung bỏ quầy thuốc, hớt
hải chạy lên lầu:
- Ông Năm! Ông Năm! Có kẻ
đe dọa đây nè!
Mụ kề lại câu chuyện vừa
xảy ra.
Năm Phát đón tờ giấy từ tay
vợ, xem xong, bình tĩnh nói:
- Có thể đây là thủ đoạn của tên trùm sò!
Năm Phát gõ cửa phòng số 1,
đưa cho Văn Sinh và Vũ Hùng lá thư hăm dọa ký tên Ba Quậy và nói: Các cháu xem
đi và xử lý dùm chú vụ này!
Văn Sinh đọc lướt nhanh
dòng chữ trong lá thư, rồi cười: Thằng Ba Quậy vừa bị công an bắt, còn đang nằm
trong trại giam, làm sao viết được lá thư này? Đây là hoạt động của bọn trùm
sò. Dì, chú cứ yên tâm, đề bọn cháu mai phục và sẽ cho chúng nó biết thể nào là
lễ độ!
Khi Năm Phát ra khỏi phòng
số 1, Văn Sinh mới nói nhỏ với Vũ Hùng:
- Vợ chồng lão này hoảng
rồi. Bọn trùm sò của Ba Quậy còn hoạt động quanh đây... Chúng ta hãy cứ “án
binh bất động” và chuẩn bị một “cú bất ngờ”!
21.
VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG
Lê Quý hỏi Thị Kim:
- Ta đi đâu bây giờ?
Ngồi sau xe Honda, ôm ngang
lưng Quý, Thị Kim nói qua tai Quý:
- Anh Hai cứ cho xe chạy
sang Phú Nhuận, em có cô bạn thân tên là Thoa ở bên đó. Ta có thể lưu lại cả
tháng cũng được!
Quý tăng tốc cho xe lao nhanh về phía Phú
Nhuận, và rẽ vào một hẻm sâu hun hút.
Thoa kêu lên vui sướng:
- Chị Kim!
- Giới thiệu với em: Anh
Hai, bạn của chị…
Hai Râu nở một nụ cười:
- Rất hân hạnh được gặp
Thoa!
Hai Râu dắt xe vào nhà. Thoa đưa hai người lên
lầu 1.
Kim nói thân mật:
- Chị và anh Hai có công
chuyện, nên mới đến em đột ngột thế này và sẽ ở lại đây ít ngày đó!
Thoa gật đầu:
- Em hiểu. Anh chị cứ ở
lại, em sẵn sàng...
Căn phòng nửa ngoài là nơi tiếp
khách, nửa trong kẻ hai giường ngủ trải đệm trắng.
Kim đặt hai chiếc giỏ chứa
đầy ắp thuốc lá Samit vào góc phòng. Hai Râu ngồi vào bàn trà, nâng một ly trà
đá Thoa vừa mang tới, Kim cũng uống một ly và nói với Thoa:
- Chị và anh Hai vừa qua
một chuyến đi dài ngày, rất mệt, cần được nghỉ ngơi để đi tiếp sau khi bán hết
hàng...
- Hàng gì đó, chị?
- Ma túy!
Thoa vui hẳn lên:
- Để em làm mai cho, bán
được liền!
Khi Thoa xuống thang gác rồi, Hai Râu mới năm
ngả ra giường:
- Mệt quá! Bây giờ mới thấm
mệt.
Kim ngồi bên cạnh:
- Tình hình này thì phải...
đi biệt xứ mất thôi! Chúng mình đang bị săn đuổi tới cùng đó, phải không anh?
Hai Râu nói dứt khoát:
- Em cho con Thoa vài trăm
ngàn và bảo nó bản hết cả 18 ký cho lẹ, nghe!
- Sau đó rồi sẽ đi đâu, anh? Có thể đi Đà Lạt,
Đà Nẵng, Nha Trang hoặc Hà Nội?
- Không, ta không đi hướng
ấy?
- Vậy, sẽ đi hướng nào?
- Vượt biên! Đi hướng nào
cũng có thề bị bắt, vào tù. Chi bằng ta vượt biên là êm!
– Đi Xanh-ga-po?
– Không nên đi đường biển, gặp hải tặc thì
chết càng nhục hơn. Cứ đi đường bộ, qua Cam-pu-chia rồi sang Thái Lan.
– Thái Lan đâu có chứa chấp mình nữa?
– Cứ thúi vàng cho cảnh sát
là xong hết!
Thấy Kim ngồi im lặng suy
tư, Hai Râu thấy cần phải khích lệ thêm:
– Cho đến giờ phút này, anh có thể nói với em
rằng: thấy Hoàng Đại Ca bị bắt là coi như đã nguy ngập lắm rồi. Công an thấy
anh bỏ trốn từ mấy tuần này họ sẽ truy nã. Ngoài Hà Nội, bà Phan Chi, sau cái
chết của chồng, có thể sẽ khai báo về em với công an, nếu em ở lại thì thoát
làm sao? Em có một mình, đi sẽ nhẹ tênh tênh. Anh có vợ con cũng đánh gạt nước
mắt mà ra đi. Ổn định ở Mỹ, Úc, Canada rồi sau này anh sẽ bảo lãnh cho vợ con
sang sau, hoặc lấy em làm vợ! Em có chịu không?
– Anh thật kỳ quá! Em sống độc thân đã quen
rối! Có chồng, có con, mệt lắm! Tình yêu, hạnh phúc là cái quái gì!
Hai Râu nhăn mặt:
- Anh sẽ đi tới cuối đất,
cùng trời. Còn em, nếu không gắn bó với anh thì tùy em!
Kim nhún vai:
- Cũng liều nhắm mắt đưa
chân! Cứ sang được đến Pháp, đến Mỹ, em thiếu gì bạn bè, thân thuộc?
Dáng người nhỏ bé, khuôn
mặt thanh tú của Kim làm cho Hai Râu cảm thấy nao lòng. Hắn nắm chặt bàn tay
người thiếu phụ:
- Anh không hề muốn ép buộc
em!
- Khi dấn thân vào con đường mà túy, em đã chấp
nhận mọi hiểm nguy, song thà chết ngoài biền còn hơn phải ngồi tù. Cái nghề
buôn bán xì ke ma túy này nó là như thế. Sống có thể là tỷ phủ hoặc có thể là
chết mục xương trong tù. Còn một phút tự do ta cũng phải cố gắng! Anh thừa biết
điều đó rồi!
Hai Râu nhếch mép:
– Anh đi lần này có mang
theo súng ngắn và một băng đạn 20 viên. Khi nguy ngập thì bắn bỏ bất cứ ai cản
trở mình, chỉ dành lại cho mình một viên đạn cuối cùng!
- Cho anh, chứ em thì em
không cần viên đạn đó đâu!
- Em cần gì?
- Em cần phải sống, Nếu
không may bị bắt vào tù thì em sẽ tìm mọi cách để sớm được tự do và sẽ lại làm
giàu!
- Em thật can đảm! Giỏi
thật!
Kim lắc đầu:
- Em đầu có giỏi, chỉ cần biết mình, biết người
thì trăm trận đánh, trăm trận thắng! Dưới con mắt mấy ông vi-si thì anh là trùm
sò nguy hiểm. Còn em chỉ là tiểu tốt vô danh. Mặc dù vậy, đừng đề vào tù rồi
mới tìm cách ra tù. Còn được tự do, ta cứ lặn, lặn cho sâu! Lặn cho xa!
Ba ngày sau. Mười tám ký thuốc phiện đã được
Thoa bán hết. Thoa mang đầy một giỏ tiền về và một gói vàng chục cây đưa cho
Kim và Hai Râu.
Hai Râu nói với Kim:
- Ngài mai, chúng ta có thể bắt đầu “cuộc hành
trình qua ba bể”!
Thị Kim chợt nhớ đến bức
thư của Hai Râu ký tên “Ba Quậy” gửi cho vợ Năm Phát để răn đe liền hỏi:
- Anh Hai! Đối với mụ Mỹ Dung, anh có cần làm
thêm việc gì nữa không?
– Từ chỗ mụ ấy từ chối
không mua 2 ký thuốc của Ba Quậy, rồi Ba Quậy và tên bụi đời bị bắt, tôi nghĩ
mụ lộ chuyện, nên sai hai đứa nhỏ đưa thư hăm dọa đề mụ chớ có dại dột nhúng
tay vào công việc làm ăn của người khác. Thế thôi!
– Mụ ấy nộp bức thư cho công an thì sao?
– Càng tốt! Nếu công an còn săn đuổi chúng ta
thì anh sẽ nổ súng!
22. PHÍA TRƯỚC NGƯỜI LÍNH
Đại tá Trần Vinh chăm chú
nhìn lại khuôn mặt tên tội phạm nguy hiểm có tên là Nguyễn Đức, tức Hoàng Đại,
tức Hoàng “Đại Ca”. Hắn đang ngồi ủ rũ, đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ, hốc hác
vì lo âu.
- Anh Hoàng! Anh khai cho
rõ: trong một năm qua, anh đã đưa từ Hà nội vào Sài Gòn mấy chuyến thuốc phiện
lậu? Số lượng bao nhiêu ki-lô-gam?
- Dạ thưa ông, tôi đã nhận
của Phan Chi và Nguyễn Văn Kha 10 chuyến, 115 ký thuốc phiện, tôi làm nhiệm vụ tiếp chuyển trên đường dây.
- Anh thường giao hàng cho
ai? Ở đâu?
- Dạ, theo “nguyên tắc” đã được quy định, tôi
chỉ được giao cho Lê Quý (tức Hai Râu) tại các quán cà phê, quán nhậu...
- Tại sao lần này anh lại
giao cho Thị Kim?
- Dạ, thưa ông, vì Lê Quý
đã bỏ trốn biệt tăm tích nên tôi giao cho Kim vì Kim được vợ Phan Chi ủy thác
nhận sau kỳ ra Hà Nội thông báo tin Bích Liên bị bắt và Lê Quý bỏ trốn.
- Anh có biết tác hại ghê gớm của thuốc phiện
đối với hàng ngàn, hàng vạn người nghiện ngập, chích hút không? –
- Dạ, có. Xì ke, ma tuy có
thể hủy hoại cuộc sống của con người.
- Vậy mà các anh cứ buôn,
cứ bán?
- Dạ, thưa ông, vì chúng
tôi ham lợi, chỉ cần trót lọt một chuyến, có thể thừa ăn cả tháng, phất lên
nhanh chóng.
- Số thuốc phiện anh vừa
mang vào còn để ở đâu?
- Dạ, như các ông đã biết,
tôi bán tất cả 20 ký cho Kim lấy 15 cây vàng, xuống Hậu Giang tạm ở lại nhà
Bích Thủy và tôi đã bị các ông bắt cùng với ghe hàng của Thủy...
- Anh có muốn nói gì nữa
không?
- Dạ, thưa ông, tôi là
người có tội, tôi đã khai bảo đầy đủ. Tôi xin được hưởng lượng khoan hồng để
sớm được về với vợ con, gia đình ngoài Bắc...
- Anh hãy về phòng tạm
giam.
– Dạ…
Sau khi tên Hoàng được đưa
ra khỏi phỏng hỏi cung, đại tá Trần Vinh lật sang một trang mới của lập hồ sơ
vụ án M.2. Bên cạnh ông là Văn Sinh, Vũ Hùng và Tuyết Lan những người đã trực
tiếp tham gia trận đánh từ hai tháng nay. Ông nói:
- Trong vụ án này có những tên quan trọng như:
Phan Chi, Nguyễn Văn Kha, Hoàng Đại, Lê Quý, Thị Kim... Phan Chi và Kha đã chết
vì xe lăn xuống vực ở gần Sơn La. Lê Quý tức Hai Râu và Thị Kim đang bỏ trốn.
Còn lại có tên Hoàng bị bắt cùng các vệ tinh là Bích Liên, Thị Mai, Bích Thủy,
Ba Quậy và một tên bụi đời tay sai của Ba Quậy. Một đường dây ma túy đã bị chặt
đứt, song chúng ta còn nhiều việc phải làm. Các đồng chi đã đóng góp nhiều ý
kiến hay vào phương án sắp tới. Tôi nhất trí với Văn Sinh: phải tiếp tục điều
tra về cái chết của Phan Chi và Nguyễn Văn Kha để tìm ra nơi xuất phát của ma
túy, có phải Chi và Kha chết vì tai nạn hay vì bàn tay của kẻ khác thi hành
“Luật Rừng”? Ngày hôm trước, Chi ở đâu, đêm hôm trước Chi ngủ ở đâu? Uống rượu
với ai mà Kha say rượu để xe lao xuống vực, Văn Sinh sẽ tiếp tục bay ra Hà Nội
cùng Đỗ Vân sớm làm rõ vấn đề này. Tôi cũng nhất trí với Vũ Hùng: phải truy nã
tên Lê Quý, tức Hai Râu và Thị Kim. Tên trùm sò này có thực đã vượt biên không?
Hay chỉ là màn khói để chúng nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật? Tôi nhất trí với
Tuyết Lan: phải xóa bỏ tụ điểm “Động Phù Dung” với tên nghiện hút Năm Phát và mụ
tú bà Mỹ Dung cũng như xóa sổ cái hộp đêm chiếu vidéo đen ở Hà nội trong đó có
con rể và con gái Phan Chi. Tệ nạn xã hội và tội phạm bắt nguồn từ những ổ chứa
gái mãi dâm và chích hút, lậu có, công khai cũng có, đừng có hô hào suông hoặc
“báo động” mà lại không “động”!
Chúng ta là những người lính trên mặt trận an
ninh, phía trước người lính là mặt trận, là những tên tội phạm cần truy quét,
những đối tượng cần giáo dục, cải tạo.
Thành
phố Hồ Chí Minh 1989
NGUYỄN THIỆN THUẬT
.jpg)
No comments:
Post a Comment