01 November 2022

BÍ MẬT ĐƯỜNG DÂY MA TÚY

 




1.     TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU

 

Ngược đường Hàm Nghi, Văn Sinh bước đi chậm chậm trên hè phố. Buổi sáng mùa thu mát dịu, Văn Sinh thấy lòng mình nhẹ nhõm hơn mọi ngày. Không khí ồn ào náo nhiệt chung quanh không thể làm anh bận tâm. Anh đang nghĩ đến một mục tiêu, một trận đánh sắp xảy ra.

Văn Sinh xốc lại chiếc túi du lịch nhỏ đeo lệch bên vai. Chỉ còn mười bước nữa là đến quán cà phê Lan”.  Anh dừng lại bật lửa châm một điếu thuốc lá Samit. Nét mặt tươi tỉnh của anh bỗng đổi thành nét mặt buồn phiền. Bước đi của anh lại thất thểu như bước đi của một gã thất tình. Văn Sinh vào quán, đi giữa hai hàng ghế đã có người ngồi tìm được một bàn còn bỏ trống ở cuối căn phòng. Đôi mắt lơ đãng của Sinh nhìn suốt một lượt hai dãy bàn mà như chẳng nhìn ai. Sinh gọi một ly cà phê đen rồi cúi xuống xem một tờ báo ảnh của chủ quán để trên bàn.

Sinh ngồi uống cà phê được mươi phút thì quán cà phê lại có thêm hai người khách, một người đàn ông và một người đàn bà. Người đàn ông mặc quần chẽn, áo phông cá sấu thật đỏm dáng. Anh ta có hàng ria con kiến và gương mặt phong trần. Người đàn bà trạc tuổi 40, trang điểm khá công phu, tóc uốn đuôi dài về phía sau. Chị ta mặc chiếc áo màu hồng ngắn tay, rộng cổ để lộ một sợi dây chuyền vàng lấp lánh. Hai người ngồi vào một bàn ở góc bên trái. Họ nói cười vui vẻ và gọi hai ly nước cam. Chỉ nhìn qua thái độ, cử chỉ của hai người này, ai cũng có thể đoán biết họ đang tính chuyện làm ăn.

Văn Sinh, ngược lại, ngồi có một mình, nét mặt buồn rười rượi, khó đăm đăm, chẳng làm cho ai chú ý. Anh rít từng hơi thuốc dài và cúi đầu trên trang báo ảnh. Anh chẳng hề đọc một chữ nào, bởi anh còn chăm chú lắng nghe những tiếng nói lúc trầm, lúc bổng của hai người khách mới đến. Và anh đã nghe được tiếng nói xuýt xoa của người đàn bà: Như vậy thì mắc quá, anh Hai!. Người đàn ông đã đáp lại: “Hàng của tôi đâu có mắc? Chị cứ rút một giá thì tôi sẽ rút cho chị hai giá, chịu không nào?”.

Người đàn bà cười thật tươi, tỏ vẻ hài lòng lắm. Chị ta nói tiếp:

- Vậy thì chiều nay, đúng 5 giờ!

Người đàn ông hỏi: - Tại đâu?

Người đàn bà hạ thấp giọng:

- Cà phê Hồng Ngọc”!

Người đàn ông cũng vui không kém:

- Ô!

Anh ta vẫy cô chủ quán lại và đặt lên bàn tờ giấy bạc hai ngàn đồng rồi cùng người đàn bà bước ra cửa. Hai chiếc xe gắn máy đưa họ về phía cảng Sài Gòn.

Văn Sinh biết rằng trận đánh này sẽ phải lui lại đến chiều ở quán cà phê Hồng Ngọc. Anh tủm tỉm cười. Khuôn mặt khó đăm đăm đã tươi tỉnh hẳn lên, Văn Sinh tự thưởng cho mình một điếu Samit nữa. Từ giờ này đến năm giờ chiều, còn có khá nhiều thời gian đề anh chuẩn bị cho thật chu đáo.

o0o

Quán Hồng Ngọc nằm bên số lẻ đường Cách mạng Tháng 8, trong một vườn cây rộng. Mỗi bàn được kê riêng biệt dưới một lùm cây xanh và chỉ có hai ghế. Chủ nhân đã có nhã ý chiều khách hàng là thanh niên nam nữ, từng cặp lại từng cặp lui tới quán này, t7 giờ sáng tới 22 giờ khuya. Nhiều vị khách là văn nghệ sĩ cũng thường lui tới quán này, có cả những người bàn chuyện mánh mung đã chọn nơi này làm điểm hẹn lý tưởng vì yên tĩnh, kín đáo.

Chiều nay, Văn Sinh có mặt ở quán Hồng Ngọc từ trước 4 giờ. Anh đã cải trang thành một sinh viên đại học với cặp kính trắng, chiếc áo sơ mi kẻ sọc. Đặc biệt nét mặt lại hết sức tươi tỉnh, dáng vẻ thật yêu đời, sánh vai cùng một cô bạn gái mặc bộ đồ màu xanh lá cây.

Hai người chọn một bàn dưới lùm cây hoa tím và gọi hai ly cà phê sữa, một đĩa bánh ngọt. Văn Sinh đốt một điếu thuốc và nói với cô bạn gái:

- Lan thấy không? Ở đây, chung quanh chúng ta, mọi người có lẽ đều nghĩ rằng anh và em đang say sưa trong một tình yêu của tuổi học trò với tất cả mộng mơ...

Lan mỉm cười, nhón một chiếc bánh, cắn một miếng phô hai hàm răng trắng như ngọc. Văn Sinh nói tiếp:

- Anh đã chọn một nghề vất vả mà người ta cứ tưởng là một nghề nhàn nhã. Em cũng vậy.

Lan cười:

-  Thì... nam nữ bình đẳng mà! Ngăn chặn những bàn tay tội phạm đâu có dễ, phải không anh?

- Chúng mình chọn cái nghề trinh sát này, đương nhiên đã chấp nhận tất cả gian nan. Chiều nay, Lan biết không, anh hy vọng sẽ góp được với các đồng nghiệp một chút gì đây?

Văn Sinh thoáng nhìn đồng hồ trên tay rồi lại nhìn ra phía cửa vườn hoa: một chiếc honda vừa tắt máy. Người trên xe bước xuống lại là người đàn ông đã đi cùng người đàn bà vào quán cà phê Lanbuổi sáng. Anh ta đến đây có một mình và phía sau xe có một bịch hàng lớn nằm lồ lộ, có tới vài chục cây thuốc lá Sa-mit. Anh ta khệnh khạng vào quán Hồng Ngọc với vẻ vừa tự hào, vừa mãn nguyện, say sưa với bịch hàng, toàn là hàng Thái Lan nhập khẩu, không hề giấu giếm ai!

Chẳng cần để ý đến ai, anh chọn một bàn bên trái và gọi một ly cà phê đen.

Vừa hút thuốc, vừa gõ tay lên mặt bàn nhịp với lời ca bài Diễm xưa đang phát ra từ phía quầy hàng. Chủ quán Hồng Ngọc nhận ra khách quen, nhìn lại, chào anh ta bằng một nụ cười duyên dáng.

Văn Sinh không bỏ sót một c ch nào của ông khách mới vào. Anh bấm tay cô bạn gái như thầm nhủ:

- Em hãy chú ý: giờ G đang tới gần...

Mười phút trôi qua.

Văn Sinh và Tuyết Lan liếc nhìn ra cửa: lại một chiếc Honda tắt máy. Người đàn bà có sợi dây chuyền vàng buổi sáng đã xuất hiện. Trên tay chị ta xách một giỏ đầy ắp bánh, kẹo. Rất tự nhiên, chị ta ngồi vào bàn của người đàn ông mới tới. Họ nghiêng đầu chào nhau, im lặng trong giây lát, rồi người đàn bà hỏi nhỏ:

- Anh Ba chờ em lâu chưa?

- Dạ. Mới mười phút! Chị dùng cà phê hay nước ngọt?

- Nước ngọt!

Cô chủ quán đã bưng ra ly nước ngọt đặt trước người khách mới vào.

Người đàn ông ngả người trên thành ghế:

- Tôi mang cho chị đủ 50 cây Samit, còn chị?

Người đàn bà đong đưa con mắt:

- Tôi chỉ có một. Thế là... huề!

Chị ta vừa dứt tiếng huề” thì từ ngoài cửa có tiếng hỏi thật to:

– Chiếc xe chở thuốc lá Samit này của vị nào đây?

Người đàn ông giả vờ hoảng hốt:

- Mấy cha thuế vụ lại làm phiền chi đây.

Nói rồi, anh ta lên tiếng:

- Của tôi đó! Mấy anh muốn gì?

Hai thanh niên bước vào, nghiêm trang nói:

- Chúng tôi là ban quản lý thị trường quận, yêu cầu ông cho xem số hàng nhập ngoại này đã nộp thuế chưa?

Nụ cười vụt tắt trên môi người đàn bà, chị ta hơi biến sắc, song lại kịp lấy lại vẻ điềm tĩnh, chờ đợi đối phó với tình hình xấu có thể xảy ra. Chiếc giỏ cói chứa đầy bánh kẹo dưới chân chị ta được gạt ngay vào gầm bàn. Cùng lúc, hai cán bộ quản lý thị trường đã tiến đến sát mặt người đàn ông:

- Xin lỗi. chúng tôi muốn hỏi: số thuốc lá nhập ngoại của ông sao chưa được dán tem thuế?

- Dạ, chưa. Mấy anh thông cảm, châm chước cho tôi chút xíu mà!

Anh ta chìa bao thuốc lá ra mời hai thanh niên. Cả hai đều xua tay:

- Cảm ơn! Chúng tôi yêu cầu ông đưa hàng về công an phường để xử lý...

- Dạ, tôi xin nộp phạt và xin được dán tem thuế ngay ở đây đ trao hàng luôn cho chị đây là người mua có được không ạ? Anh ta hướng sang người đàn bà.

Hai cán bộ quản lý thị trường như chỉ chờ có thế, nên hỏi ngay:

 – Bà là người mua số thuốc này?

Người đàn bà càng lúng túng hơn:

- Dạ!

- Vậy xin mời bà, mời ông đi cùng chúng tôi về phường…

Khách uống ở các bàn chung quanh đều nhìn đồ xô về phía người đàn bà. Cô chủ quán Hồng Ngọc cũng bước tới.

 Một anh cán bộ quản lý nói với cô chủ quán:

- Chúng tôi kiểm tra số hàng của ông đây là chủ chiếc xe máy ngoài kia!

 Anh ta cũng chìa ra trước cô chủ quản hai chiếc thẻ kiểm tra có đóng dấu son đỏ chói.

Cô chủ quán dịu dàng:

- Dạ, xin mời hai anh cứ làm nhiệm vụ!

Hai người khách được hai thanh niên mời ra khỏi quản.

Người đàn bà bước đi và cố ý bỏ quên chiếc giỏ cói đầy bánh, kẹo dưới gầm bàn. Văn Sinh đã kịp thời đứng lên nhắc chị ta:

- Thưa bà, bà còn bỏ quên giỏ đồ dưới gầm bàn đó!

Hai anh thanh niên quay lại:

 - Kìa, xin mời bà mang theo chiếc giỏ!

Người đàn bà tái mặt, tay run run, chị ta cúi xuống miễn cưỡng xách chiếc giỏ cói đi theo ba người ra cửa.

Hai chiếc honda cùng nổ máy. Hai anh cán bộ quản lý thị trường cùng cho xe nổ máy hộ tống hai chiếc xe hàng lậu rời khỏi quán cà phê.

Có tiếng một người khách nói với cô chủ quán:

Thế là đổ bể hết!

Văn Sinh lại ngồi xuống cạnh Tuyết Lan:

- Chúng ta đã làm xong bước một sau những phút giây đợi chờ căng thẳng!

Tuyết Lan nở một nụ cười, ăn thêm một chiếc bánh ngọt như đề chia sẻ niềm vui với đồng đội.

o0o

Ở trụ sở Công an phường 9, toàn bộ số hàng của hai người được kiểm kê để lập biên bản xử lý.

Người đàn ông khai tên là Nguyễn Văn Nam có số hàng 50 cây thuốc lá Samit tính thành bao là 500 bao, trị giá tiền theo giá bán buôn là 800.000 đồng.

Người đàn bà khai tên là Trần Thị Bích Liên với số hàng gồm có 5 gói kẹo cà phê và 5 gói bánh quy hiệu Thiên Hương”, giá trị thành tiền là 15.000đ.

Người đàn ông có tên là Nam tỏ vẻ thành khẩn:

– Tôi xin chịu phạt và nộp thuế theo quy định của nhà nước. Song để chứng tỏ lòng minh bạch của tôi, tôi xin bóc tất cả 50 cây thuốc đề các ông coi!

Vừa nói, anh ta vừa xé giấy, bóc từng cây thuốc lá, 500 gói thuốc lá được xếp thành một đống cao trên bàn.

- Còn phần chị, xin chị bóc hết số bánh, kẹo này đề kiểm tra!

Người đàn bà run tay, buộc phải xé từng gói kẹo, bánh. Năm gói kẹo thì đích thực là kẹo cà phê. Còn năm gói bánh quy thì chỉ có lớp bên ngoài là bánh quy, còn trong ruột lại là một phong bánh có màu đen.

Mặt người đàn bà đã tái xanh lại càng tái thêm khi anh cán bộ quản lý cất tiếng hỏi:

- Tại sao lại có loại bánh quy đen này?

Bích Liên cúi gằm mặt, không sao trả lời được.

Anh cán bộ lại hỏi tiếp:

- Nếu tôi không lầm thì đây là... thuốc phiện có phải không chị Liên?

 Bích Liên buộc phải trả lời:

 - Dạ, phải !

- Trọng lượng bao nhiêu?

- Dạ, thưa: mỗi gói 100 gam, 5 gói là 500 gam!

- Chị mang theo để bán trao tay cho ông Nam?

- Dạ, phải. Tôi đổi lấy 50 cây” Samit của ông này.

- Thế là đã rõ. Chúng tôi sẽ lập biên bản xử lý...

Nguyễn Văn Nam nét mặt rầu rầu, đốt thuốc hút từng hơi dài, chốc chốc lại lắc đầu tỏ vẻ chán nản và mỏi mệt.

Bích Liên càng thêm lo sợ, đôi mắt trân trân nhìn hết anh cán bộ quản lý lại nhìn anh công an trực ban với vẻ mặt oán hờn, xót xa, tiếc công, tiếc của. Hai bàn tay có những ngón thon nhỏ của Bích Liên nắm chặt vào nhau, chị ta cắn chặt môi như cố giữ cho nước mắt khỏi trào ra.

Đôi mắt Liên tối xầm cả lại. Tâm trí Liên rối bời với ý nghĩ cay đắng: Thế là hết! Thế là hết!

Trước mặt Bích Liên, anh cán bộ quản lý đang chuẩn bị bút, giấy để lấy lời khai ban đầu của các đương sự...

 

2.     LUẬT RỪNG

 

Bích Liên ngồi một mình giữa bốn bức tường trại giam, đầu óc tưởng chừng muốn vỡ tung ra vì đang suy nghĩ mung lung về câu hỏi của cơ quan điều tra.

- Ai đã bán cho chị số thuốc phiện 500 gam bị bắt quả tang tại quán cà phê Hồng Ngọc và cả 500 gam cất giấu trong tủ hai đáy ở nhà chị mà công an đã khám xét thấy?

Suốt 15 ngày qua, chị chỉ trả lời một câu:

- Số thuốc đó tôi mua của một người đàn ông tình cờ gặp ở quán cà phê mụ Tư Mập gần bến Bạch Đằng, do một tên chuyên chích xì ke giới thiệu...

Công an đã xác minh lời khai của chị và baó cho chị biết:

- Mụ Tư Mập nói rằng: mụ không hề quen biết chị. Hàng ngày có hàng trăm lượt khách đến uống cà phê, mụ làm sao nhớ nổi? Còn tên chích xì ke bụi đời kia cũng biến dạng luôn. Người đàn ông bán thuốc cho chị là ai, ở đâu? Có trời mà biết được!

Công an không dễ gì chịu đề chị lừa gạt, nên đã nói dứt khoát:

- Chị khai chưa thành khẩn đâu chị Liên ạ. Chị nên nhớ rằng pháp luật chỉ khoan hồng, giảm nhẹ cho những ai tỏ ra ăn năn, hối lỗi và thành thật khai báo rõ ràng. Chúng tôi đang tiếp tục làm sáng rõ vụ án và sẽ tìm ra tất cả...

Được dịp, Bích Liên nói lại anh công an:

Đối với tôi, sự thật chỉ có thế. Các ông nói rằng các ông sẽ tìm ra, sẽ biết tất cả, vậy cần gì còn phải hỏi tôi?

Chiều hôm qua, anh công an còn hỏi thêm chị:

- Chị gặp ông Nguyễn Văn Nam ở tiệm Quảng Phát, chị đã chủ động đặt vấn đề bán thuốc cho ông Nam có phải không?

Chị đã trả lời:

- Dạ phải. Ông Quảng Phát có bàn đèn tiệm thuốc và bán thuốc chín cho khách hút hàng ngày. Ông Nam là khách hút. Tôi không nghiện, song phải dò ra, tìm đến nhà Quảng Phát đ tìm mối bán thuốc. Quen ông Nam rồi qua ánh mắt nhìn, qua lời nói thăm dò đôi ba lần, tôi đã chủ động hỏi ông Nam có cần mua thuốc không? Ông Nam đã nhận mua. Song qua diễn biến sự việc, dẫn đến đ b hôm nay, tôi có thể khẳng định rằng: chính ông Nam là công an mật, còn tôi thì đã nhẹ dạ, cả tin, đã mất cảnh giác với ông ta nên tôi mới đến nông nỗi này. Tôi chỉ tự trách mình là thiếu thận trọng trong công việc làm ăn. Tội của tôi, do tôi làm, tôi xin chịu tội đi tù, chỉ có thế thôi, các ông có hỏi nữa cũng bằng thừa.

Bích Liên tự nhủ:

Bằng giá nào ta cũng không để lộ đường dây. Khai báo là phản bội những người cùng hội, cùng thuyền. Chị nhớ lại cái Hội Thề với ba nhân vật: hai người đàn ông kia mang mật hiệu C1, C2, còn chị mang mật hiệu C3. Hội Thề hôm chị tự nguyện nhập băng đã được tổ chức rất trang nghiêm. C1 đã giới thiệu C2 với chị. C2 nói:

- Chúng ta chỉ có Luật Rừng, ai giữ được bí mật thì sống, ai để lộ thì... mất mạng! Nếu không may bị bắt thì cắn răng mà chịu, Hội Thề sẽ thăm nuôi tiếp tế thức ăn, đồ uống hoặc lo lót để sớm được ra tù. Ngược lại thì có thể bị lũ đại bàng, quỷ cái trong trại giam sát hại hoặc sẽ bị chết bất ngờ, thê thảm, chưa kể vợ hoặc chồng, cha hoặc con bị hại ngay tại gia (!). Hội Thề không có biên bản, ghi âm, song tất cả đều phải “nhập tâm và phải bảo đảm bí mật của Hộibằng chính mạng sống của mình.

Bích Liên đã cụng ly rượu mạnh, uống 100% với hai gã đàn ông có cái tên C1, C2.

Các anh công an không dùng roi vọt nhục hình mà chỉ thuyết phục bằng lời nói, điều đó khiến cho Bích Liên yên tâm, vững dạ, tin tưởng rằng chị ta sẽ giữ được trọn vẹn lời thề” sống chết với C1, C2. Những mật danh này chỉ dùng để viết thư hoặc điện tín bảo tin cho nhau khi cần thiết. Trong khi tiếp xúc với nhau, lại dùng những cái tên thật giản dị: anh Hai (C1) anh Ba (C2), chị Tư Liên (C3). Địa chỉ của anh Hai, anh Ba, Bích Liên cũng không được biết. Ngược lại, họ cũng không cần biết địa chỉ của chị Tư Liên. Họ quen nhau ở tiệm hút Quảng Phát và dựHội Thề ở khách sạn Hoa Sen. Tiền, vàng và hàng hóa đều phải đủ và là thứ thiệt, ai làm trái điều lệnày đều bị xử phạt theo Luật Rừng”.

Bích Liên chỉ còn một hy vọng, một hy vọng rất mỏng manh ở Nguyễn Nhân chồng chị – Nếu Nhân giữ được mọi điều bí mật thì công an cũng đành chịu bó tay. Mà Nhân làm sao biết được công việc làm ăn của vợ! Từ lâu, anh ta chỉ biết coi nhà và quản lý cho được thằng con trai mười tuổi để nó khỏi lêu lng, trốn học đi chơi với lũ trẻ hư ngoài đường phố. Có lần Nhân hỏi về thứ cơm đen đ trong nhà, Bích Liên đã trừng mắt:

- Ông đừng có thóc mách vào việc làm ăn của tôi! Ông vớ vẩn thì lại rũ tù. Tôi mà ngồi tù thì bố con ông đi ăn mày sớm!

Bị vợ cho “một thôi, một hồi anh chồng vội cúi mặt ngồi im thin thít. Lúc ấy, quả thật Bích Liên cũng thấy thương hại anh, song không thể làm thế nào khác được! Ba hoa hoặc bép xép đều có hại nên chị cứ phải giả vờ thịnh nộ với chồng con để chồng con liệu màgiữ mồm, giữ miệng

Còn bà con hàng xóm, láng giềng, chắc chắn không ai biết gì hơn về cái nghề chạy chợ của chị ta: mua về cho chồng đủ loại thuốc lá nội, ngoại đề anh chồng ngồi bán bên cạnh tủ thuốc lá bán lẻ đặt ở trước nhà làm tấm bình phong che mắt thế gian.

Bất giác Liên nhếch mép cười, nụ cười nửa miệng vừa cay đắng vừa kiêu hãnh.

Bên ngoài song sắt nhà giam, ánh nắng ban mai đã rạng. Song Bích Liên vẫn thấy tâm trí rối bời với những ý nghĩ đen tối, chưa biết ngày mai sẽ còn xảy ra những gì khi các anh công an lại gọi chị đến phòng hỏi cung.

 

3. TÂM TƯ CỦA NGƯỜI CHỒNG BẤT HẠNH

 

Văn Sinh bấm nút chiếc máy ghi âm và nhìn người đàn ông đang ngồi trước mặt nhẹ nhàng nói:

- Anh Nhân! Anh c cho chúng tôi nghe những ý kiến khách quan của anh về những việc làm phạm pháp của chị Liên, vợ anh!

 Khuôn mặt khắc khổ của Nhân càng khắc khổ hơn, anh ta nói chậm chạp:

- Dạ, tôi xin trình bày về gia đình tôi và về cô Liên, vợ tôi. Tôi trước là giáo viên cấp 2 và vợ tôi là nhân viên thu mua của Công ty nông thổ sản. Sau khi miền Nam được giải phóng, năm 1976 chúng tôi xin vào công tác tại Sài Gòn, vẫn làm việc cũ. Hai năm sau, vợ tôi sinh một cháu trai - cháu Tuấn - nay đã 10 tuổi. Khi mới vào Sài Gòn, chúng tôi dồn tiền mua được căn nhà nhỏ có lầu đúc và ở đó cho đến ngày nay. Tiện nghi sinh hoạt mua từ ngày ấy đến nay đều đã cũ, cuộc sống ngày thêm khó khăn. Nhân có việc vợ tôi tham ô công quỹ năm 1980, chúng tôi đều xin về nghỉ theo chế độ mất sức, tôi đứng bán thuốc lá, vợ tôi chạy chợ, buôn hàng xách, đủ các thứ hàng “thập cẩm, gặp thứ gì buôn có lãi là mua như: vải, quần áo, mỹ phẩm, thuốc tây, thuốc lá ngoại và đến nay cô ấy tha về cả thuốc phiện mà các anh đã bắt được quả tang. Nếu c làm ăn chân chính thì cuộc sống cũng khá sung túc rồi, song vợ tôi lại không muốn thế. Cô ấy muốn phất lên thành tỷ phú, nên tìm con đường buôn hàng quốc cấm. Hàng ngày cô ấy tiếp xúc với đủ loại tư thương, tiêu xài xả láng, uống rượu, hút thuốc như nam giới. Cô ấy nói với tôi: anh là con mọt sách, sống khổ hạnh như thầy tu, anh không thể bắt buộc tôi phải sống như anh. Tôi có cuộc sống riêng của tôi. Người ta làm giàu đầy ra đấy, mình có cái đầu, cái tay, cái chân, cái miệng, lại có vốn, không biết buôn bán là hâm! Buôn bán khôn khéo thì... còn lâu công an mới bắt được tôi! Mà có bắt được tôi thì chỉ ba ngày là tôi lại ra, dễ ợt! Cô ta cứ trượt mãi theo cái đà ấy. Mâm cơm có đầy thịt cá, nhưng mà... tôi đâu có sung sướng...

Người đàn ông rầu rầu nét mặt, tiếng nói bỗng tắc nghẹn trong cổ. Anh ta im bặt và cúi xuống, khuôn mặt như tối xầm lại. Một lúc lâu, Văn Sinh cử đề mặc anh ta ngồi im. Sinh rót một ly nước mát, đầy về phía anh ta và nói:

- Anh Nhân uống nước đi, suy nghĩ và kể tiếp cho tôi nghe :

 Nhân uống một ngụm nước, đặt cái ly xuống bàn và nghẹn ngào nói tiếp:

- Tôi vừa nói với anh, tôi đâu có sung sướng, có hạnh phúc! Điều này tôi chưa nói với ai bao giờ, song hôm nay tôi xin nói với anh, chẳng phải để làm giảm nhẹ tội cho vợ tôi đâu, vì vợ tôi đã phạm tội lớn, tôi chỉ nói rằng, tôi rất khổ tâm khi được biết cuộc sống sa đọa của cô ấy, từ khi cô ấy có nhiều tiền thì cô ấy không còn chung thủy với tôi nữa. Cô ấy lang chạ với nhiều người mà cô ta gọi chung là bạn buôn, buôn có bạn, bán có phường, anh cấm tôi thế nào được!. Tôi âm thầm đau khổ. Nói ra thì m cửa, m nhà, ảnh hưởng xấu tới con cái, mà cũng chẳng giải quyết được gì. Tôi đành nhắm mắt làm ngơ, mặc cho cô ấy làm gì thì làm. Kết quả bây giờ, cô ấy đã phải vào tù! Nói thật với anh, tôi có thể xin ly dị với cô ấy được rồi, tôi không muốn chung sống với cô ấy nữa, nhục lắm và con tôi sau này sẽ còn nhục hơn nữa khi nó biết mẹ nó hư hỏng và phạm pháp. Buôn thuốc phiện lậu, tôi biết tòa sẽ xử nặng, ít nhất cũng 5, 10 năm tù giam, còn chi nữa mà mong hàn gắn lại gia đình?

Nước mắt giàn dụa trên khuôn mặt người chồng bất hạnh. Anh ta lại ngồi câm lặng hồi lâu.

Văn Sinh đốt một điếu thuốc, đứng dậy đi đi lại lại trong không khí oi ả và nặng nề. Anh lại ngồi xuống ghế, ôn tồn:

- Anh Nhân , tôi cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh của anh. Chị Liên phạm tội, pháp luật sẽ nghiêm trị, song nếu chị ấy thành khẩn khai báo thi án tù vẫn có thể giảm nhẹ một phần. Anh nên góp phần làm cho sáng tỏ vụ án. Chúng tôi mời anh đến đây hôm nay chỉ muốn anh nói cho rõ mối quan hệ của chị ấy với những tên buôn lậu. Chị ấy còn muốn che giấu cho đồng bọn, gây khó khăn cho việc điều tra. Vậy anh cho biết: gần đây có những người nào là bạn hàng của chị ấy thường tui tới nhà anh?

– Dạ, không có ai đến nhà tôi, bởi cô ấy thường quan hệ với họ ở ngoài chợ, ngoài phố hoặc ở nơi nào khác, vì cô ấy thường nói: Hàng xóm lắm đứa hay xoi mói lắm, tôi không tin ai cả. Làm ăn là phải kín đáo, nên tôi mua bán là phải mua bán ở nơi khác.

– Có bao giờ chị ấy đi chơi xa, nhiều ngày hoặc một vài ngày vắng nhà?

– Dạ, có! Mỗi năm cô ấy về Bắc một lần để thăm bà mẹ đẻ ở Hà Nội. Ở miền Nam, có ấy thỉnh thoảng có đi Long Xuyên, Tây Ninh, đ mua hàng và đi Nha Trang, Vũng Tàu đề nghỉ mát.

Văn Sinh đặt bút, xoa tay:

– Thôi, cảm ơn anh đã cho chúng tôi biết ý kiến về chị Bích Liên, chúng tôi đã hiểu thêm về tư cách đạo đức của chị ấy, đồng thời biết được do đâu mà dẫn đến phạm tội. Dù sao anh cũng nên viết thư cho chị ấy, động viên chị ấy khai báo rõ ràng. Còn việc anh nói rằng sẽ ly dị, thì tôi thành thực khuyên anh là không nên, vì dù sao chị ấy cũng là một người bị hoàn cảnh bên ngoài cám dỗ, tự mình không làm chủ được mình, nên mới dấn sâu mãi vào con đường tội lỗi.

- Dạ. Xin cảm ơn anh. Xin anh đề cho tôi có thời gian suy nghĩ thêm...

 

4. ĐỘNG PHÙ DUNG

 

Vũ Hùng phanh áo, để lộ ra một bộ ngực nở nang có xăm hình một con rồng bay và hỏi Văn Sinh:

- Cậu trông thử xem mình đã có tướng Đại bàng chưa ? Hai cánh tay áo ngắn còn đề lộ bên trái: hai chữ Hận Đời bên phải hai chữ Hiệp Khách.

Văn Sinh cười lên thành tiếng, nghe thật sảng khoái:

- Dữ dằn quá đấy! Hôm trước anh đóng vai thương lái Nguyễn Văn Nam đ cùng bị bắt với mụ Bích Liên ở quán Hồng Ngọc, lúc ấy trông anh c hiền khô. Bây giờ thì đầu tóc bù xù, lại xăm ngực, xăm cánh tay quái đản như thế này, ai còn nhận ra Vũ Hùng nữa! Nào ta đi!

Vũ Hùng xốc lại áo, cài lại khuy, song vẫn đề ng một khuy để thiên hạ nhìn rõ cái đầu con rồng bay trên ngc. Anh dắt tay Văn Sinh khệnh khạng bước ra cửa. Hai người bước lên chiếc xe Honda 90. Xe nổ máy lướt trên đường Trần Hưng Đạo. Tay lái của Vũ Hùng làm cho Văn Sinh thêm yên tâm.

Vũ Hùng nói vừa đủ đề Văn Sinh nghe:

- Tôi quen thân lão Quảng Phát rồi, nên thường kêu lão bằng chú và xưng là cháu. Còn đối với mụ Dung là vợ lão ấy thì mình kêu là Năm, và cũng xưng là cháu. Cậu cứ theo mình là vợ chồng lão ấy tin ngay, chỉ cần chi cho đẹp, nghe!

Văn Sinh cười:

-  Được, được, mình c coi ông là Sếp của mình là có thể yên tâm lọt vào Động Phù Dung ch gì!

Mười lăm phút sau chiếc xe chở Vũ Hùng - Văn Sinh đã dừng lại trước Quảng Phát tửu điếm. Từ năm mươi năm trước, tửu điếm Quảng Phát là một tiệm nhậu nổi tiếng của ông chủ người Hoa, nay chỉ còn lại cái tên cũ. Nội dung hoạt động của Quảng Phát nay đã khác xưa: nơi giải sầu với một bàn đèn thuốc phiện và 5 phòng cho thuê kín đáo. Chủ nhân Quảng Phát đã là cháu ba đời của ông cố nội. Vợ chủ nhân có cái tên thật đẹp: Mỹ Dung, nguyên là một vũ nữ người Việt tại một vũ trường đường Tự Do cũ. Mỹ Dung bay giờ đã ở tuổi ngoại tứ tuần và được khách làng chơi tặng cho cái tên đẹp hơn:Phù Dung tiên nữ, bởi vì quầy thuốc lá của Mỹ Dung chỉ đề ngụy trang cho một Hôtel trá hình với tiệm hút thuốc phiện cho khách loại sang.

Vũ Hùng với cái tên chú Nam đã lọt được vào đây từ một năm nay như một môn đệ, khi cần có thể làm vệ sĩ cho vợ chồng Quảng Phát.

Thấy chú Nam dắt xe vào, dì Năm nhoẻn một nụ cười và nhìn bằng một cái nhìn kín đáo như muốn hỏi ai đi cùng chú Nam đó?.

Vũ Hùng giới thiệu ngay:

- Thằng em này tên gọi Ba Xa Cảng, vừa trúng mánh cả triệu đồng, xin đến thăm Động Phù Dung, cháu đưa nó đến đây ngay.

Mỹ Dung nói nhỏ:

– Các cháu lên lầu I, có chú Năm trên đó.

Vũ Hùng và Văn Sinh lên lầu I, vào phòng khách có đèn nê-ông tỏa ánh sáng màu hồng, ấm áp. Trên một giường rộng trải đệm mút, chủ nhân Năm Phát đang nằm lim dim mắt sau khi đã hút hết điếu thuốc th ba. Đối diện với Năm Phát là một cô bồi tiêm hai mươi tuổi có dáng người mảnh mai, mặc bộ đồ ngủ cực mỏng màu hồng đang nằm nghiêng, tay nâng dọc tẩu, điếu thuốc phiện đang xèo xèo trên ngọn lửa đèn dầu lạc, tỏa mùi thơm thật quyến rũ.

Vẫn trong tư thế nằm nghiêng, cô gái cất tiếng dịu dàng:

- Em chào hai anh!

Vũ Hùng đáp lại :

- Chào Lệ Huyền xinh đẹp! Giới thiệu với em: Ba Xa Cảng, em anh, đến xin làm môn đệ hôm nay đấy!

- Mời hai anh ngồi!

Nghe tiếng nói lao xao, Năm Phát mở bừng hai mắt, ngồi nhỏm dậy, nói như reo lên:

– A! Thằng Nam! Tụi bay đi đâu mà giờ này mới tới?

- Dạ thưa chú, cháu bị thằng em này lôi đi nhậu hoài vì nó mới “trúng mảnh cả triệu đồng mà chú!

Năm Phát vui vẻ bước xuống, lê đôi dép cói đến bắt tay hai người bạn trẻ và cùng ngồi xuống đi-văng:

- Cháu này là cháu Ba Xa Cảng đây hả?

- Dạ, thưa chú nó là trợ lý cho một giám đốc công ty xuất nhập khẩu, vừa mua giúp xí nghiệp một xe Toyota, được Sếptrích thưởng 5 triệu đồng, bằng 10% giá xe. Phải cống nạp choSếp hai triệu, còn ba triệu nó mang theo cháu đến đây...

- Ờ, ờ, uống nước, hút thuốc đi, rồi ở đây với chú một ngày cho... đã!

Năm Phát vừa dứt lời thì Mỹ Dung cũng xúng xính lên lầu, bước vào phòng, ngồi xuống cạnh chồng:

– Anh thấy thằng Ba này dễ thương không?

Năm Phật gật đầu:

- Được, thẳng Nam đã giới thiệu, đã bảo đảm thì chú chấp nhận!

Rồi như sục nhớ ra, Năm Phát hỏi Vũ Hùng:

- Cháu có nghe tin con mẹ Bích Liên bị công an bắt giữ và khám nhà rồi không ?

Vũ Hùng thản nhiên:

- Có lẽ người của đường dây nó phản đó. Bà ta chưa kịp giao hàng cho cháu thì công an đã tóm cổ. Cháu cũng bị giữ luôn ba ngày, phải đóng thuế và phạt về 50 cây thuốc lá Samit. Thế là lỗ vốn luôn một nửa! Cháu phải trình bày, năn nỉ mãi công an mới thả cháu ra. Cháu đang buồn thiu thì gặp thằng Ba này, thế là cháu đưa nó đến trình diện chú, trình diện dì Năm luôn!

Mỹ Dung nhìn Ba Xa Cảng bằng một cái nhìn trìu mến:

– Ở động Phù Dung một đêm cho khoẻ!

Văn Sinh dạmột tiếng, rồi rút từ túi ra một gíi bạc đặt lên bàn:

- Cháu có ba triệu, xin biếu chủ và dì Năm 500 ngàn, coi như một món quà nhỏ mọn của chúng cháu!

Mỹ Dung vờ kêu lên:

- Nhiều vậy?

Vũ Hùng vội đỡ lời Văn Sinh:

- Có gì đâu dì Năm! Chúng cháu còn phiền chú Năm nhiều kia mà!

Năm Phát cười, nhìn vợ :

- Các cháu đã cho quà, em cử nhận đi rồi cho chúng nó lên lầu hai, gọi hai con nhỏ Lệ Hằng, Lệ Hồng cho chúng nó làm quen với nhau từ hôm nay!

Trong lúc Mỹ Dung lên lầu 2, Năm Phát gọi ngay cô bồi tiêm:

- Lệ Huyền! Cháu hãy dẹp đi chút đã, lấy Uyt-ky ra đây mời khách, nghe!

Cô gái có tên Lệ Huyền đặt dọc tẩu xuống khay đèn dầu lạc, ngồi nhỏm dậy, buông thõng hai chân xuống đất và đi về phía góc phòng, mở tủ lạnh, lấy ra một chai rượu mạnh mang đến chỗ Năm Phát, rồi nhẹ bước lên lầu 2.

Còn lại Năm Phát, Vũ Hùng và Văn Sinh. Ba người cụng ly.

Vũ Hùng gợi chuyện:

- Thưa chú, hôm nay nhà có đông khách không ạ?

 Năm Phát thủng thẳng đáp:

- Có đâu mà đông! Như cháu đã biết, nhà này chỉ có 5 phòng. Hôm nay hai cháu ở phòng số 1. Phòng số 2 đã có một ông giám đốc mới ở Hà Nội vô với cô bồ nhí”, ông ta phải nạp cho chú 3 chỉ vàng rồi! Phòng số 3 dành cho một tổng giám đốc vừa mất chức vì tội bán chữ ký lấy xe cúp. Lão ta tìm thú giải sầu và chịu chơi với giá 1 cây vàng đề được hưởng một đêm nhất dạ để vương. Chú đã cho gọi 10 con nhỏ đóng vai 10 cung nữ đề hầu Hoàng Đế hôm nay!

Văn Sinh vờ kêu lên:

- Mắc dễ sợ hả chú?

Năm Phát:

- Có thể gọi đây là “tiểu Bồng Lai hay tiểu Hồng Kông cũng được! Cái giá một cây vàng đâu có mắc, vì tất cả tiền, vàng đều hốt được của nhà nước mà! Đâu có phải của mồ hôi, nước mắt mà tiếc! Lão tổng giám đốc này đến tuổi nghỉ mà chưa chịu nghỉ hưu, còn cố ở lại bám ghế đ bản chữ ký lấy xe cúp. Trong nhà ông ta còn đầy ắp bạc, vàng. Đáng lẽ phải tù, song có ô dù nên chỉ bị buộc phải về hưu thôi...

Vũ Hùng trở lại mục đích của mình:

- Dạ, thưa chú, ban nãy, chú có nói đến chuyện mụ Bích Liên sa lưới công an, chú có cách nào gia ân cứu giúp cho mụ ta thoát tù được không?

Năm Phát lắc đầu:

- Chú chịu đó. Hai cái nghề tiêm chích và cho mướn phòng này, chú đã hốt bạc lắm rồi, cần gì phải theo nghề thầy cò nữa. Mụ Bích Liên cứ ráng chịu lãnh án mấy năm tù giam rồi chạy sau để được giảm nhẹ hoặc ân xá vì đã cải tạo tốtvào dịp Quốc Khánh một năm nào đó là ngon nhất!

Vũ Hùng khơi thêm:

- Cháu nghe bà Bích Liên có ông bồ cỡ bự lắm cơ mà! Sao không nhờ ông ấy chạy cho?  

- Chẳng biết có phải bồ không, trước đâythỉnh thoảng mụ ấy có dắt lão ta đến đây nói chuyện hàng hóa gì đó. Chú không quan tâm. Chỉ nhớ lão ấy tên là Hai Râu vì có một bộ râu kiểu râu Nguyễn Cao Kỳ đó!

Năm Phát bật cười làm cho hai anh bạn trẻ cũng cười theo.

Vũ Hùng giả vờ ngỡ ngàng:

- Thưa chủ, có phải cái lão mập mập, hay mặc bộ đồ xanh rêu đó không, cháu đã có lần gặp đi với bà Liên?

Năm Phát gật gù:

- Chính y đó ! Đến đây y tỏ ra rất lễ độ và cũng chơi rất đẹp!

Văn Sinh ngồi im nghe câu chuyện đổi thoại giữa Năm Phát và Vũ Hùng. Anh có thói quen không cần ghi chép mà mọi chi tiết đều được ghi vào bộ nhớ của cái đầu thông minh, chẳng khi nào sai sót.

Người mập mập, có bộ râu kiều râu Nguyễn Cao Kỳ”. Văn Sinh mỉm cười với Năm Phát và nói một câu để thăm dò:

- Có một ông bồ cỡ bự thì sớm muộn bà Liên cũng được về thôi, phải không chú?

Năm Phát cười khà khà:

- Các cháu biết không? Ở Cô-lông-bi-a bọn Maphia buôn ma túy hoành hành dữ nhất thế giới, làm cho chánh phủ phải điên đầu. Cả guồng máy cảnh sát có xe, có súng, có máy bay trực thăng đang truy quét bọn này. Ở Xanh-ga-po kẻ nào mang 300 gam bạch phiến đã bị án tử hình, năm vừa qua, hơn 20 người đã bị treo cổ, luật nghiêm như vậy nên mới cấm được buôn lậu ma túy, giữ cho thế hệ thanh niên ở đó không bị băng hoại. Còn ở ta đây, các cháu thấy đó: năm trước mụ Phương tích trữ 26 kg thuốc phiện mà chỉ bị kết án 12 năm tù giam, nếu “cải tạo tốt thì đâu có phải là 12 năm? Bà Bích Liên bị tịch thu có 1 kg thì sẽ xử mấy năm nhỉ? Vì biết được luật như thế, nên Năm Phát này cứ ung dung hành nghề mà các cháu thì cứ yên tâm đến Động Phù Dung nghe không? Phép vua thua lệ làng, chỉ cần ông Phường cho qua là được. Quận và thành phố thì cao xa vời vợi, dễ gì đã đến được đây? Và nếu có vị nào xông xáo đến đây thì chú sẽ huy động đội nữ binh trẻ kia cho các vị vào mê hồn trận là... huề! Nhà nước còn bận nhiều công to, việc lớn, chứ ai đã quan tâm đến Năm Phát, có phải không, các cháu?

Vũ Hùng bật cười:

- Chú Năm nói có lý!

Văn Sinh thêm:

- Chú cứ làm nhẹ nhàng như thế này thì công an biết đầu mà mò, phải không chú?

Khói thuốc, hơi men làm cho câu chuyện của ba người thêm rôm rả.

Văn Sinh nhủ mình:

 – Không vào hang sâu, làm sao bắt được cọp dữ. Ở lại đây một đêm, biết đâu mình và Vũ Hùng lại chẳng tìm ra được một cái gì bổ ích ?

 

5. LẦN THEO DẤU VẾT

 

Sau khi nghe Văn Sinh báo cáo những diễn biến chung quanh vụ án trong ba tuần qua, đại tá Trần Vinh, trưởng ban chuyên án hỏi lại:

 - Các cậu nhận xét thế nào về mụ Bích Liên? Nó là vệ tinh hay là trùm sò?

Trước mặt ông là ba trinh sát trẻ: Văn Sinh, Vũ Hùng và Tuyết Lan. Họ ngồi im lặng, chừng như còn phải tìm câu trả lời sao cho chính xác đề thủ trưởng có cơ sở vững chắc chỉ đạo các trận đánh tiếp theo.

Đại tá Trần Vinh nói tiếp: 

- Ta mới phát hiện một đầu mối tiêu thụ và bắt giữ được một đối tượng với lượng hàng chỉ có 1 kg ta chưa thể hài lòng được.

Văn Sinh trả lời thẳng vào nỗi băn khoăn của đại tá:

- Thưa chú, cháu và anh Vũ Hùng khẳng định mụ Liên là một vệ tinh, một đầu mối tiêu thụ ở đây.

 - Vậy trùm sò của nó là ai? Ở đâu? Lượng ma túy còn nằm ở kho bí mật nào? Các cậu còn phải tìm kiếm vất vả!

Câu hỏi này thì cả hai bạn trẻ đều chưa trả lời được. Đại tá Trần Vinh cười rung rung cả mái tóc đã hoa râm của ông. Ông nhìn thẳng vào Tuyết Lan:

- Còn cháu gái của chú! Thế nào? Cháu có thể trả lời chủ được chưa?

Tuyết Lan chớp chớp hàng mi:

- Dạ, thưa chú, giữa cái thành phố ngót 4 triệu dân này, tìm ra được tên trùm sò quả thực là khó. Cháu xin cùng các anh Văn Sinh, Vũ Hùng cố gắng hết sức mình để sớm phá án.

Đại tá Trần Vinh xoa xoa cái cằm, nói ôn tồn:

– Phá án vụ này quả thật là khó, khó lắm đó. Song chú cũng lưu ý: Vũ Hùng và Văn Sinh đã vào được Động Phù Dung, đã thu được một vài tín hiệu ban đầu, cần tiếp tục sàng lọc, đừng để bị nhiễu sóng, Và Tuyết Lan với khả năng riêng của cháu, cháu cố gắng góp công, góp sức để tìm ra được bí mật của đường dây buôn lậu ma túy này, chú sẽ góp thêm kinh nghiệm nghiệp vụ với các cháu. Văn Sinh! Cho chú nghe ý kiến của cháu xem nào!

Văn Sinh nói sôi nổi:

- Dạ, thưa chú, qua việc tiếp xúc với ông chồng mụ Bích Liên, cháu biết: trong gia đình, mụ này lấn át hết chồng con; ngoài xã hội, mụ ta rất giảo hoạt, nhất định mụ phải có đồng bọn. Mụ ta sẵn sàng chịu trận một mình để che chở cho đồng bọn. Theo cháu, cần phải lần tìm theo dấu chân của Bích Liên ở Sài Gòn cũng như ở những nơi mụ ta thường lui tới, mới có thề phát hiện được bí mật của đường dây...

Đại tá Trần Vinh điềm đạm:

- Văn Sinh nói có lý! Ta không thể nào ngây thơ đến mức tin được lời khai bịp bợm của mụ Bích Liên mà sa lầy vào quán mụ Tư Mập cho mất thì giờ. Hãy mở rộng diện điều tra ra nhiều điểm khác, tìm hiểu thêm nhiều đối tượng khác. Nên hỏi chuyện thêm ông chồng mụ Liên. Từ mâu thuẫn gia đình, anh ta có thể thổ lộ thêm những chi tiết có ích, phải làm công tác tư tưởng tốt với anh ta... Đó là ý kiến của chú hôm nay, tuần sau, cũng vào chiều thứ bảy, chú cháu ta lại về đây hội ý, chú hy vọng sẽ có được những thông tin mới. Chúc các cháu thành công.

o0o

Buổi sáng hôm sau, một sáng chủ nhật đẹp trời, ba trinh sát trẻ chia tay nhau lên đường làm nhiệm vụ. Tuyết Lan ra xa cảng miền Đông đi Nha Trang. Văn Sinh và Vũ Hùng ra xa cảng miền Tây, rồi Văn Sinh đi Tây Ninh, Vũ Hùng đi An Giang.

Năm ngày sau, cả ba người đều quay trở lại Sài Gòn. Trừ Văn Sinh có bộ mặt ủ rũ, còn Vũ Hùng và Tuyết Lan đều vui mừng hớn hở.

Văn Sinh báo cáo trước:

- Mình đi khắp cả 10 khách sạn lớn nhỏ ở Tây Ninh, theo dõi số nhật biên của các quản lý khách sạn, không hề thấy có ghi tên người khách nào là Nguyễn Thị Bích Liên đến đây trong tháng 8. Có thể là tuần đầu tháng Liên có đến đây, song lại ngủ tại một cơ sở chứa hàng lậu nào đó chăng?

Vũ Hùng mở một trang sổ tay có ghi rõ: ngày 10 tháng 8, tại phòng số 5 khách sạn An Giang có hai người khách trọ mang tên Nguyễn Thị Bích Liên chứng minh thư số... và Nguyễn Thị Kim mang CMT sổ... thời gian lưu trú: 2 ngày 10 và 11 tháng 8.

Tuyết Lan long lanh đôi mắt báo cáo:

 - Em cũng đạt yêu cầu: đoán biết mụ Liên không thể ở khách sạn loại bình thường, nên em đến ngay khách Hải Yến, một khách sạn nổi tiếng của Du lịch Nha Trang, em đã ghi được như sau...

Lan chỉ vào một trang số tay: tại phòng 201 ngày 18, 19 và 20 tháng 8 có hai người thuê ở là Nguyễn Thị Bích Liên CMT số... và Nguyễn Thị Mai CMT số... Như vậy, đúng như lời khai báo của ông chồng bà Bích Liên: trong tháng 8, Bích Liên đã có mặt ở Nha Trang và An Giang đề hoạt động mua bán hàng lậu, còn hai người bạn hàng là Nguyễn Thị Kim và Nguyễn Thị Mai đều là dân Sài Gòn; ta sẽ lần theo địa chỉ của họ ghi trong CMT, sẽ tìm ra “quý vị” này thôi!

Văn Sinh gật gù:

 – Xin hoan nghênh kết quả ban đầu của các bạn. Ngày mai, chúng mình sẽ báo cáo với đại tá Vinh đề xin chỉ thị của ban chuyên án. Tôi sẽ lập phương án tác chiến mới...

o0o

Tiệm phở bắc “Thủy Tiên” là tiệm phở ngon nổi tiếng ở đường Đồng Khởi, mới bốn giờ chiều đã đông khách vào ăn.

Dừng xe Honda trước quán, Văn Sinh trong bộ đồ sinh viên với cặp kính trắng, sánh vai cùng Tuyết Lan vào quán.

Họ ngồi vào bàn ở góc trong cùng và gọi hai tô đặc biệt.

Năm phút sau, hai tô phở bốc khói đã được đặt trước mặt hai người.

Văn Sinh vui vẻ:

- Mời Lan thưởng thức tài nghệ của bà chủ quán Thủy Tiên.

Hai người cầm đũa. Vừa ăn họ vừa bí mật đưa mắt nhìn về bàn số 5, cách họ bốn bàn. Bàn số 5 có hai người vào ăn trước họ mười phút. Người dàn bà là Nguyễn Thị Mai — cái tên mà Tuyết Lan đã ghi được ở khách sạn Hải Yến và truy ra lý lịch – Còn người đàn ông là người có bộ râu kiểu Nguyễn Cao Kỳ mà Văn Sinh đã được nghe Vũ Hùng miêu tả ở “Động Phù Dung”, nguyên là bạn hàng có quan hệ với Bích Liên.

Từ Nha Trang, Tuyết Lan đã phát hiện được địa chỉ của thị Mai và cũng như dự đoán của Văn Sinh rằng sẽ có cuộc móc nối của thị Mai với đường dây buôn lậu mà tên Hai Râu kia là một mắt xích quan trọng.

Cuộc gặp gỡ của hai tên buôn lậu này đang ở trong tầm tay của Văn Sinh. Anh càng cảm thấy phấn chấn trong lòng. Chút ít phút nữa, anh sẽ phát hiện được địa chỉ của Hai Râu. Hẳn là ai? Hoạt động thế nào? Văn Sinh sẽ nắm được dễ dàng hay còn có khó khăn? Chừng như đã đọc được ý nghĩ của đồng nghiệp, Tuyết Lan mim cười nói nhỏ chỉ đủ hai người cùng nghe:

- Y thật dữ dằn, hẳn là y còn có lắm mưu ma, chước quỷ!

 

6. ĐƯỜNG DÂY BỊ LỘ

 

Bích Liên bị bắt đã làm cho Lê Quý thực sự hoang mang, lo lắng. Mặc dù Bích Liên không biết địa chỉ của Quý, chưa một lần nào đặt chân đến căn nhà này, song công an sẽ khai thác đủ mọi nguồn tin đề tìm ra xuất xứ của cơm đen! Hoặc mụ Liên có lúc nào mong mạnh nghe nói đến địa chỉ của Lê Quý thì sao?

Dù sao thì phòng bị từ xa vẫn là hơn. Ngay sau khi nghe tin Liên bị bắt, Quý đã xa lánh ngay cái “Động Phù Dung” của lão Quảng Phát, mặc dù hắn biết ở đó còn có hàng chục “bồ nhí”, mà hắn có thể bỏ tiền ra mua bất cứ lúc nào để hưởng mọi khoái lạc ở đời! Tự mình Quý đã phải hạn chế đi lại, chỉ ra đường khi cần thiết, thường là vào buổi tối.

Thấy hắn tự nhiên ít đi chơi, Thị Minh vợ hắn phải hỏi:

- Sao dạo này anh lại “cấm cung” thế?

Quý đáp:

- Mụ Liên bị bắt, tức là công an đã thấy được “đầu ra” của ma túy, họ sẽ tìm “đầu vào”, mình không cảnh giác, cứ đi lại, quan hệ bừa bãi là... chết!

Cho đến hôm qua, đột nhiên lại có hàng đến, Quý không để hàng quả lâu ở nhà mình được, nên hắn lại phải cưỡi xe máy ra cảng Bạch Đằng tìm “vệ tinh”.

 Thị Mai đã có mặt ở quán nhậu Bạch Đằng. Thấy Lê Quý xuất hiện, Mai reo lên khe khẽ:

- Anh Hai Râu! Anh đi đâu mà anh để em kiếm anh hoài?

Nghe Mai gọi đúng biệt hiệu “Hai Râu” của mình, Quý nháy mắt:

- Chớ có ồn ào! Tôi đi khai thác nguồn hàng cho Mai đây!

Lập tức, Mai phốc lên ngồi sau xe của Quý và cùng và đến quán phở Bắc “Thủy Tiên” ở cuối đường Đồng Khởi.

Thị Mai cũng không ngờ bị hai chiến sĩ trinh sát Văn Sinh và Tuyết Lan bám sát ngay từ khi thị rời khỏi nhà mình.

Ăn phở xong, cũng có nghĩa là thông báo cho Mai biết là “đã có hàng, ở chỗ hẹn cũ”, Lê Quý không nói thêm một câu. Xe lại nổ máy, Quý đưa Mai ra đường Lê Lợi, đi từ từ rồi đột nhiên tăng tốc như bay về đường Cách Mạng Tháng 8 và mất hút trong tầm nhìn của hai trinh sát.

Kinh nghiệm làm ăn đã dậy cho Lê Quý bài học cảnh giác và khôn ngoan như một con cáo, luôn luôn bứt khỏi mọi cuộc theo dõi, bủa vây của cảnh sát.

Quả nhiên, Văn Sinh và Tuyết Lan đã để mất con mồi. Văn Sinh đành tự an ủi:

- Hắn ranh ma thật! Hắn đề phòng mọi sự bất trắc nên, đã tăng tốc cực nhanh trong khi mình còn chậm chạp.

Tuyết Lan cười gượng:

- Thua keo này, ta bày keo khác. Ta đã nắm được địa chỉ của thị Mai, thì sớm muộn cũng sẽ biết được địa chỉ của Hai Râu!

Và bây giờ Hai Râu đã ung dung ở nhà bàn soạn với vợ công việc làm ăn trong những ngày tới.

Lê Quý hỏi vợ:

- Bây giờ em có thể đi giúp anh một chút được không?

 - Đi gặp cô Mai?

Quý gật đầu nhìn thị Minh:

- Không hẳn như thế. Em chỉ cần phóng xe qua Bưu điện, nhìn về phía đầu đường Nguyễn Du, nếu em thấy cô Mai ngồi ở quán cà phê cóc trên vỉa hè, thì em xuống xe ngồi vào cùng bàn với Mai. Không cần nói một câu nào, em chỉ cần gọi một ly cà phê đen. Uống xong, em làm như người vô tình bỏ quên gói bánh quy nhỏ này ở bên là đủ. Mai sẽ nhận gói bánh này, đủ một ký “cơm đen” đấy. Ngày mai, cô ấy sẽ trả tiền mình ở một điềm khác!

Thị Minh vui vẻ:

- Được, em sẽ làm thật lẹ!

Thị Minh đón gói hàng từ tay chồng, bỏ vào chiếc giỏ cói, phủ một tờ báo lên trên, rồi dắt xe ra cửa.

Còn lại một mình, Lê Quý ngồi thừ người trên ghế. Hắn châm lửa đốt một điếu thuốc, mắt nhìn trân trận vào khoảng không ngoài cửa sổ căn lầu. Hắn nghiến răng lại trong một tư thế thấp thỏm chờ mong một cái gì đó sẽ xảy đến, có thể là một điều may mắn: đường dây không bại lộ, vợ chồng hắn được sống yên ổn, an toàn; hoặc là điều rủi ro: công an cứ từng bước lần tìm ra đầu mối và... đổ bể!

Hắn rùng mình khi nghĩ đến điều rủi ro ấy: nếu lại phải chịu chung số phận với Bich Liên?

Từ khi Lê Quý dấn thân vào nghề buôn bán “cơm đen”, hắn đã tự nhủ: nếu gặp phải bước đường cùng, sa lưới công an thì đành chấp nhận mấy năm tù đề có một số vốn sau này, hoặc cùng lắm là... vượt biên!

Lê Quý chìm đắm trong những suy nghĩ miên man, hầu như bất động trên ghế cho đến khi vợ hắn, dắt xe đẩy cửa vào. Thị Minh buồn rầu nói:

 - Có thể có chuyện chẳng lành đã xảy ra, nên Mai không có mặt ở quán cà phê cóc, em đã lượn đi lượn lại đến năm lần qua điểm hẹn mà không hề gặp.

Từ trước đến nay, có bao giờ cô ấy lỡ hẹn? Nếu vì ốm đau, bận bịu thì phải có chồng con ra đợi và báo tin cho mình ở điểm hẹn chứ!

 Thị Minh dựng xe vào góc nhà rồi đặt trả lại gói hàng lên bàn.

Lê Quý nghe tim đập dồn dập, song y vẫn cố trấn tĩnh:

- Cứ bình tĩnh đề đợi xem sao…

Thị Minh biết có ngồi lại nữa cũng không hiểu thêm được gì, nên bỏ mặc chồng ngồi một mình và lui vào phòng ngủ.

Lê Quý dụi mẩu thuốc lá đang chảy vào chiếc gạt tàn. Hắn lại đốt điếu thuốc mới. Làn khói thuốc xanh bay tỏa lặng lờ. Bên ngoài cửa sổ, nắng chiều đã tắt. Bóng chiều đang xẫm dần lại. Lê Quý cầm gói hàng vợ vừa đem về, ném vào tủ lạnh rồi lại về oải gieo mình xuống đi-văng.

Đến khi thành phố đã lên đèn, Lê Quý lại nghe có tiếng gõ cửa dè dặt. Hắn chậm chạp đi ra phía cửa. Mở cửa, Quý giật mình kêu lên:

- Chị Kim! Người đàn bà bé nhỏ lặng lẽ bước vào. Chị ta ngồi xuống ghế, nói như muốn đứt hơi:

- Anh Quý! Cô Mai... bị... bắt rồi!

Thoáng nghe có tiếng người nói chuyện với chồng, Thị Minh cũng lò dò từ trong phòng ngủ đi ra, ngồi xuống cạnh chồng:

- Chị Mai bị bắt rồi sao? Thị Kim chưa hết hoảng sợ:

- Em đến Động Phù Dung, tìm mấy thằng chích xì ke định hỏi thăm giá hàng hôm nay thì được lão Quảng Phát cho biết tin chị Mai vừa bị công an bắt tại nhà và bị khám nhà. Công an có tịch thu 500 gam thuốc phiện, một số vàng và tiền mặt. Có lẽ vì bà Bích Liên khai bậy, khai bạ gì đó rồi. Tình hình xấu đến như vậy, bây giờ anh chị tính sao?

Lê Quý bật thêm một ngọn đèn cho sáng, rót nước mời thị Kim rồi nói nhỏ:

- Động rồi đó! Song cô Mai là người gan dạ và thường sống hết mình với bạn bè. Ta có thể tin ở cô ấy được. Cô ấy dễ gì đã khai báo lung tung. Tuy nhiên, không ai được chủ quan. Trước hết là thanh lý cho nhanh số hàng còn đọng ở trong nhà. Phải phân tán hết ngay tối nay, kể cả tiền, vàng nếu còn đồng nào cũng phải “yểm” ngay ở nhà bà con quen thuộc thân tín, để nếu rủi ro có bị công an khám nhà thì cũng chẳng có tang chứng gì đề làm tội mình.

 Thị Kim thổ lộ ngay:

- Trong nhà em cũng chẳng còn gì! Em chỉ lo cho anh chị thôi.

Lê Quý nói với vợ:

- Đó, em thấy chưa? Phải giải quyết cho lẹ đi!

Thị Minh nhìn chồng:

- Dạ. Em hiều.

Nửa giờ sau, thị Kim đã lén ra khỏi nhà Lê Quý. Vợ Quý cũng gói hàng, gói vàng, gói tiền bỏ vào giỏ xách, dắt xe ra cửa, đem đi cất giấu.

Còn lại một mình, Lê Quỷ khép cửa, khóa lại và nằm vật ra giường chán nản, buồn bã, lo âu... Cả một chuỗi dài những năm tháng vật lộn để kiếm sống và phất lên giàu có như một cuốn phim dài lần lượt diễn ra trong tâm trí tay đàn anh trong đường dây buôn lậu có hạng này. Ngày hai vợ chồng từ Hà Nội lếch thếch mang “khăn gói quả mướp” vào Sài Gòn lập nghiệp, chung quanh hắn là tất cả sự giàu có đến sửng sốt, sự sang trọng đến ngỡ ngàng. Buổi đầu hai vợ chồng chưa hết hoa mắt vì Sài Gòn hoa lệ, đã được phân phối một căn phòng 15 mét vuông trên lầu 4 của một công ty ăn uống dịch vụ.

Hai vợ chồng để ra một tuần lễ đi dạo quanh thị trường, lang thang như người “nhà quê ra tỉnh”. Ừ mà quê thật! Từ cái ăn, cái mặc đến sự giao tiếp, vợ chồng hắn đều cảm thấy thấm thía rằng quả là mình “quê” thật, “quê một cục” chứ chẳng phải đùa nữa!

Thành phố vừa giải phóng, nhà hàng, cửa tiệm còn ăm ắp hàng hóa, cái gì cũng đẹp, cũng rẻ hơn ở Hà nội. Kết luận sau cùng của vợ chồng hắn là: mình ít tiền! Mình nghèo quá!

Bên tai hắn chỉ còn những hồi trống giục cứ như vang lên từng đợt: Tiền! Tiền! Và tiền!

Hắn dò la, thăm hỏi những người vào Sài Gòn sớm hơn hắn về cách thức làm ăn buôn bán. Một hy vọng đã loé lên trong đầu hắn: phải có ít vốn đề tập sự làm ăn, buôn bản, mánh mung... Buôn đài, xe, vải lụa, son phấn, nước hoa, thậm chí mua cả búp bê, đồ chơi trẻ con bằng nhựa gửi ra Bắc bán kiếm lời!

Từ hai bàn tay trắng, vợ chồng Quý đã có được một vài cây vàng. Đến lúc ấy hẳn mới bảo vợ :

 - Từ trước đến nay mình ngu quá, cử sa đà mãi vào các cuộc đấu đá vô nghĩa lý, vào đây mới tỉnh ngộ ra rằng họ “làm ăn” dữ quá. Thôi từ nay mình phải thay đổi cách sống mới được. Thế là hai vợ chồng cứ “nhũn như con chi chi” đối với thủ trưởng thì dạ dạ vâng vâng cho qua chuyện, đối với anh chị em cơ quan thì chín bỏ làm mười; mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật, lấy cơ quan làm nơi dựa dẫm đề có cái “thế chính trị”, tỏ cho thiên hạ biết mình là “cán bộ cách mạng”.  Ngoài giờ ở cơ quan là ba chân, bốn cẳng đi... “cầy trên đường phố”. Cuộc sống của hắn cứ nhẵn như một hòn bi, vô thưởng, vô phạt, trong lúc bên ngoài cơ quan giá cả ngày một lên cao, cách kiếm sống của Quý cũng khó khăn hơn. Người miền Bắc, miền Trung vào Sài Gòn nhiều hơn, nên hình thành cái cảnh “người khôn, của khó”.

Mười năm trôi qua, sao mà nhanh thế? Mới ngày nào còn là những năm 1976 – 1977, mà nay đã là 1986 – 1987... Nếu cứ kiếm ăn nhì nhằng thế này thì không ổn! Hai đứa con đã ra đời, một gái 8 tuổi và một trai 5 tuổi, lại còn phải thỉnh thoảng tiếp tế ra Bắc cho ông bà bên nội, bên ngoại... Cho đến một hôm, vào cuối năm 1986, đi chơi phố về, Quý đã nói nhỏ vào tai vợ:

-  Anh đã tìm ra lối thoát ở cuối con đường hầm rồi!

Thị Minh hỏi lại:

- Cái gì vậy, anh?

Quýhôn nhẹ vào mà vợ và vui vẻ nói:

- Đây, nó là cái này đây!

 Quý lôi từ trong túi du lịch nhỏ khoác bên vai ra một bịch vuông vức như phong bánh khảo đặt lên bàn:

- Em có biết cái gì đây không?

Thị Minh cầm gói nhỏ lên tay, mở lần giấy bóng kinh ra xem và nói:

- Cao ban long chứ gì!

- Sao em lại nói là cao ban long?

- Thì hồi trước, có lần anh chả khoe với em rằng: anh có một ông bạn Đông y có nghề nấu cao hổ cốt và cao ban long đó thôi? Hay đây là cao hổ cốt?

 Quý ôm ngang lưng vợ, dìu vợ ngồi xuống đi-văng:

-  Anh mà nói rằng em “quê lắm” thì chắc là em tự ái đỏ mặt lên! Đây không phải là cao hồ cốt, cũng chẳng phải là cao ban long, mà là... là “cơm đen” đó!

Đến lượt thị Minh tròn xoe đôi mắt:

- “Cơm đen”? Anh mò ở đâu ra được cái “của quỷ” này?

- Em đừng gọi nó là ở “của quỷ” nữa! Nó là liều thuốc tiên có thể cứu nguy cho mình đấy! Có nó thì anh và em sẽ có trong tay một chiếc “đũa thần” có thể xoay chuyền được tình thế đó! Truyện cổ tích ngày xưa, có người được ông tiên ban cho một chiếc đũa thần đề anh ta gõ vào mọi cửa lâu đài, ước cái gì, được cái ấy, có cả kho vàng và đương nhiên là có cả hạnh phúc tuyệt vời!

Thế rồi, sau câu nói đó, mặc cho vợ còn ngỡ ngàng đến tròn xoe cả hai mắt vì kinh ngạc, Lê Quý đã ôm chặt vợ vào lòng. Thị Minh tưởng như mình đến hết thở trong cái hôn đắm đuối hiếm thấy của chồng!

Và chỉ mới hơn hai năm buôn bán ở “cơm đen”, Lê Quý đã có cả trăm cây vàng, vì vậy, mặc dù cơ quan hành chính sự nghiệp của hắn đang có khó khăn, đang giảm nhẹ biên chế gián tiếp, nhiều người có khó khăn về đời sống thì vợ chồng Lê Quý vẫn cứ phây phây với nghề buôn nguy hiểm của mình. Hắn hí hửng nói riêng với vợ:

- Mấy ai đã có được “chiếc đũa thần”, như ta? Mặc kệ cuộc đời, ai có khó khăn thì cứ khó khăn, còn ta thì... đâu có khó khăn?

 Ấy vậy mà, hắn có ngờ đầu, hai “con mồi” của hắn là thị Liên và thị Mai lại đến nỗi sa lưới pháp luật? Mặc dù Quý đã căn dặn các mụ kia là: buôn bán “cơm đen” là chơi với lửa. Mỗi người trong đường dây đều phải tự mình lo lấy thân mình, đề xảy ra đỗ vỡ thì... mất nghiệp, lại còn có thể bị “đường dây” xử lý bằng “luật giang hồ”.

…Bây giờ đã xảy ra cơ sự này thì tự mình phải lo xa chạy, cao bay. Nếu cứ lấn cấn với mấy mụ vệ tinh này thì có khi lại ôm nhau chết chìm cả lũ mất thôi!

Vì vậy, lúc này là lúc mà Lê Quý phải “quyết”! Cái quyết định này của hắn, hắn chỉ nói nhỏ vào tai vợ hắn mà thôi:

 - Đang lúc anh được cơ quan cho nghỉ không ăn lương một năm, anh phải tạm lánh mặt xa hẳn Sài Gòn để đề phòng mọi sự bất trắc có thể xảy ra!

Thị Minh hỏi:

- Anh lánh đi đâu?

- Anh đi ngay bây giờ, ra xa cảng miền Đông đề đi Đà Lạt...

Thị Minh lo lắng:

- Giờ này còn xe đâu nữa mà đi?

- Anh lấy vé để sớm mai đi chuyến 6 giờ. Tối nay anh ngủ ở nhà một anh bạn, anh Tuyên, em nhớ không?

 - Em nhớ. Anh Tuyên ở Tân Bình phải không? Được đấy!

Lê Quý dặn vợ:

- Anh đi Đà Lạt, nếu có ai hỏi, em cứ nói là anh đi Cần Thơ, có lẽ là anh đi với bồ bịch nào đó. Em phải vờ tỏ ra nghi ngờ hoặc ghen tuông để đánh lạc hướng dư luận về anh, em hiểu chưa? Anh cũng không loại trừ cả khả năng chúng ta bị công an phát hiện và làm rầy rà. Nếu có bị hỏi thì em phải suy nghĩ kỹ khi trả lời và phải khôn khéo mới có thể thoát được...

Thị Minh còn đắn đo:

- Nếu ai đó, bạn bè, người quen, hoặc có thể cả công an nữa, hỏi em rằng: bao giờ anh về thì trả lời sao?

-  Em cứ nói rằng: cơ quan đã cho anh ấy nghỉ không lương, anh ấy đi miền Tây buôn lúa gạo với một cô bồ nào đó ở xa cảng miền Tây...

Thị Minh nhỏ nhẹ:

- Dạ. Em sẽ cố gắng.

Lê Quý như sực nhớ ra:

- Các con đâu cả rồi?

- Chúng nó đang xem tivi trên lầu.

- Anh phải lên hôn các con trước khi đi mới được. Ở nhà em nhớ chăm sóc cho các con nhé. Thằng Thành dễ hư lắm đấy. Con Ly thì ngoan rồi, anh cũng đỡ lo. Bây giờ em vào chuẩn bị cho anh vài bộ quần áo thay đồi và vài “cây”, tiền lẻ tiêu vặt anh có rồi.

Khác với mọi hôm, tối nay vợ chồng Lê Quý như linh cảm thấy một điều không may có thể ấp đến bất ngờ. Một người ở lại thấp thỏm lo âu. Một người lén lút ra đi trên con đường đầy chông gai, đe dọa...

 

7. BÓNG CHIM TĂM CÁ.

 

Văn Sinh tạm xếp tập hồ sơ vụ án mang ký hiệu M.2. Anh đặt bút, đứng lên đi đi, lại lại trong phòng. Anh không quên tự thưởng cho mình phần thưởng bẻ nhỏ là một điếu thuốc lá thơm. Đó là thói quen của anh mỗi khi đạt được một kết quả. Anh cũng muốn tặng cho Tuyết Lan, cô bạn trinh sát của anh, một vé đi xem phim “Nô tỳ ISAURA” đang chiếu ở rạp Mini-Rex. Anh sẽ nói với Tuyết Lan:

 - Nhờ có Lan mà anh Vũ Hùng đã kiên trì bám trụ, từ địa chỉ của thị Mai tìm ra địa chỉ của Hai Râu – tên thực là Lê Quý – một mắt xích quan trọng của đường dây ma túy. Rồi cũng từ lời cung của Bích Liên trong trại tạm giam mà anh đã tìm ra tội phạm thị Mai, khám nhà thị Mai, tịch thu thêm 0,5kg thuốc phiện và bắt giữ thị Mai, mở rộng cuộc điều tra vụ án. Anh đã hỏi Bích Liên: “Chị đã đi nghỉ với ai ở Nha Trang, và đi nghỉ với ai ở An Giang? Chắc chị chưa quên hai người bạn này? Chúng tôi có đầy đủ chứng cớ do các khách sạn cung cấp, và cũng có địa chỉ của thị Mai, thị Kim và một số người khác có liên quan đến những gói “cơm đen”, của chị. Chị hãy khai báo cho đúng. Chị làm sao giấu được chúng tôi?

Với thị Mai, Văn Sinh đã hỏi:

- Chị đi với ai vào quán phở bắc “Thủy Tiên” sau đó lại cùng nhau lao xe máy về đường Cách mạng tháng 8. Con người có bộ râu đẹp ấy đã trao cho chị bao nhiêu hàng, bao nhiêu lần? Chị có cần xem tấm hình chụp chị cùng ngồi ăn phở với hắn không?

Thị Mai đã thú nhận tất cả mối quan hệ buôn bán với Lê Quý. Song có một điều hoàn toàn giống với thị Kim là thị Mai chỉ biết đến Lê Quý là người có hàng, còn Lê Quý nhận hàng từ đâu, của ai, thì hoàn toàn... mù tịt!

Hai lời khai của hai “vệ tinh” này ở hai thời điểm khác nhau đều giống nhau, đủ để cho Văn Sinh thấy cái lô-gic của vấn đề. Bởi vì thị Mai, thị Kim đều là đầu mối tiêu thụ, ở “đầu ra” cho nên không thể biết được “đầu vào”, đó là nguyên tắc phải có của bất cứ đường dây buôn lậu nào! Buôn lậu ma túy lại càng “tuyệt mật”. Kẻ nào để lộ đường dây còn phải xử theo luật rừng kia mà. Cho nên Văn Sinh tạm chấm một dấu chấm ở địa chỉ của tên Lê Quý.

Từ đó, anh biết thêm được Lê Quý và vợ là thị Minh đều là cán bộ, nhân viên từ miền Bắc vào công tác tại Sài Gòn từ năm 1976, hắn đã chuyền qua ba cơ quan, sống tròn như một viên bi, hiện nay cả hai vợ chồng đang nghỉ việc không ăn lương...

Văn Sinh thấy thời gian điều tra mới chưa đầy một hai tháng, và tổ trinh sát chỉ có năm người, đạt được bấy nhiêu kết quả đã là khá lắm.

Thời gian tới sẽ còn nhiều thử thách mới trong việc điều tra đường dây bí mật này.

Phương án II bắt đầu hình thành trong tâm trí anh trinh sát trẻ...

Một tuần sau, buổi chiều thứ bảy, Tuyết Lan gõ cửa phòng làm việc của Văn Sinh, báo một tin quan trọng:

-  Lê Quý đã chạy khỏi Sài Gòn từ năm ngày nay rồi. Theo vợ hắn cho biết thì hắn đã đi Cần Thơ với một cô gái mà vợ hắn nghi là bồ bịch gì đó!

Văn Sinh tủm tỉm cười:

- Lan nghĩ thế nào về nguồn tin ấy?

Tuyết Lan hồn nhiên nói:

- Em đã cử người tiếp cận với thị Minh, xác minh việc Quý vắng nhà là có thật. Song hắn đi Cần Thơ thì chưa chắc đã là đúng.

- Vì sao?

- Vì có thể hắn đồng tình với vợ nói như thế đề đánh lạc hướng điều tra của chúng ta...

Văn Sinh gật đầu:

- Vậy thì hắn đi đâu?

-  Em chưa rõ.

Văn Sinh nhìn thật sâu vào đôi mắt của Lan:

- Tôi dự đoán một hướng đi của Quý: hắn quê ở miền Bắc, còn có cha mẹ, anh em ngoài đó. Có thể là nguồn “cơm đen” cũng từ phía Bắc đưa vào như vụ thị Phương, quê Nghệ Tĩnh, vào đây lấy lão Coóng làm chỗ dựa để đưa hàng từ Bắc vào Nam, ta đã phát hiện hai năm trước và đã tịch thu 26 kg thuốc phiện, xử 12 năm tù giam. Hơn nữa, các vụ “cơm đen” ta bắt được mấy năm nay đều là thuốc phiện Bắc Hà, Mường Xén từ Bắc đưa vào Nam bán cho các tiệm hút Sài Gòn, bán cho bọn chích xì ke ở đây, phần còn lại bán cho tàu Viễn Dương hoặc đưa sang Cam-pu-chia, Băng Kốc...

Tuyết Lan tỏ ra phục Văn Sinh dầy dạn kinh nghiệm:

 - Anh nói có lý. Như vậy hướng điều tra của ta có thề còn phải phát triển ra Bắc?

- Phải báo cáo, xin ý kiến của Ban chuyên án trước khi triển khai, song tôi lại nghĩ thêm: nhỡ Lê Quý vẫn còn lẩn lút ở Sài Gòn thì sao?

Tuyết Lan thận trọng hơn:

- Em chưa trả lời anh câu hỏi này được, cần có thời gian.

Văn Sinh thân mật hơn:

- Tôi có dự đoán một vài tình huống, một vài giả thuyết, một vài trận đánh sẽ diễn ra... Tất cả đã được ghi vào bản dự thảo phương án III để trình Ban chuyên án...

o0o

Ông Xuân Sơn, trưởng phòng tổ chức công ty thực phẩm, đặt trước mặt Văn Sinh một công văn của công ty báo cáo việc Lê Quý, cán bộ nghiệp vụ trong thời gian xin nghỉ việc không ăn lương đã trốn bỏ Tổ quốc, vượt biên ra nước ngoài từ hai tuần nay theo đơn trình bày của vợ là Nguyễn Thị Minh.

Bên cạnh văn bản báo cáo của công ty còn có thêm cả bức thư của Lê Quý gửi từ Cần Thơ về Sài Gòn cho vợ trước khi xuống thuyền vượt biển. Đọc xong báo cáo, Văn Sinh xem tiếp đến bức thư của Quý gửi thị Minh.

Em yêu quý và các con!

Khi em nhận được lá thư này thì anh đã ở rất xa Tổ quốc, nếu không có bão và không gặp hải tặc thì anh có thể đã đổ bộ lên bờ biển Mã Lai hoặc Phi-lip pin rồi! Em gắng tần tảo nuôi con, khi anh đã được định cư sẽ bảo lãnh cho em và các con cùng sang đây với anh.

Chồng của em.

Lê Quý»

Văn Sinh hỏi ông trưởng phòng tổ chức:

- Trong trường hợp này có phải vì cơ quan ta đang có khó khăn không?

- Không phải như vậy, vì từ lâu vợ chồng Quý vẫn buôn bán và có thu nhập khá. Theo vợ anh ta cho biết thì có thể vì Quý mê gái mà đi di tản.

Văn Sinh cảm ơn và nói:

- Chúng tôi ghi nhận báo cáo của các đồng chí và xin lưu giữ các tài liệu này. Nếu có tin tức gì mới nữa, các đồng chí nhớ cho chúng tôi biết sớm.

Tiễn trưởng phòng tổ chức ra về, Văn Sinh quay vào với những băn khoăn day dứt:

- Lại thêm những diễn biến mới chung quanh cái đường dây bị ẩn này. Ta sẽ phải làm gì nữa đây?

Anh sắp xếp lại hồ sơ để kịp thời báo cáo với đại tá Trần Vinh.

 

8. ĐI NGƯỢC ĐƯỜNG DÂY RA BẮC.

 

Buổi sáng mùa thu mát dịu.

Hà Nội bước vào một ngày mới. Phố xá tấp nập người đi làm. Tiếng còi xe inh ỏi.

Văn Sinh thả bộ trên đường Thanh Niên. Tầm mắt anh dõi theo bóng mấy con chim sâm cầm đang bay qua mặt Hồ Tây lộng gió.

Đi bên Văn Sinh là thiếu úy Đỗ Vân, người bạn trinh sát Hà Nội mới được cử phối hợp điều tra với công an thành phố Hồ Chí Minh.

Đỗ Vân kể chuyện lai rai về mấy ngày khoanh vùng truy tìm đối tượng:

- Mình có rà soát một số đối tượng trong số bè bạn và người quen thân của Lê Quý ở Hà Nội. Còn lại một đối tượng nổi cộm lên là Phan Chi, người anh họ bên ngoại của Lê Quý. Ông này tuổi tròn 50, là trợ lý giám đốc công ty, lương bậc chuyên viên 2, có vợ nghỉ mất sức, bà này mở một quầy bán sách báo, văn hóa phẩm có thu nhập bình thường. Đôi vợ chồng này có một cô con gái độc nhất 19 tuổi. Nếu chỉ làm ăn lương thiện như thế thì gia đình Phan Chi phải có mức sống chật vật so với vật giá Hà Nội hiện nay. Song, cứ như cô con gái khoe với bạn bè thì gia đình này giàu sang nhất ở khu phố này, một sự “giàu ngầm” mà chẳng mấy ai hay! Nghiên cứu về Phan Chi, tôi được biết: anh ta không có nghề chuyên môn, một người ở cơ quan sống “ba phải”, có nhiều năm làm thi đua, rồi công đoàn, rồi trợ lý giám đốc, sống tròn như một hòn bi, người hiểu biết thì chê anh ta chỉ biết “ăn theo –nói leo”, người nông cạn thì thích anh ta ở điểm “dĩ hòa vi quý”, cần cù, và... “có đạo đức”. Anh ta thì lại lấy tiếng cười hề hề làm cách sống, bữa tiệc nào cũng... nâng cốc, cụng ly! Vậy thì bằng cách nào mà anh ta có cuộc sống rất “vương giả”. Vào thăm ngôi nhà anh ta — một căn hộ khép kín có 4 phòng — thì sẽ thấy tất cả “của nổi” của anh ta đều là tiện nghi sinh hoạt đắt tiền, toàn hàng Nhật Bản, Thái Lan có giá trị bằng 5–7 cây vàng. Chỉ khoản thuốc là tiếp khách và hút thường xuyên cũng là ba số 5, Samit, Héro... Nói rằng mức sống gia đình Phan Chi cao hơn gia đình Bộ trưởng cũng không ngoa! Hoặc không thua kém giới thương mại Hàng Đào cũng được. Anh ta không có con đi Tây hoặc bà con ở nước ngoài. Chúng tôi đi đến kết luận rằng: Vợ chồng Chi phải buôn bán cỡ bự.

Văn Sinh vẫn giữ thói quen: nghe là chính, nghe và nhớ kỹ! Với ý thức tôn trọng bạn bè, anh cứ đề cho Đỗ Vân kể chuyện tùy hứng.

Đến cuối đường Thanh Niên, đôi bạn trai ghé ngồi xuống một ghế đá, quay mặt về phía Hồ Tây.

Văn Sinh mời Đỗ Vân hút thuốc, rồi lại nghe bạn kể tiếp câu chuyện về Phan Chi:

 - Tuần trước, gia đình ông trợ lý giám đốc Phan Chi xảy ra một chuyện làm ầm ĩ phố phường, cảnh sát phải đến can thiệp, mới giải tỏa được đám đông hàng trăm người tò mò quây kín vòng trong, vòng ngoài trước cửa. Đó là trận đánh ghen kinh khủng của bà vợ máu Hoạn Thư, tính nết “Sư tử Hà Đông” của bà ta làm cho bà ta nổi trận tam bành. Chuyện là như thế này: tranh thủ lúc bà vợ đi vắng, ông chồng đã đưa một cô bồ vào phòng khách và không cài then của. Bất ngờ quên ví tiền, bà vợ quay về lấy chợt nghe tiếng nỉ non tình tự “anh anh, em em” của đội gian phu dâm phụ, bà ta nhón gót đi đến bên cửa, ghé mắt nhìn qua lỗ khóa, bắt quả tang “Chàng” đang ôm ấp “Nàng” và… hôn nhau đắm đuối! Ấy thế là đất bằng sóng dậy, bà ta hét lên và đạp tung cánh cửa:

-  A! Gớm chưa? Đẹp chưa kìa! Con ơi, hàng xóm, láng giềng ơi! Sang mà xem ông cán bộ đang “ưu ái” nhân viên kìa! Ối giời đất ơi! Thảo nào mà tiền của cứ đi đâu! Túi vơi, túi đầy bao nhiêu cũng hết! Thì ra anh còn phải bao em!

Nói rồi bà ta xông vào túm ngực, túm tóc cô bồ:

- Con khốn nạn, con phò, con phạch, tao thề xé xác mày ra! Này bồ này! này bịch này!

Mỗi câu nói thịnh nộ lại kèm theo một cái tát, một cải đấm! “Chàng” phải xông ra cứu “Nàng”, vừa gỡ tay vợ, vừa che cho bồ:

- Thôi mà! Bà làm gì mà dữ dằn vậy! Thôi tôi xin bà! Bà bêu xấu tôi thì xấu cả bà, xấu cả cái nhà này!

 Ông ta gạt phắt vợ ra và lôi được cô bồ ra cửa, đẩy cô ta sang nhà hàng xóm. Tiếp đó là ly chén vỡ loảng xoảng. Bà con hàng phố kéo đến vây quanh, bình phẩm mỗi người một câu. Bà ta mặt mũi hầm hầm đứng ngay trước cửa phân bua:

- Nó là nhân viên kế toán cơ quan đấy! Lợi dụng tôi vừa ra khỏi nhà, nó lên ngay vào phòng khách, ôm lấy... “bố” nó đề làm tiền! Con khốn kiếp! Kỳ này thì tôi cho nó mất việc, cho nó tan cửa, nát nhà luôn!

Ông Phan Chi mặt còn tái mét, chạy ra run rẩy nói:

- Thôi tôi xin bà! Cô ấy đến đưa thư của giám đốc mời đi họp mà!

Được thể, bả vợ lại thịnh nộ:

- Họp à! Họp ở cái ghế đi-văng kia kìa!

 Ông chồng thấy cần phải thực hiện cải quyền làm chồng, ông quát:

- Có im đi không, ông cho mấy cái tát vỡ mặt bây giờ!

 Tức thì bà vợ tru tréo:

 -  Muốn giết tao hả? Tao truyền đời cho mà biết: tao sẽ cho hai đứa chúng mày đi tù vì buôn gian, bán lậu! Tù mọt gông, tù rũ xương, hiều chưa? Gái đĩ còn già mồm! Còn bênh nó hả? Vừa ăn cướp, vừa la làng! Ối giời ơi! Có ai khốn khổ như tôi không? Vừa mất của, lại vừa mất chồng, thiệt đơn, thiệt kép!

Khi cảnh sát khu vực đến can thiệp thì hai cảnh cửa mới được khép lại, bà con mới lục tục ra về và cô bồ từ bên nhà hàng xóm, áo xoạc vai, tóc rối bù, chạy lao ra đường, vẫy xích lô chuồn thẳng.

Văn Sinh càng nghe càng bật cười, anh hỏi Đỗ Vân:

-  Thật là đại bi hài kịch! Ghen chi mà ghen quá trời? Phụ nữ miền Bắc còn dữ dằn hơn cả mấy bà, mấy cô Sài Gòn đó.

Ngừng một lát, Văn Sinh lại hỏi:

- Mấy anh đánh giá thế nào về hiện tượng đánh - ghen này?

- Chúng tôi cho rằng “sự kiện” này xảy ra ngoài ý muốn của vợ chồng Phan Chi vì từ trước đến nay họ kín tiếng lắm, làm ăn ra sao có ai biết? Chỉ thấy của cải đem về đầy nhà thì ai cũng cho là ông này thân giám đốc, nên vơ vét được nhiều. Song qua vụ đánh ghen, nó bục ra một nhược điểm thông thường của bà vợ là bà ta đã khẳng định rằng: ông chồng đã lấy tiền của bà đi bao gái. Ông chồng vì bị mất mặt nên nổi khùng. Bà vợ buột miệng nói toạc móng heo: “Tao sẽ cho chúng mày rũ tù vì buôn gian, bán lậu. Chúng tôi chú ý ngay đến câu nói này của bà vợ, nó gián tiếp tự tố cáo rằng họ phất lên vì buôn lậu! Buôn lậu mặt hàng gì, có liên quan gì đến Lê Quý và Bích Liên là việc ta phải xác minh.

Văn Sinh gật đầu:

 - Anh nói có lý. Mấy bữa nay tình hình đến đâu rồi?

- À, không khí gia đình ấy vẫn còn căng thẳng, song vì sĩ diện và vì chuyện làm ăn, nên vợ chồng Phan Chi phải tạm hòa hoãn...

Văn Sinh:

- Theo tôi, thì ta nên triển khai điều tra về cách làm giàu đầy bí ẩn của Phan Chi xem sao...

Đỗ Vân nói:

– Tôi hoàn toàn nhất trí với anh.

o0o

Chiếc xe Lada màu vàng từ Sơn La qua chợ Bờ, suối Rút về đến thị xã Hòa Bình thì trời đã tối. Xe dừng lại một quán phở bên đường. Từ trên xe bước xuống, Phan Chi bảo lái xe:

 – Kha! Ta vào đây làm bát phở cho ấm cái bụng đã!

Hai người gọi hai bát tái và ngồi ăn ngay ở bàn đầu. Đến tô thứ hai thì cả hai đều đã thấy bụng no anh ách.

Phan Chi bảo Kha:

- Tớ không muốn mời cậu uống rượu vì sợ cậu say loạng choạng lại đưa xe xuống ruộng thì phiền!

Kha cuời:

– Không sao! Xin anh yên tâm, em có thèm rượu đâu! Về Hà Nội thì tha hồ say. Dọc đường cần an toàn trên hết!

Hai người trả tiền phở rồi lên xe về Hà Nội. Họ không thể ngờ, một chiếc xe mô-kích chở hai trinh sát đã bám theo họ từ lâu cách xa chừng trên 200 mét. Riêng lái xe Nguyễn Văn Kha thì rất khoái với miếng võ “mê hồn trận”, gã đã đưa được trợ lý giám đốc Phan Chi vào đường dây ma túy. Kha đã có hàng chục cây vàng, làm được một nhà mái bằng ở gần khu Trương Định, ngoài ra còn góp vốn với Phan Chi 5 cây vàng nữa. Kha không thể nào quên được buổi ban đầu “đặt vấn đề” với Phan Chi...

 Hôm ấy, trước đây hai năm, một buổi sớm tinh mơ... ông Phan Chi vừa thức dậy. Bên hàng xóm, đồng hồ nhà ai đã điểm năm tiếng. So với ngày thường thì hôm nay ông Phan Chi dậy sớm hơn. Ông dậy sớm vì từ tối hôm qua ông nghe tin có ông bạn Hàng Không đến chơi. Ấy thể là ông lục sục suốt đêm, ít ngủ hẳn, cứ chập chờn mong trời mau sáng. Chuyện làm ăn mà không lo sao được, không vui sao được!

Ông tắt ngọn đèn ngủ và bật ngọn đèn sáng. Ông bước sang phòng khách, pha một ấm trà “móc câu”, loại trà Thái Nguyên ngon có tiếng. Ông rút một điếu thuốc lá ba số 5, bật ngọn lửa ga, ngồi ghếch chân lên bàn, ngả đầu ra phía sau, lim dim đôi mắt trên chiếc ghế sa-lông cẩm lai bọc đệm nhung màu mận chín, thở từng hơi thuốc lững lờ.

Ông ngồi im lặng, mặc cho vợ con cứ việc ngủ say ở phòng bên trong. Ông thật mãn nguyện với cách sống riêng của mình. Ngày thường giò chả ăn đã bã cả miệng, còn thèm khát gì đâu! Hôm nay có bạn đến chơi thì tùy khách, ông ta thích thứ gì, có thứ ấy. Gà mái tơ nhốt cả chục con trong chuồng đề lấy trứng ăn. Mở tủ lạnh ra thì tầng trên là táo Trung Quốc, đường sữa Liên Xô, bia lon Tiệp Khắc. Tầng dưới là chim quay, cá rán. Tùy khách thích món gì ông cũng chiều ngay.

Bà vợ ông Chi và cô con gái quý thì... vụng ơi là vụng! Có phải người gốc Hà Nội đâu mà khéo tay xào nấu. Cả ông và bà đều quê Nam Định, đặc sệt nông dân, mới nhập cư Hà Nội từ cuối năm 1951 thôi mà! Mấy năm trước còn nghèo thì cơm dưa muối, vợ con ông cả tháng mới mua vài ba lần thịt cá. Vài năm nay khác rồi. Của cải vào nhà ông như nước chảy. Nhà ông mua sắm đủ loại tiện nghi sinh hoạt đắt tiền. Còn thực phẩm thì... cửa hàng cung cấp Tôn Đản thời bao cấp ngày xưa còn kém xa. Tất cả thức ăn sống, chín đều mua ngoài chợ. Tiêu tiền không cần đếm nữa. Mỗi tháng bán đi năm ba “chỉ” là thừa mua sắm.

Cái quầy hàng bút giấy, sách báo của bà gọi chung là “Dịch vụ văn hóa phẩm” bán được bao nhiêu thì bán, chỉ cốt đề “che mắt thế gian” thôi. Quan trọng là cái khoản dịch vụ “sau quầy hàng” của ông bà. Mà cái chuyện làm ăn riêng lẻ này thì mấy ai biết được!

Bề ngoài ông vẫn là cán bộ cơ quan nhà nước đĩnh đạc ở tuổi năm mươi. Nghề của ông thì ôi thôi khỏi phải bàn nhiều, tha hồ trịnh trọng vào Nam ra Bắc, lên Vôn-ga, xuống Lada, cái thứ com-măng-ca thì ông... chê! Ngày xưa ông nói “tự cấp, tự túc”, ngày nay ông nói “năng động, tự chủ, sáng tạo” cho hợp thời trang thế thôi, chứ theo ông ta thì... Ối trời ơi, còn là vô vàn khó khăn. Cách sống ở cơ quan của ông là... gió chiều nào, che chiều ấy, xuề xòa lại được lòng anh em. Ông nói: “Cuộc đời này như bản báo cáo tôi viết hầu giám đốc của tôi ấy mà, nghĩa là khó khăn khắc phục, vươn lên đạt nhiều thành tích và cuối cùng là còn có vấn đề tồn tại, mong các vị “chỉ ra đề chúng tôi rút kinh nghiệm làm tốt hơn năm trước”. Đại loại là như thế và ông đã sống an nhàn, rất vui vẻ! Thế nhưng nếu ông ta chỉ làm “trợ lý”, vợ lại về nghỉ mất sức rồi, bán mấy thứ văn hóa phẩm kia thì vắt mũi chỉ đủ đút miệng, không thiếu đói là may. Nhận quà cáp tí chút thì được chứ ăn hối lộ thì gay. Vả lại ông có là giám đốc đầu mà người ta hối lộ. Cho nên đến cái tuổi 48 rồi-  năm kia - cách đây 2 năm, ông mới gặp vận may, ông bèn... chuyển hướng!

Trúng quả đầu tiên, kiếm được bạc triệu, ông vỗ đùi đen đét nói với bà rằng:

- Chả lẽ tôi lại cứ vất vả mãi, cứ cắp cặp hầu giám đốc mãi sao? Thật là trời có mắt. Mồ mả họ nhà ta đến ngày phát to rồi bà ạ! Cuộc đời này, mình phải sống cho mình trước đã! Bấy lâu ta ngu quá, u mê quả. Nay phải tỉnh ra mới được! Thế là ông lao vào cuộc làm lớn! Ông nhớ lại mà vui... Ấy là cái buổi chiều hôm ấy, đến nay đã hai năm rồi, cả Hà Nội đang giờ tan tầm người, xe đổ ra đường đồng như trẩy hội, ông đi làm về thì anh lái xe cho giám đốc đã ngồi chờ ông ở phòng khách.

Hắn mở đầu câu chuyện:

- Em thấy anh chị sống khổ quá.

Ông cũng cởi mở:

- Ừ, sao? Tớ đi công tác với giám đốc lần nào cũng được lái xe cho đi đến nơi, về đến chốn. Suốt ngày làm báo cáo, báo cầy đã hết cả thì giờ. Có biết buôn bán, xoay xở gì đâu mà giàu có được.

- Ấy vì vậy mà em muốn giúp anh một tay đấy!

- Ử, cậu Kha cử nói đi xem nào!

 Kha xòe tay:

- Này nhé: anh là trợ lý giám đốc, em là lái xe. Em có một ông bạn làm ăn khá lắm, kiếm tiền vạn, tiền triệu muốn mời em cộng tác. Nếu được anh hỗ trợ, cùng cộng tác thì anh em mình phất lên ngay thôi!

 - Nhưng mà làm gì chứ?

- Buôn! Buôn, anh ạ!

 Ông nóng lòng muốn biết, nên hỏi:

- Buôn hàng gì mới được chứ?

- Từ mạn ngược về miền xuôi, thiếu gì thứ buôn được? Mình có xe cộ trong tay, thuận lợi hơn con buôn nhiều. Em chỉ cần anh đừng khinh em, coi em là làm ăn phi pháp thì em mới dám nói. Một mình em phải nuôi bốn cái tàu há mồm, chỉ trông vào lương ba cọc, ba đồng thì đói nhăn răng…

- Ử, lại buôn măng, nấm hương, mộc nhĩ, lâm sản chứ gì?

- Không phải!

-  Mật ong hay gỗ lát?

 - Không phải!

- Hay đồng, chì, nhôm, hoa hồi?

- Không phải! Anh cố đoán xem sao...

-  Chịu! Thế thì tớ chịu cậu!

- Tất cả các thứ anh vừa kẻ chẳng lời, lãi bao nhiêu mà lại vất vả! Em chọn thứ hàng nhẹ, lãi to mà rất gọn. Là cái gì, anh có biết không? Đó là cái khoản “cơm đen!”.

Ông Chi mở to mắt, kinh ngạc:

 - Cậu không nói đùa đấy chứ? Cậu tìm ở đâu ra cái của “quốc cấm” ấy?

 - Họ tìm đến em, thử thách em và đưa em “nhập hội”. Em đi mấy chuyến rồi nhưng còn bí chỗ bán, tức là nơi tiêu thụ, cái “đầu ra” ấy! Anh xem có giúp em được không?

Ông Chi kêu lên khe khẽ:

 - Kha ơi! Nguy hiểm lắm, tù như chơi.

Kha curời:

 - Anh nhút nhát quá! Em lái, có giám đốc và anh ngồi trên xe con, ai ngờ mà khám. Em lại vi vu quen khá nhiều công an, thuế vụ, em đi qua cử tỉnh bơ. Anh nào vui vẻ, tử tế thì mời điếu thuốc lá. Cứ bỏ vào cốp xe hoặc nhét vào bánh “xơ cua” ai ngờ gì đầu? Nếu cẩn thận hơn nữa thì mua vài bỏ củi, vải cân măng tươi, vài con gà bỏ bừa bãi lên trên là ổn. Em chở thuê, anh bán, sau này có vốn thì hùn vốn buồn chung…

Từ bấy đến nay, Phan Chi đã phất lên, có số vốn hàng trăm cây vàng. Kha cũng thấy thực hiện được giấc mộng làm giàu mà từ trước đến nay gã chưa có điều kiện làm. Trong chuyến đi này, Kha đã nghe Phan Chi phàn nàn rất nhiều về cái máu ghen tuông của vợ làm cho Chi mất mặt đã đánh, lại còn làm lộ cả bí mật việc buôn bán nữa chứ!

 Kha nói:

- Nếu lộ bí mật mà đổ bể thì anh phải chịu trách nhiệm đấy. Cho nên em nghĩ: ngay hôm nay, anh phải báo động cho ông Hoàng, để nếu có chuyện gì xảy ra thì ông ấy không còn trách mình được nữa chứ!

Phan Chi cho ý kiến của Kha là phải, nên ông quyết định đưa Kha đến gặp ông Hoàng để Kha đỡ lời cho ông, bởi vì ông biết ông Hoàng còn có tên là “Hoàng Đại Ca” – là người rất khắc nghiệt, chịu trách nhiệm “đi mây về gió” chuyển vận “cơm đen” qua đường Hàng Không từ Nội Bài vào sân bay Tân Sơn Nhất.

Chiếc xe Lada dừng lại trong một ngõ hẻm sau đường Ngũ Xã, ven Hồ Tây.

Ngôi nhà nhỏ của Hoàng Đại Ca rực ánh đèn. Hoàng đang ngồi nghe nhạc Disco.

Thấy hai người khách bước vào, Hoàng vồn vã:

- Xin chào! Xin chào! Hôm nay “thủ trưởng” của tôi sang quá!

Phan Chi giới thiệu với Hoàng:

 - Giới thiệu với anh: anh Kha, lái xe, một cộng sự thân tín của tôi.

 - Rất hân hạnh! - Hoàng Đại Ca xiết chặt tay anh lái xe.

Cả ba ngồi vào bộ ghế cẩm lai. Sau mấy câu chuyện thời tiết, Chi nhập đề ngay:

- Anh Hoàng ạ, mấy bữa nay tôi không có tin tức gì ở trong kia! Tôi e rằng có chuyện không bình thường chăng? Vì vậy tôi nhờ anh, ngày mai có chuyến bay buổi chiều, anh vào trong ấy thẩm tra dùm tôi một chút nhé!

Hoàng cười sảng khoái:

– Sẵn sàng!

Kha kể thêm:

-  Anh Hoàng ạ, ở nhà anh Chi cũng có một chuyện đáng tiếc xảy ra.

Hoàng thản nhiên:

- Chuyện bà Chi “Hoạn Thư” chứ gì!

- Dạ, đúng! Sao anh biết?

-  Biết chứ, chuyện đánh nhau, chuyện cướp của, giết người, chuyện giám đốc đi tù, tôi đều biết cả. Tụi đàn em đưa tin rất chính xác...

Mới nghe câu nói của Hoàng, Phan Chi ngượng chín cả người vì chuyện mình “ăn vụng” mà không biết “chùi miệng”, vì cái thói lăng loàn của vợ, vuốt mặt mà không nề mũi, chẳng biết “xấu chàng thì hồ ai”. Cái quan trọng bậc nhất và thậm tệ nhất trong trận đánh ghen ấy là những câu nói có thể làm cho nhiều người chú ý đến việc buôn bán, làm ăn phi pháp của mình.

Thấy được sự bối rối, lo âu của Phan Chi, Hoàng Đại Ca chống hai tay lên đầu gối, đôi mắt gườm gườm nhìn hai ông khách rồi cười lạnh lùng mà phán quyết:

- Ông Chi quá vụng về, sơ hở, cái chuyện bồ bịch làm lộ liễu quá, nên mới tan hoang cửa nhà, mà “làm ăn” cũng bất ổn. Việc này là đột xuất, không liên quan gì đến sự trục trặc ở trong Nam, nếu có. Song vì công việc chung, tôi xin góp ý: Ông Chi chấm dứt ngay mọi chuyện bồ bịch, bê bối đề cho yên ấm cửa nhà, chớ đề cái sảy nảy thành cái ung. Còn việc trong Nam, ngày mai tôi vào nắm lại đường dây, khi tôi bay ra mới dám có ý kiến. Ngồi đây mà phán quyết thì lại quan liêu cả lũ! Thôi xin tạm biệt. Các vị cho phép tôi đi nghỉ sớm để mai còn bay!

Phan Chi rút từ trong cặp ra một gói hàng được bọc phía chung quanh bằng một lớp bánh quy có dán nhãn hiệu “Hải Châu” và nói nhỏ vào tai Hoàng Đai Ca:

- Phẩm chất, định lượng như lần trước!

Hoàng nhận gói hàng, xiết chặt tay hai người bạn, tiễn ra cửa.

Chiếc xe Lada quay đầu đi về phía đường Nguyễn Trường Tộ. Phan Chi và Kha không hề biết rằng cùng lúc ấy ở quán nước đầu dốc chợ Châu Long, chiếc xe mô-kích chở hai trinh sát đang đỗ lại dưới bóng cây sấu bên đường.

 

9. NỖI KHỔ TÂM CỦA MỘT BÀ VỢ.

 

Gia đình Phan Chi hôm nay có khách từ miền Nam ra. Đó là thị Kim, người đàn bà ít nói, có nét mặt u buồn. Sau một giờ trao đổi chung, Phan Chi đã bỏ lên gác nằm. Ở phòng khách chỉ còn hai người đàn bà: vợ Phan Chi và thị Kim.

Vợ Phan Chi than thở:

- Đấy, chị thấy chưa, ông ấy làm khổ tôi biết chừng nào. Nhà này còn có thiếu thứ gì mà lại lắm chuyện lôi thôi với cái con Phương, nhân viên kế toán của công ty? Trong Nam thì như chị nói bà Bích Liên, bà Mai bị bắt, bị khám nhà, bị tịch thu hàng, rồi lại chuyện chú Quý vượt biên, chạy trốn ra nước ngoài. Công an họ đang điều tra, như thể là vỡ lở mất rồi. Việc làm ăn chẳng lo, lại còn bồ với bịch, có sốt ruột không chứ!

Thị Kim lựa lời an ủi:

- Thôi chị ạ, đàn ông thì ông nào chả có cái tính “lơ mơ” như vậy. Chị nên bỏ qua cho anh ấy để gia đình vui vẻ trở lại mà lo việc làm ăn.

Vợ Phan Chi miễn cưỡng phải nghe theo:

 - Nếu ông ấy “cắt đứt” với con phải giỏ kia thì tôi cũng tha cho. Đấy, chị xem, từ hôm vợ chồng lủng củng thì con Nguyệt, con gái tôi cũng bỏ đi suốt, nó buồn lắm, hôm nào cũng đi đến khuya. Rồi nó bảo: Bố mẹ có thấy xấu hổ với nhà bác Dương không? Chả là con bé đang yêu thằng Tuấn, kỹ sư, con trai ông Dương. Ông Dương lại là vụ trưởng, nhà người ta danh giá lắm...

Thị Kim thấy vợ Phan Chi đã nguôi nguội, mới nói:

- Anh Lê Quý vượt biên rồi, công an nhất định họ theo dõi, chị nên tạm ngừng việc giao hàng vào nhé. Lỡ ra mà họ vồ được thì lại mất cả chì lẫn chài!

 Vợ Phan Chi phát hoảng:

- Chết nỗi, nhà tôi vì không biết tin chú Quý trốn đi nên vẫn gửi hàng qua đường máy bay vào đó!

Thị Kim thở dài thườn thượt:

- Thế có chết không? Em lo cho cô Minh, vợ chú Quý lắm. Lớ ngớ lại ra chỗ hẹn, công an tóm được thì khốn khổ. Chị ạ, từ hôm chú Quý bỏ đi, em chỉ dám gặp cô Minh có một lần, nói được vài câu, cô ấy tháo cái nhẫn 3 chỉ đeo ở tay đưa cho em, bảo em ra ngay Hà Nội báo tin cho anh chị biết. Em liên hệ được với một xe du lịch, khởi hành từ 4 giờ sáng, đi ngày, đi đêm ra đây đấy! Công việc làm ăn như vậy là xấu đi lắm rồi. Vận hạn cả thôi chị ạ. Em đã biện cái lễ lên chùa Vĩnh Nghiêm ở Sài Gòn rồi đề mấy vị hòa thượng ở đó lễ giải hạn cho em. Ngày mai chị dẫn em lên chùa Quán Sứ nhé. Có thờ có thiêng, có kiêng có lành, em tin lắm chị ạ. Phải làm lễ giải hạn đi, cái vận, cái hạn nó còn theo đuổi mình thì chỉ có thua lỗ, gặp cái đại hạn thì còn tù tội nữa chứ! Em thấy cô Minh vợ chú Quý cứ khóc ròng, khóc sưng cả mắt đấy!

Vợ Phan Chi cũng thở dài:

- Chú Quý giao dịch thế nào mà lại để lộ, cho nên bà Bich Liên mới bị bắt, rồi lại bắt lây lan sang cả bà Mai nữa chứ! Công an kinh tế Sài Gòn họ tinh lắm. Chỗ nào chả có công an mật, tại sao lại không cảnh giác?

Thị Kim rầu rầu nét mặt:

- Em nghe là vì bà Bích Liên qua lại nhà lão Quảng Phát tìm mối bán thuốc, chẳng may lại “cặp” ngay với “cá chìm”, thế là... đi tiêu một ký thuốc tốt, lại còn tù nữa chứ! Rõ khổ!

o0o

Chiều hôm sau, trong lúc vợ Phan Chi cùng với thị Kim lên lễ ở chùa Quán Sứ thì Hoàng Đại Ca từ Sài Gòn bay ra. Hắn đã đi xe máy đến ngay nhà Phan Chi.

Khép chặt của phòng khách, hắn rút từ trong túi du lịch ra gói hàng hôm trước để trả lại Phan Chi:

- Các ông làm ăn như vậy thì chết cả lũ! Thằng Quý bỏ trốn đi đâu rồi. Vợ nó nói là vượt biên! Còn hai mụ Bích Liên và Mai đều bị khám nhà, tịch thu hàng và tạm giam. Thế mà ông cứ bình chân như vại ở đây!

Phan Chi cãi:

- Tôi thấy mất liên lạc, đã có nghi vấn và tôi đã nhờ ông vào thầm tra đó thôi.

Phan Chi vờ như không hề có chuyện thị Kim vừa ra báo tin Lê Quý bỏ trốn ra nước ngoài. Hoàng Đại Ca vẫn còn giận dữ:

-  Như vậy là đường dây lộ rồi. Ở ngoài này, công an nắm được đến đâu thì chưa rõ, nhưng tôi với ông và thằng Kha phải đề phòng. Chưa bao giờ tôi thấy gay go như lúc này. Ông có biết không? Vào Sài Gòn tôi cải trang và đến động Phù Dung ngay, nghe lão Quảng Phát nói lại, tôi rụng rời cả chân tay, chẳng thiết gì nữa, ba chân, bốn cẳng bay ra ngoài này ngay, chẳng còn thì giờ đầu mà “du hý”! Tôi dặn ông nhé: hàng hóa còn gói nào thì sơ tán ngay khỏi nhà mình, cắt đứt ngay mọi mối quan hệ với bên ngoài, với cả Sài Gòn nữa. Tạm thời “án binh bất động”, nghe ngóng một thời gian nữa rồi hãy hoạt động trở lại, nghe chưa?

Phan Chi trả lời gọn lỏn:

- Tôi đã rõ! Anh yên tâm! Ngoài này không thể lộ được!

Chỉ truyền đạt có bấy nhiêu tin tức, Hoàng Đại Ca lại chụp mũ lên đầu, mở cửa và dắt xe máy đi luôn.

Mờ sáng hôm sau, thị Kim đã từ biệt vợ chồng Phan Chi, trở lại miền Nam bằng một chuyến xe du lịch. Vợ Phan Chi nghe chồng kể lại chuyện Hoàng Đại Ca trả lại gói hàng thì buồn phiền ra mặt. Đang ở thời kỳ thuốc phiện lên giá, bán chạy mà phải “nghỉ”, như thế này thì tức là đã để tuột khỏi tay mình hàng triệu bạc! Lại còn mua thêm cái lo, cái sợ vào mình nữa chứ. Cho nên cứ nghĩ đến cái cảnh ngoại tình của chồng thì chị ta lại thấy máu ứ lên cổ, chỉ muốn băm vắm, xẻ xác “con đĩ” cho hả giận, song lại nghĩ đến chuyện làm ăn cứ ầm ĩ mãi thì láng giềng, hàng phố sẽ chú ý, lỡ ra người ta lại thóc mách đến cái chuyện làm giàu của mình thì quá là phiền. Vì vậy, vợ Phan Chi lại đành ngậm bồ hòn làm ngọt, cho qua mọi chuyện.

Và sớm nào, chị ta cũng đi chợ mua hương, hoa, sửa lễ vật đặt lên bàn thờ, thắp nhang khấn vái thần phật phù hộ cho gia đình được tai qua, nạn khỏi.

Để yên lòng vợ, Phan Chi đã chuyển hết số hàng đi gửi ở vài nơi tin cậy. Buổi tối y trở về, xoa tay nói với vợ:

- Kỵ nhất là hàng đề ở nhà mình. Tôi đã sơ tán đi hết rồi. Bà yên tâm! Lão Hoàng nói đúng! Thắng cha có nhiều kinh nghiệm thật!

 

10. HỘP ĐÊM

 

Căn nhà của Ba Du nằm lọt thỏm vào một cái ngõ hẹp, giữa những hộ công nhân viên chức. Ba Du có nghề in trong phim ảnh, vợ hắn có nghề áp phe phim, giấy ảnh. Hàng ngày, vào giờ các hộ khác đóng cửa đi làm thì Ba Du tỉnh dậy và mở cửa hành nghề. Khách hàng của Ba Du ra vào lẻ tẻ, chẳng mấy ai để ý.

Ba Du thường than thở với hàng xóm:

- Thời buổi này khó khăn thật, kiếm được một đồng phải chảy máu mắt! Thỉnh thoảng mới có người mời đi chụp đám cưới, hội nghị, thù lao ít ỏi cũng phải chấp nhận, làm cho vui thôi mà!

Song khách lui tới nhà Ba Du lại không nghĩ thế. Họ biết Ba Du tung ra những lời than vãn là để “hỏa mù” cho việc làm ăn phi pháp. Ngay cả cái tên Ba Du, nếu ai tò mò một chút, thì sẽ được chủ nhân kẻ cho nghe: tên chủ nhân là Lê Văn Du, từ sau giải phóng miền Nam, Du về thăm quê hương đôi ba lần và tự gọi mình cho đúng “mốt” thời trang là Ba Du. Du bảo:

-  Các vị cử gọi tôi là Ba Du cho dễ nhớ!

Quả thật Ba Du là tay chịu chơi. Hắn có cả một bộ sưu tập ảnh đàn bà lõa thể khiến từ mấy chú choai đến mấy “thủ trưởng” lớn tuổi nhìn vào cũng muốn... chết luôn! Từ đó hắn quy tụ được một lũ đàn em “hảo hớn giang hồ”. Căn gác xép của Ba Du trở thành sân bãi, một cái “vòm” theo lối nói của mấy tên dâm đãng. Từ lũ đàn em cờ bạc, hút xách, Ba Du đã mau chóng có thêm mấy ả mặt hoa, da phấn: cô trùm áp phe vé xổ số, cô “Huệ mù” mang kính cận mà lại chuyên áp phe thuốc tây giả ở chợ trời Hòa Bình. Với năm, bảy cặp trai tứ chiếng, gái giang hồ, căn nhà kín đáo của Ba Du đã trở thành một “hộp đêm” mà lại chứa khách cả... ban ngày!

Ba Du gần đây có thêm một ông khách sộp: Hoàng Đại Ca!

Sau vài lần đến đây du hý, Hoàng gợi ý với Ba Du:

 - Sao ông không bảo đàn em kiếm cho một cái đầu máy vidéo và mấy cuốn băng loại “xịn”? Vừa giải trí lại vừa “chém” thiên hạ chết như ngả rạ

Ba Du long lanh đôi mắt:

 - Hay! Đúng là đại ca họ Hoàng! Tôi sẽ thực thi ngay! Lần sau xin mời ông tới và ông sẽ thấy dịch vụ của tôi!

 Hôm nay, sau chuyến đi miền Nam trở ra, Hoàng Đại Ca tìm đến nhà Ba Du vào lúc 9 giờ sáng. Sau ba tiếng gõ cửa rụt rè làm ám hiệu, cánh cửa bật mở. Ba Du đã ôm chầm lấy Hoàng. Hoàng bước vào. Phòng ngoài có ánh sáng lờ mờ. Phòng bên trong thì hoàn toàn tối om. Ở cuối phòng còn có một điểm sáng: đó là màn ảnh nhỏ của chiếc tivi màu. Trên màn ảnh là những thân hình đang ngọ ngoạy, cảnh làm tình của một đôi trai gái được phát ra từ một băng ghi hình Nhật mang tên “gái giang hồ”. Đích thân điều khiển máy chiếu là thị Hồng, vợ lẽ của Ba Du. Khán giả là một đôi trai gái.

 - Mời anh ngồi đây coi chơi!

Hoàng lắc đầu:

 - Tôi đã coi nhiều lần phim này ở Gò Vấp, và Tân Bình rồi. Cho tôi lên gác xép vui hơn!

 Hoàng được mời lên gác xép. Cái gác xép rộng 6 mét vuông có màn gió che kín đáo, có trải chiếu hoa. Một cô gái “bán hoa” đã ngồi chờ hắn từ lúc nào.

Sau cái hôn “mở hàng”, Hoàng đã được cô gái quàng tay qua cổ, nỉ non:

- Anh Hai đi đâu mà bỏ em hoài!

- Ồ, đi có công chuyện chứ, em! Em tên gì nhỉ?

-  Em tên Duyên! Em quê ở Thanh Trì, ngoại thành ấy mà, em mới bỏ chồng, lên đây chơi cho vui thôi! Hôm nay anh Hai cho em đủ tiền mua một bộ đồ ngủ nhé!

- Anh sẽ cho em... hai bộ đồ ngủ, được chưa?

Dĩ nhiên là cô gái gật sái cổ vì cô đã được chủ nhà giới thiệu khách hôm nay đến với cô là khách sộp!

 Một giờ sau, Hoàng rút khỏi nhà Ba Du.

Trên căn gác xép, cô gái lại nằm chờ khách. Cô hút từng hơi thuốc lá thơm mà ông khách có tên là Hoàng vừa mời cô. Từ trên gác xép, cô vén màn gió, ghé mắt nhìn xuống phòng chiếu vidéo, cuộc chiến băng hình vẫn tiếp tục, cuốn băng mới lại có những cảnh mới, rất “tươi mát”, khán giả vẫn là đôi trai gái đang ngồi vừa ôm nhau vừa dán mắt vào màn ảnh nhỏ. Ba Du và vợ cùng ngồi xem rất đam mê.

Lại có tiếng gõ cửa rụt rè, đúng ám hiệu. Ba Du bảo vợ:

-  Lại thằng Cường và con Loan, hôm qua chúng nó đã hẹn với anh!

Ba Du lò dò ra mở cửa. Cửa vừa hé thì ba thanh niên đã đầy mạnh vào. Trời ơi! Nào có phải “thằng Cường và con Loan” nào đâu! Mà lại là 3 người lạ mặt, rồi ai nữa kia, hóa ra là ông tổ trưởng dân phố! Cả bốn người khách đã xô vào phòng. Màn ảnh vẫn chiếu sáng. Một tiếng nói rất đanh, rất dõng dạc:

-  Chúng tôi là đội bảo vệ văn hóa của công an quận! Yêu cầu mọi người đứng im, ngồi im tại chỗ!

Ánh đèn pin lóe sáng soi rõ từng khuôn mặt xám ngoét. Người đội trưởng nói tiếp:

- Yêu cầu ông chủ bật đèn sáng lên để anh em làm nhiệm vụ...

Ba Du bật đèn. Ánh sáng đèn nê-ông soi rõ tất cả căn phòng với máy chiếu vidéo và 5 cuốn phim “con heo”, được đặt tên là “phim tươi mát”, cũng như ở Sài Gòn được đặt tên là “phim chăn nuôi”.

Anh công an soi đèn pin lên gác xép và ra lệnh:

 - Yêu cầu cô xuống ngay để chúng tôi lập biên bản.

Thị Duyên sửa lại quần áo, lóp ngóp từ gác xép đi xuống. Đôi trai gái ngồi xem phim đã buông nhau ra ngay khi biết là có “biến”.

Người đội trưởng lại ra lệnh tiếp:

- Mời ông chủ, bà chủ và các vị khách ngồi cả xuống đây. Yêu cầu ông Ba Du cho chúng tôi biết: máy và băng ghi hình này của ai? Ba thanh niên này tên gì, ở đâu? Vì sao ông bà lại tổ chức chiếu phim đồi trụy khi thành phố đã có lệnh cấm?

Ba Du run rẩy, nói lắp bắp:

- Dạ, báo cáo các anh: gia đình chúng tôi chiếu chơi thôi ạ. Không có bản vé thu tiền. Đầu máy là của anh này cho mượn. Anh này tên là Tuấn, con trai ông Dương, vụ trưởng, còn cô này tên là Ánh Nguyệt học sinh đại học, con gái ông Phan Chi, trợ lý giám đốc, còn cô này tên là Duyên, người họ hàng bên ngoại ở Thanh Trì mới ra chơi ạ…

 Người đội trưởng nói tiếp:

 – Chúng tôi được nhân dân cho biết: đây là một ổ gái mãi dâm và một ổ chiếu video đen trái phép. Chúng tôi lập biên bản xong xin mời tất cả về công an quận xử lý!

Nửa giờ sau, căn nhà được đóng cửa lại. Vợ chồng Ba Du và ba “khán giả” xem vidéo được mời về quận, họ đi theo sau một xe xích lô chở đầy tang vật.

Buổi chiều, vợ chồng Ba Du được dẫn trở về nghe đọc lệnh khám nhà, chứng kiến cuộc khám nhà còn có cả chính quyền phường. Kết quả: nhà chức trách thu thêm 50 ảnh khỏa thân chụp các kiều làm tình của trai gái, tiền mặt có một triệu đồng, vàng có 2 “cây”.

Vụ án Ba Du hành nghề tổ chức mãi dâm và chiếu viddo đen cũng được khởi tố luôn.

o0o

Về đến nhà rồi, Hoàng Đại Ca vẫn còn chưa hết sợ khi nghe tin vợ chồng Ba Du bị tóm gọn. Hẳn nghĩ thầm: thật là nhà mình còn tốt phúc, nên mới gặp may đến thế. Sau khi hành lạc với thị Duyên trên gác xép, nếu chỉ nằm lại một chút thôi thì giờ này đã nghỉ mát... ở nhà đá rồi! Thật hú vía! Buổi tối, hắn phóng xe đến nhà Phan Chi vì hắn vào nhà Ba Du buổi sáng đã nhìn thấy rõ cả cô bé Ánh Nguyệt, con gái Phan Chi, đang cặp bồ với thằng Tuấn, con trai lão Dương vụ trưởng, ngồi xem phim. Hắn thừa biết giờ này vợ chồng Phan Chi đang đau khổ, lo sợ biết chừng nào khi ngày mai báo sẽ đăng, đài sẽ phát về cái vụ mại dám và vidéo đen này!

Thấy Hoàng đến, vợ chồng Phan Chi đã bíu ngay lấy như kẻ sắp chết đuối vớ phải... bọt:

- Anh Hoàng ơi! Anh xem có cách gì cứu cháu với, chúng nó đua đòi, dại dột quả mà! Cái thằng Tuấn hư đốn, mất dạy kia nó hại cả đời con gái tôi!

Hoàng an ủi:

- Thôi, chuyện đã xảy ra rồi, để sẽ liệu dần dần, nếu có khả năng chạy chọt mà giảm án tù thì cứ chạy, tôi nói là giảm án thôi vì có mấy vụ vidéo đen bị tóm, tất cả đều 2, 3 năm tù giam. Thời điểm nóng bỏng này thì càng con ông to, càng nặng tội. Tòa án buộc phải xử nghiêm. Tôi nghe cái thằng Ba Du này còn kiêm cả cái nghề chích xì ke ma túy nữa kia. Cho nên nó bị quét là cũng đáng đời! Hắn thừa biết trường hợp này là cái cảnh “cha nào, con ấy”. Chỉ có may hoặc rủi mà thôi. Con Ánh Nguyệt học dốt như bò mà cứ lên lớp vù vù, lại sắp đi học nước ngoài nữa chứ! Thằng con trai lão Dương thì cũng là thứ đầu nậu, hư đốn cả thôi.

Trước lúc đứng dậy ra về, Hoàng còn nói nhỏ với Phan Chi:

- Này, tuyến miền Nam thì đành phải stop, tôi đã có mối tiêu thụ cái món “cơm đen” ở Quảng Ninh đề chúng nó bán sang Hồng Kông, vậy ngày mai ông bớt thì giờ đi cùng với thằng Kha lên Sơn La lấy hàng đi. Mình không thân chinh đi lấy là người ta cắt vĩnh viễn đấy. Được càng nhiều càng tốt. Tôi đợi ông ở nhà tôi đấy. Này, tôi dặn thêm để ông khỏi quên: Ít nhất cũng 10 kg trở lên mới bõ. Ít quá là họ chê! Lại ế cả người đấy ông ạ!

Phan Chi, mặc dù đang đau đớn vì chuyện con gái, vẫn phải đáp gọn:

- Ông cứ đề tôi lo!

Vợ Phan Chi lại dè dặt:

 - Nhà mình đang cơn đen, vận bĩ, ông đi phải cẩn thận nhé. Cứ là... “cẩn tắc vô ưu” ông ạ!

 

11. TAI NẠN ĐƯỜNG RỪNG

 

Thị xã Sơn La vừa mới lên đèn.

Đường phố chính chạy qua thị xã đã ít hẳn người đi, trông lèo tèo như một phố huyện miền xuôi.

Chiếc xe Lada màu vàng đi qua thị xã, từ từ lăn bánh về phía chợ có những lều quán đã vắng tanh, vắng ngắt.

Xe đỗ lại trước cửa hàng ăn uống quốc doanh. Từ trên xe bước xuống là trợ lý giám đốc Phan Chi và anh lái xe Nguyễn Văn Kha.

Nhận ra người quen, cô Thoa mậu dịch viên đon đả:

- Hai anh vào hàng em, còn phở, còn bia và nem rán, ngon không kém phở Tạ Hiền Hà Nội đâu nhé!

Phan Chi và Kha vào quán gọi đầy một bàn thức ăn. Nhậu nhẹt no say rồi, Kha mới nói với cô Thoa:

- Bọn anh lên thăm một ông bạn mới về hưu ở trong bản Chiềng Von, đường đi hẹp quá, xe không vào được, phải đi bộ hơn cây số. Vậy phiền em Thoa cho anh gửi cái xe con này, cho đỗ nhờ trong sân của hàng một đêm, sáng mai bọn anh xin để đi về Hà Nội, được không?

-  Được chứ! Anh cứ cho xe vào sân, khóa lại, cơ quan có bảo vệ gác, lo gì!

Gửi xe xong, Chi và Kha lững thững xách túi du lịch đi vào bản. Con đường mòn hun hút, gập ghềnh đưa hai người khách đến trước một ngôi nhà nhỏ xây kiên cố, tường bằng đá hộc, mái ngói rêu phong.

Ở gần thị xã nên bản này có điện thắp sáng. Ngôi nhà dựa lưng vào vách núi và quay xuống con suối nước chảy lặng lờ. Một dàn hoa tím leo trước hiện nhà.

 Dừng bước trước cổng, Kha cất tiếng gọi:

 – Chị Trang ơi!

Có tiếng vọng ra:

-  Ai gọi tôi đấy?

Ngọn đèn ngoài hiện bật sáng.

Chủ nhân bước ra với bộ đồ xanh lá cây sẫm. Nhan sắc, dáng người của chủ nhân lần nào cũng làm cho Phan Chi xao xuyến. Kể cả cái tên của chủ nhân nữa cũng đẹp và nhẹ như hơi gió: Đoàn Thị Thu Trang.

 Phan Chi đã từng nói với Kha:

 - Ở nơi núi rừng hẻo lánh này, gặp được một người như Thu Trang thật là hiếm có! Thu Trang có dáng cao dong dỏng, đẹp như đầm lai. Ở tuổi tứ tuần rồi mà Trang trông còn trẻ hơn đến 5 - 7 tuổi bởi nước da trắng, khuôn mặt thanh tú, phảng phất một thời đài các xa xưa còn đọng lại.

Cánh cổng hé mở, Trang kêu lên:

- Chào hai anh! Cứ tưởng là khách lạ, hóa ra khách quen. Mời hai anh vào chơi!

 Chủ nhân đi trước. Hai người khách theo sau. Vào phòng khách, Thu Trang nói:

- Mời hai anh ngồi chơi! Bà cụ tôi hôm nay bị mệt, cụ vừa đi nghỉ sớm.

Còn lại ba người trong căn nhà khá yên tĩnh. Có lẽ chỉ có tiếng suối chảy róc rách phía trước nhà là vẫn đều đều không dứt...

 - Hai anh có hàng gì lên không?

Phan Chi lắc đầu:

- Đi vội nên không có hàng gì đâu. Chỉ có quà biếu chị và biểu cụ...

Kha lấy từ trong túi ra hai lọ sâm nhung Trung Quốc và bốn mét vải hoa màu hồng đều là hàng nhập lậu qua biên giới và bày bán la liệt ở vỉa hè Hà Nội.

Phan Chi nói:

 - Của ít, lòng nhiều, chị Trang đừng chê nhé!

Trang cười duyên dáng:

– Em đâu dám chê! Anh cho quả là quý rồi. Của một đồng công một nén, xin cảm ơn hai anh...

Sau một tuần trà nước, Trang đi vào đề ngay:

 – Có nhiều hàng về đấy! Hôm nay các anh lấy được bao nhiêu?

Phan Chi cởi mở:

– Chúng tôi có thể lấy được 10 ký!

– Thế thì vừa đẹp. Vậy xin mời các anh qua luôn nhà ông Giàng A-Man, ông ta đang có ở nhà đấy!

Thu Trang thoăn thoắt dẫn đường cho hai người khách đi sâu vào thung lũng, nơi có những mái nhà sàn cao cao in rõ nét trên nền trời màu tro xám.

Trang nói:

 - Em đưa hai anh sang. Hai anh cứ làm việc cụ thề với ông Giàng, nhận hàng, trả tiền, vàng ngay ở bên đó. Ngủ một giấc rồi sáng mai về sớm. Ở với ông Giàng là phải uống rượu say với thịt núi đấy. Ông ta mới săn được một con nai hôm qua, thịt nướng vẫn còn!

 Nửa giờ sau, để hai người khách ngồi lại nhà Giàng A-Man, Thu Trang quay về nhà mình. Anh đèn pin soi loang loáng trên lối đi rải đầy đá dăm.

Khép cổng, Thu Trang bước lên thềm còn sáng ánh đèn. Trang thấy lỏng mình thanh thản như mỗi khi có tin bạn bè từ Sài Gòn gửi ra. Hai ông khách sộp này, hai anh chàng “chịu chơi” này mua hàng it khi mặc cả. Về phía mình, bao giờ chị cũng giữ tín nhiệm: cân đong chính xác và phẩm chất hàng tốt. Có điều chị luôn luôn nhắc nhở khách hàng:

– Bí mật là vấn đề sinh tử đó. Ai phản bội lời thề, phản bội lời giao ước thì phải tự xử, nếu không thì “tổ chức đường dây” sẽ phải “ra tay”! Câu nói ấy từ miệng một người thiếu phụ xinh đẹp đôi lúc nghe sắc lạnh như một lưỡi dao.

- Biết làm thế nào khác được, công việc làm ăn đầy nguy hiểm này nó buộc mọi người phải tuân thủ những “luật” thật chặt chẽ. Ai bỏ cuộc, xin hãy “rút êm” …

Đôi lúc, ngồi trước bàn trang điểm, nhìn lại gương mặt mình trong gương, Trang lại nở một nụ cười kiêu hãnh. Kem, phấn đã xóa đi đôi, ba nếp nhăn trên má, song đôi mắt của Trang thì chẳng bao giờ đổi thay. khi âu yếm và tỏ cảm tình với ai thì đôi mắt ấy như đang “cười” với bạn, khi giận hờn, căm uất đôi mắt ấy lại sắc như dao. Trong ký ức của mình, suốt hai mươi năm tuổi trẻ từ tuổi 20 đến tuổi 40, Thu Trang đã trải qua bao nhiêu thăng trầm khổ ải. Cô nữ sinh trường Đồng Khánh ấy đã lấy chồng là thiếu tá của “quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Ngày 29-4-1975, trước khi quân giải phóng tràn vào Sài Gòn, thì ông “thiếu tá thủy quân lục chiến” còn lênh đênh ở bờ biển Malaixia. Quân ngụy ào ào di tản. Thu Trang kẹt lại ở Sài Gòn. Khi hòa bình lập lại, đất nước yên hàn, Thu Trang mới tìm ra Bắc, bà mẹ đã đi bước nữa và lấy chồng ở Sơn La. Ông chồng thứ hai này cũng chết nốt. Bà già góa bụa buôn bán vặt ở chợ Sơn La. Thu Trang tìm về ở với mẹ đã được mười năm sau khi được tin ông chồng thiếu tá đã di tản sang Mỹ và lấy vợ là Việt kiều ở Oa-sinh-tơn.

Với số vốn vài chục cây vàng, Thu Trang quyết định ở lại với núi rừng Tây Bắc, phụng dưỡng mẹ già sau bao năm xa cách. Tình cảm mẹ con đã thức dậy trong lòng người thiếu phụ này. Thấy hoàn cảnh của Trang như vậy, có người góa vợ đã ngỏ lời đeo đuổi, song Trang đã từ chối bởi vì Trang nghĩ đàn ông thật khó tin làm sao! Trang có ý định đưa mẹ về sinh sống ở Đà Lạt, nơi chị có nhiều bạn bè từ Sài Gòn chạy lên, sau khi Sài Gòn được giải phóng. Đà Lạt, theo Trang là vùng đất lý tưởng, nó có thể giúp chị quên đi dĩ vãng đắng cay, và những phiền muộn, nhọc nhằn. Ý định rời bỏ quê hương miền Bắc đề chuyển về Đà Lạt đã nảy sinh từ mấy năm nay, song muốn về Đà Lạt thì phải có trăm lạng vàng. Số tiền, vàng ấy chưa đủ, nên Trang quyết định phải buôn bán một thử hàng gì đây đề kiếm được nhiều lời!

Sau nhiều lần thăm dò, thử thách, Trang kết thân với Giàng A-man, một người lái xe đứng tuổi bỏ nghề đang có cửa hàng sửa chữa xe máy ở thị xã Sơn La. Giàng A-man chấp nhận “liên minh” với Thu Trang để thu gom thuốc phiện từ Bắc Hà về, tổ chức bán về xuôi. Tiền lãi thì chia đôi mặc dù vốn của Giàng có ít hơn, vì anh có công móc nối với tuyến Bắc Hà.

Năm năm trời làm ăn trót lọt, nên cả Thu Trang và Giàng A-man đều xây được nhà cửa khang trang trong bản làm “đại bản doanh”. Nay mai khi đã thôi cái nghề buôn nguy hiểm này, Trang sẽ bán ngôi nhà đề thu gom vốn đưa mẹ già vào Đà Lạt, mở tiệm buôn lớn hơn.

Chuyến hàng hôm nay là một trong nhiều chuyến cuối cùng mà Trang thực hiện từ nay đến cuối năm.

10 giờ tối, Giàng A-man lại tìm sang nhà Thu Trang. Anh ta đặt lên bàn một gói vàng bọc trong chiếc khăn mùi xoa:

 – Tôi đã nhận đủ 10 “cây”, đây của chị 5 “cây”. Số hàng tôi giao cho nó 10kg. Thừa thiếu đâu thì bù sau, tuy nhiên, số vàng đó chắc chắn phải giá trị hơn 10 kg để buộc nó chuyến sau lại phải tìm lên với ta. Nhưng có điều này, tôi phải hỏi ý kiến chị...

Thu Trang hỏi:

- Điều gì vậy?

- Hai thẳng này tỉ tê nói ra tôi mới biết, đường dây tiêu thụ của chúng nó ở Sài Gòn bị lộ do con mụ tên là Bích Liên bị gài, công an tóm mất 2 mụ. Còn một thằng tên là Quý thì bỏ trốn biệt tăm... Tôi e rằng hai thằng này có thể đã bị công an theo dõi mà chúng nó không biết. Nếu mình hám lợi, cứ giao dịch với hai thằng này lớn hơn thì có lúc nguy!

Thu Trang dằn giọng:

 – Hừ! Lũ khốn kiếp này, ta phải xử thôi. Anh thấy thế nào?

Giàng A-man thản nhiên:

 - Chị cứ đề tôi lo việc cắt đứt đường dây với bọn này!

– Tôi tin tưởng ở hai bàn tay anh đấy. Làm cho ngon, cho lẹ, nghe!

- Ngày mai chúng nó sẽ về xuôi sớm từ 4 giờ sáng đi bằng Lada. Xe của chúng nó còn gửi ở cửa hàng ăn uống tổng hợp. Tôi đã có cách... bí mật và tuyệt đối an toàn.

Nói xong, Giàng A-man đúng dậy:

- Thôi chị đi nghỉ đi. Tôi về đề sửa soạn ngày mai cho tụi chúng nó biết thế nào là “luật rừng”!

o0o

Chiều hôm sau, Thu Trang bỏ buổi chợ, để một mình bà cụ ngồi bán hàng, chị ta ở nhà, đi ra, đi vào, thấp thỏm chờ mong tin tức của Gìàng A-man.

Đúng 4 giờ, Giàng đã xuất hiện với nụ cười vừa cởi mở, vừa bí hiểm.

Đợi cho anh là bước vào phòng khách, Thu Trang mới hỏi nhỏ:

– Xong chưa?

Người đàn ông gật đầu:

– Xong rồi! Chị phải thưởng cho tôi đấy!

Thu Trang rót nước cho Giàng A-man:

-  Anh uống nước đi rồi kể cho tôi nghe, dĩ nhiên là công đầu của anh, anh có quyền tự ở trích thưởng.

Giàng xoa xoa hai tay rồi kể, giọng trầm trầm:

 – 3 giờ sáng nay, tôi dựng hai tên ấy dậy, làm một mâm cơm thịnh soạn, chuốc rượu cho chúng nó uống thật say rồi mới dẫn chúng nó ra chỗ gửi xe Lada. Tôi thủng thỉnh đi trước, khi xe ra đến đầu đường, tôi mới lên xe ngồi phía sau với lão Phan Chi.

Tôi bảo thẳng Kha, lái xe:

– Ông tướng đang say rượu, đi từ từ nhé.

Nó cho xe đi từ từ. Nửa giờ sau, xe đi khỏi thị xã chừng hơn 10 cây số, trời còn tối, tôi bảo nó dừng xe để tôi xuống đi tiểu. Nó vẫn còn say, tôi bảo:

- Hai ông ngồi cả về phía sau, ngả đầu nghỉ một chốc cho hết cơn say rồi hãy đi cho an toàn. Tôi đi nhờ xe các ông về Hà Nội thì có muộn cũng không sao! Thằng Kha nghe theo lời tôi, nó mở cửa xe bước vào băng sau cùng ngồi say lơ mơ với Phan Chi. Tôi vờ đi tiểu xong, quay về chỗ xe đỗ, xe vẫn nổ máy, tôi mở cửa phía trước và nhấn ga cho xe từ từ lăn bánh, tôi xoay vô lăng về bên phải thế là chỉ vài tích tắc, cả chiếc xe và hai “ông chủ” đã lao “rầm” xuống vực thẩm bên đường! Chỗ này vực sâu lắm!

Tôi rút “êm”, cuốc bộ đến một nhà quen, mượn xe đạp về đến thị xã được một giờ trời mới sáng rõ. Hai vị khách chắc chắn đã tan xương nát thịt dưới vực sâu thăm thẳm. Trên đường lúc ấy chưa có một bóng người qua lại, đường rừng mà! Tôi lại mở cửa hàng sửa xe như mọi ngày và để ý nghe ngóng tin về tai nạn xe hơi. Quả nhiên đến 9 giờ, dân chúng đã kháo nhau: có một cái xe con màu vàng bị tai nạn giao thông lao xuống vực sâu, cả hai người ngồi trên xe đều chết!

Thu Trang cười:

- Tuyệt! Thế anh có sợ người ta sẽ phát hiện không?

 - Chị nên nhớ: tôi đã mang găng tay, nên có mó vào vô-lăng cũng không để lại vết tay. Công an có khám nghiệm hai nạn nhân thì sẽ thấy cả hai “vị” vẫn còn sặc sụa mùi rượu! Xe bị tai nạn chỉ vì lái xe say rượu mà thôi!

- Còn 10 ký thuốc phiện của hắn?

- Tôi không quên đoạt lại ngay, hiện đề ở nhà tôi rồi!

Thu Trang mở nút chai rượu, rót đầy hai chén:

 - Thế là cắt đứt được một đường dây có nguy cơ bị lộ từ Sài Gòn. Ta sẽ tìm đường dây khác làm ăn. Mời anh cạn chén rượu này đề mừng anh đã hoàn thành nhiệm vụ.

Hai người nâng chén.

Giàng A-man uống luôn hai chén rượu, nét mặt của hắn trông càng thêm dữ tợn...

 

12. BÀI TOÁN CHƯA CÓ LỜI GIẢI

 

Cái chết của Phan Chi và lái xe Nguyễn Văn Kha trên đường đi công tác làm cho mọi người trong cơ quan đều thương cảm. Nhiều tiếng than thở:

- Rõ khổ! Ông Chi hiền lành như vậy mà lại không may! Anh Kha nữa, tội nghiệp quá! Song cũng có nhiều người trách móc:

- Chỉ tại ông tướng Kha say rượu, lái ẩu thôi, chết là phải!

Biên bản khám nghiệm hiện trường của công an địa phương còn ghi rõ: hai nạn nhân đều bị chấn thương mạnh ở sọ não, nguyên nhân vì lái xe say rượu, cả Phan Chi cũng còn sặc sụa mùi rượu, chứng tỏ nạn nhân đã uống rượu ở đâu đó trước khi khởi hành về Hà Nội.

Giám đốc công ty thì nhăn nhó:

- Ông trợ lý của tôi cứ nằng nặc đòi đi giao dịch bản vật tư tồn kho. Ông ấy nói rằng quen biết nhiều cơ quan ở Tây Bắc từ nông trường Mộc Châu trở lên. Chưa ký được một hợp đồng nào đã gặp tai nạn rủi ro. Lại cả cái cậu Kha lái xe nữa chứ, bị vạ lây vì chuyến đi của ông Chi!

 Chỉ có Văn Sinh và Đỗ Vân là chưa hết bàng hoàng. Hai đối tượng Phan Chi và Kha vừa mới được các anh xác định đề khoanh vùng, đã lại lăn cổ ra chết vì tai nạn giao thông. Tìm hiểu tại công ty – cơ quan quản lý Phan Chi và Kha– các anh chỉ được nghe giám đốc thông báo: vật tư cơ quan tôi đang ứ đọng, tôi giao cho ông Chi giúp tôi tìm mối tiêu thụ hồi vốn. Đáng tiếc là ông Chi chưa hoàn thành nhiệm vụ đã gặp tai nạn! Tìm hiểu sâu hơn nữa, Văn Sinh được biết Phan Chi thường có quyền “nhân danh trợ lý giám đốc”, cánh tay phải của giám đốc, để lấy xe đi công tác bất cứ lúc nào. Cậu Kha lại là lái xe được Phan Chi tín nhiệm, nên rất được giám đốc tin cậy, và cùng đi với Phan Chi như hình với bóng.

Cũng theo biên bản khám nghiệm hiện trường thì ngoài mấy bộ quần áo và đồ dùng lặt vặt, hai nạn nhân không mang theo một thứ hàng gì. Tiền mặt còn lại trong tủi Phan Chi có 50.000 đồng và Kha có 20.000 đồng. Đồng hồ, kính, bút máy không mất thứ gì. Giấy tờ tùy thân chỉ có hai giấy công lệnh và một giấy giới thiệu đi bán vật tư, gửi các cơ quan, xí nghiệp quốc doanh...

Văn Sinh đặt câu hỏi trước Đỗ Vân:

 - Tôi muốn biết xe xuất phát từ Hà Nội lúc mấy giờ ngày 25 mà trên đường về xe đã lao xuống vực sâu ngay rạng sáng hôm 26? Và đêm 25 hai nạn nhân đã ngủ lại ở đâu? Sáng sớm ngày 26 đã say sưa nhậu nhẹt ở đâu? Nhà ai? Hàng quán nào? Đó là những điều mà ta chưa biết.

Theo giám đốc công ty cho biết thì ngày 24 Phan Chi có báo cáo chuyến đi rao bán vật tư ngày 25 và xe ra khỏi ga-ra lúc 7 giờ sáng. Đó, chúng ta mới chỉ biết đến thế. Hai nạn nhân đều đã chết! Bài toán ta đặt ra, chưa có lời giải đáp.

Đỗ Vân nhấn mạnh thêm:

-  Theo tôi, ta hãy tập trung làm rõ đối tượng mới phát sinh, tức là tên Hoàng Đại tức “Hoàng Đại Ca” mà hôm trước tôi và anh đã biết địa chỉ của hắn khi ta theo hai đối tượng Phan Chi và Kha. Tên Hoàng có quan hệ gì với Chi và Kha? Về lai lịch của tên Hoàng thì theo tài liệu của cơ sở tên thật hắn là Nguyễn Đức, sống bằng sự nịnh bợ, ô dù. Sau vụ đổ bể vì lập quỹ đen, cho vay séc của cơ quan và buôn giấy in lậu ở Sài Gòn, hắn bị cách chức trưởng phòng và đuổi ra khỏi đảng, hiện nay hắn là nhân viên của công ty thu mua nông sản. Sau vụ kỷ luật ở Sài Gòn, hắn bỏ vợ và hai con ở trong đó, xin chuyền ra Bắc, cặp bồ với một nữ nhân viên cùng cơ quan. Cô này là vợ một giáo viên. Hắn dùng vàng, tiền đề chiếm đoạt cô ta làm vợ lẽ và đang sống ở địa chỉ mà ta đã biết. Đôi gian phu, dâm phụ này có quan hệ buôn bán với Phan Chi thì đã rõ, song hoạt động của nó thì ta chưa nắm được bao nhiêu. Cần phải có thời gian.

- Công việc của chúng ta còn có khó khăn nhiều lắm - Văn Sinh nói -  Tôi sẽ báo cáo và xin chỉ thị của đại tá Trần Vinh.

o0o

Ánh Nguyệt con gái Phan Chi – bị bắt tại hộp đêm cùng với Tuấn, người yêu của cô, khi đang chiếu vidéo đen với băng hình đồi trụy. Xét vì Nguyệt chỉ là cô gái đua đòi ăn chơi, nên công an chỉ lấy lời khai của cô rồi cho về. Còn lại tên Tuấn, kẻ chủ mưu với chiếc đầu máy, công an đã tạm giam để sẽ đưa ra truy tố trước pháp luật.

Nguyệt về nhà trong tâm trạng vừa xấu hổ, vừa tủi nhục. Bạn bè biết chuyện đến thăm, an ủi, cô đều lánh mặt, lên gác nằm khóc một mình.

Chưa bao lâu thì xảy ra tai nạn làm chết ông Phan Chi. Hai mẹ con Ánh Nguyệt như điên như dại, vật vã, kêu khóc.

Một tuần sau đám tang của chồng, vợ Phan Chi làm đến nhà Hoàng, năn nỉ:

 – Nhà tôi không may thiệt phận đi rồi. Cháu Nguyệt lại dính vào vụ vidéo đen. Tôi thật khốn khổ quá chừng! Thỉnh thoảng mời anh qua lại nhà tôi, khuyên bảo cháu Nguyệt dùm tôi. Tương lai của cháu còn dài, nó bỏ học, bỏ hành thì tôi cũng đến chết mất thôi.

Nhìn người đàn bà trong hoàn cảnh tang tóc, Hoàng tỏ ra ái ngại, hắn nói:

- Chị cứ về đi. Tôi sẽ cố gắng giúp chị, khuyên bảo cháu. Lại còn hàng bị kẹt lại đó. Của anh chị và của tôi, ta phải tính kế tiêu thụ để chuyển sang hàng nhập ngoại. Hàng qua biên giới đều trốn thuế hải quan nên rất rẻ, không tranh thủ mua vào nay mai hải quan sờ đến, lại đắt vọt lên thì còn ăn thua gì?

 

13. MA BIẾN

 

Đại tá Trần Vinh lần xem từng trang viết trong tập hồ sợ vụ án M.2. Từng chi tiết của vụ án đã được ghi lại qua sự sắp xếp của cô chiến sĩ trinh sát Tuyết Lan. Ông rất hài lòng về tập hồ sơ này. Kể cả cái tên vụ án cũng là do Tuyết Lan đặt. Hôm ấy, Ban chuyên án được thành lập sau khi Thị Liên bị tóm gọn để lộ đầu dây tiêu thụ ma túy. Trần Vinh đã hỏi các chiến sĩ:

- Từ đầu mối của mụ Bích Liên, ta cố gắng tìm cho ra đường dây ma túy này. Vậy ta nên đặt tên cho vụ án là gì nhỉ?

Trong khi anh em trinh sát còn đang suy nghĩ thì Tuyết Lan đã nói:

- Dạ. Thra chú, chán xin có ý kiến ạ...

- Cháu cứ nói!

- Dạ, đây là vụ án buôn lậu ma túy, cháu đề nghị lấy chữ M. để đặt cho vụ án. Trước đã có vụ án Thị Phương là vụ thứ nhất, vụ này là vụ thứ 2, nên đặt là M.2 ạ!

– Hay đó! Chú nhất trí với cháu Lan.

Đại tá Trần Vinh đưa tay lấy chiếc bút chì đỏ, gạch một gạch đậm dưới chữ: Hoàng Đại, tức “Hoàng Đại Ca”, tức Nguyễn Đức một mắt xích đáng chú ý trên đường dây ma túy này mà ông đang chăm chủ theo dõi...

Vừa lúc ấy, như có một điều linh cảm, chuông điện thoại đỗ một hồi dài, ông nhắc ống nghe, vui vẻ:

 - Ai đó? Tôi nghe đây! Văn Sinh hả? Thế nào? Đến đâu rồi?

Từ đầu dây bên kia, từng câu nói của Văn Sinh làm cho đại tá phải chau mày: Sao? Nó trốn rồi à? “Hoàng Đại Ca” biệt tăm tích? Nó đi đường nào? Đi bằng phương tiện gì? Không ai biết! Mạng lưới trinh sát của ta cũng mù tịt à? Gay nhỉ. Đỗ Vân đã chốt chặn cả đường hàng không, sân bay, bến xe, sân ga cũng không hay biết gì à? Thôi được, có lẽ vì Văn Sinh là người Sài Gòn, chưa thuộc địa bàn Hà Nội đấy thôi. Này Văn Sinh sớm mai bay ngay về Tân Sơn Nhất, rồi về đây ngay nhé! Nhớ mang theo tất cả thông tin mới nhất của vụ M.2 nhé. Công việc bàn giao hết lại cho Đỗ Vân. Mình chờ cậu hai giờ chiều mai nhé!

Thế là ông đã lệnh cho Văn Sinh bay trở lại Sài Gòn.

Trong đầu ông đã hình thành một phương án tác chiến mới. Ông mỉm cười một mình rồi ấn chuông gọi Tuyết Lan ở phòng bên.

Tuyết Lan đầy cửa vào, được nghe ngay một câu nói vui:

- Cháu! Chú vừa nhận được báo cáo của Văn Sinh qua điện thoại; tên “Hoàng Đại Ca” đã trốn biệt tăm khỏi nhà nó mà mạng lưới trinh sát của ta không biết gì cả! Thế có buồn không? Chú đã lệnh cho Văn Sinh sáng mai đáp máy bay vào Sài Gòn đề nhận chỉ thị mới. Cháu chuẩn bị cho chú thêm tư liệu, phần trong này. Văn Sinh lo việc ngoài kia, các cháu cho chú nghe thêm một lần nữa để ta đánh cho chắc, nghe!

– Dạ!

Tuyết Lan lui về phòng mình.

 

14. CHẠY TRỐN

 

Đã chín giờ tối. Đường Nguyễn Huệ vẫn nhộn nhịp người qua lại. Từ đại lộ rẽ vào một con hẻm sâu, người đàn ông xách một túi du lịch nặng, đi vội vã. Đến trước cửa nhà số 5, cửa còn đang ngỏ, người đàn ông bước thật nhanh vào nhà và khuất sau bức rèm xanh.

Có tiếng hỏi của phụ nữ:

-  Ai đó?

Có tiếng đáp lại của người đàn ông:

- Chị Kim! Chị không nhận ra tôi sao?

Nguyễn Thị Kim bàng hoàng khi nhận ra người đứng trước mặt mình là Hoàng Đại Ca.

- Trời! Anh Hoàng! Anh vô hồi nào vậy?

Hoàng đặt chiếc túi du lịch xuống một góc nhà rồi ngồi xuống ghế:

- Chị ơi! Vất vả quá chừng! Hôm trước chị về rồi thì xảy ra vụ tai nạn xe hơi và ông Chi đã chết cùng với lái xe. Bà Chi ngất lên, ngất xuống mấy lần và... tôi cũng phải lo lấy thân tôi, cao chạy xa bay, miễn sao thoát khỏi địa bàn Hà Nội, nơi mà tôi biết đang có một mạng lưới vô hình vây bọc chung quanh vụ tai nạn giao thông kia!

Thị Kim đặt lên bàn một ly cà phê đá:

– Mời anh! Anh có thể kể cho tôi nghe chút xíu được không?

Hoàng đỡ lấy ly cà phê từ tay Thị Kim, uống một ngụm rồi y kể:

- Từ hôm chị ra Hà Nội thông báo cho tụi tôi biết chuyện bà Bích Liên và bà Mai bị công an bắt, tôi đoán rằng công an sẽ làm ra Hà Nội. Nhất là sau khi ông Lê Quý bỏ trốn ra nước ngoài, tôi chắc mọi hành vi của Phan Chi và anh Kha lái xe đã nằm gọn trong đường ngắm của công an. Phan Chi và Kha lại biết địa chỉ nhà tôi, như vậy tôi cũng có thể đã lọt vào đường ngắm của công an. Khi tôi nghe tin sét đánh về tại nạn ô tô mà Chi và Kha đã tử nạn thì thú thật với chị, tôi không còn bụng dạ nào luẩn quẩn ở Hà Nội được nữa. Tôi để lại cho vợ con một số vốn, xóa mọi dấu vết, thu vén hàng và tiền bạc, rút êm khỏi Hà Nội bằng xe máy, do một chiến hữu đưa ra khỏi Hà Nội. Về đến Thường Tín mới vẫy xe tải đi Thanh Hóa, lại kiếm được xe du lịch vào Đà Nẵng, đi tàu vào Nha Trang, rồi đáp xe du lịch vào đây. Chị biết không? Phải mất 3 ngày 4 đêm, thay hình đổi dạng 5 lần mới thoát được vào đây, an toàn đến với chị ở con hẻm này!

Thị Kim xuýt xoa:

- Buôn bán mà gặp phải bước gian nan thì đành phải chấp nhận, chứ biết làm sao bây giờ? Ở đây, xin nói với anh rằng, anh chỉ nên ở lại một đêm thôi. Mời anh lên lầu nghỉ ngơi, tắm giặt, xong anh ăn cơm, rồi ta sẽ làm việc, anh có hàng phải không?

 - Dạ, có!

 – Làm việc xong, anh đi nghỉ cho khỏe để sáng mai anh lại đi, đi về đâu, có định hướng chưa?

- Vào được đến đây, tức là hổ đã về rừng, lo gì. Chị khỏi lo cho tôi!

11 giờ khuya.

Hoàng đã xúng xính trong bộ đồ ngủ, mặt mũi sáng sủa, không ai còn có thể nhận ra Hoàng đầy bụi bậm trên đường chạy trốn nữa. Hắn mở túi du lịch, bày lên bản hai mươi bánh thuốc phiện đã được gói kín trước mặt Thị Kim và nói ân cần:

- 20 ký chẵn đó, nghe!

Thị Kim kiềm đếm rồi nhận xếp vào tủ lạnh. Xong xuôi, Thị Kim lại mở tủ đứng, lấy ra một cái hộp, mở nắp, xếp ra trước mặt Hoàng 15 cây vàng, toàn là vàng lá Kim Thành.

Việc trao đổi làm thật nhanh gọn với thái độ hoàn toàn tin cậy lẫn nhau, như đã tin cậy nhau từ bao giờ rồi.

8 giờ sáng hôm sau. Đợi cho đường phố đông nghẹt, người xe qua lại tấp nập giữa giờ cao điểm, trong bộ đồ màu ghi sáng, Hoàng xách một cặp da như khách tàu Viễn Dương, bước vội ra đường, qua con hẻm, đổ về đại lộ Nguyễn Huệ. Hắn vẫy một xe xích lô:

- Cho tôi về xa càng miền Tây!

 Chiếc xe xích lô lao vun vút ra đường Hàm Nghi, xuôi về xa cảng. Hoàng châm một điếu thuốc, nhìn dòng người tấp nập, thở ra khoan khoái.

 

15. NGƯỢC DÒNG SÔNG HẬU

 

Chiếc xe lam chở đầy khách quá giang dừng lại ở huyện lỵ Châu Thành. Từ trên xe bước xuống, Hoàng tìm đến nhà Bích Thủy, một cửa hàng tạp hóa bán toàn đồ Thái Lan.

Chợt thấy Hoàng, Bích Thủy reo lên:

- Anh Hoàng! Em tưởng anh chết chìm ngoài Hà Nội rồi chứ! Sao tận bây giờ mới vô đây?

Hoàng vứt cái cặp xuống bàn.

- Làm ăn thua lỗ muốn chết đây!

Thủy long lanh đôi mắt:

-  Anh mà chết thì em đã hết sống từ lâu rồi! Anh coi, quầy của em lúc nào cũng đầy nhóc hàng Thái Lan thế này kia mà! Anh đi có một mình hay còn ai nữa?

-  Một mình! Anh đói rồi, có cái gì ăn được, em cho anh ăn đi!

- Thôi, khỏi phải nấu cơm. Anh lên lầu đi, em mua hủ tiếu cho anh ăn.

 Năm phút sau, từ quán hủ tiếu trước cửa nhà, Bích Thủy đã bưng về bốn tô hủ tiếu và đặt lên bàn. Thủy quay lại, khép chặt cánh cửa rồi bê món ăn lên lầu.

- Mời anh ăn đi cho nóng!

Hoàng đã ăn liền hai tô trong lúc Bích Thủy chỉ ăn hết một tô.

Ăn xong, Thủy pha một bình trà rồi ngôi kề vai với Hoàng:

 - Anh Hoàng! Bấy lâu anh chê em hả? Nói mau, không có em giận cho coi!

Không đợi Hoàng trả lời, ả đã vòng cánh tay để trần qua cổ người tình, chờ đợi.

Hoàng chỉ chờ có thế. Hắn đã đặt lên môi cô gái một cái hôn thật nồng nàn, thật cháy bỏng.

 Sau cái hôn mở màn ấy, Thủy mới thổ lộ:

– Bữa trước, anh ra Bắc rồi, em mới gom hàng Thái Lan về đây. Song đạo này hàng nhập về nhiều quá nên bán chậm, chẳng lẽ lại hạ giá đề bị lỗ vốn? Anh có cách nào tiêu thụ về thành phố dùm em được không?

 Hoàng cũng không cần giấu giếm:

– Anh cũng đang còn bị kẹt đây! À quên, chưa hỏi em: má đi đâu rồi?

– Má em về bên ngoại! Anh cứ yên tâm ở đây với em...

Thủy đổi sang giọng suồng sã hơn:

 – Cưng của em đừng có ngại, nghe. Ở đây rồi lát nữa em chiếu video cho anh coi! Toàn là băng ghi hình Nhật, thứ “xịn” hết chê!

 Nói rồi, ả cười khúc khích:

 – Phim hay thế mà mấy ông cứ lên án hoài! Rõ thật “quê một cục”!

 Hoàng ngả người trên ghế:

-  Hàng của em vẫn là những loại như trước?

Thủy gật đầu:

 – Chủ yếu là phụ tùng ô tô, honda và thuốc tây, loại kháng sinh thứ thiệt. Trời, sao bây giờ thanh niên đau bịnh hiểm nghèo nhiều thế?

Thấy Hoàng có vẻ buồn ngủ, Thủy nói ngay:

 – Em buông mùng cho anh ngủ nhé. Đêm qua anh lại thức khuya rồi phải không? Ngủ một giấc cho khỏe!

o0o

Thấm thoát đã bảy ngày trôi qua. Hoàng nghỉ lại nhà Bích Thủy không mảy may lo sợ. Hắn nghĩ thầm: nếu cùng lắm thì đưa Bích Thủy đi Rạch Giá nằm khách sạn là xong.

 Sang ngày thứ tám, Bích Thủy đưa Hoàng xuống một chiếc ghe chất đầy hàng hóa:

- Anh đi cùng em về thành phố. Vào sông Sài Gòn, em giao cho mấy tên đầu nậu rồi lại quay về đây đi Rạch Giá là vừa đẹp, nghe cưng!

Hoàng đành phải ngoan ngoãn vâng lời ả như một kẻ ngoan đạo.

Buổi chiều buông xuống bến sông thật êm ả. Ghe hàng đang chuẩn bị rời bến. Anh tài công và mấy thủy thủ, thuyền viên đón Thủy và Hoàng như hai người chủ hàng cỡ bự.

Một khoang rộng ở cuối ghe đã trải chiếu hoa, buông rèm hoa, dành riêng cho bà chủ, ông chủ.

Hoàng và Thủy khom lưng bước vào khoang đặc biệt này. Thủy vén màn, ra lệnh cho người tài công:

- Thôi, ta đi, anh Ba!

Chiếc ghe từ từ rời bến, rẽ sóng, ngược dòng sông Hậu.

Màn đêm buông xuống từ bao giờ không hay.

Ánh trăng thượng tuần soi vào khoang thuyền như thực, như mơ…

Hoàng nắm tay Thủy:

- Có thể giao hàng lên thành phố vào sớm ngày thứ ba được đó!

Thủy nhìn ra ngoài sông rộng. Đôi bờ từng quãng le lói ánh đèn của những quán hàng trên khắp mé sông...

12 giờ khuya.

 Hoàng và Thủy bỗng giật mình tỉnh dậy vì tiếng gọi của anh tài công:

- Cô Thủy! Cô Thủy!

- Gì vậy?

– Cô có nghe tiếng máy ca nô đó không? Ca nô tuần tiễu đấy. Hình như họ đang lao thẳng đến ghe của ta đó!

- Được, đề tôi coi!

Thủy lay Hoàng dựng gã ngồi dậy.

- Dậy đi, cưng! Có ca nô của công an.

Tiếng máy ca nô mỗi lúc một gần, cho đến khi ánh đèn pin loang loáng soi vào ghe, rồi có tiếng hỏi:

– Ghe chở hàng gì đấy? Xin mời ghé vào trạm kiểm soát bờ Nam!

Chiếc ca nô lướt chậm lại và áp sát mạn chiếc ghe. Thủy thò cổ ra, gặp một anh công an bên ca nô ngó sang:

 - Xin chào mấy anh. Ghe của em chở hàng cho hợp tác xã mua bán thành phố đây mà! Có chút hàng thôi. Mời mấy anh qua ghe của em chút xíu đã nào!

Một đồng chí công an bước sang chiếc ghe:

- Yêu cầu các anh, các chị cho ghe vào bờ và tất cả mọi người lên bờ để chúng tội kiểm tra!

Thấy thái độ kiên quyết của người kiềm tra, Bích Thủy đành phải bảo người tài công:

- Anh cứ cho ghe áp sát vào bờ.

Riêng Hoàng Đại Ca đã thấy sởn gai ốc. Hắn đảo mắt nhìn quanh: nếu nguy cấp quá thì tầu thoát đường nào đây?

Bích Thủy cũng đã thấy nguy, song ả vẫn còn hy vọng ở tài năn nỉ của ả đối với mấy anh công an.

Khi chiếc ghe đã áp sát bờ Nam, tất cả mọi người đều phải lên bờ, vào trạm kiểm soát. Bích Thủy đưa ra trước mặt anh công an tờ phiếu vận chuyển hàng hóa có ghi rõ đơn vị nhận hàng là hợp tác xã mua bán thành phố, người áp tải hàng là Bích Thủy, các loại hàng được ghi chung là: tạp phẩm Thái Lan nhập khẩu.

Trạm trưởng nói:

 - Chúng tôi được tin quần chúng cho biết: ghe của chị chở hàng lậu. Phiếu vận chuyển này lại ghi rất chung chung, mập mờ và không ghi rõ số lượng...

Thủy cười, năn nỉ:

 - Anh thông cảm dùm cho em, em không quên ơn anh mà...

Ả rút trong túi ra một phong bì dầy cộm đựng 300 ngàn đồng rụt rè đặt lên bàn.

Người trạm trưởng nghiêm nét mặt, gọi một anh công an đến:

- Tôi ủy nhiệm cho đồng chí lập biên bản ngay về tội đưa hối lộ của chủ thuyền đối với công an. Sau đó yêu cầu bốc hết hàng lên bờ lập biên bản xử lý!

Bích Thủy run lập cập, đứng im, ả lại đảo mắt nhìn tên Hoàng như thăm dò, xin một ý kiến cầu cứu.

Người trạm trưởng đã nhìn thấy, anh hỏi?

- Chị cho biết anh này là ai?

-  Dạ, thưa anh, đó là “ông xã” của em, đi quá giang với em về thành phố...

Phải một giờ sau, hàng hóa mới được bốc hết lên bờ. Phụ tùng ô tô, xe máy, thuốc tây, xa xỉ phẩm, tất cả đều được kiểm đếm và phân loại rành rọt ghi vào biên bản.

Dưới ánh sáng ngọn đèn măng sông, hàng lậu có giá trị bằng hàng mấy chục cây vàng. Thủy thủ, thuyền viên cả chục người buồn bã ngồi một bên. Còn bên kia là chủ hàng Bích Thủy và “Hoàng Đại Ca” không những buồn bã mà còn lo sợ đến muốn xỉu đi.

Khi trời sáng rõ thì từ hàng hóa đến con người đều được phơi bày rất rõ. Màn đêm đã không còn nữa, ánh đèn loang loáng không còn nữa. Bích Thủy đã buộc phải ký vào biên bản và đứng chờ một bên. Còn những người khác kề cả Hoàng Đại Ca cũng ngơ ngác, kẻ đứng, người ngồi chờ lệnh của trạm trưởng.

Trạm trưởng bước ra, nhìn thẳng vào Hoàng Đại Ca nói:

– Yêu cầu anh cho kiềm tra giấy tờ tùy thân!

Hoàng thực sự lúng túng:

- Tôi có chứng minh nhân dân đây ạ.

Anh công an cầm giấy chứng minh của Hoàng và hỏi:

-  Anh là chồng của chị Thủy?

- Dạ... dạ... tôi là bạn thôi ạ!

Mời anh vào trong trạm, mời anh ngồi, chúng tôi có câu chuyện cần nói với anh!

Hoàng run lẩy bẩy, nhìn Thủy rồi lại nhìn anh công an, củi đầu chờ đợi.

Anh công an lên tiếng:

- Anh Hoàng! Giấy tờ của anh ghi rõ tên anh là Nguyễn Đức. Chúng tôi còn biết anh có biệt hiệu là Hoàng Đại, tức Hoàng Đại Ca có phải không?

- Vâng vâng...

Chưa nói được thêm lời nào thì Hoàng đã nghe anh công an nói tiếp:

 - Anh Đức! Anh có lệnh truy nã đây!

Tờ lệnh truy nã có dán ảnh tên Hoàng ở góc bên trái được đặt lên bàn.

 - Anh nhìn rõ rồi chứ? Hành lý anh mang theo có những gì?

Hoàng mở chiếc cặp da: hai bộ quần áo, 100 ngàn đồng tiền mặt và 15 cây vàng (mới nhận của Thị Kim từ mấy hôm trước). Tất cả được ghi vào biên bản. Hoàng run rầy ký vào biên bản và sau đó, hắn được chỉ định ngồi vào một xó nhà với chiếc còng số 8 khóa chặt hai tay.

Hắn nghe rất rõ tiếng máy bộ đàm của anh công an báo về thành phố:

- Báo cáo đội trưởng: tên Hoàng Đại Ca có lệnh truy nã đã bị bắt.

 

16. LỜI KHAI VÀ CHỨNG CỚ

 

Cuộc thẩm vấn Hoàng Đại Ca kéo dài đã hơn một tuần. Văn Sinh đã có cả một tập hồ sơ dầy về hắn.

Hôm nay hắn đang ngồi đây, vẻ lì lợm in hằn trên bộ mặt hốc hác vì lo âu và mất ngủ.

Công an hỏi:

-  Anh là cán bộ, nhân viên, tại sao lại mang cái tên dữ dằn vậy?

Hắn đáp:

- Dạ, thưa ông, lý lịch của tôi các ông đã có trong tay, tôi tên thật theo giấy khai sinh là Nguyễn Đức, tức Hoàng Đại. Anh em đùa tôi nên gọi tôi là “Hoàng Đại Ca” cho vui thôi...

- Số vàng 15 cây là của anh?

- Dạ, thưa ông không phải đâu ạ, đó là của cô Bích Thủy, tôi giữ hộ cô ấy...

- Anh buôn chung?

- Dạ, thưa ông, tôi trót “cặp bồ” với cô ta thôi ạ. Cô ta là gái không chồng, tôi thì có khuyết điểm ạ, vì tôi đã có đến hai đời vợ.

- Khi anh ly dị vợ cả, chia gia tài với chị ấy anh có mấy cây vàng?

- Dạ, có 9 cây, chia đôi, tôi được 4 cây rưỡi ạ.

- Quà cáp anh biếu thủ trưởng có nằm trong số này không?

  - Dạ, tivi tủ lạnh tôi mua biếu 2 vị thủ trưởng cũ của tôi là do tôi buôn bán ở Sài Gòn kiếm ăn được, nên phải có quà biếu thủ trưởng ạ.

Văn Sinh nghiêm giọng hơn:

- Anh Hoàng! Anh chỉ nói thật những điều mà công an đã biết và như vậy thì anh đâu có tội. Anh nghe đây, tôi hỏi điều quan trọng, anh hãy trả lời cho đúng: anh quen vợ chồng ông Phan Chi từ bao giờ? Quan hệ buôn bán với nhau ra sao?

- Dạ, tôi quen ông Chi thôi ạ, vì khi tôi còn là trưởng phòng thì ông Chi thỉnh thoảng có bán cho cơ quan tôi xi măng, sắt thép (trả bằng séc). Đó là quan hệ bình thường giữa 2 cơ quan...

-  Anh có biết ông Chi chết?

- Dạ tôi có nghe ông ấy chết vì lái xe say rượu, nên xe lao xuống vực sâu...

- Anh có đến chia buồn với vợ ông ta?

- Dạ, có ạ.

- Chỉ chia buồn không thôi.

- Dạ, vâng ạ.

Văn Sinh lắc đầu:

- Không chỉ có chia buồn theo xã giao thông thường, mà anh còn “giúp đỡ” vợ ông Chi nữa kia mà!

-  Đâu có chuyện gì?

- Để anh khỏi quên, tôi cho anh nghe lời khai của bà vợ ông Chi nhé! Anh nghe đây!

Văn Sính ấn nút chiếc máy ghi âm và tiếng bà Chi đã phát ra nghe rất rõ:

 -  Thưa ông, sau khi nhà tôi chết, ông Hoàng đến thăm tôi 3 lần vào ngày, 28, 29, 30 tháng 8. Ông ta nói rằng: “Chị chỉ nên giữ tiền và vàng, còn số thuốc phiện đề trong nhà là nguy hiểm lắm vì công an tìm ra là chị sẽ đi tù. Tốt hơn hết là chị đưa cho tôi bán giùm. Tôi bán cho tụi tàu viễn dương Hải Phòng, Quảng Ninh, tôi sẽ thanh toán sau với chị. Từ mấy năm nay, tôi với anh chị có sai lời hứa bao giờ!”. Tôi đã buồn phiền về chuyện chồng con, sợ lại tù tội thì khổ thêm, nên đã đưa cả 20kg thuốc phiện mà chồng tôi đã cất giấu trong tủ hai ngăn cho ông Hoàng vào ngày 30 tháng 8.

Hoàng Đại liếm môi, lắp bắp nói:

 -  Dạ, thưa ông bà ấy nói sai ạ. Tôi đến chia buồn có một lần thôi.

Văn Sinh cười nhạt:

 - Anh Nguyễn Đức! Anh hãy khai thật thà! Anh trốn vào Sài Gòn, anh ngủ tại nhà ai ở con hẻm gần đường Nguyễn Huệ.

 Nghe câu hỏi này, tên Hoàng toát mồ hôi hột, hắn đưa tay gạt mồ hôi trên mặt, trên cổ, rồi nói:

- Dạ, thưa ông, ở nhà cô Kim ạ!

-  Đó! Anh thấy chưa? Từ 20kg thuốc phiện anh đã có 15 cây vàng lá và anh đã về Châu Thành xả láng với cô Bích Thủy phải không? Vậy thì 15 cây vàng lá của anh, chứ đâu phải của cô Thủy mà anh giữ giùm? Rồi lại khai bậy với chúng tôi? Thôi, bây giờ thì anh về phòng tạm giam và suy nghĩ cho kỹ đi! Tôi nhắc lại để anh nghe cũng không thừa, tội của anh đã rõ ràng, anh hãy khai cho đầy đủ, đường dây ma túy của anh từ Bắc vào Nam có tất cả những ai? Anh đã đưa thuốc phiện vào đây mấy chuyến? Bao nhiêu ki-lô-gam? Anh muốn được xem xét, giảm nhẹ một phần mức án thì phải khai thành khẩn. Ngược lại, thì pháp luật sẽ không tha thứ! Anh nghe rõ chứ?

- Dạ, thưa ông, tôi đã nghe rõ ạ.

Văn Sinh bấm chuông. Một đồng chí cảnh vệ bước vào, dẫn tên can phạm về phòng giam.

 

17. CÁI LÝ CỦA TUYẾT LAN

 

Văn Sinh bước vào phòng làm việc của Tuyết Lan khi cô đang loay hoay với bức điện của Đỗ Vân từ Hà Nội gửi vào cho Đại tá Trần Vinh. Thấy Sinh vào, có vồn vã ngay:

- Ta tìm ra địa chỉ của mụ Kim hơi chậm, nên tên Hoàng mới kịp chuồn về Châu Thành và mụ Kim cũng đã ôm cả khối thuốc phiện ấy... dông tuốt! Tại anh Sinh đấy!

Văn Sinh ngồi xuống ghế, đối diện với Lan:

- Tại tôi hay tại ai? Nếu “nữ thám tử” tài năng của tôi nặng nề hơn một chút nữa thì bọn tội phạm giờ đâu có thoát được?

Lan đối đáp ngay:

- Dạ, xin thưa với “ngài thanh tra”, ngài đã bỏ sót mụ Kim khi lấy lời khai của bà vợ Phan Chi. Nếu không có tài liệu bổ sung của anh Đỗ Vân thì trong này làm sao biết được mụ Kim đã vi hành ra Hà Nội rồi về Sài Gòn. Sau đó lại có tên Hoàng xuất hiện ở con hẻm gần đường Nguyễn Huệ và lệnh truy nã tên Hoàng cũng hơi chậm đấy ạ!

Văn Sinh đành phải xuống thang:

-  Xin thua cô em gái rồi! Thôi nói chuyện nghiêm chỉnh nhé. Sự chậm trễ của tôi đã được khắc phục bằng cách truy bắt được tên Hoàng, lại thu thêm được cả ghe hàng lậu của mụ Bích Thủy...

- Anh đã chịu nhận thua anh Đỗ Vân một bàn, nên lại bổ sung thêm một bàn thắng ở Châu Thành (Hậu Giang). Em cử tạm ghi đã, phần bình xét sẽ do thủ trưởng. Bây giờ, em xin hỏi “nhà thảm tứ đại tài”:  Mụ Kim đã ôm trọn gói thuốc phiện chuồn đi đâu? Ta sẽ làm gì để khui ra mụ Kim, hay lại để nó tuột khỏi tay ta một lần nữa?

Văn Sinh ngửa mặt lên trần nhà:

- Đó! Đó! Đau đầu là ở chỗ này đây.

- Theo em thì còn đâu nữa mà truy tìm! Nếu ta ra sức tìm thì họa may chỉ tóm được mu Kim tay không mà thôi!

 - Vì sao?

 -Vì từ hẻm đường Nguyễn Huệ đến cảng Bạch Đảng chỉ có ba bước chân thôi. Mụ Kim “hất” cho tụi tàu Viễn Dương là xong ngay! Cho nên số hàng đó bây giờ đã ở Xanh-ga-po hoặc Hồng Kông rồi còn gì! Và mụ Kim có thể cũng ra biển rồi.

- Sao Lan lại khẳng định như vậy?

- Vì qua nhiều vụ trước, em thấy khi đường dây của chúng đã bị ta cắt đứt lung tung, nghĩa là có động thì ở mắt xích nào chúng cũng chuyền hàng ra tiền và vàng cả thôi đề tránh nguy hiểm.

Văn Sinh gật gù:

- Lan nói có lý! Song tôi vẫn phải xin lệnh truy nã thị Kim!

 

18. CUỘC GẶP GỠ Ở ĐƯỜNG TÔN THẤT ĐẠM

 

Đường Tôn Thất Đạm (quận I) không dài lắm, song lại là nơi buôn bán thật sầm uất. Có lẽ vì con đường này gần chợ Bến Thành, lại không xa cảng Sài Gòn. Những sạp hàng chạy dài suốt hai bên hè phố. Thuốc là, đường, sữa, kẹo đủ loại đều có bày bán ở đây. Hàng nhập ngoại chiếm tỷ lệ tới 90%. Hàng bày bán mấy bữa này đã được dán tem thuế đàng hoàng. Song khách mua lẻ, mua buôn lại thường được giao các loại hàng chưa dán tem, trốn thuế để trong các con hẻm.

 Hàng dán tem rồi thì được phép lưu thông đàng hoàng. Cán bộ thuế cũng chẳng ngó ngàng đến làm chi.

 Sáng nay có một người đàn bà đi xe Honda P.C qua đường Tôn Thất Đạm. Phía sau xe của chị ta là một bịch hàng gồm hai loại thuốc lá ngoại đã dán tem. 20 cây thuốc Samit và 20 cây Gallant. Hàng dán tem rồi nên chị ta cứ đàng hoàng đi, ghé vào các sạp chào hàng.

 Ghé vào sạp hàng của một cô gái người Hoa, chị ta hỏi:

- Có lấy Samit và Gallant không?

Cô chủ sạp hàng đưa mắt nhìn bịch hàng rồi lắc đầu:

- Hàng dán tem rồi à? Không mua đâu!

 Chị ta lại kiên nhẫn đi chào ở mấy sạp kế bên. Sạp nào, chị ta cũng nhận được một câu trả lời:

- Không mua đâu! Mắc lắm!

Khi chị ta dắt xe vào cuối dẫy phổ thì người bạn hàng đỡ lấy bịch thuốc, nói đôi lời về giả cả và gom ngay cả bịch. Bà chủ sạp ném ra một cục tiền loại giấy bạc 5 ngàn đồng. Không cần đếm, chị ta bỏ ngay vào giỏ đặt trước tay lái xe máy và quay ra. Họ chào nhau bằng một cái nhìn thầm lặng.

Chiếc xe Honda P.C vừa quay ra, chưa kịp nổ máy thì chị ta đã nghe tiếng gọi:

- Cô Ba!

 Nghe rõ ám hiệu, người đàn bà nhìn lên:

- Kìa, anh Quý!

Lê Quý tiến sát đến bên người đàn bà:

– Chị Kim! Chị đợi tôi lấy xe rồi ta cùng về đường Cách mạng tháng 8, rẽ sang Tân Bình, tôi có việc phải bàn với chị!

Vài phút sau, hai chiếc xe cùng nổ máy, ra đường Hàm Nghi, lên đường Cách mạng tháng 8, về Tân Bình.

Thị Kim hỏi:

- Ta về đâu bây giờ?

- Về nhà bà Bảy, người mà chị vừa đưa hàng đó?

Thị Kim kinh ngạc:

- Thì ra anh đã quan sát thấy tất cả?

- Đúng thế!

Tại nhà bà Bảy, út Quyên - con gái bà Bảy – đưa hai người lên lầu I rồi út Quyên xuống nhà dưới để cho hai người khách của mẹ tiện bàn công chuyện buôn bán.

Lê Quý báo tin tức mới nhất:

- Từ hôm tôi bỏ nhà, lánh mặt đi Rạch Giá hai tuần, bà con hàng phố đồn đại là tôi theo bồ đi vượt biên. Tôi biết chị ra Bắc rồi lại vào. Bà xã tôi biết cả tin ông Phan Chi và thằng Kha chết vì tai nạn xe hơi, tin ông Hoàng Đại Ca đem hàng vào nhà chị, tin ông Hoàng bị bắt với Bích Thủy ở Hậu Giang, rồi lại biết chị sẽ đưa hàng cho bà Bảy, nên tôi đã đến đường Tôn Thất Đạm đón chị về đây!

Thị Kim khen:

 - Anh giỏi quá! Giỏi hơn cả công an. Anh xứng đáng là “Sếp” của tôi!

-  Chị quá khen tôi đấy thôi. Nếu tôi giỏi giang thì đã chẳng đến nỗi phải trốn chạy như thế này! Đường dây của ta xem ra chỉ còn lại có tôi với chị. Ta chờ bà Bảy giải quyết xong số hàng kia thu hồi vốn lãi rồi tôi và chị sẽ định ngày giờ đi khỏi Sài Gòn. Ở lại đây là rất nguy hiểm. Công an đang tung lưới bủa vây, nhất là sau khi họ tóm được ông Hoàng Đại Ca!

Thị Kim chưa hết lo âu:

- Không hiểu bà Bảy có đẩy được hàng cho tàu Viễn Dương không?

Lê Quý hỏi :

-        Chị đã gói cẩn thận chứ?

- Rồi. Mỗi ký bọc trong một cây thuốc lá Samit có dán tem thuế hẳn hoi, ai còn ngờ được nữa?

- Tình hình này  thì dù có sút một vài giá  cũng phải bán. Đừng có già néo đứt dây!

Buổi chiều, mụ Bảy lại đem cả số hàng về cho Lê Quý và thị Kim với tiếng thở dài thườn thượt :

- Nó nói giá thuốc ở Hồng Kông đang hạ, nên nó rút những 5 giá. Tôi bực mình không bán!

Mụ Bảy xếp lên bàn cả bịch thuốc  mà buổi sang mụ nhận từ tay thị Kim.

Lê Quý quyết định:

- Tôi sẽ đi tìm mối bán. Bà cứ cho chúng tôi tạm gửi ở đây một vài hôm!

Mụ Bảy rên lên khe khẽ:

– Cái của Bom Nổ Chậm này không nên để lâu ở đây. Tôi ngại lắm!

        Thị Kim nằm lại nhà mụ Bảy với bịch hàng, còn Lê Quý lại cưỡi xe quay về quận 5.

 

19. NỐI LẠI ĐƯỜNG DÂY

 

Gã đàn ông mang bí số C.2, người thứ hai tham dự “Hội thề” với Lê Quý và Bích Liên hôm nay ngồi uống rượu một mình trên căn gác hẹp. Hắn có thói quen tận hưởng cái thứ “độc ẩm” để say một mình vì hắn sợ lũ đàn em quá chén thường gây lộn, cản quấy sẽ làm lộ hết dấu vết của gã.

Gã thường nói:

- Tao say mà rất tỉnh. Chúng bay còn cần đến rượu mới dám lao vào đâm thuê, chém mướn nên dễ bị hạ, chết như rạ là phải! Tao khi xung trận là không được say, mới đủ minh mẫn để đá những cú song phi như trời giáng vào kẻ địch. Thắng trận rồi tao mới uống rượu say, say để ngủ ở cái sào huyệt này.

Hôm nay, vừa uống đến ly thứ hai thì hẳn nghe tiếng gõ cửa, gõ đủ 5 tiếng rụt rè, đúng mật hiệu. Hắn mở cửa và ôm chầm lấy Lê Quý:

- Có tin gì mới? Gửi được gì cho Bích Liên chưa? Liên còn giữ được “luật rừng” hay đã khai hết với công an rồi?

Lê Quý chậm rãi:

- Chưa có tin tức gì của Liên, song có việc nhờ anh đây.

 C.2 nói vừa đủ nghe:

- Tôi vừa mới uống được một ly. Thôi dẹp! Tôi không uống nữa đề còn tỉnh táo mà nghe ông nói. Ông nói đi!

Lê Quý nói:

- Chuyện đổ bề trong này, ngoài kia thì anh đã biết rồi. Tôi rất ngại là lão Hoàng Đại Ca bị bắt cùng với cô bồ của nó ở Hậu Giang sẽ làm cho đường dây của mình bị đứt thêm. Vì vậy cô Kim cũng phải chuồn khỏi đường Nguyễn Huệ.

- Kim đang ở đâu?

- Ở nhà bà Bảy Tân Bình!

- Có hàng hóa gì không?

- Có 20 ký của lão Hoàng mới giao cho.

- Sao không bán đi cho gọn?

 - Mấy thẳng Viễn Dương trả giá rẻ mạt quả!

-  Đưa đây, thằng Ba này bán cho bằng giá cũ!

- Anh giỏi lắm!

- Đâu có giỏi! Ông đừng khen tôi quá lời. Ông nên nhớ “thiên hạ nhân, thiên hạ tài”! Tôi luôn luôn xác định cho mình là... hạng bét để không bao giờ chủ quan. Còn khi hành động là phải hết mình nên tôi đã…bách chiến, bách thắng. Nếu mai đây có bại ấy là lúc Trời đã phụ mình đó. Nếu ông còn tín nhiệm tôi, ông bảo cô Kim đem 2 ký hàng mẫu đến đây, tôi chắp nối cho một đường dây mới thật an toàn. Và như vậy có nghĩa là ta lại làm một cuộc “kết nghĩa đào viên”, chỉ có tôi, ông và cô Kim! Ở đời thành hay bại là chuyện thường tình, đừng có hoang mang, chán nản! Tôi sẽ tìm cho ông một nơi và cô Kim một nơi ở thật kín đáo ngay lại Sài Gòn này thôi. Đừng có ngu dại như tên Hoàng vớ vẩn cặp bồ với con nhỏ Bích Thủy mà... sụp đổ luôn cả “cơ đồ nhà Hán”!

Lê Quý nghe hắn nói như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc vội nói:

– Tôi tin anh! Anh giúp tôi và cô Kim nữa nhé! Vậy bao giờ thì anh có thể gặp cô Kim?

 - Ngay bây giờ! Nhớ kèm theo 2 kỷ hàng làm mẫu! Phải tống đi ngay với giá có thể chấp nhận được. Giữ cái thứ quốc cấm ấy làm gì! Thôi, ông đi đi, dặn cô Kim đến đây cho thật lẹ, nghe!

 Hai gã chia tay.

C. 2 đóng chặt cửa, rồi dẹp bàn rượu, không thèm uống nữa! Phải tỉnh táo để hành động! Hắn tự nhủ như vậy và xoa xoa hai bàn tay nằm chờ Kim đến.

Hắn không phải đợi lâu. Một giờ sau, Kim đã xuất hiện sau 5 tiếng gõ cửa đúng ám hiệu.

Hắn dang rộng vòng tay đòn Kim:

- Xin chào chiến hữu! Cô Kim vào đây! Ta sẽ bàn công chuyện!

Đợi cho Kim đặt cái giỏ xách tay xuống bàn và lúc ngồi vào ghế, hắn mới nói: Mọi việc Lê Quý đã nói hết cho tôi nghe rồi, vì vậy mà Kim mới đến đây vào giờ này. Hàng mẫu đây phỏng? Tôi sẽ giới thiệu mẫu hàng cho khách và sẽ bán hết cả 20 ký ngay đêm nay với giá như chuyến trước. Thế là được chứ gì! Còn chỗ tạm trú của Lê Quý, tôi sẽ lo. Chỗ ở của cô tôi cũng sẽ lo! Cùng lắm thì Kim ở đây với... kẻ hèn này, có chịu không? Hay là lại... « nam nữ thụ thụ bất thân?

 C.2 vừa nói vừa liếc nhìn Kim một cái nhìn thật tình tử làm cho Kim hơi lúng túng:

-  Anh Ba đến là liều lĩnh! Anh coi em là... thế nào?

- Dạ, tôi rất kính trọng và không bao giờ làm gì với Kim nếu Kim không cho phép! Vì ở đời này, nhục nhã nhất là chơi không đẹp với nhau! Trong giới làm ăn với nhau lại càng phải chơi cho đẹp!

 - Em nhất trí với anh Ba! Muốn làm ăn lâu dài là phải “chơi đẹp”. Mọi chuyện anh Ba vừa đề nghị thì em xin anh hãy đề “hạ hồi phân giải”. Bây giờ chuyện 20 ký “cơm đen” này. Anh lo dùm em. Anh đừng uống rượu nữa! Em mời anh ăn ổ bánh mì pa-tê này, em đã chuẩn bị sẵn cho anh đây!

C.2 cười:

- Xin cám ơn! Cảm ơn sự tin cậy của Kim, chiến hữu nghiêng nước, nghiêng thành của tôi!

Gã đàn ông bẻ chiếc bánh mì làm hai phần và nói:

-  Kim cùng ăn với tôi cho vui!

 Kim nhìn người đang đối diện với mình. Cô chỉ thấy hắn là một gã... rất hiền! Vẻ mặt dữ dằn của hắn lúc này đã biến đâu mất?

Ăn bánh xong, Kim nói:

 - Thôi anh Ba đi đi. Em ở lại đây coi nhà cho anh đến chiều, nghe!

Gã đàn ông khoác cái túi lên vai:

-        Ô kê!

Thị Kim khép chặt cánh của sau lưng gã!

 

20. TRỞ LẠI ĐỘNG PHÙ DUNG

 

Văn Sinh nằm ngả người bên cạnh bàn đèn, đầu gối lên chiếc gối xếp. Nằm đối diện với Sinh là Lệ Huyền, cô bồi tiêm của Năm Phát. Sinh đỡ cái dọc tầu thuốc phiện từ tay Lệ Huyền đưa sang. Sinh bập môi vào đầu dọc tẩu và rít mạnh từng hơi khói thuốc. Điều thuốc phiện cháy xèo xèo tỏa mùi thơm phức trên ngọn đèn dầu lạc.

Từ bàn trà bên cạnh, Năm Phát nhìn sang anh bạn đang bắt đầu nghiện thực thụ, tỏ ý hài lòng về một môn sinh đã tự nguyện làm đồ đệ cho Nàng Tiên Nâu.

 Vũ Hùng ngồi cạnh Năm Phát cũng gật gù:

 - Chú ạ, tụi cháu hút một điếu lơ mơ, cảm thấy bay bổng, nhẹ nhõm hẳn người, còn khoái hơn cả chích!

Năm Phát cười khà khà:

- Các cháu cứ “làm” hai, ba điếu liền rồi lên phòng số 1 cho con nhỏ Lệ Hồng, Lệ Hằng mat-sa thì còn sướng gấp mười lần!

 Hút xong hai điếu thuốc phiện, Văn Sinh đã nhỏm dậy, vươn vai rồi cùng Vũ Hùng lên phòng số 1, Sinh nói với Hùng:

- Ta phải “ba cùng” với bọn này thì chúng mới tin ta.

Ngồi nói chuyện với Lệ Hồng, Lệ Hằng được một lúc thì có tiếng gõ cửa, rồi Mỹ Dung xuất hiện, gọi:

- Hồng ơi!

Văn Sinh nói ngay:

- Mời Dì Năm vào, tụi cháu đang còn nói chuyện suông mà!

- Này! Có một thằng nhỏ muốn bán thuốc, loại Bắc Hà tốt đó. Giá cũng mềm thôi! Chú Năm lấy 2 ký, còn lại 18 ký, các cháu có làm mai bán cho tàu Viễn Dương thì “thầu” luôn!

Văn Sinh ngỡ ngàng, vội nói:

 - Dạ. Cháu có mối tiêu thụ mà! Dì cứ nhận đi! Hẹn nó đến 8 giờ tối có được không?

 - Nó hẹn đến chiều mai kia mà!

-  Vậy thì càng có thời gian để nâng giá, dì Năm cứ tin ở cháu!

Mỹ Dung đứng dây, ra khỏi phòng.

Văn Sinh vui như mở cờ trong bụng, anh nói với Vũ Hùng:

- Ta cứ thử chạy mánh thêm một lần nữa xem sao?

Lệ Hồng và Lệ Hằng nghe nói có mánh là mừng quýnh lên:

- Hai anh trúng mánh thì nhớ khao tụi em nhé!

Văn Sinh cười tủm tỉm:

- Các em cứ yên tâm!

Chiều hôm sau, theo địa chỉ của vợ Năm Phát ghi, Văn Sinh và Vũ Hùng đến quán cà phê Hồng Ngọc tìm gã thanh niên có bộ mặt choắt, mặc sơ mi ca-rô ngồi ở bàn số 5 với mật khẩu “các anh có dùng Samit không?”

 Sinh và Hùng ngồi cho đến 2 giờ chiều mà chẳng thấy gã mặc áo ca-rô đâu! Ngồi nán thêm 15 phút nữa cũng không thấy.

Sinh nói với Hùng:

- Lại xạo rồi!

Hai người lững thững rời khỏi quán Hồng Ngọc. Về đến Động Phù Dung, kể lại cho Mỹ Dung nghe, Văn Sinh thở dài ngao ngán:

- Có lẽ nó thử thách chúng cháu đấy dì ạ. Làm thế nào bây giờ?

- Các cháu cứ lên lầu nghỉ đi. Nếu nó còn trở lại đây, dì sẽ gọi các cháu!

Quả nhiên, 8 giờ tối gã bụi đời lại xuất hiện trước cửa nhà Năm Phát. Hắn đến trước quầy thuốc lá của Mỹ Dung nói:

- Má ơi! Con xin lỗi má, lúc 2 giờ chiều con không đến được quán Hồng Ngọc vì kẹt ở nơi giao hàng. Bây giờ con mang đến cho má đủ 2 ký đây. Còn 18 ký chiều mai mới có.

Đến lượt Mỹ Dung từ chối:

 - Tôi chưa hề buôn bán với ai sai hẹn như thể bao giờ! Bây giờ tôi đâu có cần thuốc nữa! Cậu về đi!

Thấy về mặt lạnh như tiền của vợ Năm Phát, gã bụi đời không năn nỉ thêm, gã cầm 2 ký thuốc lủi thủi bỏ đi. Đi được vài chục mét, hắn rẽ vô gặp một người dắt xe Honda đứng đợi, gọi từ xa:

– Chú Ba! Chủ Ba Quậy!

Người có tên “Ba Quậy” hất hàm hỏi:

 – Không xong hả?

Gã thanh niên bụi đời nói như mếu:

– Mụ ấy bảo vì mình sai hẹn nên mụ hết tin, mụ từ chối không mua nữa!

 Ba Quậy ra lệnh:

 – Ngồi lên đây, tao đưa mày đến chỗ khác vậy!

Chiếc Honda chưa kịp nổ máy thì một anh cảnh sát đường phố từ quán nước mía bên kia đường đã lao vút sang nói như ra lệnh:

- Chiếc xe của các anh mang biển số giả, yêu cầu dắt xe về phường!

 Ba Quậy định nổ máy chạy trốn, nhưng bàn tay cứng như thép của anh cảnh sát đã nắm chặt cổ tay hắn ra lệnh:

 – Yêu cầu anh xuống dắt xe.

Hắn miễn cưỡng tuân lệnh, xuống xe cùng với gã bụi đời. Nhìn thấy gã bụi đời ôm khư khư một gói bọc giấy báo, anh cảnh sát nói:

– Lại còn gói gì đây nữa? Hàng lậu hả? Đem cả về phường giải quyết.

 Cùng lúc, một anh cảnh sát thứ hai cao lớn hơn đã xuất hiện, cùng áp giải Ba Quậy và gã bụi đời về phường.

Đi được mươi bước, Ba Quậy lại thấy một anh cảnh sát thứ ba lái xe Honda lướt tới, cũng “hộ tống” hai tên du đãng về nơi xử lý. Ba Quậy cảm thấy hết đường tàu thoát. nghĩ thầm: Hắn nghiến răng, nhăn mặt nghĩ thầm:

- Thế là sa vào ô phục kích của công an rồi!

Từ lầu 2 nhà Quảng Phát, Văn Sinh nhìn xuống đường, chứng kiến toàn cảnh hai tên gian bị tóm gọn. Anh mỉm cười sung sưởng:

- Cho bõ những ngày ta chờ đợi.

 Anh châm lửa hút một điếu thuốc lá thơm, thả khói bay lặng lờ…

o0o

Ba Quậy bị bắt với chiếc xe mang biển số giả... cùng với 2 ký thuốc phiện mà hắn giao cho gã bụi đời có tên là Tý “bụi” đã làm cho Thị Kim và Lê Quý vô cùng hoảng sợ. Cả hai vội chuồn đến tạm lánh ở nhà mụ Bảy Tân Bình với 18kg thuốc còn lại.

Riêng Ba Quậy chưa nghĩ ra cách nào để trốn khỏi trại giam. Y khai:

- Dạ, thưa cán bộ, em mồ côi từ nhỏ, không cha, không mẹ, bà con cô bác bảo rằng em là đứa con hoang. Em sống như con mèo hoang, từ nhỏ đã được các bạn bụi đời gọi là Ba tức Ba Quậy. Có lúc còn được lũ trẻ suy tôn là “đại bàng em”. Lớn lên em sống bằng nghề “chụp giựt” và đâm thuê, chém mướn. Hiện nay em nhập một băng chích xì ke ở quảng trường Quách Thị Trang, kiêm nghề tiêu thụ ma túy, dạ, đúng ra là bán xì ke, ma túy, ăn chặn của lũ “tiểu yêu”, ai thuê em bán thuốc phiện lậu, em cũng làm ngay. Hôm vừa qua, em gặp Hai Râu tức Lê Quý và Thị Kim, họ thuê em bán 20 ký thuốc, họ đưa trước 2 ký để chào hàng. Em giao cho thẳng nhỏ đến bán cho vợ chồng Quảng Phát tức Năm Phát, không ngờ bị các anh công an bắt giữ. Nếu cán bộ không thương em, thì em phải đi tù. Đi tù thì khổ lắm ạ, vì em cũng đã vào tù, ra khám về tội “quậy” và tội chích xì ke ma túy mấy năm trước đây...

Anh công an hỏi:

-  Chiếc xe Honda, anh sử dụng là của ai?

 - Dạ, xe của em mua ở chợ trời.

- Anh có biết tội buôn thuốc phiện lại của anh có thề bị phạt từ 10 đến 15 năm tù không?

 “Ba Quậy” lặng hẳn người khi nghe đến cái mức án 10 – 15 năm tù mà anh công an vừa nói. Cái cảnh mất tự do trong bốn bức tường trại giam đăng đẳng 10 – 15 năm trời thật sự làm cho y ngán ngẩm.

Anh công an lại nói tiếp:

 - Song nếu anh biết hối cải và khai báo thật thà thì mức án ấy có thể được xét giảm nhẹ, anh suy nghĩ kỹ đi! Chớ vì cái lợi trước mắt mà làm hại cả đời mình, để kẻ khác ăn ốc mà anh lại đi đổ vỏ cho chúng!

- Dạ, xin cán bộ thương em, khổ ải đã nhiều...

Thì ra Ba Quậy cũng không phải là kẻ can trường. Ngoài đời thì quậy, song vào tù, mới nghe đến mức ản có thể bị xử phạt đã... xanh mặt.

 Hai hôm sau, trời vừa đổ tối, một xe Honda chở hai thanh niên lướt đến đậu ở cửa tiệm Quảng Phát. Người ngồi sau xe bước thật nhanh đến quầy thuốc lá của vợ Năm Phát, đặt một lá thư trước mặt Mỹ Dung, nói:

- Nhận lấy, nghe!

 Nói rồi, người ấy vội vã chạy ra xe, nhảy phốc lên phía sau chiếc Honda đang nổ máy, ôm ngang lưng tên cầm lái. Chiếc xe lao như tên bắn về phía đường Trần Hưng Đạo, xuôi về Chợ Lớn.

Mỹ Dung giật mình hoảng sợ, mụ nhìn theo chiếc xe đã mất hút và run run mở chiếc phong bì: tờ giấy trắng vẻn vẹn có một dòng chữ: “Lời cảnh cáo của Ba Quậy: tao bị bắt vì vợ chồng mày. Chúng mày sẽ phải trả giả một ngày gần đây!

Ký tên: Ba Quậy

Mỹ Dung bỏ quầy thuốc, hớt hải chạy lên lầu:

- Ông Năm! Ông Năm! Có kẻ đe dọa đây nè!

Mụ kề lại câu chuyện vừa xảy ra.

Năm Phát đón tờ giấy từ tay vợ, xem xong, bình tĩnh nói:

-  Có thể đây là thủ đoạn của tên trùm sò!

Năm Phát gõ cửa phòng số 1, đưa cho Văn Sinh và Vũ Hùng lá thư hăm dọa ký tên Ba Quậy và nói: Các cháu xem đi và xử lý dùm chú vụ này!

Văn Sinh đọc lướt nhanh dòng chữ trong lá thư, rồi cười: Thằng Ba Quậy vừa bị công an bắt, còn đang nằm trong trại giam, làm sao viết được lá thư này? Đây là hoạt động của bọn trùm sò. Dì, chú cứ yên tâm, đề bọn cháu mai phục và sẽ cho chúng nó biết thể nào là lễ độ!

Khi Năm Phát ra khỏi phòng số 1, Văn Sinh mới nói nhỏ với Vũ Hùng:

- Vợ chồng lão này hoảng rồi. Bọn trùm sò của Ba Quậy còn hoạt động quanh đây... Chúng ta hãy cứ “án binh bất động” và chuẩn bị một “cú bất ngờ”!

 

21. VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG

 

Lê Quý hỏi Thị Kim:

- Ta đi đâu bây giờ?

Ngồi sau xe Honda, ôm ngang lưng Quý, Thị Kim nói qua tai Quý:

- Anh Hai cứ cho xe chạy sang Phú Nhuận, em có cô bạn thân tên là Thoa ở bên đó. Ta có thể lưu lại cả tháng cũng được!

 Quý tăng tốc cho xe lao nhanh về phía Phú Nhuận, và rẽ vào một hẻm sâu hun hút.

Thoa kêu lên vui sướng:

- Chị Kim!

- Giới thiệu với em: Anh Hai, bạn của chị…

Hai Râu nở một nụ cười:

- Rất hân hạnh được gặp Thoa!

 Hai Râu dắt xe vào nhà. Thoa đưa hai người lên lầu 1.

Kim nói thân mật:

- Chị và anh Hai có công chuyện, nên mới đến em đột ngột thế này và sẽ ở lại đây ít ngày đó!

 Thoa gật đầu:

- Em hiểu. Anh chị cứ ở lại, em sẵn sàng...

Căn phòng nửa ngoài là nơi tiếp khách, nửa trong kẻ hai giường ngủ trải đệm trắng.

Kim đặt hai chiếc giỏ chứa đầy ắp thuốc lá Samit vào góc phòng. Hai Râu ngồi vào bàn trà, nâng một ly trà đá Thoa vừa mang tới, Kim cũng uống một ly và nói với Thoa:

- Chị và anh Hai vừa qua một chuyến đi dài ngày, rất mệt, cần được nghỉ ngơi để đi tiếp sau khi bán hết hàng...

 - Hàng gì đó, chị?

-  Ma túy!

Thoa vui hẳn lên:

- Để em làm mai cho, bán được liền!

 Khi Thoa xuống thang gác rồi, Hai Râu mới năm ngả ra giường:

- Mệt quá! Bây giờ mới thấm mệt.

Kim ngồi bên cạnh:

- Tình hình này thì phải... đi biệt xứ mất thôi! Chúng mình đang bị săn đuổi tới cùng đó, phải không anh?

Hai Râu nói dứt khoát:

- Em cho con Thoa vài trăm ngàn và bảo nó bản hết cả 18 ký cho lẹ, nghe!

-  Sau đó rồi sẽ đi đâu, anh? Có thể đi Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang hoặc Hà Nội?

- Không, ta không đi hướng ấy?

- Vậy, sẽ đi hướng nào?

- Vượt biên! Đi hướng nào cũng có thề bị bắt, vào tù. Chi bằng ta vượt biên là êm!

– Đi Xanh-ga-po?

 – Không nên đi đường biển, gặp hải tặc thì chết càng nhục hơn. Cứ đi đường bộ, qua Cam-pu-chia rồi sang Thái Lan.

 – Thái Lan đâu có chứa chấp mình nữa?

– Cứ thúi vàng cho cảnh sát là xong hết!

Thấy Kim ngồi im lặng suy tư, Hai Râu thấy cần phải khích lệ thêm:

 – Cho đến giờ phút này, anh có thể nói với em rằng: thấy Hoàng Đại Ca bị bắt là coi như đã nguy ngập lắm rồi. Công an thấy anh bỏ trốn từ mấy tuần này họ sẽ truy nã. Ngoài Hà Nội, bà Phan Chi, sau cái chết của chồng, có thể sẽ khai báo về em với công an, nếu em ở lại thì thoát làm sao? Em có một mình, đi sẽ nhẹ tênh tênh. Anh có vợ con cũng đánh gạt nước mắt mà ra đi. Ổn định ở Mỹ, Úc, Canada rồi sau này anh sẽ bảo lãnh cho vợ con sang sau, hoặc lấy em làm vợ! Em có chịu không?

 – Anh thật kỳ quá! Em sống độc thân đã quen rối! Có chồng, có con, mệt lắm! Tình yêu, hạnh phúc là cái quái gì!

Hai Râu nhăn mặt:

- Anh sẽ đi tới cuối đất, cùng trời. Còn em, nếu không gắn bó với anh thì tùy em!

Kim nhún vai:

- Cũng liều nhắm mắt đưa chân! Cứ sang được đến Pháp, đến Mỹ, em thiếu gì bạn bè, thân thuộc?

Dáng người nhỏ bé, khuôn mặt thanh tú của Kim làm cho Hai Râu cảm thấy nao lòng. Hắn nắm chặt bàn tay người thiếu phụ:

- Anh không hề muốn ép buộc em!

-  Khi dấn thân vào con đường mà túy, em đã chấp nhận mọi hiểm nguy, song thà chết ngoài biền còn hơn phải ngồi tù. Cái nghề buôn bán xì ke ma túy này nó là như thế. Sống có thể là tỷ phủ hoặc có thể là chết mục xương trong tù. Còn một phút tự do ta cũng phải cố gắng! Anh thừa biết điều đó rồi!

Hai Râu nhếch mép:

– Anh đi lần này có mang theo súng ngắn và một băng đạn 20 viên. Khi nguy ngập thì bắn bỏ bất cứ ai cản trở mình, chỉ dành lại cho mình một viên đạn cuối cùng!

- Cho anh, chứ em thì em không cần viên đạn đó đâu!

-  Em cần gì?

- Em cần phải sống, Nếu không may bị bắt vào tù thì em sẽ tìm mọi cách để sớm được tự do và sẽ lại làm giàu!

- Em thật can đảm! Giỏi thật!

Kim lắc đầu:

-  Em đầu có giỏi, chỉ cần biết mình, biết người thì trăm trận đánh, trăm trận thắng! Dưới con mắt mấy ông vi-si thì anh là trùm sò nguy hiểm. Còn em chỉ là tiểu tốt vô danh. Mặc dù vậy, đừng đề vào tù rồi mới tìm cách ra tù. Còn được tự do, ta cứ lặn, lặn cho sâu! Lặn cho xa!

 Ba ngày sau. Mười tám ký thuốc phiện đã được Thoa bán hết. Thoa mang đầy một giỏ tiền về và một gói vàng chục cây đưa cho Kim và Hai Râu.

 Hai Râu nói với Kim:

 - Ngài mai, chúng ta có thể bắt đầu “cuộc hành trình qua ba bể”!

Thị Kim chợt nhớ đến bức thư của Hai Râu ký tên “Ba Quậy” gửi cho vợ Năm Phát để răn đe liền hỏi:

 - Anh Hai! Đối với mụ Mỹ Dung, anh có cần làm thêm việc gì nữa không?

– Từ chỗ mụ ấy từ chối không mua 2 ký thuốc của Ba Quậy, rồi Ba Quậy và tên bụi đời bị bắt, tôi nghĩ mụ lộ chuyện, nên sai hai đứa nhỏ đưa thư hăm dọa đề mụ chớ có dại dột nhúng tay vào công việc làm ăn của người khác. Thế thôi!

 – Mụ ấy nộp bức thư cho công an thì sao?

 – Càng tốt! Nếu công an còn săn đuổi chúng ta thì anh sẽ nổ súng!

 

 22. PHÍA TRƯỚC NGƯỜI LÍNH

 

Đại tá Trần Vinh chăm chú nhìn lại khuôn mặt tên tội phạm nguy hiểm có tên là Nguyễn Đức, tức Hoàng Đại, tức Hoàng “Đại Ca”. Hắn đang ngồi ủ rũ, đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ, hốc hác vì lo âu.

- Anh Hoàng! Anh khai cho rõ: trong một năm qua, anh đã đưa từ Hà nội vào Sài Gòn mấy chuyến thuốc phiện lậu? Số lượng bao nhiêu ki-lô-gam?

- Dạ thưa ông, tôi đã nhận của Phan Chi và Nguyễn Văn Kha 10 chuyến, 115 ký thuốc phiện, tôi làm nhiệm vụ tiếp chuyển trên đường dây.

- Anh thường giao hàng cho ai? Ở đâu?

-  Dạ, theo “nguyên tắc” đã được quy định, tôi chỉ được giao cho Lê Quý (tức Hai Râu) tại các quán cà phê, quán nhậu...

- Tại sao lần này anh lại giao cho Thị Kim?

- Dạ, thưa ông, vì Lê Quý đã bỏ trốn biệt tăm tích nên tôi giao cho Kim vì Kim được vợ Phan Chi ủy thác nhận sau kỳ ra Hà Nội thông báo tin Bích Liên bị bắt và Lê Quý bỏ trốn.

-  Anh có biết tác hại ghê gớm của thuốc phiện đối với hàng ngàn, hàng vạn người nghiện ngập, chích hút không? –

- Dạ, có. Xì ke, ma tuy có thể hủy hoại cuộc sống của con người.

- Vậy mà các anh cứ buôn, cứ bán?

- Dạ, thưa ông, vì chúng tôi ham lợi, chỉ cần trót lọt một chuyến, có thể thừa ăn cả tháng, phất lên nhanh chóng.

- Số thuốc phiện anh vừa mang vào còn để ở đâu?

- Dạ, như các ông đã biết, tôi bán tất cả 20 ký cho Kim lấy 15 cây vàng, xuống Hậu Giang tạm ở lại nhà Bích Thủy và tôi đã bị các ông bắt cùng với ghe hàng của Thủy...

- Anh có muốn nói gì nữa không?

- Dạ, thưa ông, tôi là người có tội, tôi đã khai bảo đầy đủ. Tôi xin được hưởng lượng khoan hồng để sớm được về với vợ con, gia đình ngoài Bắc...

- Anh hãy về phòng tạm giam.

– Dạ…

Sau khi tên Hoàng được đưa ra khỏi phỏng hỏi cung, đại tá Trần Vinh lật sang một trang mới của lập hồ sơ vụ án M.2. Bên cạnh ông là Văn Sinh, Vũ Hùng và Tuyết Lan những người đã trực tiếp tham gia trận đánh từ hai tháng nay. Ông nói:

-  Trong vụ án này có những tên quan trọng như: Phan Chi, Nguyễn Văn Kha, Hoàng Đại, Lê Quý, Thị Kim... Phan Chi và Kha đã chết vì xe lăn xuống vực ở gần Sơn La. Lê Quý tức Hai Râu và Thị Kim đang bỏ trốn. Còn lại có tên Hoàng bị bắt cùng các vệ tinh là Bích Liên, Thị Mai, Bích Thủy, Ba Quậy và một tên bụi đời tay sai của Ba Quậy. Một đường dây ma túy đã bị chặt đứt, song chúng ta còn nhiều việc phải làm. Các đồng chi đã đóng góp nhiều ý kiến hay vào phương án sắp tới. Tôi nhất trí với Văn Sinh: phải tiếp tục điều tra về cái chết của Phan Chi và Nguyễn Văn Kha để tìm ra nơi xuất phát của ma túy, có phải Chi và Kha chết vì tai nạn hay vì bàn tay của kẻ khác thi hành “Luật Rừng”? Ngày hôm trước, Chi ở đâu, đêm hôm trước Chi ngủ ở đâu? Uống rượu với ai mà Kha say rượu để xe lao xuống vực, Văn Sinh sẽ tiếp tục bay ra Hà Nội cùng Đỗ Vân sớm làm rõ vấn đề này. Tôi cũng nhất trí với Vũ Hùng: phải truy nã tên Lê Quý, tức Hai Râu và Thị Kim. Tên trùm sò này có thực đã vượt biên không? Hay chỉ là màn khói để chúng nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật? Tôi nhất trí với Tuyết Lan: phải xóa bỏ tụ điểm “Động Phù Dung” với tên nghiện hút Năm Phát và mụ tú bà Mỹ Dung cũng như xóa sổ cái hộp đêm chiếu vidéo đen ở Hà nội trong đó có con rể và con gái Phan Chi. Tệ nạn xã hội và tội phạm bắt nguồn từ những ổ chứa gái mãi dâm và chích hút, lậu có, công khai cũng có, đừng có hô hào suông hoặc “báo động” mà lại không “động”!

 Chúng ta là những người lính trên mặt trận an ninh, phía trước người lính là mặt trận, là những tên tội phạm cần truy quét, những đối tượng cần giáo dục, cải tạo.

 

Thành phố Hồ Chí Minh 1989

NGUYỄN THIỆN THUẬT



No comments:

Post a Comment