01 February 2024

TỪ CHẤT MEN TINH CHẾ



Truyện ký


Đầu năm 1976, xí nghiệp chế biến bột mì Tương Mai làm được một loại men khô có thể thay thế cho các loại men làm bánh mì mua của nước ngoài. Mỗi tạ bột làm bánh chỉ cần hai kilôgam men Tương Mai (trị giá 4 đồng) là có thể làm ra được 500 chiếc bánh có độ nở đều. Men Tương Mai trở thành món hàng hấp dẫn đối với các cơ sở làm bánh mì ở Hà Nội. Khách hàng gửi dự trù đến đặt mua men và đã phải xếp hàng đợi lấy men.

Xí nghiệp chế biến bột mì Chùa Bộc hồi đó cũng là khách hàng của xí nghiệp Tương Mai và đã phải xếp hàng chờ mua men. Có lần men Tương Mai sản xuất không đủ bán cho các bạn hàng quý. Xí nghiệp Chùa Bộc đợi đã ba ngày vẫn không mua được men. Phân xưởng bánh mì Chùa Bộc thiếu men đã phải nghỉ việc ba ngày. Ba ngày nghỉ việc đã dẫn đến hậu quả là làm hụt sản lượng 150.000 chiếc bánh và hàng vạn người tiêu dùng không có bánh ăn.

- Việc này xảy ra làm cho chị em chúng tôi tức lắm anh ạ!

Chị Hồng Nhung, kỹ sư, phó giám đốc kỹ thuật xí nghiệp Chùa Bộc hôm nay kể câu chuyện trên đây với tôi, vẫn còn nhắc lại nỗi bực bội của mình khi phân xưởng bánh mà phải đóng cửa vì thiếu men.

- Nếu có người đợi men như thế này thì không phải chỉ lỡ ba ngày mà còn có thể bị lỡ nhiều ngày nữa – Chị Nhung nói tiếp – Nếu ngồi bó tay tức là đã đầu hàng trước khó khăn. Vì vậy tôi đã đem bàn với tập thể phòng kỹ thuật cách làm men cho Chùa Bộc. Ý kiến của tôi được anh chị em rất tán thành và sự việc đã diễn biến như anh đã thấy.

Gương mặt chị Nhung rạng rỡ hẳn lên. Tôi nhìn vào đôi mắt chị. Đôi mắt long lanh ngời sáng nhưng còn có cả vết quầng thâm có lẽ do những đêm thao thức... Hơn bẩy năm công tác ở đây, chị có thêm bẩy tuổi đời cũng là hơn bẩy tuổi nghề, chị đã tích lũy cho mình một số kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhiều người quen biết chị đều cho rằng tuy bận bịu nhiều việc, chị vẫn giữ được những nét trẻ trung và một niềm vui tràn ngập của thời kỳ còn là sinh viên khoa hóa thực phẩm trường đại học Bách khoa Hà Nội. Ngày ấy, chị còn là cô thợ dệt 22 tuổi, chập chững bước vào cánh cửa trường Đại học Bách khoa. Trong hoàn cảnh chiến tranh lúc bấy giờ, nhà trường sơ tán nay Lạng Sơn mai Hà Bắc, chị vẫn mê mải với sách đèn. Thầy và bạn đã giúp chị từng bước thu lượm kiến thức khoa học kỹ thuật. Năm đầu vào đại học, chị Nhung mới có con trai đầu lòng hơn một tuổi. Chị gửi con lại cho ông bà và anh Hải — chồng chị – đã hết lòng khuyến khích chị theo học.

Năm năm sau, cô thợ trẻ trở thành kỹ sư hóa thực phẩm. Song, có một số kiến thức chưa phải đã là có tất cả, nên chị Nhung lại hăm hở bước vào cuộc sống sôi nổi ở xí nghiệp. Đây mới thực là một trường đại học của chị và của nhiều người khác.

Ứng dụng những điều đã học được vào thực tế thực không đơn giản. Chị Nhung tự nhủ như vậy và luôn luôn đặt cho mình một câu hỏi: “Mình sẽ phải làm gì đây để đền đáp sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước và khỏi phụ lòng mong ước của thầy, của bạn?”. Xí nghiệp chế biến bột mì Chùa Bộc có thiết bị do Liên Xô giúp ta xây dựng cùng với xí nghiệp Nghĩa Đô. Các chuyên gia Liên Xô và các đồng chí kỹ sư, cán bộ trung cấp ở đây đã góp nhiều công sức đề nâng cao sản lượng và chất lượng bánh. Chị Nhung sẽ kế tục những công việc của người đi trước.

Lúc này, tập thể cán bộ, công nhân xí nghiệp đang tập trung sức nâng cao chất lượng bánh mì. Bánh mì Chùa Bộc, Nghĩa Đô mặc dù đã thơm, ngon, tinh khiết so với bánh mì thủ công Tương Mai, nhưng người ăn vẫn cứ chê bánh mì Liên Xô là mỏng ăn không dòn tan như bánh Tương Mai. Làm cho vỏ bánh dầy lên là công việc của các bác thợ già có tay nghề lâu năm phối hợp với tập thể phòng kỹ thuật.

Xí nghiệp Chùa Bộc đã làm vừa lòng khách hàng với những tấm bánh có vỏ dầy, vàng rộm, nở đều bằng cách cải tiến thiết bị bỏ máy kẻ gạch chéo trên mặt bánh và áp dụng lối làm thủ công: Vạch một đường kẻ thẳng và sâu, bánh vào lò nướng lâu hơn mấy giây đồng hồ, bánh ra lò có ngay cùi dày ăn rất dòn hợp khẩu vị nhân dân ta...

Đảng ủy và ban giám đốc xí nghiệp luôn luôn quan tâm đến những tiến bộ kĩ thuật, lại càng phấn khởi khi được chọn làm thí điểm nâng cao chất lượng sản phẩm của thành phố. Ban giám đốc thường nói với các kĩ sư trẻ:

- Các đồng chí hãy mạnh dạn suy nghĩ và mạnh dạn xây dựng những công trình thanh niên, chúng tôi hết lòng ủng hộ, sẽ tạo mọi điều kiện để các đồng chí làm việc...

“- Ngày xưa, ông cha ta thường nói: cái khó bó cái khôn! Ngày nay, trong chế độ mới, ta phải làm cho cái khó nó ló cái khôn!”.

Câu nói trên đây của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại hội nghị tổng kết của ngành lương thực năm 1978 được anh chị em trong ngành coi như kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Cũng tại hội nghị này Thủ tướng còn nói riêng với anh chị em ngành lương thực Hà Nội:

“– Thủ đô Hà Nội phải đi đầu trong cả nước, các đồng chí phải phục vụ tốt hơn nữa, phải có đủ lương thực, có phẩm chất lương thực tốt và phải đem đến cho nhân dân dùng lúc mà nhân dân cần đến...”.

Toàn ngành đã học lập lời dậy của Thủ tướng. Xí nghiệp Chùa Bộc lẽ nào lại để cho cái khó nó bó mất cái khôn?

Ban giám đốc bèn gợi ý với phòng kỹ thuật:

- Tương Mai làm được men vi sinh vật, Chùa Bộc ta thử nghiên cứu làm xem có được không nhỉ? Cứ cái cảnh đi “ăn nhờ” như thế nay thì tức lắm! Phải suy nghĩ, phải làm thử, thất bại là mẹ thành công!

Chị Nhung lại cùng tập thể phòng kĩ thuật phân tích loại men Tương Mai, tìm hiểu những nguyên liệu cấu tạo nên men, công thức phối chế, qui trình gây men... Chị ôn lại những điều đã học được ở nhà trường. Ban giám đốc đang yêu cầu làm thử. Khách hàng đang mong đợi... Tất cả là một sự thôi thúc chị suy nghĩ và làm việc. Công việc gia đình của chị tương đối rảnh rang: Cháu trai đầu lòng đã lớn. Chị chưa có con thứ hai, không hề bận bịu vì con mọn. Phòng kỹ thuật lại có đủ phương tiện dụng cụ để nghiên cứu và thực hiện. Tại sao mình không mạnh dạn suy nghĩ, tại sao mình không xông vào chỗ khó khăn này? Trên sổ tay của chị đã có thêm những dòng chữ, những con số, ở những ký hiệu hóa chất, tất cả hợp thành một phương trình chưa có lời giải đáp.

Khi làm việc ở phòng thí nghiệm, lúc nghỉ ngơi, khi về nhà và kể cả trong giấc ngủ những công thúc pha chế lên men cứ ngổn ngang trong đầu óc chị kỹ sư trẻ. Mỗi sớm mai trở lại xí nghiệp, chị lại vật lộn với mớ nguyên liệu được chia theo liều lượng phối chế. Và có nhiều lúc, sau giờ làm việc, chị lại lắc đầu:

- Chưa đạt!

Ban giám đốc dõi theo từng bước đi của chị, lại ân cần thăm hỏi:

- Thế nào? Ta vẫn chưa đạt?

Chị Nhung đã trình bầy với ban giám đốc những kết quả bước đầu và triển vọng của công trình nghiên cứu.

Chị lại tìm đến bộ môn vi sinh vật trường đại học tổng hợp trình bầy yêu cầu của xí nghiệp và báo cáo kết quả nghiên cứu bước đầu của chị và tập thể phòng kỹ thuật.

Đồng chí Lân Dũng cán bộ giảng dạy trường đại học tổng hợp đã về ngay xí nghiệp đặt vấn đề phối hợp nghiên cứu cách làm men nước.

Hai trăm giống men đã được đem về nghiên cứu, sau bốn mươi sáu ngày làm việc say mê, chị Hồng Nhung và đồng chí Lân Dũng đã tìm ra được bốn giống men tốt có thể làm cho bột mì nở với thể tích to gấp ba lần. Trong bốn giống men này, lại chọn ra được một giống tốt nhất mang ký hiệu 76.

“Giống men 76” được cấy trong môi trường mạch nha đã phát triển nhanh và trở thành “Men nước Chùa Bộc” có thể bảo quản được trong mười hai giờ liền. Mỗi tạ bột mì chỉ cần 2.8 đến 3,5 lít men nước là đã có thể làm nở bột gấp ba lần. Giá thành men Chùa bộc lại rẻ hơn nhiều lần so với giá men của nước ngoài. Tự túc được men, Nhà nước ta còn tiết kiệm được một số ngoại tệ đáng kể.

Riêng Chùa Bộc trong 6 tháng cuối năm 1976 đã tiết kiệm 22.000 đồng và chất lượng bánh vẫn bảo đảm tốt.

Sáng kiến và thành công của tập thể phòng kỹ thuật được Sở Lương thực Hà Nội xét, công nhận và trao tặng số tiền thưởng hai trăm đồng.

Đảng ủy, công đoàn, ban giám đốc xí nghiệp lại gợi ý với phòng kỹ thuật:

– Các đồng chí hãy tiếp tục nghiên cứu để bảo quản men được lâu hơn, ta không thể dừng chân ở đây được...

Chị Hồng Nhung lại có thêm những suy nghĩ mới...

Làm thế nào để kéo dài tuổi thọ của “con men” và nâng cao sản lượng men? Đó là vấn đề đặt ra thật cấp thiết...

***

Năm 1978 đã đến với nhiệm vụ chế biến lương thực ngày càng cao hơn. Tỷ lệ hoa màu và bột mì bán kèm với gạo được quy định là 70 phần trăm. Với chức năng và nhiệm vụ của mình, xí nghiệp Chùa Bộc còn phải vươn lên những chỉ tiêu mới: sản xuất được nhiều bánh mì và mì sợi để phục vụ cho sản xuất, chiến đấu và đời sống. Đối với bánh mì, lượng men cần dùng càng lớn hơn năm trước.

Từ hơn một năm nay đồng chí trưởng phòng được điều động đi làm công tác khác, chị Hồng Nhung phải quán xuyến công việc của phòng. Trong bản đăng ký thi đua của chị đã ghi rõ những nhiệm vụ cụ thể được giao: Theo dõi chất lượng bánh mì, mì sợi. Hướng dẫn công nhân thực hiện đúng quy trình công nghệ; đôn đốc xử lý nước nồi hơi và vệ sinh nồi hơi; sau cùng là việc giảng dạy chương trình kỹ thuật công nghệ cho công nhân để phục vụ cho việc nâng bậc cho công nhân.

Lại còn công việc của công đoàn mà chị là phó thư ký, công việc của Hội đồng nhân dân thành phố mà chị là ứng cử viên trúng cử khóa 7... Tuy nhiên chị vẫn dành nhiều thì giờ nhất cho công việc nghiên cứu làm men. Có ngày chị làm việc luôn mười hai giờ, có đêm đang ngủ, chị giật mình choàng dậy vì có tiếng gõ cửa của công nhân. Họ đến báo cho chị biết một sự cố vừa xảy ra trong dây chuyền sản xuất ca ba. Chị lại từ nhà lắp ghép khu Kim Liên đi vội về xí nghiệp. Giải quyết xong sự cố cho máy chạy đều, chị mới lại trở về khu tập thể. Trời đêm đầy sao và lòng chị cũng dạt dào vui sướng...

***

Một hôm chị Lê, phóng viên của một tờ tuần báo, bạn đồng nghiệp của tôi đã gọi điện cho tôi báo một tin vui:

- Anh đã xuống xi nghiệp Chùa Bộc chưa?

Nghe tiếng quen thuộc tử đầu dậy nói bên kia, tôi trả lời ngay:

- Dạ, chưa đâu chị ạ!

Lại có tiếng chị Lê vừa nói, vừa cười:

- Chậm thế! Tôi tin để anh biết nhé: chị Hồng Nhung đã làm được men tinh chế rồi!

Tôi nói như reo lên:

– Thật ư chị? Vậy mời chị giới thiệu cho một bài...

– Anh không viết hay sao?

- Có chứ, chị!

Chúng tôi đã hẹn nhau cùng đến xí nghiệp Chùa Bộc vào một buổi sáng thứ hai đầu tháng tám. Chị Lê vừa công tác ở thành phố Hồ Chí Minh trở ra Bắc. Chị là một cây bút dễ tính, có giọng văn duyên dáng và bài viết của chị bao giờ cũng được kết luận bằng những nhận xét tinh tế.

Để có thêm đôi chút hiểu biết về loại men tinh chế để có thể giới thiệu thêm với chị Lê, tôi đã đến xí nghiệp Chùa Bộc một mình trước ngày hẹn đi cùng chị Lê.

Chị Hồng Nhung tiếp tôi trong phòng làm việc của công đoàn trên gác ba.

Chị kể:

- Không phải chỉ có phòng kỹ thuật chúng tôi làm được đâu anh ạ. Phải hết sức cảm ơn anh Lân Dũng ở bộ môn vi sinh vật trường Đại học tổng hợp, anh Tố ở viện công nghiệp đã hết sức giúp đỡ, khuyến khích chúng tôi trong công trình này...

…Như anh đã biết, từ men nước chúng tôi đã làm được bánh ngọt trong hai năm qua. Nhưng men nước có nhược điểm là bảo quản chỉ được 12 giờ và vận chuyển đi lỉnh kỉnh hơn. Tập thể chúng tôi suy nghĩ rằng phải cố gắng tách cho được phần nước trong men này ra, và chỉ để lại chất men tinh. Men tinh có khả năng bảo quản được lâu hơn và vận chuyển, đóng gói sẽ gọn nhẹ hơn.

Muốn tách phần nước trong men nước ra tất thế phải có máy li tâm. Chúng tôi bàn với anh Lân Dũng và anh Tố như vậy và tìm kiếm máy li tâm. Chúng tôi được anh em cho biết hiện nay nhà máy thực phẩm Hải Hà đang có một máy li tâm mới mua của nước ngoài với giá 12.000 đồng Chúng tôi không ngại vất vả, đem men nước xuống Hải Hà nhờ nhà máy này cho chúng tôi mượn làm phương tiện thí nghiệm. Tách nước nhưng phải giữ được men tinh lại nên chúng tôi dùng vải và - chất bột a-mi-đông (đã tách hết gờ-luy-ten) bao quanh giữ men lại. Tách thử bằng máy li tâm mẻ đầu, rồi mẻ thứ hai, thứ ba, chúng tôi đã có một loại men tinh ở thể đặc sánh rồi đặc sệt như kem. Kết quả này làm cho chúng tôi rất phấn khởi. Các anh ở Đại học tổng hợp và Viện Công nghiệp thực phẩm cũng rất hài lòng. Từ đó đi đến quyết định đề nghị mua cho được chiếc máy li tâm này về cho xí nghiệp.

Đề nghị của chúng tôi được giám đốc chấp nhận ngay và ít ngày sau, chúng tôi đã có máy li tâm đem từ Hải Hà về.

Đến đây thì có thể nói rằng ước mơ của chúng tôi đang trở thành hiện thực. Kết quả tốt đẹp đã ở “trong tầm tay” rồi! Chỉ còn một việc là cố gắng làm và học rồi lại làm.

Anh Tố, anh Lân Dũng lại giúp chúng tôi cho đến khi chúng tôi làm ra được cân men tinh đầu tiên ngay ở xí nghiệp Chùa Bộc này. Qua thí nghiệm thấy bột nở mau, bánh nở mau, chín vàng đều. Đảng ủy, giám đốc, công đoàn và cả các phân xưởng cơ điện, mì sợi, các phòng, ban trong xí nghiệp đều vui vẻ mừng cho chúng tôi, mừng cho xí nghiệp từ nay đã có thể hoàn toàn tự túc men tinh chế và trên đà này, sản xuất men tinh sẽ được đẩy lên và đáp ứng cho nhu cầu của các nơi khác nữa.

Chị Hồng Nhung hướng dẫn tôi đi xem qui trình sản xuất men tinh chế. Chiếc máy li tâm mới mua về từ nay trở thành của quý của xí nghiệp đang quay tít, đó là loại máy li tâm có kích thước vừa phải, gọn và đẹp. bên cạnh đó là hàng loạt thùng chứa đã khử trùng.

Và khi trở về phòng thí nghiệm, tôi đã thấy được men tinh gói trong những túi giấy bóng ở dạng đặc như bơ, hoặc có thể ví như những tấm bánh đậu xanh cũng được.

– Men tinh này – Chị Nhung nói tiếp – để trong tủ lạnh với nhiệt độ 2 độ C có thể bảo quản được hai tháng và vận chuyển rất gọn nhẹ!

Tôi nghĩ: đây cũng là đứa con chung vừa lọt lòng của tất cả hơn chục anh chị em công tác ở phòng kỹ thuật này và cũng lại là con chung của tất cả xí nghiệp nữa.

Tôi nhớ lại mới ngày nào, phải mới tháng 3-1977 tập san Lương thực – thực phẩm của Bộ Lương thực và thực phẩm có bài tác giả còn nêu lên một ước mơ là sẽ phấn đấu làm men tinh. Vậy mà mới hơn một năm sau, lần đầu tiên ở Hà Nội, men tinh Chùa Bộc đã ra đời.

- Chị Hồng Nhung có những đóng góp rất đáng kể...

Đồng chí Sỹ giám đốc xí nghiệp Chùa Bộc đã nói với tôi như vậy và cho biết thêm: Chị Nhung, sau bốn năm đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua, lại không ngừng nghiên cứu làm men, vừa được chi bộ đề nghị kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam và đề bạt bổ sung vào ban giám đốc.

***

Buổi sáng ngày thứ hai, tôi trở lại xí nghiệp Chùa Bộc và đi cùng chị Lê.

Chị Lê nói:

- Tôi còn dốt về khoa học kỹ thuật lắm. Anh đã đi trước một bước, anh giới thiệu cho tôi hiểu được thành công của chị Nhung với nhé!

– Tôi chỉ có thể nói đôi nét đại cương thôi chứ làm sao mà hiểu thật cặn kẽ bằng người chủ nhiệm đề tài được?

Và tôi đã nhờ chị Nhung hướng dẫn cho chị Lê nắm được cả qui trình sản xuất men tinh.

Trên số tay của chị Lê, tôi nhìn thấy đã chi chít những dòng chữ đẹp.

Tôi nghe chị Nhung nói với chị Lê sau khi ở phòng thí nghiệm ra:

- Chị viết thế nào là tùy chị, nhưng chỉ xin chị viết người đọc hiểu rằng đây là công trình của tập thể xí nghiệp, sự đóng góp của tôi chưa có gì đáng nói cả. Có một điều đáng mừng là chúng tôi có thể tự túc được men làm bánh...

Sự khiêm tốn của chị Hồng Nhung làm cho chị Lê cảm động. Tôi thấy hai chị nắm chặt tay nhau. Chị Lê nói với người bạn gái kỹ sư của mình:

- Chị yên tâm. Tôi sẽ viết, nhưng chắc là viết bao nhiêu cũng không thể nói hết được những nỗi nhọc nhằn của chị và của cả phòng kỹ thuật...

Trên đường về, chị Lê vẫn chưa hết say sưa, chị kể:

- Tôi tiếp xúc với nhiều anh chị em làm công tác khoa học kỹ thuật, nhưng phải nói thật với anh rằng: chị Hồng Nhung đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng đẹp. Tôi đặt giả thiết: nếu chị Nhung không có gì sáng tạo có lẽ chị cũng vẫn là kỹ sư như bao nhiêu bạn khác. Cái đáng quí ở chị Nhung ấy là sự suy nghĩ và sự sáng tạo. Tôi sợ nhất là cái chất ì ở một số người, chắc anh cũng có gặp những người ấy chứ?

Tôi gật đầu đồng ý với chị Lê vì câu nói của chị khiến tôi nhớ đến đôi ba người như anh X ở cơ quan nọ sau khi giật được mảnh bằng kỹ sư rồi lấy vợ và đi làm, anh ta đấu đá ra mặt để đòi tăng lương (!) suốt gần mười năm trời anh chưa có phát minh sáng kiến nào. Lại như chị Y làm công tác nghiên cứu ở một cơ quan kia, chị đã ngoài bốn mươi tuổi, hưởng lương kỹ sư bậc hai mà chưa hề có gì gọi là sáng kiến đáng kể, chị thường mượn cớ đi thư viện để đi xếp hàng mua rau, thịt, cá (!). Chị có con gái lớn chưa tốt nghiệp đại học đã chạy chọt và hướng dẫn cho “làm dâu” ở một “cửa nhà sang” để có được tiêu chuẩn tem phiếu cung cấp loại cao hơn người khác.

Cái chất ì ở anh X. và chị Y thật có đúng như chị Lê nói. Đất nước ta đang cần có những bàn tay sáng tạo, cần có những công trình nghiên cứu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Có anh kỹ sư, có anh phó tiến sĩ đi học nước ngoài về lại ra sức nằm lại Hà Nội, bám cho được “đất thánh” và không chịu sự phân công của tổ chức đi đến những nơi đầu sóng, ngọn gió...

Thấy tôi mỉm cười nhất trí với chị, chị Lê nói tiếp:

- Vì vậy, tìm cho được chất vàng mười, tìm cho được chất men tinh trong những chuyến đi của những người cầm bút thật là cần thiết có phải không anh?

Gương mặt chị Lê rạng rỡ thêm lên, tôi nhìn chị bắt gặp luôn cả niềm vui tràn ngập như niềm vui của người bạn gái có cái tên dễ nhớ: HỒNG NHUNG.

Hà Nội tháng 8 năm 1978

NGUYỄN THIỆN THUẬT

(Bài trong tập truyện ký HẠT GẠO NGHĨA TÌNH Nhà xuất bản Hà Nội 1979)

No comments:

Post a Comment