01 March 2023

TÔN NỮ HUYỀN TRANG

 



1.     ĐIỀM HẸN ĐÔNG BA

 

Mới tám giờ sáng, chợ Đông Ba đã đông nghìn nghịt. Trong quán cà phê Sông Hương, một người đàn ông đang ngồi trầm tư bên ly cà phê đen. Điếu thuốc lá trên tay anh ta tòa khỏi lững lờ. Gương mặt sạm đen của anh còn in những nét phong sương của gió bụi đường xa. Anh lơ đãng gõ nhịp bằng một ngón tay theo điệu nhạc từ một máy ghi âm Sanyo đặt bên quầy bà chủ quân phát ra trầm trầm.

Khi ly cả phê đã vơi một nửa, có một người đàn bà mặc bộ đồ bà ba đen bước đến ghế ngồi cùng bàn với người đàn ông. Bà gọi một ly cà phê sữa và một gói thuốc lá “Huế”.

Bà rút một điếu thuốc và nói vừa đủ nghe với người đàn ông:

- Cảm phiền ông, xin ông một mồi lửa.

- Dạ!

Người đàn ông đáp nhẹ nhàng và rút chiếc bật lửa ga. Ông bật lửa, ngọn lửa xanh vút cao rồi lại tắt. Ông bật lần thứ hai, rồi lần thứ ba, ngọn lửa vút cao được đưa sang phía người đàn bà.

Bà ta nhận ra âm hiệu và vui hẳn lên:

- Anh Tư!

Người đàn ông cười rạng rỡ:

- Chị Hai! Sao chị đến trễ vậy?

- Anh chờ tôi đã lâu?

- Dạ, từ 7 giờ 15 phút.

- Xin lỗi anh, vì chiếc xe lam chết máy giữa đường, quãng ngang chợ Phú Bình…

Người đàn ông nhìn người đàn bà, tỏ ra thông cảm:

 - Tôi từ Sài Gòn ra bằng xe du lịch mà cũng vất vả lắm đó, chị Hai ! Xin chị cho biết: hàng chuẩn bị đến đâu rồi?

Người đàn bà long lanh đôi mắt, hạ thấp giọng:

- Sẽ bàn với anh sau. Xin anh cho biết: anh tạm nghỉ ở đâu?

Người đàn ông cởi mở hơn:

- Phòng 202, lầu 2, khách sạn Hương Bình, đại lộ Trần Hưng Đạo, trông nghiêng ra phía cầu Tràng Tiền. Hai giờ chiều nay, mời chị Hai tới, tôi sẵn sàng hân hạnh đón chị...

Người đàn bà nhắc lại:

- Phòng 202...

Người đàn ông nhỏ nhẹ:

- Dạ!..

Họ chia tay nhau và người đàn bà ra khỏi quán Sông Hương, và phút chốc đã lẫn trong dòng người đang ồn ào ngoài cửa chợ.

Tư Bình chụp cái bằng có in chữ Panama lên đầu. Vẻ mặt anh tươi tỉnh hẳn lên. Anh cuộn tròn tờ bạc hai ngàn đồng bỏ vào chiếc ly đã cạn cà phê và cúi đầu chào bà chủ quán. Khoác chiếc túi du lịch nhỏ lên vai, Tư Bình bước ra khỏi quán, đi dạo một mình dọc vườn hoa trên bờ Sông Hương, bỏ lại đằng sau cả sau chợ Đông Ba mỗi lúc mỗi đông thêm.

Trước mặt Tư Bình là cây cầu Phú Xuân nối hai bờ Nam - Bắc sông Hương. Cây cầu ấy, cách đây 13 năm đã chứng kiến cuộc tháo chạy của tàn quân vùng I chiến thuật. Ngày ấy, Tư Bình còn là một trung sĩ của lữ đoàn dù thuộc “ quân lực Việt Nam Cộng hòa” tăng viện cho tướng Ngô Quang Trưởng “tử thủ” ở cố đô Huế. Cả lữ đoàn dù đã bị đánh tả tơi. Khi xe tăng quân Giải Phóng vượt Đông Hà thì tên lính cuối cùng của lữ đoàn dù cũng đã vượt qua cầu Phú Xuân chạy về phía đèo Hải Vân. Mạnh ai nấy chạy, Tư Bình đã trút bỏ bộ đồ trung sĩ, nhảy lên một chiếc xe đò qua đèo Hải Vân và ba ngày sau, thoát được về Sài Gòn.

Mười ba năm đã trôi qua như dòng nước sông Hương lặng lờ trôi chảy – “ trung sĩ Bình”  từ hai bàn tay trắng đã phất lên, xây dựng được một cơ đồ. Bên cạnh anh là Út Lan, cô vợ trẻ và đứa con đầu lòng tám tuổi có cái tên thật đẹp: Diễm Hương. Ngôi nhà của Tư Bình nhỏ bé, có mặt tiền rộng chừng ba mét chiều ngang, chỉ đủ cho Út Lan bày một tủ kiếng với những bao thuốc là đủ loại. Út Lan suốt ngày bận bịu vừa bán thuốc lá, vừa trông nom bé Diễm Hương. Tư Bình thường khuân về từng bịch thuốc lá. Bà con chung quanh thường nghe Tư Bình “ tâm sự”:

- Thời buổi làm ăn bây giờ thật khó khăn. Vật giá leo thang dữ quá! Vợ chồng tôi đành phải kiếm ăn qua ngày... Đô lúc tôi cũng muốn vượt biên, di tản nhưng Út Lan nhút nhát quá, chỉ sợ “xểnh nhà ra thất nghiệp”, lênh đênh trên biển mà gặp hải tặc thì... rồi đời! Thôi đành phải lần hồi vậy!

Cung cách làm ăn của vợ chồng Tư Bình với cái vỏ bọc bề ngoài là một quầy thuốc lá đã làm cho mọi người yên tâm về một cặp vợ chồng trẻ làm ăn lương thiện giữa Sài Gòn sôi động.

Nhưng phía sau quầy hàng, Tư Bình lại dặn dò Út Lan với tiếng nói tình cảm riêng biệt : - Phải “ lẹ, lẹ, nghe em!”. Em phải luôn luôn nhớ rằng công việc buôn bán của chúng mình là... tuyệt mật. Phải cắn răng lại, phải ngậm miệng lại mà làm ăn. Ngoài anh và em, không có ai có thể cứu giúp được mình nếu không may bị “đổ bể”.  Tốt hơn hết là đừng để cho đổ bể rồi mới đi lo lót thì mệt lắm!

Út Lan đã nép vào ngực chồng, nói nhỏ:

-  Anh khỏi lo! Em thà chịu chết chứ không bao giờ em hé răng đâu!

Và nói sao làm vậy, cả hai vợ chồng đã vượt qua được tất cả mọi trở ngại. Hàng trăm phi vụ đã trôi chảy. Tư Bình đã thu lợi hàng trăm cây vàng thật êm thấm, Mới hay, không phải chỉ có di tản mới có thể tìm được giàu sang ở bên kia bờ đại dương! Điều quan trọng là phải biết cách sống và... biết cách làm giàu (!) Cái “triết lý” này, Tư Bình xem ra có vẻ tâm đắc lắm! Anh ta cười thầm và biết bao lần được Út Lan thán phục sau những nụ hôn đắm đuối:

- Cưng của em thiệt giỏi!

Tư Bình lại ôm vợ vào lòng:

- Mấy “ông giải phóng” đánh giặc thì giỏi, nhưng quản lý kinh tế thì thật xoàng. Vì họ có lắm kẽ hở nên mình mới sống được. Thời trước ba má anh làm đã chảy máu mắt mới kiếm được đồng tiền, còn bây giờ... quá là dễ kiếm!

Miên man với những ý nghĩ vui vui trong lòng, Tư Bình đã thả bước đến Phú Văn Lâu từ lúc nào. Anh quay bước trở lại và phóng tầm mắt nhìn về phía cột cờ, phía Ngọ môn trong Thành Nội.

Bất giác, Tư Bình tự hỏi:

- Thành Nội kia rồi, vậy ngôi nhà của Tôn Nữ Huyền Trang ở đâu nhỉ? Biệt thự Hoa Quỳnh ở đâu nhỉ?

Tôn Nữ Huyền Trang, người con gái của Huế năm xưa, “ân nhân” của vợ chồng ta đó!

Tư Bình lại thả bước quay về, trước mặt anh là rạp hát Hưng Đạo và xa chút nữa là khách sạn Hương Bình, nơi sẽ diễn ra cuộc đón tiếp chị Hai Văn chiều nay tại căn phòng 202...

*  * *

Sau khi thấy hai phòng 101 và 103 đã vắng khách trọ, Tư Bình mới mở rộng cả hai cánh cửa phòng 202. Anh pha một ấm trà ngon, chuẩn bị đón người bạn hàng mà anh đã gặp ở điểm hẹn chợ Đông Ba.

Anh chờ đợi không lâu. Đúng 2 giờ 15 phút, người đàn bà ấy đã hiện ra trước cửa phòng.

- Xin mời chị Hai vào!

Hai Vân nhoẻn miệng cười, bước vào, dáng thật khoan thai:

- Chào anh Tư!

Hai người ngồi đối diện bên một chiếc bàn nhỏ.

Hai Vân mời khách một điếu thuốc lá “Huế”.

Khói thuốc, chén trả làm đậm đà thêm câu chuyện làm ăn.

Tư Bình vào đề:

- Tôi và chị Hai đều là người Sài Gòn, lại gặp nhau ở đây. Nghĩ cũng kỳ thật!

Hai Vân cười. Tư Bình nói tiếp:

- Cung cách làm ăn buộc phải như thế, ta phải chấp nhận. Làm cái công việc mạo hiểm này không thể đùa giỡn được. Đổ bề thì mất của, mất người. Số phận không may rơi vào ai, người ấy chịu, không thể để cho người khác phải liên lụy vì mình. Bây giờ biết nhau rồi, xin chị Hai cứ yên tâm cho biết hàng hóa chuẩn bị tới đâu rồi. Tôi xin gửi chị chiếc nhẫn hai chỉ vàng này làm tin. Sau đó, khi hàng đến ga Hòa Hưng, tôi sẽ gửi chị hai “cây” còn bao nhiêu, khi hàng vào Sài Gòn, tôi sẽ trả hết!

Tư Bình tháo chiếc nhẫn vàng từ ngón tay mình trao cho bạn hàng.

Hai Vân nhận chiếc nhẫn, lồng vào một ngón tay mình và nhìn Tư Bình rất ý tứ:

 - Anh Tư chu đáo quá! Xin cảm ơn anh Tư nhiều.

Ngừng một lát, Hai Vân lại nói tiếp:

- Tôi đã đến thôn Thượng, kiềm tra từng mối hàng. Người ta đã sơ chế và đóng gói xong cả. Chỉ chờ có xe là vận chuyền đi ngay!

- Có đủ một trăm ký không, chị?

Hai Vân gật đầu:

- Đủ, có nghĩa là có thể có dư một vài ký lẻ.

Tư Bình càng lộ niềm vui:

- Hay lắm! Còn tỷ lệ loại I, loại II?

Hai Vân chưa trả lời ngay, chị ta rít một hơi thuốc thật dai và nhả khói chầm chậm:

- Loại I (kỳ nam) tôi cố gắng gom mãi cũng chỉ đạt 30 ký, còn lại là trầm hương, so với kỳ nam, phải xếp loại II theo hợp đồng miệng với nhau là 70 ký, song họ vẫn đóng cho 72 ký. Cộng hai loại, ta có tất cả 102 ký.

Và chừng như đề yên lòng người bạn hàng mới gặp lần đầu, Hai Vân nhấn mạnh thêm:

- Còn phần quy cách đóng gói, cân đong, tôi bảo đảm chính xác một trăm phần trăm!

Tư Bình tỏ ra lịch lãm hơn:

- Chị khỏi lo! Tôi đã 13 năm lăn lộn với “nghề” chưa một lần nào sai sót phải ân hận. Tôi biết chị Hai cũng như các bạn hàng khác của tôi đều là những người chung thủy, có thể còn đi với nhau trên suốt chặng đường dài. Xin chị cho biết những bước tiếp theo tôi phải làm gì?

Hai Vân lại cười, khuôn mặt trái xoan của chị với nước da trắng hồng làm cho chị trẻ hơn được mười tuổi: chưa ai dám bảo chị đang ở tuổi bốn mươi. Tư Bình nhìn thật lâu hai lúm đồng tiền trên má Hai Vân. Chị ta lại hạ thấp giọng:

 - Hôm nay là thứ sáu. Xin hẹn anh Tư hai ngày sau, tức là chiều chủ nhật, cũng vào giờ này, anh Tư sẽ đợi tôi ở quán Sông Hương trong chợ Đông Ba.

- Dạ ! Xin cảm ơn chị Hai.

Hai Vân đứng lên, cúi đầu chào và bước nhanh ra cửa.

Tư Bình tiễn chân người bạn hàng ra đến hành lang. Anh nhìn đồng hồ trên tay: vừa đúng ba giờ chiều!

Anh trở về phòng, bước đi chậm chậm.

 

*  * *

Ra khỏi khách sạn Hương Bình, Hai Vân bước lên chiếc xe honda P.C, xe vượt qua đường Trần Hưng Đạo, rẽ qua đường Huỳnh Thúc Kháng đi về phía chợ Phú Bình.

Nửa giờ sau, Hai Vân đã vào đến thôn Thượng. Chị ta dắt xe vào một cái sân rộng và gõ cửa ngôi nhà ngói cổ kính nằm giữa một vườn cây. Cam, quýt, nhãn, dừa xum xuê, trĩu quả.

Nghe tiếng gõ cửa quen thuộc, một người đàn ông, đúng hơn là một ông già quắc thước, có mái tóc bạc phơ và bộ mặt hồng hào bước ra. Ông già vui vẻ:

- Chị Hai! Mời chị vào đây.

Hai Văn bước vào nhà và ngồi đối diện với ông già trên chiếc ghế gụ khảm trai, loại ghế cổ có từ thời “vua Bảo Đại”. Ông già cũng có cái tên của một dòng họ đầy quyền uy thuở trước: ông Tôn Thất Đàm!

Hai Văn được bạn hàng giới thiệu về “ông Tôn Thất Đàm” như một người rất mực thủy chung, thận trọng và điềm đạm.

Chị lễ phép thưa:

- Thưa bác, cháu đã nói lại với bạn hàng của cháu rồi về số lượng, quy cách, phẩm chất như lời bác dặn hôm qua.

Ông già cười khà:

-  Rất tốt! Rất tốt! Chị có thể rảnh tay được rồi. Hôm nay chị ở lại đây, tôi mời chị một bữa cơm xứ Huế.

- Dạ!

Hai Vân đã biết tính ông già. Chị im lặng ngồi uống trà trong lúc ông già nhóm lửa đốt trầm trong lư hương. Khói trầm bay lan tỏa khắp phòng, một mùi thơm tao nhã.

Ông già ngồi xuống ghế, cuốn một điếu thuốc tổ sâu:

- Chị Hai có biết không? Gia đình tôi buôn trầm kể đã ba đời. Tôi không biết làm thơ, song rất thích thơ. Trong truyện Kiều, có câu thơ bất hủ: “Ngàn năm dù có bao giờ, đốt lò hương ấy so tơ phím này”. Trầm chẳng những là hương liệu, lại còn là dược liệu. Tìm trầm cực kỳ khó. Bây giờ người đi khai thác nhiều, rừng lại bị phá nhiều từ mấy năm nay, nên người ta phải lặn lội vào rừng già, gian nan lắm, khác nào như những nhà thám hiềm. Ông nhà văn Thanh Tịnh, người của xứ Huế này đó, đã viết một cuốn bút ký xuất bản từ năm 1940, nhan đề là “Ngậm ngải tìm trầm” Theo ông Thanh Tịnh người đi tìm trầm phải ngậm bùa ngải và phải có thành tâm thì trời phật mới phù hộ để tìm được cây gỗ trầm. Bây giờ tìm được cây trầm tức là tìm được cây vàng rồi. Người đi tìm trầm có thể chết vì thú dữ, vì rắn độc hoặc vì bệnh sốt rét và tệ hại hơn có thể chết vì bị kẻ khác giết chết giữa rừng:

Hai Vân xót xa:

- Nghề tìm trầm quả là một nghề nguy hiểm!

Ông già nói tiếp:

- Ấy vậy mà mấy ông Ngoại thương cứ đặt giá thu mua rẻ mạt, rồi lại bày ra cải trò “bán hàng đối lưu” cho người có trầm bán cho nhà nước! Chưa kề chuyện thiếu tiền mặt, nay đợi, mai chờ mà tiền thì cứ mất giá!

Hai Vân hỏi thử:

-  Có khi nào bác bán trầm cho mậu dịch không?

Ông già lắc đầu :

 - Không bao giờ! Chẳng lợi lộc gì mà có khi còn  mang vạ vào thân! Chị có đọc báo không? Báo Đại Đoàn Kết ra đầu năm nay đăng hai số liền về vụ tòa án nhân dân tỉnh Phú Khánh xử hai vụ Ngoại thương Nha Trang và Ngoại thương Ninh Hòa. Ban đầu hai ông giám đốc bị buộc tội “đầu cơ trầm hương, cố ý làm sai chính sách, gây hậu quả nghiêm trọng”. Đoàn luật sư biện hộ cho các “bị can” đã bác bỏ hoàn toàn lời buộc tội của công tố ủy viên. Kết quả các “bị cáo” ở Ninh Hòa đều trắng án. Còn các “bị cáo” ở Nha Trang thì bị cảnh cáo nên họ đã ký đơn kháng cáo! Té ra ở cái tỉnh này, có vấn đề mâu thuẫn nội bộ, phe nọ muốn lật đổ phe kia nên dựng lên hai “vụ án” đầu cơ trầm hương. Các đại lý thu mua trầm hương cho Ngoại thương bị khám nhà, bị thu giữ tài sản, bị tạm giam trong khi họ đã làm lợi cho nhà nước hàng triệu đôla.

Ta không bán trầm cho nhà nước thì bị quy kết là “buôn lậu mặt hàng nhà nước độc quyền thu mua”. Cũng đành chịu mang tiếng xấu, chứ biết làm sao bây giờ? Chị biết không, tôi mua trầm của người khai thác phải trả giá cao bằng tiền mặt hẳn hoi, có khi phải trả bằng vàng! Mậu dịch không thể theo kịp tôi được đâu!

Hương trầm bay ngào ngạt khắp phòng làm cho câu chuyện giữa một người già và một người trẻ thêm ấm cúng.

Hai Vân nhỏ nhẹ:

- Vì vậy, cháu mới tìm đến nhà bác.

Ông già càng thêm đắc ý:

- Qua mấy chuyến rồi, chị biết hàng của tôi là hàng tốt, giá cả phải chăng. Tôi lấy tín nghĩa làm đầu thì mới “sống lâu, giàu bền” được! Buôn thứ hàng quốc cấm này mà giao du với người không đủ tín nghĩa thì nguy hiểm lắm!

- Dạ!

 Hai Vân càng nghe chuyện, càng cảm phục ông già dày dạn kinh nghiệm. Chị thấy như được tiếp thêm sức mạnh trên bước đường làm ăn của mình.

 

2. ĐƯỜNG DÂY SẮP ĐẶT

 

Gã phế binh ngụy hôm nay đến của quán ăn Cố Đô sớm hơn ngày thường. Một hộp kính hình chữ nhật đủ đựng 30 gói thuốc lá đủ loại, màu sắc sặc sỡ: Salem, 3 số 5, Du lịch, Bông sen, Huế, Vàm cỏ, Đà lạt v.v... Gã bán hàng khá chạy vì thuốc của gã buôn về toàn là thứ thiệt và giá lại hạ hơn mấy bà cùng ngồi bán đối diện, bên gốc cây. Cũng không mấy ai biết rõ tên gã là gì. Người ta quen gọi gã là “anh Ba Phú Bài”, bởi vì như gã tự giới thiệu — khi Huế chưa được giải phóng, gã là biệt động quân của vùng 1 chiến thuật thời tướng Nguyễn Chánh Thi còn là tư lệnh trưởng.

Gã bị thương nặng khi quân giải phóng đánh Khe Sanh. Bác sĩ quân y ngụy đã cắt bỏ đến đầu gối chân phải của gã. Từ ấy, gã đi bằng đôi nạng gỗ và đứng bán thuốc tây, rồi bán xì ke, ma túy ở Phú Bài, ngay cổng sân bay.

Sau ngày Huế được giải phóng, gã đem một vợ, hai con về ở phường Vĩ Dạ và tiếp tục nghề bán thuốc lá cho khách ở quán án Cố Đô. Cũng có người từ xa đến ăn ở quán Cố Đô, thấy gã bán thuốc lá niềm nở, lại tưởng lầm gã là một anh thương binh. Song, nếu tiếp xúc với gã đôi ba lần thì người ta lại hiểu rõ: gã là phế binh ngụy với cái tên quen thuộc “anh Ba Phú Bài”..

Ba Phú Bài bán thuốc lá, song gã không nghiện thuốc, đôi lúc buồn buồn gã mới hút một điếu, lại là thuốc ngoại. Khi đói bụng, gã lại vào tiệm Cố Đô ăn phở, ăn hủ tiếu đàng hoàng như một thực khách. Một tô phở thường kèm một vài cốc bia. Thấy gã xài sang, mọi người cũng coi là chuyện bình thường bởi vì họ yên chí là gã buôn bán phát tài. Túi tiền của gã lúc nào cũng căng phồng giấy bạc.

Thỉnh thoảng lại có một mụ “tú bà” đến nói nhỏ vào tai gã:

- Anh Ba “giải trí”, chút xíu đi! Có một con nhỏ con nhà lành hẳn hoi, 18 tuổi, xinh như mộng đang chờ anh Ba ở dưới đò kia kià!

Gã lại cười hềnh hệch:

- Cảm ơn!  Cám ơn! Nào thì đi!

Thế là gã lại dẹp buổi bán hàng khua hai cái chân gỗ đi về phía đầu cầu Tràng Tiền, xuống bến sông Hương, ngay bên hông chợ Đông Ba. Mụ tú bà te te chạy trước, vẫy gọi một con đò.

Ba Phú Bài chống nạng xuống đò. Con đò chòng chành rồi rời bến, trôi nhẹ nhàng ra giữa sông, xuôi về Phú Văn Lâu. Mụ tú bà được anh Ba “chịu chơi” thưởng luôn cho vài ngàn, mụ mau chóng lẩn vào chợ Đông Ba đang đông kẻ mua, người bán.

Sáng nay, Ba Phú Bài đến bán hàng sớm vì là “ngày hẹn”. Ngồi chừng nửa giờ, gã đã để ý đến một ông già vào quán Cố Đô như một người khách ăn sáng. Bộ âu phục màu rêu cũ kỹ của ông già chẳng làm cho ai chú ý. Ba Phú Bài liếc nhìn ông, thấy ông đang gọi một tô phở đặc biệt. Mười lăm phút sau, ông già ăn xong, lại lững thững đi ra, ông ghé vào hộp thuốc lá của Ba Phú Bài. Ông làm bộ chọn mua một bao thuốc lá Salem. Ông trả tiền và hỏi nhỏ gã phế binh:

- Có xe chưa, chú!

 Gã phế binh dường như chỉ chờ ông già hỏi có thế, gã sáng mắt lên, đáp:

- Dạ chưa?

Ông già châm một điểu thuốc rồi nói thật nhanh:

- Chuẩn bị gấp đi, rồi báo cho tôi, nghe!

- Dạ!

Ông già quay đi rồi sang qua đường, đến điểm gửi xe. Ông đưa vé, dắt ra chiếc xe máy Honda P.C. Chiếc xe nổ máy lướt qua đường Lê Lợi, đưa ông rẽ về thôn Thượng.

Gã phế binh nhìn theo ông già, hắn lầm bầm trong miệng:

- Giỏi thiệt! Ông già Tôn Thất Đàm giỏi thiệt!

Và nghĩa là gã hiểu ông già đã có đủ hàng, chỉ còn chờ xe chuyển mà thôi. Mà xe cộ thế nào là phải do tay gã.

Tự nhiên, gã cảm thấy bồn chồn. Gã đứng lên ôm cả hộp thuốc lá, chống nạng vào quán Cố Đô. Gã gọi một ly cà phê đen. Vừa uống, gã vừa nhìn sang bàn bên: một bác tài xế cũng đang uống cà phê ăn xong tô phở. Gã đặt ly, bước sang ngồi cùng bàn với bác tài xế, gợi chuyện:

- Chào anh Hai! Anh Hai ra Bắc hay vô Sài Gòn?

 Bác tài xế cười rung rung hai hàng râu mép:

- Vô Sài Gòn, có hàng gì chuyền đấy?

Gã phế binh mừng lộ ra mặt:

- Có mấy kiện thuốc lá thôi.

Không ngờ, bác tài xế đã vội lắc đầu:

- Hàng gì cũng chịu thôi, trạm kiểm soát Lăng Cô làm dữ lắm. Không đủ giấy tờ hợp lệ thì lại mang vạ vào thân!

Gã phế binh tròn mắt:

- Sao anh Hai không lo lót?

- Xe tôi chở xăng dầu, nay lại chở thêm thuốc lá là... tréo giò rồi! Với lại trạm Lăng Cô bây giờ khác lắm rồi, không qua được đâu!

Tưởng là bác tài xế làm phách để đòi giá cao, gã phể binh nói thẳng:

- Anh Hai gắng giùm cho, mấy “chỉ” tôi cũng lo mà!

Bác tài xế vẫn khăng khăng:

- Có cả “cây” tôi cũng không dám nhận, huống chị là mấy “chỉ”! Qua Lăng Cô mà vớ vẩn thì mất bằng lái như chơi. Thà chở mấy bà xin quá giang lại còn ngon hơn!

Gã phế binh thở dài ngao ngán. Hắn nhìn quanh mấy bàn bên cạnh. Chỉ có mấy anh thanh niên đầu xù đang ngồi uống cà phê với hai cô mặt bự son phấn.

Làm thế nào để đáp ứng được yêu cầu của ông già Tồn Thất Đàm?

Không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, gã hỏi thêm bác tài xế để mong tìm ra lối thoát:

- Anh Hai hiến kế cho bọn đàn em với nào! Chẳng lẽ “cửa ải Lăng Cô” lại ghê đến thế kia ư?

Bác tài xế được dịp phô ra tất cả hiểu biết của mình:

- Này nhé, xe lớn, xe con, tuốt luốt đều bị chặn lại khám xét rất kỹ. Vô số thuốc phiện, trầm hương đều bị khui ra. Mấy anh tài xế, kêu van như cha chết. Có anh bỏ của, chạy lấy người cũng không xong !

Trầm ngâm một lúc, gã phế binh chép miệng:

- Thôi được, cảm ơn anh Hai, tôi sẽ tìm mối khác, có thể là qua ga xe lửa xem sao.

Bác tài xế tỏ ra thông cảm:

 - Ừ, thử qua bên đó xem sao. Chúc may mắn nhé!

Buổi chiều, Ba Phú Bài chống nạng lê bước về đến Vĩ Dạ. Gã ngồi phịch xuống ghế, thở dài thườn thượt.

Mụ vợ nhìn chồng dò hỏi:

- Sao vậy, anh Ba? Ế hàng lắm hả? Hay lại bị công an dẹp chỗ?

Gã lắc đầu:

- Đâu có chuyện ấy!

- Vậy thì chuyện chi?

 Gã phế binh rót nước, tợp một ngụm, rồi bảo vợ:

- Mình ngồi xuống đây, tôi nói cho mà nghe: ông già Tôn Thất Đàm lại có hàng, nhờ mình tìm xe chở vào Sài Gòn. Tôi đã tìm hỏi mấy ông lái xe, ông nào cũng lắc đầu và nói rằng trạm Lăng Cô dữ lắm, không lái nào qua được. Xe lớn, xe nhỏ đều bị chặn lại, lục soát gắt gao. Tôi ngán ngàm quá, mình có cách gì không?

Mụ vợ có cái tên “Giang Ngựa” – vì thuở xưa mụ là gái điếm khét tiếng lẳng lơ, dữ dằn ở chợ Đông Ba - cười nhạt với chồng:

- Khỏi lo! Anh khỏi lo gì hết! Anh đừng đưa xe, đưa hàng đến trạm rồi mới lo lót thì người nọ gờm người kia, làm sao lọt được! Phải đàm phán trước với mấy cha nội này rồi hẹn giờ cho xe qua, đưa ám hiệu ra mà vượt qua Lăng Cô, dễ ợt!

Gã phế binh “à” một tiếng rồi hỏi:

-  Nhưng mình có quen ai chứ?

Mụ vợ vênh váo:

-  Sao lại không quen? Tôi quen lão Năm Phi, người có chức, có quyền trong ngành tài chính, lão có cả một bộ sậu dưới trướng, quyền “nghiêng thiên hạ", lão gật một cái là xong.

-  Nhưng tổn phí ra sao?

- Ồ, khỏi lo! Lão muốn gì ta cũng chơi. Vàng, đô la, gái trẻ. Nhà lão ở trong Thành Nội, lát nữa, tôi sẽ đến gặp lão! Hàng của ta nhiều hay ít? Ông Tôn Thất Đàm chịu chi bao nhiêu?

Ba Phú Bài tươi tỉnh hẳn lên:

- Trên năm trăm ký trầm, ông già Đàm sẽ chi một “ cây”.

Giang Ngựa cười khanh khách:

- Được, được ! Sẽ êm hết! Ăn cơm xong, tôi đi “đàm phán” ngay đây!

Hai vợ chồng gã phế binh nhìn nhau, đắc ý.

Ngoài trời, bóng tối chập choạng đã lan tỏa dần trên sông Hương.

 

***     

Thị Giang tìm đến nhà Tám Lai lúc trời đã tối sẫm. Căn nhà của Tám Lai rực sáng ánh đèn nằm giữa một vườn cam trong Thành Nội.

Tám Lai dang nàm khàn ở nhà, đã bật dậy khi có tiếng Thị Giang gọi ngoài cửa:

- Anh Tám! Anh Tám!

Đón Thị Giang vào nhà, Tám Lai hỏi ngay:

- Có việc chi mà Rồng lại đến nhà Tôm đây?

Thị Giang nhoẻn miệng cười:

- Có chứ! Có việc gấp lắm nên mới phải nhờ đến bàn tay Gia Cát!

Tám Lai rót nước mời người bạn sông Hương:

- Chị Giang uống nước đi rồi cứ phán bảo cho kẻ hèn này. Tôi có chịu thua ai bao giờ!

Thị Giang nói ngay:

- Này nhé: có một chuyến hàng hơn trăm ký trầm hương chuyền từ đây vào Sài Gòn, qua Lăng Cô sẽ bị kiểm soát dữ lắm. Chỉ có anh mới quen lão Năm Phi, Năm Phi lại nắm được cả trạm Lăng Cô, phải nhờ anh thì hàng mới vượt qua Lăng Cô một cách an toàn.

Tám Lai lắc đầu:

- Chậm mất rồi! Lão Năm Phi vừa được cử đi học chính trị dài hạn ở Hà Nội. Chân rết của lão ở Lăng Cô bị thay thế xáo trộn gần hết, làm sao mà móc nối được? Có mấy tay tài xế nhờ tôi mà tôi còn chưa làm được đây.

Thị Giang thở dài ngao ngán:  làm thế nào bay giờ nhỉ? Tài năng như Tám Lai mà còn phải khoanh tay? Tám Lai – như mọi người đã biết là con một me Tây, bố là lính lê dương đã chết, mẹ bỏ vào Sài Gòn. Tám Lai có mái tóc xoăn và cái mũi chim ưng khoằm khoằm giống bố, sống lang thang bằng nghề “đâm thuê, chém mướn” khi Huế còn bị Mỹ ngụy chiếm đóng. Sau ngày Huế được giải phóng, Tám Lai sống bằng nghề ma cô và chạy mánh hàng lậu. Vợ hắn chèo đò trên sông Hương, chở thuê cho những ả buôn hương, bán phấn.

Thị Giang suy nghĩ một lát rồi lại nhìn thẳng vào gương mặt sần sùi của Tám Lai:

- Anh Tám! Việc có khó mới phải nhờ đến mưu Gia Cát! Anh hãy gắng lên giúp tôi. Còn ông xã Ba Phú Bài của tôi thì không làm nổi, cứ lê cái chân cà nhắc thấy mà đã phát ngán! Anh cử làm đi, bằng mọi cách. Lão Tôn Thất Đàm hứa sẽ trọng thưởng đấy. Tôi xin “hối lộ” anh trước hết bằng một… con nhỏ, con gái nhà lành thứ thiệt. Nó nghèo quá, mới vào nghề, còn “ngon” lắm. Tôi hẹn nó đến đây ngay bây giờ để “hầu hạ” anh đêm nay. Được chứ anh Tám?

Tám Lai cười sung sướng:

- Chị làm tôi... khó nghĩ quả!

Thị Giang cười:

- Cứ làm “ đại” đi ! Cho nó may mắn.

Thị Giang quay ra cửa và nói như reo lên:

- Nó kia rồi! Vào đây, Ngọc Lan ơi!

 Cô gái có tên Ngọc Lan e lệ bước vào chào:

 - Chào anh Tám ạ!

Tám Lai cũng đon đả:

- Chào cô em!

 Thị Giang đứng dậy và nói với cả hai người:

 - Chị giới thiệu Ngọc Lan với anh Tám rồi và bây giờ thì tôi xin giao lại Ngọc Lan cho anh Tám đó! Tôi phải về có công chuyện gấp. Tôi mong rằng anh Tám sẽ không ngại khó khăn mà giúp tôi cho được toại nguyện nghe!

Tám Lai bậm môi rồi đáp:

- Tôi sẽ cố gắng hết mình!

Khi tiễn Thị Giang ra khỏi vườn cây, Tám Lai quay lại căn phòng đầy ánh sáng thì đã thấy Ngọc Lan trút bỏ áo ngoài để lộ hai bờ vai trắng muốt...

Tám Lai càng hiều thâm ý của Thị Giang, mụ đã đẩy anh vào vòng tay Ngọc Lan và anh sẽ phải làm gì từ ngày mai để khỏi phụ lòng mong đợi của người bạn giang hồ.

 

***

Trong lúc vợ chồng gã phế binh ráo riết chuẩn bị cùng với Tám Lai lo chuyển hàng qua trạm Lăng Cô thì ở thôn Thượng, ông già Tôn Thất Đàm cũng đứng ngồi không yên: ông vừa được tin Hai Lâm - người chuyên khai thác trầm kỳ – đã bị dân quân đón lõng bắt được cùng với một ba lô trầm kỳ khi anh vừa xuống núi.

Để giữ bí mật cho đường dây buôn lậu, ông già quyết định tạm hoãn giao hàng cho Hai Vân, mặc dù người đàn bà này cứ khẩn khoản xin nhận hàng ngay. Ông già nói như ra lệnh:

- Tôi đã quyết định là chị phải nghe tôi. Thà rằng chậm lại mấy ngày, chị ăn ở khách sạn có tốn kém thêm mấy chục ngàn đồng mà hàng đi được an toàn, còn hơn là nôn nóng mà bị vỡ lở thì lại ân hận một đời. Khi nào có thể giao hàng được an toàn, ấy là lúc tôi tin cho chị đem xe đến nhận, chị hãy vui lòng chờ đợi.

Hai Vân không dám trái lệnh ông già, một người mà chị đã hết lòng cảm phục.

 

3.     SỰ CỐ

 

Tin Hai Lâm bị dân quân bắt được với một ba lô trầm kỳ đã mau chóng lan truyền đi khắp thôn Thượng. Bà con xôn xao bàn tán:

- Thực là “ra ngõ gặp gái!”. Hàng nửa tháng trời cơm đùm, cơm nắm, lặn lội vượt núi, băng rừng, khai thác được trầm mà lại bị tóm. Có khi vừa mất người, vừa mất của!

Có kẻ ghen ăn tức ở lại nói hăng hơn:

- Trầm kỳ là hàng quốc cẩm, thà cứ bán cho mậu dịch lại được tiếng thơm, lén lút bán cho lão Đàm thì mắc kẹt là đáng kiếp rồi!

Ở trụ sở Ủy ban, Hai Lâm ngồi ủ rũ trước mặt ông xã đội trưởng, khi nghe ông hỏi:

- Lần này anh khai thác được mấy ký và định bán cho ai?

Hai Lâm nhìn vào ba lô chứa đầy trầm hương rồi lại nhìn ông xã đội trưởng, lễ phép thưa:

- Dạ, thưa ông, khoảng độ hơn 10 ký! Tôi đem về đây cũng muốn bán cho Ngoại thương, song mấy chú ấy trả quả rẻ, lại chưa có tiền mặt, mà chỉ phát cho một miếng giấy biên lai, hẹn vài tháng sau mới có tiền. Tiền lại đang mất giá từng ngày, hỏi rằng tôi chịu sao nồi ? Vì thế, tôi phải bán ra ngoài, ai mua thì tôi bán, cứ “tiền trao cháo múc”. Nếu Ủy ban đây có tiền mua thì tôi cũng bán.

Ông xã đội trưởng vẫn ôn tồn:

- Trầm kỳ là mặt hàng nhà nước thống nhất quản lý, anh nên bán cho Ngoại thương. Ủy ban không có chức năng thu mua. Chúng tôi chỉ khuyên anh không nên bán cho tư thương, họ đang mua tranh với nhà nước.

Hai Lâm đặt thêm một câu hỏi:

- Thưa ông: trầm kỳ ngày càng quý hiếm, nó nằm tít tắp trong rừng sâu. Nhà nước không tổ chức khai thác. Chúng tôi phải mạo hiểm vào rừng, có khi bị hổ báo ăn thịt, có khi bị rắn độc cắn chết hoặc kẻ cướp nó giết, mất xác như chơi. Đáng lẽ Ngoại thương phải trả công khai thác bằng cách đặt giá thu mua thỏa đáng, lại cứ ép cấp, ép giá, tôi làm sao chịu nổi? Nếu Ủy ban đã thu giữ, tôi xin nói thật: nếu Ủy ban cứ quản lý như thế này thì chả bao giờ có trầm kỳ, chả ai dám khai thác. Xử tù một người như tôi thì dễ quá, đó là quyền của chính quyền, nhưng tìm được người dám đi khai thác thì thật khó đấy, thưa ông.

Hai Lâm nói rồi lại ngồi ủ rũ. Ông xã đội gật gù ra chiều tâm đắc với lời khai và ý kiến của Hai Lâm.

Một anh thanh niên, không rõ là thư ký Ủy ban hay đội viên trinh sát của dân quân xã, đã nói chen vào:

- Tôi xin phép được góp ý kiến với anh Hai Lâm: Ủy ban sẽ không tịch thu số trầm kỳ này và chỉ yêu cầu anh bán cho Ngoại thương để Ngoại thương xuất khẩu bán lấy đô la, mua phân bón, thiết bị cho tỉnh. Còn giá cả và phương thức thanh toán, Ủy ban sẽ kiến nghị với Ngoại thương sửa đổi sao cho phù hợp với giá cả hiện hành và khuyến khích được người khai thác.

Hai Lâm nghe anh thanh niên nói rất có lý, song anh vẫn chưa hết hoài nghi về cung cách làm ăn cửa quyền của Ngoại thương. Anh bậm môi một lúc rồi nói.

- Các ông đã bắt giữ hàng của tôi, các ông xử lý thế nào cũng được.

Nửa giờ sau, Hai Lâm đã phải ký vào biên bản, nhận sẽ bán 10,5 ký trầm hương cho Ngoại thương.

 Anh thanh niên có bộ mặt dễ thương còn an ủi Hai Lâm:

- Anh yên tâm, chúng tôi sẽ can thiệp với Ngoại thương nâng giá thu mua và thanh toán sông phẳng với anh về chuyến hàng này. Đó là điều chắc chắn.

Hai Lâm chớp chớp đôi mắt, chưa hết ngỡ ngàng trước thái độ thật rộng rãi của anh thanh niên, được cả ông xã đội trưởng đồng tình ủng hộ.

Thì ra, anh cử tưởng là hàng bị tịch thu và anh sẽ bị xử tù. Vậy mà sự thật lúc này lại khác xa với điều anh lo lắng. Anh lắp bắp nói:

 - Xin cảm ơn các ông, xin cám ơn anh...

Đôi mắt của Hai Lâm nhìn anh thanh niên thật lâu. Tại sao anh ấy lại tử tế với mình như vậy? Hai Lâm cứ tự hỏi và chưa tìm được câu trả lời. Anh ta là người như thế nào? Hình như anh ấy là cán bộ cấp trên về xã công tác và mạnh dạn tham gia việc xử lý vụ việc này. Ôi! Thật là có lý, lại có tình! Anh ấy có nụ cười thật hiền hậu và một tác phong công tác thật dễ mến.

Hai Lâm chợt nhớ là mình còn có gói thuốc Hero chưa hút. Anh móc túi lấy ra gói thuốc thơm, bóc ra và mời cả hai người ngồi trước mặt mình. Ông xã đội vui vẻ rút một điếu thuốc, rồi anh thanh niên cũng rút một điếu. Anh thanh niên còn bật chiếc bật lửa ga châm điếu thuốc của Hai Lâm và nói lời “cảm ơn”. Hàng ria con kiến trên mép anh thanh niên động đây. Nụ cười thông cảm của người trẻ cuối cùng làm cho Hai Lâm yếu lòng và làm cho nỗi lo lắng trong lòng anh cứ với dần…

 

***

Lần thứ hai. Tư Bình trở lại chợ Đông Ba. Anh vào quán cà phê Sông Hương ngồi đợi người đàn bà bạn hàng có tên Hai Vân.

Một niềm vui nhẹ lâng lâng tràn ngập lòng anh. Mối hàng đã rõ. Đường dây đã sắp đặt. Chỉ còn ngày giờ giao nhận ở ga Hòa Hưng là có thể hoàn tất cho một chuyến hàng.

Điếu thuốc trên tay Tư Bình tỏa khỏi xanh lơ. Anh chờ không lâu. Người đàn bà đã xuất hiện trước cửa quán. Chị ta có dáng đi vội vã hơn lần gặp nhau lần đầu. Chỉ một thoáng nhìn dáng đi của người bạn hàng, Tư Bình đã có linh cảm về một chuyện chẳng lành có thể xảy ra. Và anh đã không khỏi giật mình khi Hai Vân ngồi vào bàn của anh. Nét mặt biến sắc của Hai Vân đã được giải thích bằng câu nói đau buồn:

 - Anh Tư! Có sự cố rồi! Có trục trặc rồi, đầu mối khai thác bị lộ, một người bị dân quân xã đón bắt và bị xử lý. Ông già Tôn Thất Đàm đóng cửa không tiếp khách và khuyên tôi tạm lánh đi ít ngày chờ cho tình hình ổn định rồi sẽ tính sau.

Tư Bình thảng thốt:

- Tôi lại phải trở về tay trắng hay sao?

Hai Vân an ủi bạn hàng :

- Đành vậy thôi, anh Tư!

Nói rồi, chị ta tháo chiếc nhẫn một chỉ vàng đeo ở ngón tay đặt trả trước mặt Tư Bình:

- Tôi gửi lại anh chiếc nhẫn này và sẽ xin gặp lại anh ở quán “ cà phê Hồng” đường Nguyễn Huệ (Sài Gòn) chiều chủ nhật tuần sau.

Tư Bình lặng lẽ nhận lại chiếc nhẫn vàng đeo vào ngón tay, chậm rãi:

- Thôi được. Trong chuyện làm ăn thì chuyện trục trặc cũng là chuyện bình thường thôi. Xin cám ơn chị và sẽ gặp lại chị ở “ cà phê Hồng”. Xin tạm biệt!

Tư Bình chụp mũ lên đầu và rời khỏi quán Sông Hương. Người đàn bà bạn hàng của anh cũng ra theo, chị ta đi lẩn ngay vào đám đông trước chợ.

Tư Bình lại thả bộ về phía đầu cầu Tràng Tiền, anh đi dọc theo bờ sông lên Phú Văn Lâu. Mấy chục ngàn đồng đã tiêu phí trong ba ngày chờ đợi, anh không mảy may tiếc tiền bạc mà chỉ tiếc thời gian bị trôi đi, không đem lại chút lợi lộc nào. Anh sẽ ăn nói ra sao với những người chờ đợi anh ở Sài Gòn?

Năm giờ chiều, Tư Bình rời khỏi khách sạn, ra bến xe liên tỉnh, anh vẫy một xe tắc xi, lên xe trở về Sài Gòn.

 

4.     ĐẦU MỐI

 

Xã đội trưởng Hoàng Văn Chi về đến nhà thì trời đã tối sẫm. Anh bạn trinh sát vẫn kiên nhẫn ngồi chờ bên bàn trà. Văn Chi cất tiếng hỏi:

- Anh Minh mong tôi lắm hả?

 Người trinh sát trẻ tuổi nắm chặt tay Văn Chi:

- Chắc là anh có tin thắng lợi ?

Hai người cùng ngồi xuống ghế. Văn Chi rót một chén nước đầy:

- Tôi xin kể anh nghe: anh nông dân khai thác trầm hôm qua có tên là Hai Lâm đã ngoan ngoãn nghe theo lời khuyên của chúng ta, anh ta đã đem cả ba lô trầm hương đến bán tại trạm thu mua của Ngoại thương, song Ngoại thương không có một đồng tiền mặt. Chả lẽ lại mang hàng về nên Hai Lâm đành phải bán chịu 5 ký. Cầm miếng giấy hóa đơn mua chịu của Ngoại thương trên tay, anh ta cứ tần ngần mãi. Thật là tội nghiệp. Anh ta nói:

- Tôi xin lại các anh một nửa (5 ký) này đề bán ra chợ, lấy tiền về mua gạo cho con. Chứ bán chịu cả thì tôi đến chết đói mất!

Anh ta đã đem 5 ký trầm còn lại ra về, không phải bán ở chợ Đông Ba mà đã đem đến thôn Thượng bán cho ông già Tôn Thất Đàm. Bán xong, anh ta đã nhảy lên xe đò trở ra Đông Hà rồi!

Anh trinh sát túm tim cười:

- Cách thu mua của Ngoại thương dở quá! Song cũng có cái hay là: giúp cho ta biết được đầu mối thu gom trầm là ông già Tôn Thất Đàm. Còn địa chỉ người bán là anh chàng Hai Lâm ở thị xã Đông Hà thì ta đã ghi lại trong biên bản xử lý hôm qua rồi. Vấn đề còn lại là từ nhà ông Tôn Thất Đàm, trầm hương sẽ phát luồng chạy đi đâu nữa, số lượng bao nhiêu? Bán cho ai? Ai chuyển đi? Chúng ta đều chưa biết.

Trần Minh nghĩ đến nhiệm vụ trinh sát của mình còn quá nặng nề, tuy anh đã dựa hẳn vào xã đội trưởng Văn Chi, song anh lại muốn chính bản thân anh phải lăn xuống địa bàn, tìm cho ra đường dây buôn lậu này.

Chừng như đọc thấy hết nỗi băn khoăn của trung úy Trần Minh, Văn Chi nói tiếp:

- Buôn trầm cũng như buôn thuốc phiện, buôn xike, ma túy, họ “lặn” giỏi lắm. Đi lại, tiếp xúc rất hạn chế, rất bí mật, có khi dùng mật hiệu, có lúc dùng hộp thư lưu. Người cùng nghề ít biết nhau, hoặc chỉ gặp nhau ở điểm hẹn, không bao giờ nói rõ địa chỉ đến. Hàng và tiền, vàng lại cất giấu phân tán. Lúc bị vây ráp, phải bỏ của chạy lấy người thì thiệt hại không đáng kể. Ta bám theo họ nếu họ biết thì mua chuộc bằng tiền, bằng gái. Khi cần “cắt đuôi”, họ sẵn sàng giết ta bằng dao găm, súng lục. Trong vụ này, anh hãy để cho tôi có thêm thì giờ giám sát chặt chẽ hành động của ông già Tôn Thất Đàm. Căn hộ của ông già này như một ốc đảo. Khi ta bắt giữ Hai Lâm, ông già thấy “động” đã khép kín cổng. Tôi chưa có cách gì khám phá được bí mật của ngôi nhà này.

Trần Minh giụi điếu thuốc cháy đỏ vào cái gạt tàn thuốc:

- Tôi xin ở lại đây, cùng anh khép kín vòng vây, sàng lọc đối tượng.

 

* * *

Trần Minh ngồi ở trụ sở Công an phường 2, xem chưa hết trang báo Bình Trị Thiên thì Thúy Hằng, cô bạn trinh sát đã vui vẻ bước vào.

Nhìn những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán cô gái, Minh biết là Hằng còn đang mệt. Anh rót ly nước mời cô gái và hỏi:

- Thắng lợi không, Hằng ?

Hằng uống một ngụm nước rồi đặt ly xuống bàn:

- Em phải ngồi uống cà phê khá lâu ở quán Cố Đô để quan sát tên phế binh ngụy. Nó vừa bán thuốc lá trước cửa, vừa săn đón mấy anh lái xe. Em nghe thoáng thấy nó gạ gẫm thuê mướn xe mà chưa thuê được. Em đoán chừng tên này có hàng muốn chở đi mà chưa chở được. Chưa rõ là hàng hóa gì. Ta thử khoanh một vòng tròn chung quanh tên này xem sao. Nó tên là “Ba Phú Bài”.

Minh nói như reo lên:

- Hay rồi! Cánh cửa đã hé mở đấy. Tôi đã có cách đưa hắn vào... “mê hồn trận” !

Thúy Hằng biết Minh đã nảy ra một sáng kiến hay, cô cũng vui lây cái vui của Minh, cô hỏi:

- Cách gì vậy, anh Minh? Nói cho em biết nào!

Minh tủm tỉm cười và giơ một ngón tay lên miệng:

- Bí mật!

Biết rõ cá tính kín đáo, thận trọng của Minh, Thúy Hằng không hỏi thêm nữa. Cô im lặng chờ đợi.

Minh nghiêng đầu sát vai Hằng:

- Hằng giỏi lắm! Hằng cứ tiếp tục giám sát “Ba Phú Bài”. Tôi sẽ triển khai kế hoạch ngay buổi chiều nay.

 

* * *

Chiếc xe IFA sơn màu đỏ có mui che kín bằng một tấm bạt, dừng bánh trước tiệm ăn Cố Đô.

Từ trên xe bước xuống là một tài xế đã đứng tuổi. Theo sau là anh phụ lái đeo kính mát với dáng đi nhanh nhẹn.

Hai người vào quán gọi hai tô phở đặc biệt, và hai chai bia. Họ ăn uống ngon lành. Khi bữa ăn sắp tàn thì “Ba Phú Bài” đã chống nạng đến, chìa hộp thuốc lá ra mời:

- Anh Hai mua cho em gói Hêrô nào!

Người phụ lái trẻ chọn ngay một gói:

- Bao nhiêu đây?

- Dạ, xin anh ba ngàn!

 Nhận tiền xong từ tay người phụ lái, gã phế binh ngồi ghé xuống bên cạnh anh phụ lái; gã nhập đề:

- Anh Hai đi Đà Nẵng hay đi Sài Gòn?

Anh phụ lái đáp:

- Đi Sài Gòn! Cậu muốn “quá giang” ?

Gã phế binh hạ thấp giọng:

- Dạ, em có chút hàng, cảm phiền anh chở giúp.

- Hàng gì vậy?

- Dạ, thuốc lá nội thôi mà:

- Chở từ đâu?

- Toàn là thuốc lá “Huế” đã đóng thành từng kiện và chở ngay từ phố Trần Hưng Đạo đây thôi.

- Mấy kiện ? Bao nhiêu ký?

- Dạ, hơn chục kiện thôi mà.

Bác tài xế đứng tuổi từ nãy vẫn thản thiên uống nốt ly bia, song bác không hề bỏ qua câu chuyện giữa hai người. Lúc này bác mới thủng thẳng nói:

- Xe chở nặng rồi, cũng hơi kẹt đó!

 Thấy bác tài nói có vẻ khó khăn, gã phế binh lại quay sang bác, năn nỉ.

- Dạ, thưa bác, bác chở giùm cháu, cháu không quên ơn bác.

Anh phụ lái nói thêm:

- Tôi thông cảm, song quyết định là quyền của bác tài, tôi chỉ là phụ lái thôi.

Gã phế binh nhử mồi:

- Có mười kiện hàng thôi, bác chở giùm cháu. Bác lấy bao nhiêu tiền, cháu xin chịu!

Bác tài xế chậm rãi:

- Tiền thì tất nhiên phải trả rồi. Song hôm nay tôi phải đi gấp. Mấy bữa nữa sẽ quay ra chở được. không?

- Dạ, cháu cũng cần gấp lắm bác ạ.

Bác tài xế cười và nhìn xoáy sâu vào đôi mắt lấm lét của gã phế binh:

- Tôi hỏi thiệt chú nhé:  ngoài thuốc lá, chủ có còn hàng gì nữa không? Nếu có cái món “quốc cấm”, “cơm đen”, xì ke, ma túy thì phải nói trước và phải chi trội, tôi mới chở.

Gã phế binh tỏ ra thán phục, hắn chắp tay vái dài:

- Xin bái phục đại ca!

Gã hạ thấp giọng:

- Xin thú thực với đại ca: có chút trầm hương thôi! Chạy đường Quốc lộ 1A này, đại ca còn lạ gì đàn em nữa?

Anh phụ lái nói chen vào:

- Tôi biết ngay mà! Vậy trầm hương nhét bên trong hộp thuốc lá?

Gã phế binh vẫn đều đều:

- Trong 10 kiện thì chỉ có 5 kiện có giấu trầm kỳ. Khi xếp lên xe, sẽ xếp xuống dưới...

Tổng số lượng là bao nhiêu?

- Dạ, thưa một trăm ký!

 Bác tài xế nói như ra lệnh:

- Nhiều đấy, phải chỉ trả ít nhất là 5 chỉ.

Gã phế binh bàng hoàng:

 - Dạ, 5 chỉ thì hơi nhiều ạ.

Anh thanh niên đáp ngay:

- Giá ấy là mềm rồi. Đến Sài Gòn, với 100 ký này, các anh kiếm lời cả chục cây, tại sao lại không dám trả tôi 5 chỉ?

Một phút im lặng. Gã phế binh đắn đo rồi lại nói:

- Đại ca lấy 3 chỉ thôi!

Bác tài xế xằng giọng:

- Vậy chú đi thuê xe khác.

Sợ rằng “già néo sẽ dứt dây”, gã phê binh chấp nhận:

- Dạ, em xin đưa đại ca đủ 5 chỉ ạ.

Anh thanh niên gật đầu:

- Vậy thì ta đi thôi! Anh ngồi lên xe đưa chúng tôi đến chỗ hẹn, chờ hàng!

Cả ba người vui vẻ ra khỏi quán Cố Đô và cùng lên xe. Gã phế binh được ngồi trong ca-bin, cạnh bác tài xế.

Còn anh thanh niên đứng ở cầu lên xuống, một tay bíu vào cánh cửa buồng lái.

Chiếc xe IFA từ từ lăn bánh qua cầu Phú Xuân về phía An Cựu.

Xe dừng lại trước một căn nhà lợp mái tôn bên bờ sông An Cựu.

Gã phế binh mở cửa xe, nhảy xuống đường, gã chống nạng đến trước cửa ngôi nhà, gã hỏi bà già chủ nhà:

- Có ai mang hàng đến đây không, má?

Bà già có đôi mắt kèm nhèm, khi đã nhận ra gã phế binh là người quen, liền nói:

- Mấy ông nói hàng bị “kẹt” rồi, nên chưa đem về được. Có xe nào xin chở cũng thôi!

Gã phế binh thất vọng quay ra, leo lên cabin nói như mếu với ông tài xế:

- Lỡ hết cả rồi, xin lỗi đại ca, chuyến sau xin ghé qua quản “Cố Đô”, em nhất định không dám để lỡ.

Trước vẻ mặt ngao ngán của bác tài xế, và người phụ lái, gã phế binh đã móc túi lấy ra một xếp giấy bạc hai chục ngàn đồng đặt vào tay bác tài xế:

- Em xin biếu bác và anh phụ lái và xin hẹn lần sau ở “Cố Đô”.

Hắn lại nhập xuống đường, tập tễnh đi trở lại phía nhà hát để quay về cầu Tràng Tiền trong lúc chiếc xe IFA từ từ rẽ ra Quốc lộ 1A đề đi xuôi về phía Nam.

Bác tài xế và anh phụ lái cùng đốt hai điếu thuốc thơm. Anh bạn trẻ nói với người bạn già:

- Có lẽ vì “động” cho nên chúng nó co lại rồi!

 Chiều hôm ấy, anh phụ lái – trung ủy Trần Minh cải trang- trở lại trụ sở Công an phường 2. Thúy Hằng đã ngồi chờ anh từ hơn nửa giờ. Cô nở một nụ cười tươi:

- Đạt yêu cầu chứ, anh Minh ?

Minh lắc đầu:

- Cảm ơn Hằng ! Tên phế binh định giao hàng ở An Cựu, song có lẽ bị “ động” nên chúng nó lại co lại và từ chối không chịu giao hàng. Tuy vậy, ta cũng biết được điểm hẹn và biết được đầu mối là tên phế binh thường túc trực ở quán “Cố Đô”. Hằng tiếp tục trường kỳ mai phục nhé!

Thúy Hằng nói ngay:

- Em sẵn sàng kiên trì bám trụ!

 

5.     NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ MÁI TÓC MÀU BẠCH KIM

 

Tư Bình vừa trở lại Sài Gòn, đã tìm đến nhà Tôn Nữ Huyền Trang.

Trong phòng khách ấm cúng, Huyền Trang thướt tha trong bộ đồ màu cẩm thạch. Nhìn mái tóc màu bạch kim của Huyền Trang. Tư Bình có cảm giác như anh đang ngồi trước mặt một thiếu phụ phương Tây, một người đàn bà Pa-ri.

Huyền Trang rót một ly rượu Uy-ki:

- Anh uống đi, uống cho đã, rồi kể chuyện Huế cho tôi nghe! Ôi! Cố đô thân yêu của tôi và mười ba năm xa cách.

Tư Bình uống hết nửa ly rượu, rồi kẻ chậm rãi:

- Tôi đã đi dạo hai bờ sông Hương, vào thăm Thành Nội. Còn Đại Nội thì nhà nước đang trùng tu nhiều di tích lịch sử. Tôi không tìm thấy biệt thự Hoa Quỳnh của chị. Hỏi dò thì dễ bị lộ. Với lại, bây giờ biệt thự Hoa Quỳnh vẫn ở trong tay bà con mình kia mà. Khi nào chị có điều kiện về thăm thì tôi xin làm tùy tùng.

Còn chuyện hàng hóa: mụ Hai Vân gặp tôi khoe là đã gom được 100 ký trầm hương, song không may, một người bạn hàng đi khai thác về đến ngoại ô thành phố Huế đã bị công an xã đón lõng bắt được. Một người chủ kho hàng nào đó tên là Tôn Thất Đàm đã cảnh giác, không giao hàng nữa. Hai Vân đành xin lỗi tôi về chuyện lỡ mối hàng. Hai Vân hẹn tôi chiều chủ nhật tới sẽ gặp lại ở Sài Sòn, tại quán cà phê Hồng. Tôi đang phân vân, chưa biết có nên gặp lại không, xin chị cho một lời khuyên.

Huyền Trang đặt ly rượu mạnh xuống bàn:

- Theo anh thì có nên gặp hay không nên gặp mụ Hai Vân?

Tư Bình ngập ngừng :

- Nên gặp để nghe mụ cho biết bao giờ thì có thể đem được lô hàng ấy về đây?

Huyền Trang cười:

 - Anh làm ăn với nhà này hơn chục năm trời rồi, sao còn khờ khạo như vậy?

- Chị nói sao?

- Anh nên nhớ rằng đầu mối đã lộ rồi, thì công an sẽ bám sát mụ Hai Vân, có thể họ theo đến Sài Gòn. Anh đến cà phê Hồng chiều chủ nhật tuần này, ắt sẽ sa lưới.

- Chi bằng ta cắt cầu luôn với mụ Vân?

Huyền Trang gật đầu:

- Đúng vậy ! Ta thiếu gì mối hàng. Cứ ngồi ở Sai Gòn này cũng có hàng. Sở dĩ tôi bảo anh đi Huế là để thăm lại cố đô cho thỏa nỗi nhớ mong của anh. Với lại nếu mua hàng từ Huế thì có lợi thêm chục triệu. Việc không suôn sẻ, đã lộ là phải cắt ngang. Còn dùng dằng là rất nguy hiểm.

Tư Bình vẫn băn khoăn:

- Song, tôi trót hẹn với Hai Vân rồi. Lỗi hẹn thì mụ sẽ cho là mình không đứng đắn.

Huyền Trang vẫn cười:

- Buôn bán mà lỡ hẹn là thường! Thà lỗi hẹn mà an toàn tuyệt đối, còn hơn vào khám lớn Chí Hòa mà ôm hận nghìn đời!

Tư Bình đưa tay nắm chặt bàn tay thiếu phụ:

- Chị thật là cao kiến! Xin cảm ơn chị nhiều.

Huyền Trang tỏ ra lịch lãm, tiếp:

- Anh có thể cho một tên đàn em dạo qua cửa tiệm cà phê Hồng vào đúng giờ ấy, liếc nhìn vô quán để quan sát mụ Vân xem y có đúng hẹn không, tuyệt đối chớ nên trò chuyện làm quen. Nếu mụ đến đúng hẹn mà thần sắc lại hưng phấn, ấy là điềm lành, nếu nét mặt mụ đầy vẻ lo âu, ấy là đã đồ bể. Còn bây giờ, anh cứ nghỉ ngơi cho khỏe, tối nay tôi sẽ đến chơi nhà anh và sẽ giới thiệu cho anh biết một phi vụ khác ở Tân Cảng.

Tiễn Tư Bình ra đến đầu hành lang, Huyền Trang còn dặn:

- Giữ kín mọi chuyện, nghe anh Tư:

- Dạ.

Huyền Trang quay vào khép hai cánh cửa. Chị đi qua phòng khách, vào phòng ngủ, nằm dài trên giường nệm trắng. Chị bâng khuâng nhìn sang tấm gương lớn.

Tấm gương trong suốt phản chiếu một gương mặt thiếu phụ dày đặn, dễ thương, Huyền Trang mỉm cười với bóng mình trong gương. Chị lại thấy nôn nao nhớ Huế, mảnh đất thần kinh ghi nhiều kỷ niệm của thời con gái.

Câu chuyện của Tư Bình chỉ là chuyện làm ăn, song với chị, còn là câu chuyện quê hương. Một thời con gái, một thời nữ sinh mười lăm năm về trước.

Ngày ấy, Trang và Tuấn đã xuống đường biểu tình chống anh em nhà Ngô Đình Diệm sau khi cùng các bạn làm lễ cầu siêu cho Hòa thượng Thích Quảng Đức, người đã tự thiêu giữa Sài Gòn để phản đối Diệm đàn áp Phật giáo.

Sau lễ cầu siêu ở chùa Từ Đàm, nhiều sinh viên phật tử bị Ngô đình Cẩn cầm tù. Trang chạy vào Sài Gòn, Tuấn chạy lên Đà Lạt. Cả hai người đều phải bỏ kỳ thi tú tài. Họ phải hoãn cưới. Ít lâu sau, Tuấn vào học trường võ bị Đà Lạt và trở thành sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Plây-cu.

Khi mặt trận Tây Nguyên tan vỡ, tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh vùng 2 chiến thuật chạy về Sài Gòn, rồi tự sát. Tuấn hoảng hốt xuống tàu di tản sang Mỹ và sống lưu vong với ba má.

Huyền Trang toan tính di tản với người tình, song Tuấn khuyên Trang ở lại vì ba má cô đã quá già yếu, không muốn rời bỏ quê hương. Tuấn nói:

- Khi đất nước yên hẳn, anh sẽ trở về Sài Gòn và sẽ cưới em.

Thỉnh thoảng, Trang lại nhận được một là thư từ hải ngoại. Thư nào Tuấn cũng kêu khổ vì ba má buôn thua, bán lỗ, Tuấn phải đi dạy học, làm gia sư cho một gia đình tướng ngụy cũ.

Trang nghĩ: “Nếu Tuấn không về được thì Trang phải ra đi theo Tuấn. Muốn ra đi dù hợp pháp hay bất hợp pháp thì cũng phải có tiền, có vàng, thật nhiều vàng”.

Trang lao vào con đường buôn bán hàng quốc cấm và trở thành triệu phú. Trang đã sử dụng trí thông minh vào những thủ đoạn, mánh khóe buôn gian, bán lận. Có lúc Trang thật tàn nhẫn, bởi đã bám vào cái “triết lý” mạnh được, yếu thua, phải cướp mà lấy! Song Trang cũng không quên cách “làm ăn lớn”, có thể thả một chút mồi, hy sinh mối lợi nhỏ để giành mối lợi lớn. Việc bao dung đối với gia đình Tư Bình - Út Lan từ cấp vốn đến chia lời, đã làm cho vợ chồng Tư Bình cảm kích và lao vào con đường buôn lậu như điên. Qua một số phi vụ làm ăn trót lọt, Trang thấy việc thử thách đối với Tư Bình được coi như là đã hoàn tất, chị đã “đóng một cái đinh” làm chốt an toàn vào gia đình Tư Bình, chị tuyên bố:

- Đã theo cái nghề buôn hàng quốc cấm này, cả tôi và anh đều tự mình chấp nhận một cái luật gọi là “luật giang hồ”. Đánh thắng thì trở nên giàu có, “sung sướng” cả một đời. Nếu bị thua thì mười, mười lăm năm tù là dễ như chơi! Nếu phản bội “người trong đường dây” thì có khi phải bỏ mạng! Vì vậy, ta chỉ có thắng. Muốn thắng, phải khôn ngoan và không thể không tàn nhẫn, có khi phải “nhúng tay vào máu” để bảo vệ “đường dây” nữa. Tổ chức đường dây của ta phải chặt chẽ, có giới hạn, nếu bị lộ thì phải “cắt đuôi ngay”. Nhà chức trách có bắt được tôi, được anh hoặc bất cứ người nào khác cũng chỉ bắt được không quá ba người. Ai đó có bị tù thì đường dây sẽ nuôi cho cả gia đình. Ra tù lại đi buôn. Nhưng tôi có thể nói với anh, tài năng như anh, như tôi thì thua làm sao được, khi trong tay chúng ta có nhiều tiền, nhiều vàng và cả một đội “ nữ binh” của bồng lai tiên cảnh, có thể làm nghiêng thiên hạ, chứ nói chi đến mấy ông nhà chức trách thiếu bản lãnh, còn quá khờ khạo, quá ngây thơ trong nghề quản lý kinh tế? Phải không anh Tư?

Lời tuyên bố của Huyền Trang được Tư Bình coi như những lời vàng ngọc mở mắt cho anh. Anh nghĩ : dù sao mình cũng còn là một người cũ của “quân lực Việt Nam Cộng hòa”, khó có cơ quan, xí nghiệp nào lại vui vẻ tiếp nhận mình làm công nhân, viên chức. Mà dù có đi làm cho nhà nước thì đồng lương tháng “ba cọc, ba đồng”, làm sao sống nổi. Cho nên, chọn cách sống của Huyền Trang là thượng sách!

Huyền Trang thấy đã cột chặt được Tư Bình vào đường dây ma túy của mình, chị mới tâm sự:

 - Tôi nghĩ: có lắm tiền, vàng thì ở Sài Gòn này cũng sống đế vương, gia đình anh hà tất phải vượt biên, di tản? Cứ nộp đủ thuế và tỏ ra "ngoạn đạo” để che mắt thế gian là thừa sung sướng rồi. Còn tôi, hoàn cảnh khác anh, tôi còn Nguyễn Anh Tuấn, người tình tuyệt vời của tôi, hoàng tử của lòng tôi, con chim hải âu, con chim đại bàng của tôi còn đang lưu lạc ở phương trời. Tôi yêu Tuấn, phải lấy Tuấn làm chồng. Anh biết không, khi còn là sinh viên phật tử ở Huế, Tuấn là cậu học sinh có lý tưởng, đẹp trai, hào hùng, lại thường khen tôi: Huyền Trang có nhiều nét đẹp của một cô gái Âu Châu, nếu Trang có mái tóc màu bạch kim thì ai bảo Trang là cô gái Việt Nam nhỉ? Ngày ấy tôi sung sướng đến ngất ngây vì lời khen của Tuấn, song còn ở trong ngưỡng cửa gia đình quyền quý nơi Thành Nội, tôi làm sao nhuộm tóc cho được? Đến khi vào Sài Gòn, tôi đã chiều theo ý của người tôi yêu, tôi vào mỹ viện nhuộm mái tóc mây của tôi thành mải tóc màu bạch kim này đề làm đẹp lòng người tình muôn thuở của tôi. Chỉ ít ngày sau đó Tuấn đã phải xa tôi vì cuộc chiến đã kết thúc, Tuấn hoảng sợ, hoang mang di tản và ở trên đất Mỹ mà Tuấn vẫn nghèo như xưa. Vì vậy bằng mọi giá, tôi phải làm giàu. Không có hạnh phúc nào lại từ trên trời rơi xuống. Phải đánh để thắng, phải cướp mà lấy!

Bữa ấy, Trang đã nói một hồi, thật sôi nổi, thật hưng phấn, Tư Bình ngồi nghe mà lòng dạ cứ bừng bừng trỗi dậy.

- Tôi được chị tin dùng, tôi xin trọn đời làm một tên lính “ tử thủ “ trên đường dây của ta!

Huyền Trang vẫn cười:

- Tôi tin anh lắm, song nếu chẳng may sau này anh bị bắt thì sao?

- Thì cắn răng lại, chịu đòn và đứng ai khờ khạo mà cậy được răng tôi? Nếu không vượt ngục thì khi mãn tù, tôi lại ở “tử thủ” trên đường dây của chị.

Huyền Trang chìa tay, siết chặt bàn tay người đàn ông:

- Xin chúc mừng anh, một “Triệu Tử Long” của thời đại! Huyền Trang đã mở ô kéo lấy ra một khẩu súng ngắn:

 - Tôi xin tặng anh một khẩu súng tùy thân. Còn dao găm, lưỡi lê thì anh có thừa khả năng tự sắm.

Nhận khẩu súng giảm thanh từ tay người đàn bà, Tư Bình cứ nhìn xoáy mãi vào đôi mắt long lanh của Trang với vẻ cảm phục khác thường. Anh cứ tưởng Trang sẽ nói một câu gì đó thật đanh thép. Song chị lại cười rất hiền hậu:

 - Tôi và anh phải kiên quyết khi hành động, nhưng lại rất ôn hòa trong đối xử. Cái quý nhất ở đời này là sự trung thành, sự thủy chung, phải không anh?

Và quả đúng như lời thế thốt ban đầu, từ buổi ấy đến nay Tư Bình đã đi với Huyền Trang suốt chặng đường dài, thủy chung, tận tụy. Số vốn của Tư Bình tích lũy được cũng bằng một nửa số vốn của Huyền Trang.

Nghĩ về những ngày đã qua, bất giác Trang thấy lòng mình vui hẳn lên. Cuộc sống vật chất gọi là thừa thãi, tiện nghi sinh hoạt quả đầy đủ, lại toàn những thứ hàng nhập ngoại đời mới, đắt tiền. Trang chỉ còn thiếu có một mình Tuấn mà thôi! Ngày gặp lại Tuấn sẽ là ngày nào? Ở đây hay ở Mỹ? Trang chưa tự giải đáp được cho mình. Thời gian cứ trôi, mỗi ngày qua đi lại để lại cho Trang một sự trống vắng mênh mông.

Huyền Trang ngồi dậy, đi ra phòng khách, châm một điếu thuốc thơm và suy nghĩ miên man về cuộc sống hôm nay và cuộc sống ngày mai khi có Tuấn ở liền bên cạnh.

Bỗng có tiếng gõ cửa rụt rè. Trang nhìn ra phía cửa và từ từ bước tới, chỉ mở cửa hé một bên và thốt lên:

- Hương!

Người khách mới tới - Hương - cô gái Huế, người em họ reo lên:

- Chị Trang! Em cứ lo chị đi vắng kia chứ!

Trang ôm chầm lấy Hương và hỏi dồn dập:

- Em vô hồi nào? Đi với ai ? Sao không điện cho chị biết trước?

Hương bước vào, Trang khép cửa. Hương đặt cái túi du lịch xuống đi-văng rồi đáp:

- Em đi gấp quá mà. Ba em sai em đi máy bay từ Phú Bài vào Tân Sơn Nhất và ghé chị luôn. Có công chuyện vui lắm mà!

Trang ngồi chung với Hương một ghế và ôm sát Hương vào lòng:

- Có chuyện chi vậy?

- Có hàng chị ạ! Đáng lẽ ba em giao cho cô Hai Vân từ Huế, nhưng có “động “, ba em không giao nữa và lại nhờ được một chiếc xe du lịch khác chở vào đây được 50 ký và sai em đi máy bay vào tin cho chị biết.

- Hàng để đâu rồi?

- Yên ổn cả rồi. Đã có người chịu trách nhiệm coi, giữ. Vì ở Huế sợ lộ nên ba em bảo tách ra làm hai phần cho gọn, nhẹ, dễ mang hơn, an toàn hơn.

Trang cười:

- Ba em cẩn thận quá đấy! Ông già thật cảnh giác.

Trong tâm trí Huyền Trang lại hiện lên hình ảnh ông già Tôn Thất Đàm – cha của Hương – một người họ hàng bên ngoại đã mấy năm rồi chị chưa gặp lại. Còn Hương, cô gái Huế đã 30 tuổi xuân, vẫn sống một mình và ít khi đến Sài Gòn.

Hương nhìn quanh phòng khách:

- Chị sống yên ổn quá nhỉ? Chị vẫn mạnh giỏi chứ ? Sao chị không về thăm Huế?

Trang rót nước:

- Em uống nước đi nào! Chị sẽ về Huế khi nào có anh Tuấn đi cùng!

Hương cười rộ lên:

 - Có lẽ còn lâu lắm! Anh Tuấn ở Mỹ thì bao giờ chị mới đi cùng anh ấy về Huế ?

Huyền Trang tiếp:

- Với lại, chị đâu còn là nữ sinh? Mái tóc của chị đây, bây giờ về Huế để người ta cười cho à? Người ta lại trố mắt ra nhìn và tưởng chị là Tây lai, Mỹ lai!

Cả hai chị em cùng cười.

Sau phút giây hội ngộ, hàn huyên, Hương sang phòng tắm, thay quần áo và trở lại phòng khách với bộ đồ màu trắng ngà.

Trang khen:

- Em đẹp lắm! Thôi, xin ba vô Sài Gòn, ở hẳn đây với chị đi!

Hương nhìn bóng mình trong gương:

-  Em đâu có đẹp như chị. Em chỉ trẻ hơn chị năm tuổi thôi. Mấy đứa bạn em như cái Lan, cái Bích bay giờ nghèo lắm chị ạ. Chúng nó làm cô giáo, lương đâu có đủ ăn nên chưa dám lấy chồng. Cơ quan, xí nghiệp nào cũng thừa người. Vật giá lại tăng vọt, leo thang đến chóng mặt. Ba em nếu không có của cũ để lại, chắc là đói lâu rồi. Ba em bảo: “Miệng ăn núi lở”, phải buôn bán kiếm thêm. Buôn ngồi thì thuế cao quá. Đánh phải mạo hiểm buôn trầm vậy. Vì trầm là hàng quốc cấm, trúng được một lô thì lãi lớn nên em cứ liều!

Nghe Hương nói những lời tâm sự. Trang nghĩ ngay đến số phận của bao nhiều người dân xứ Huế. Chiến tranh đã chà xát quê hương bao nhiêu năm rồi. Mỹ đã rút chạy, ngụy quân, ngụy quyền tan rã. Chiến tranh đã để lại nạn xì ke, ma túy, cờ bạc, đĩ điếm, thất nghiệp và nghèo đói. Chính quyền cách mạng chưa hàn gắn được vết thương chiến tranh. Những gia đình quyền quý đã di tản và đang lênh đênh nơi đất khách quê người. Số người ở lại thì kiếm ăn còn chật vật. Hương và những cô tôn nữ đã bước qua ngưỡng của gia đình thế phiệt trâm anh. Vương tôn, công tử cũng không còn thụ động như xưa. Cuộc sống vất vả hôm nay đã cuốn hút họ đi suốt dải miền Trung, có nhiều người chạy vào Sài Gòn dựng lều, mở quán, chạy mánh mung.

Thực tế ấy càng củng cố thêm suy nghĩ của Huyền Trang: phải bằng mọi cách đề trở thành triệu phú. Cô nghĩ: “Có tiền, có vàng là sẽ có tất cả”!

Trang đã ghi vào nhật ký: “Em đang sống vì anh, sống cho anh, sống hết mình vì tương lai, hạnh phúc của hai đứa mình!” và “Nếu trời phật không phù hộ em, vạn nhất mà em gặp rủi ro thì em đành cắn răng mà chịu. Nhưng lẽ nào trời phật lại chẳng thương em, phải không anh?”.

Trang và Hương cùng chung một cảnh ngộ mặc dù Trang có thế đứng thuận lợi hơn Hương. Hương còn phải sống lệ thuộc gia đình. Hương chưa thể sống độc lập như Trang được. Tuy Hương là em họ, song Trang vẫn coi cô như em ruột. “Mình sẽ giúp Hương có được cuộc sống độc lập như mình”- Trang nghĩ thế và điều đó hoàn toàn có thể thực hiện được trong tầm tay. Chỉ cần bản thân Hương nỗ lực, chịu thương, chịu khó vài ba năm đầu. Ừ, Hương cũng là cô gái dễ thương, có nhan sắc, có đức hạnh, lẽ nào Hương cứ phải chịu đựng cuộc sống nghèo nàn?

Như đoán biết được ý nghĩ thầm kín của Trang, Hương đi lại phía đi văng, ghé ngồi xuống, quàng tay qua vai người chị:

 - Em sẽ cố gắng đi thêm mấy chuyến hàng nữa, rồi xin ba mấy “cây” làm vốn, em sẽ vô đây ở với chị cho vui.

Trang đặt lên trán em một cái hồn nhẹ:

 - Được, thế thì còn gì vui bằng?

 Buổi chiều, hai chị em đi ăn cơm tiệm rồi Hương đưa Trang đến “kho hàng bí mật” ở quận Tân Bình để định ngày giờ giao nhận, và chuyển cho khách ở tàu Viễn dương.

 

6.     PHƯƠNG ÁN MỚI

 

Trần Minh đi đi lại lại trong căn phòng vắng lặng. Chiếc gạt tàn trên bàn đã đầy ắp những mẫu thuốc lá. Gói thuốc Đà Lạt chỉ còn lại vài điếu. Trần Minh như người chơi cờ gặp nước bí.

Anh đã đóng vai phụ lái xe với “bác tài”, vậy mà lại không có hàng ở điểm hẹn bên sông An Cựu! Có thề vì “động” nên ông già Đàm cảnh giác, cắt luôn việc giao hàng cho tên phế binh “Ba Phú Bài:.

Một tuần đã trôi qua, vẫn chưa nghe động lĩnh gì ở phía những đối tượng như Thị Giang, Tám Lai, tên đầu trộm đuôi cướp, chuyên nghề đâm thuê, chém mướn. Chúng nằm im hay đã lặn đi đâu mất rồi? Còn tòa nhà đầy bí ẩn của ông già Tôn Thất Đàm nữa? Xã đội trưởng Văn Chi hẹn với anh là giờ này đây, anh ta sẽ tới và cho nghe tin tức mới nhất về ông già Đàm.

Trần Minh nhìn kim đồng hồ trên tay: đã quá 5 phút rồi, anh nhìn ra cửa, vừa may, Văn Chi đang phóng xe đạp lao tới. Minh mở rộng cánh cửa:

- Xin chào chiến hữu!

Văn Chi dựng xe rồi siết chặt tay Minh:

 - Tôi đã có tình hình cho anh đây rồi.

Văn Chi ngồi xuống ghế đối diện với Trần Minh, anh móc túi lấy ra cuốn sổ tay nhỏ và mở một trang có ghi chi chít chữ số:

- Tôi đã đi lại Đông Hà, tìm đến nhà Hai Lâm, giải thích cho anh ta rõ: vì sao ta không tịch thu 10 ký trầm của anh ta hôm trước, chỉ khuyên anh là nên bán cho Ngoại thương đề được mua hàng đối lưu trong lúc cơ chế ngoại thương ở đây chưa “thoáng”, còn gây phiền hà từ thời kỳ bao cấp, chưa chuyển biến được bao nhiêu. Hai Lâm đã vui vẻ kể hết những lần bán trầm cho ông Tôn Thất Đàm, ông già này hết sức cẩn thận, chỉ giao tiền ở nhà hoặc ngoài quán nhậu, còn hàng thì được phân tán đi ngay đến những kho hàng bí mật theo một đường dây ven đô, để mỗi nơi một ít. Trên đường vào thôn Thượng, đường dẫn đến nhà ông, ông rải một mạng lưới “điệp viên”  gồm có bà già, trẻ em, người họ hàng thân tín, nếu có hiện tượng gì khác thường như công an, quản lý thị trường xuất hiện là “đường dây” báo cho ông chuẩn bị đề phòng bất trắc.

Trần Minh ghi chép tỉ mỉ từng câu nói của Văn Chi. Văn Chi vẫn thông báo đều đều:

- Ông ta buôn lớn lắm. Mỗi lần xuất cho khách Sài Gòn, ông đều giao hàng tạ và thu hàng trăm “cây”. Ông có một cô con gái duy nhất được ông tin cậy tên là Thanh Hương. Cô này thường thay cha thu tiền, nhận vàng và giao hàng cho khách. Cô ta vắng mặt đã năm ngày rồi. Có thể cô ta đi Đà Nẵng hoặc Sài Gòn.

Trần Minh ngắt lời Văn Chi:

 - Anh nắm tình hình như vậy là rất chắc. Tôi sẽ xin ý kiến ban chuyên án hành động theo phương án mới. Có một điều xin hỏi anh: anh có dặn Hai Lâm phải giữ kín chuyện này, giữ kín cuộc tiếp xúc của ta với anh ấy?

Văn Chi hồ hởi:

 - Có chứ ! Hai Lâm là một anh nông dân nghèo, bản chất hiền lành, thật thà. Anh ta cho biết ở Đông Hà có tới hai mươi nhà đi khai thác trầm. Tôi phải nói rằng tôi tìm hiểu việc khai thác và bán trầm hương là để giúp cho Ngoại thương thu mua được nhiều hơn tốt hơn, không để lộ một chút xíu gì về phương án của ta và tôi đã thẩm tra, Hai Lâm không một mảy may ngờ vực.

Trần Minh đầy gói thuốc về phía Văn Chi:

-  Anh hút thuốc đi! Thế là rất tốt. Tôi cảm ơn anh nhiều. Chiều mai tôi sẽ đến anh để cùng bàn tiếp.

Tiễn Văn Chi ra về, Trần Minh lại thay quần áo, anh mặc bộ quần bò, áo phông cá sấu hệt như một tay áp phe thứ thiệt. Anh tìm vào chợ Đông Ba.

Thúy Hằng ngồi đợi anh ở quán cà phê Sông Hương. Minh ghé vào bàn Thúy Hằng, kéo ghế ngồi, thân mật như một cuộc hẹn hò của đôi trai gái.

Chờ cho cô phục vụ đặt hai ly cà phê xong rồi quay vào quầy, Hằng mới tươi cười nói với Minh:

- Tên phế binh quỷ quyệt lắm. Liền một tuần này, nó chỉ ngồi lê bán thuốc lá từ sáng tới chiều, không la cà bám mấy chú lái xe nữa. Nó không tán tỉnh xin “quá giang” như mấy hôm trước. Có lẽ nó còn “án binh bất động” chăng ? Em thấy thế, đã tìm đến Vĩ Dạ cùng anh em cơ sở giám sát Thị Giang. Mụ “Giang Ngựa” lại cặp kẻ với tên Tám Lai, gã du thủ du thực, chiều nào hai đứa cũng đưa nhau xuống bến thuê đò về Phú Văn Lâu. Có thể ngoài chuyện chơi bời trác lành, chúng nó còn mưu toan chuyện chi đây.

Trần Minh uống hết nửa ly cà phê xong, đặt ly xuống bàn và đốt một điều thuốc mới rồi hạ thấp giọng:

- Số trầm hương chúng nó định thuê ta chở từ An Cựu tuần trước, rồi lại thôi không giao nữa, số trầm ấy vẫn còn ở quanh đây. Ta sẽ bủa vây bằng một mạng lưới hữu hiệu hơn. Các đầu mối giao thông thủy bộ, kể cả đường hàng không nữa, đều cần phải giám sát chặt.  Tên phế binh chỉ là “chân ngồi”, còn “chân chạy” phải kể đến Thị Giang và Tám Lai, sau đó phải tính đến hoạt động của cha con ông già Đàm. Có con gái ông Đàm là cô Thanh Hương mấy bữa nay vắng nhà, cô ta đi đâu? Làm gì? Chưa ai rõ.

Thúy Hằng lắng nghe những của nói của Minh, cô thấy phấn chấn hơn khi Minh mới phác họa một mạng lưới bủa vây các đối tượng của vụ án, cô ngập ngừng hỏi:

- Anh thấy có cần phải báo cho xin ý kiến của bác Hồng Quang không?

Minh gật đầu:

- Có chứ. Lát nữa, về cơ quan, tôi sẽ gọi điện cho bác Hồng Quang, xin ý kiến thủ trưởng về phương án tác chiến mới này.

Tiếng ồn ào huyên náo từ bốn phía chợ Đông Ba vẫn dội vào quán. Câu chuyện của đôi bạn trinh sát vẫn đều đều mà không một ai hay biết họ đang bàn tính một chuyện quan trọng.

 

*  * *

Trung tá Hồng Quang vừa đi dự hội nghị tổng kết ngành ngoại thương trở về. Ông chong đèn đọc lại bản báo cáo. Bên ngoài cả thành phố Nha Trang đã sáng rực ánh đèn.

Tiếng nhạc từ mấy quán ăn, giải khát của mậu dịch ven bãi tắm thánh thót vang lên. Giờ này du khách còn đang đi dạo.

Trung tá Hồng Quang bỏ một tối vui ở câu lạc bộ thủy thủ. Ông vùi đầu vào bản báo cáo. Đọc đến đoạn viết về kết quả thu mua trầm hương một năm vừa qua, ông cầm bút gạch một vệt đậm dưới dòng chữ: “toàn tỉnh chỉ mua được 1.800 kg trầm các loại”, ước tính bằng 1/10 số trầm khai thác được ở địa phương và số trầm trôi nổi qua thành phố, chạy vào Sài Gòn bằng đủ mọi phương tiện giao thông thủy bộ.” Ông đã hỏi đồng chí giám đốc Ngoại thương:

- Anh có dám chắc là số trầm trôi nổi ngoài quốc doanh lớn đến thế không?

Giám đốc Ngoại thương, một cán bộ có tuổi nghề hơn 20 năm đã khẳng định:

- Căn cứ vào đâu mà chúng tôi đã viết báo cáo như vậy? Xin anh hãy thẩm tra số trầm mà thủy thủ tàu Viễn dương mua cả năm ra nước ngoài, lại cả số họ mua đi Cam-pu-chia, đi Thái Lan nữa! Vài chục tấn/năm là khiêm tốn đấy anh ạ. Vì suốt dải đất miền Trung, suốt dải Tây Nguyên có biết bao nhiêu người khai thác? Cơ chế thu mua của ta còn dở quả: nào ép cấp ép giá, nào chê ỏng, chê eo, nào đợi chờ mỏi mắt mà chưa lấy được tiền mặt. Hàng bán đối lưu cho người bán trầm thì có gì đâu ngoài mấy cái tivi, tủ lạnh và xa xỉ phẩm. Giá bán cũng quá cao, trong lúc tư thương thì rất thạo nghề, phân loại hàng đâu ra đấy, tiền trao cháo múc, giá cao hơn hẳn giá mậu dịch. Các anh có khám phá một vài vụ buôn lậu, tịch thu năm ba chục ký, chả thấm tháp gì đâu! Muốn chấm dứt tệ buôn lậu trầm hương đề chống bệnh chảy máu vàng, ta phải đối mới phương thức kinh doanh cũ kỹ của thời kỳ quan liêu bao cấp. Ở tỉnh này, tháo gỡ được thì còn lâu lắm anh ạ.

Hồng Quang càng nghe càng nhức nhối trong lòng. Ông tạm gấp bản báo cáo, chắp tay sau lưng và đi đến phía cửa sổ nhìn ra bờ biển. Ông nghĩ: trầm hương – kỳ nam, nguồn tài nguyên quý hiếm của tổ quốc ta, sao chưa có một tổ chức khai thác khoa học hơn, quy mô hơn? Sao chưa có phương thức thu mua hữu hiệu hơn? Bộ máy ngoại thương thì cồng kềnh, toàn giấy tờ, mà hiệu quả thu mua thì còn bé tẻo teo? Cứ giẫm chân tại chỗ đề chia nhau sự nghèo đói này đến bao giờ? Sử dụng đại lý thu mua thì sợ người ta làm giàu, sợ mang tiếng là hữu khuynh, thậm chí có ông cán bộ kiểm soát còn hăm dọa mấy nhà đại lý để vòi vĩnh đòi ăn hối lộ như báo chí ở địa phương này đã nêu tên, nêu tuổi!

Ngoại thương không “ôm” được khối lượng hàng quý hiếm này đã tạo ra một số tư thương buôn chui, bán lủi. Họ dùng trầm hương để đổi lấy vàng lại dùng vàng đổi lấy xa xỉ phẩm về lũng đoạn giá cả thị trường, đó mới là cái tội lớn hơn. Vàng bị chảy máu sẽ làm cho đất nước nghèo thêm, hàng tiêu dùng và xa xỉ phẩm tràn vào sẽ làm tê liệt các ngành sản xuất hàng nội địa. Ngăn chặn cái tệ nạn này, ngành công an phải trải qua biết bao khó khăn, vất vả.

Bỗng chuông điện thoại reo một hồi dài, trung tá Hồng Quang nhấc ống nghe:

- Tôi nghe đây! Ai đó?

Từ đầu dây nói đằng kia có tiếng quen thuộc:

- Dạ, thưa bác, cháu Trần Minh đây ạ.

Hồng Quang reo lên, vui sướng:

-  A! Trần Minh! Anh bạn trẻ. Có tin tức gì mới đấy? Báo cáo đi nghe nào!

Tiếng Trần Minh rành rọt:

- Báo cáo bác, công việc mới hoàn tất một nửa thôi ạ.

Hồng Quang cười:

- Mới một nửa, sao lại gọi là hoàn tất? Thôi được nói đi!

-  Dạ, cháu và Hằng lần ra được đầu mối, song vì xã đội đón lõng bắt một người đi khai thác có 10 ký trầm, thuyết phục anh ta bán cho Ngoại thương 5 ký, còn 5 ký họ đành phải bán cho tư thương. Tư thương này lại là đầu mối của vụ buôn lậu hàng trăm ký. Chúng cháu đã chuẩn bị “cất vó” thì các đối tượng đã cảnh giác, họ co lại và không xuất hàng đi nữa. Thế là... hỏng ăn. Còn nhiều chi tiết phức tạp hơn, bài toán khó này chưa có lời giải. Chúng cháu đang cần có những ý kiến chỉ đạo của bác, nếu ngày mai bác về Huế được thì hay lắm.

Hồng Quang nói ngay:

- Mai hả? Được, công việc trong này tạm ổn rồi, mình sẽ bay ra Phú Bài chiều mai.

Đến lượt Trần Minh reo lên ở đầu dậy nói bên kia:

- Dạ, dạ, thế thì may mắn cho chúng cháu quá.

Hồng Quang nói tiếp trước khi đặt ống nghe:

- Thôi nhé, chiều mai, sẽ đợi nghe!

Hồng Quang cảm thấy yên lòng. Ông biết rằng Trần Minh và Thúy Hằng còn đang lúng túng trước những đối thủ dữ dằn. Lớp trẻ tuy năng nổ, song kinh nghiệm lại chưa nhiều. Ông sẽ bay ra Huế, nghe lại từ đầu vụ án và sẽ tìm ra lối thoát cho nước cờ bí của Trần Minh.

 

7.     CON TÀU ĐI TRONG ĐÊM MƯA

 

Đoàn tàu Thống Nhất rời ga Đồng Hới vào lúc 5 giờ 15 phút chiều chủ nhật.

Khách xuống ga chỉ có vài chục người.

Khách lên tàu đông hơn, ước lượng có tới ngót trăm người. Khi tàu chuyển bánh là lúc hành khách đã ổn định xong chỗ ngồi.

Trên toa số 5 có một người đàn ông có vẻ mệt nhọc. Bộ mặt đen sạm của hắn ngửa ra phía sau. Hơi thở của hắn nồng nặc mùi rượu sau bữa nhậu say mèm ở ga Đồng Hới. Hai con mắt lim dim của hắn thỉnh thoảng lại mở choàng ra, nhìn đảo quanh một lượt khắp toa tàu.

Ở cuối toa, tiếp giáp với toa số 6, có hai người đàn bà, một già, một trẻ đang ngồi trò chuyện vui vẻ. Người già trạc ngoài 40 tuổi, người trẻ chừng ngoài ba mươi. Người lớn tuổi có khuôn mặt trái xoan than thở:

-  Cô thấy không? Bố trí cho một chuyến hàng thật công phu, thật vất vả.

Người trẻ hơn nói nhỏ nhẹ:

- Em biết rồi, chị Hai!

Hai Vân, người đàn bà đứng tuổi ghé sát tai cô bạn ít tuổi hơn mình:

- Đưa được hàng lên tàu mới thắng được một nửa, còn từ đây vào Sài Gòn mới thật gian nan. Em phải hết sức cảnh giác, nghe!

Nói vậy, Hai Vân đã thầm khâm phục mưu cao của cha con ông già Tôn Thất Đàm. Khi thấy “động” ở An Cựu, ông già đã nói ngay với cô Hương, con gái.

- Con ít đi Sài Gòn thì công an kinh tế không biết mặt con. Ba thuê xe du lịch đem vào 50 ký. Còn 50 ký nữa thì phải chuyển lên Đồng Hới, rồi từ Đồng Hới lên tàu Thống Nhất cùng Hai Vân và thằng Tám Lai đi suốt Sài Gòn. Vì sao con có biết không ? Vì nếu lên tàu từ ga Huế thì không tránh khỏi bại lộ và vào lao Thừa Phủ như chơi!

Hai Vân chịu ông già cao kiến. Chị ta lẽo đẽo theo Hương và Tám Lai ra Đồng Hới đề rồi lại từ Đồng Hới đi suốt Sài Gòn, làm như vậy là “mua thêm đường dài “ nhưng bảo đảm an toàn hơn nhiều!

Toàn bộ số trầm kỳ đã sơ chế, được bỏ dưới đây các bịch tôm, cá khô. Mười bịch “tôm, cả” ấy hiện giờ đã được phân tán đề rải rác dưới gầm các ghế ngồi ở toa số 5 này. Những bịch hàng tưởng như vô chủ lại đang có ba người luôn để mắt tới mỗi khi tàu dừng bánh ở một ga chính nào đó. Tôm, cá khô đã nộp thuế buôn chuyến thì còn ai lục soát làm gì. Tám Lai rất yên tâm, y đã nốc luôn mấy ly rượu và đang ngồi ngửa mặt lên mà thở dốc. Còn Hai Vân và Hương ở cuối toa tuy cảnh giác coi chừng nhưng cũng vững dạ hàng sẽ tới nơi tới chốn.

Cả toa tàu vẫn yêu ổn.

Con tàu bắt đầu tăng tốc, lao đi nhanh hơn. Bên ngoài, trời đã bắt đầu tối.

Bỗng có tiếng sấm động từ phía tây và trời đổ mưa nặng hạt. Trận mưa đầu mùa hạ làm cho không khí ẩm ướt, giảm hẳn oi bức.

Một hành khách thấy trời đổ mua, nói to:

- Mưa đi, mưa tốt cho lúa, cho bà con mình mát mẻ đêm nay.

Con tàu vẫn lắc lư lao nhanh về phía Nam.

Từ toa số 4 có hai người đeo băng đỏ bước sang toa số 5, theo sau là hai anh công an mặc quân phục. Cả bốn người dừng lại ở giữa toa số 5. Một người đeo băng đỏ lên tiếng:

- Chúng tôi được phép kiểm tra hành lý, mời bà con sẵn sàng cho kiểm tra hàng hóa mang theo. Ai đóng thuế rồi thì thôi, ai chưa đóng thuế, xin đóng thuế ngay cho.

Cả toa tàu lao xao. Mọi người đều sửa lại tư thế, ngồi dậy cho ngay ngắn để tiếp xúc với anh em công an, thuế vụ.

Tám Lai- gã đàn ông sặc sụa mùi rượu đã mở choang đôi mắt, lắng nghe lời thông báo của anh của cán bộ thuế vụ. Gã giả vờ lục lọi trong chiếc giỏ cói xách tay, rút ra một bao thuốc lá Đà Lạt, lấy một điếu, quẹt lửa hút chơi. Trong lúc cả toa tàu đang lao xao chuẩn bị đưa hành lý ra kiểm tra, hắn đã lặng lẽ đứng lên và rút êm lên toa số 4.

 Ở cuối toa, hai người đàn bà — Hai Vân và Hương thoảng nhìn thấy Tám Lai đã ngược lên toa số 4, cũng đứng dậy. Hai Vân nói với những người ngồi cùng ghế:

- Cho tôi xin phép đi... vệ sinh!

Hai chị em len lỏi đi về phía đầu toa. Hai Vân giả vở vào phòng vệ sinh, vài phút sau, chị ta bước ra, khép cửa, để đến lượt Hương đi... “vệ sinh”.

Khi hai người đã “đi” xong, họ đều không trở về chỗ cũ mà lại đứng hẳn ra chỗ giáp ranh giữa hai toa số 4 và số 5. Lát sau, hai chị em đã thấy Tám Lai từ toa số 4 quay lại. Cả ba người chụm đầu vào nhau nói nhỏ mấy câu đứt quãng. Tám Lai nói:

- Chuẩn bị sẵn sàng, nếu cần ta phải “biến” ngay!

Ở trong toa số 5 đã có tiếng hỏi vọng lên:

- Mấy bịch tôm, cá khô này của ai?

 Không có tiếng đáp lại. Anh cán bộ thuế lại hỏi lần thứ hai:

 - Tôi xin hỏi, bà con ngồi đây có ai biết mấy bịch tôm, cá này là của ai không?

Có tiếng một bà buôn chuyến đáp:

 - Hình như là của cái ông to mập lúc nãy ngồi chỗ kia kìa. Bây giờ ông ấy đâu rồi?

Tám Lai nói thật nhanh với hai người đàn bà:

 - Lộ rồi! Lộ hết rồi! Nhảy tàu xuống đây thôi!

Hai Vân nhớn nhác bước sang toa số 4, trong lúc Hương tỏ ra lúng túng và thấy bối rối chưa biết nên lên toa số 4 hay trở vào toa số 5 thì Tám Lai đã giơ thẳng cánh tay hộ pháp tung một quả đấm “hự” vào ngực Hương, hất cô ngã ngửa, rơi vào khoảng trống, bật khỏi toa tàu. Hương chỉ kịp thét lên: “Ai cứu tôi với!” rồi rơi vào đêm tối...

Hai anh công an và hai anh cán bộ thuế nghe tiếng kêu, cùng chạy xô về phía đầu toa số 5 và bước ra chỗ giáp ranh với toa số 4.

Cả bốn người chỉ kịp thoáng thấy một bóng đen nhảy khỏi đoàn tàu, lao vào đêm tối.

Một anh công an kêu lên:

- Có kẻ gian nhảy tàu chạy trốn! Xin lệnh dừng tàu ngay!

Cả toa số 5 náo động. Con tàu vẫn lao đi trong đêm mưa.

Trần Minh – anh công an vừa thốt kêu lên — đã nói với Vũ Hải, người bạn đồng nghiệp đi cùng:

-  Hải ở lại đây làm việc tiếp với các anh thuế vụ, chú ý mấy bịch tôm, cá khô đấy nhé, cần kiểm kê và lập biên bản rõ ràng. Mình phải lên gặp trưởng tàu ngay bây giờ!

 

*  * *

Khi đoàn tàu tốc hành dừng ở ga Huế thì Hai Vân đã xách một túi nhỏ lặng lẽ xuống ga an toàn. Năm phút sau, chị ta đã đi lẫn vào đám đông hành khách ra ngoài sân ga, vậy một chiếc xích lô ra đầu đường Lê Lợi xuôi về phía đầu cầu Tràng Tiền.

Mười bịch tôm, cá khô có giấu những gói trầm kỳ đã được hai anh cán bộ thuế vụ và Vũ Hải đưa xuống sân ga, đưa về trụ sở đội bảo vệ nhà ga.

Một giờ sau, Vũ Hải nhận được tiếng nói của Trần Minh qua điện thoại từ Đồng Hới báo về:

- Có hai người nhảy tàu: một phụ nữ bị đánh trọng thương vào ngực, ngất xỉu đã được đưa về Đồng Hới cấp cứu. Theo giấy tờ tùy thân thì cô ta tên là Hoàng Thanh Hương sinh năm 1959. Một người nữa là đàn ông, bị dân quân địa phương bao vây, bắt giữ, y khai tên là Hồ Văn Lai (tức Tám Lai). Cuộc điều tra đang tiến hành. Trưa nay trực máy ở đây, tôi sẽ bảo cáo tiếp.

Vũ Hải mừng lắm. Có một điều anh còn băn khoăn day dứt: Hai Vân đã lặn đi đâu mất hút?

 

8.     HÃY XỬ THEO “LUẬT RỪNG”

 

 Hai Vân trở về Sài Gòn trong một tâm trạng mệt mỏi rã rời.

Từ ngày dấn thân vào đường dây buôn lậu, chưa bao giờ chị ta thấy hoang mang chán nản như bây giờ. Mặc dù đã lường trước được những khó khăn, vất vả, thậm chí còn nguy hiểm nữa, nhưng chưa bao giờ chị ta lại rơi vào tình huống khốn khổ như hôm nay.

Khi được giới thiệu với Tám Lai, chị ta đã nhìn gã giang hồ này như một thần tượng, một tay hảo hán có thể yểm trợ an toàn cho cả chuyến đi. Do đó chị mới lẽo đẽo theo Tám Lai ra tận Đồng Hới đề nhận hàng lên tàu. Tám Lai còn nhận áp tải hàng cho chị đến ga Hòa Hưng. Chẳng những thế, lại còn cả cô Thanh Hương, con ông già Tôn Thất Đàm nữa, người đã được cha ủy nhiệm cho đi cùng với Hai Vân đến Sài Gòn.

 Mọi công việc được tiến hành rất mau lẹ, rất kín đáo, đã phải loại trừ cả gã phế binh ở lại Huế, chỉ có ba người đưa hàng ra Đồng Hới để lại xuôi về Huế, đi Sài Gòn. Vậy mà lại đổ bể đến thảm hại.

Sau khi xuống ga Huế hấp tấp, vội vàng, Hai Văn đã tự giấu mình ở nhà bà con trong Thành Nội và bị mật lắng nghe tin tức của Thanh Hương và Tám Lai. Chị ta được biết chính xác, sau cú đấm như trời giáng của Tám Lai, Thanh Hương bị rớt từ trên tàu xuống, đầu đập phải một tảng đá lớn, bị chấn thương sọ não, nằm bất tỉnh đến quá nửa đêm mới được đội tuần tra phát hiện và đưa về Đồng Hới cấp cứu. Hiện nay cô đã được đưa về bệnh viện Huế trong tình trạng hôn mê. Còn Tám Lai bị bắt ngay sau khi nhảy tàu. Y đã khai rằng: y chỉ là người đi áp tải thuê cho Thanh Hương. Khi thấy bị kiểm tra trên tàu, y đã bỏ của chạy lấy người, nếu để Thanh Hương bị bắt thì Hương sẽ khai ra tất cả, nên y đã có ý thủ tiêu cô gái bằng một cú đấm bất ngờ, hất cô xuống đường khi tàu đang chạy nhanh. Sau đó y cũng nhảy tàu, tìm đường trốn thoát, bỏ mặc Hai Vân và mười bịch hàng ở lại.

Ngờ đâu, y lại bị bắt sống trước khi Hai Vân trốn thoát. Nay mai, khi Thanh Hương được cứu sống, cô ta sẽ khai ra tất cả. Tuy là kẻ tòng phạm, nhưng Tám Lai thừa biết y sẽ bị xử tù giam – ít nhất cũng vài ba năm.

Sau Tám Lai, đến lượt vợ chồng tên phế binh “Ba Phú Bài” đã sa lưới. Cả ông già Tôn Thất Đàm cũng được “mời” đến cơ quan công an để khai báo về phi vụ đổ bể này.

Hai Vân nhớ đến anh Tư Bình, một người bạn hàng Sài Gòn chỉ được gặp ở điểm hẹn chợ Đông Ba và khách sạn Hương Bình. Tư Bình đã trở về Sài Gòn, hẹn đến gặp chị ở quản cà phê Hồng, song lại lỡ hẹn và biệt tăm!

Chiều nay, sau ba ngày đau đớn ê chề, Hai Vân lại lò dò lê bước đến quán cà phê Hồng, hy vọng mong manh có thể gặp lại Tư Bình được chăng?

Chị gọi một ly cà phê sữa, vừa nhắp được một ngụm thì một cô gái trẻ, trạc tuổi 25 đã ghé vào cùng ngồi một bàn với Hai Vân. Cô gái nhoẻn một nụ cười xã giao. Hai Vân cũng mỉm cười đáp lại. Cô gái ung dung gọi một ly cà phê đen. Cô mở một hộp thuốc lá Salem mời Hai Vân cùng hút. Hai Vân rút một điếu, đặt lên môi. Cô gái bật chiếc bật lửa ga. Ngọn lửa xanh phụt lên rồi lại tắt. Trên tay cô gái, ngọn lửa xanh cháy lên đủ ba lần mới đốt được điếu thuốc của Hai Vân.

Nhận được ám hiệu của đường dây, Hai Vân lộ rõ niềm vui trên nét mặt. Chị nói thân mật, kín đáo:

 - Xin cảm ơn em! Em có thể cho chị biết em là ai?

Cô gái “dạ” một tiếng rồi nói:

- Em là người thân của anh Tư Bình, xin gặp chị không quá 5 phút. Chị cho anh Tư biết ngay: chuyến hàng ở Huế có vào đến Hòa Hưng không ?

Hai Vân nhìn lại cô gái một lần nữa, từ đầu đến chân: rõ ràng cô ta là người Sài Gòn “thứ thiệt” từ bộ đồ “Zin” cô ta đang mặc đến cách trang điểm lộng lẫy và lời ăn, tiếng nói, không ai có thể ngờ được điều gì, nhất là lại có ám hiệu chính xác của Tư Bình, chị yên tâm kể vắn tắt lại câu chuyện đổ bể trên chuyển tàu tốc hành từ ga Đồng Hới vào Sài Gòn và hiện trạng của Thanh Hương, Tám Lai, và vợ chồng tên phế bình ở Huế, rồi kết luận:

 - Nhờ cô nói giùm với anh Tư Bình: Thanh Hương đang ở trạng thái hôn mê và có thể bị thiệt mạng. Còn những người khác đã bị sa lưới. Ngày mai tôi sẽ đi khỏi Sài Gòn, chưa bao giờ tôi bị thua thiệt như bây giờ. Vận hạn đã đồ xuống đầu tôi, thật là cay đắng!

 Hai Vân rít mạnh một hơi thuốc lá và thờ phào khỏi thuốc lên trần nhà.

Cô gái tỏ ra ái ngại, an ủi:

- Chị cứ tĩnh dưỡng cho khỏe, có thể ra biển hoặc lên cao nguyên. Em sẽ nói lại đầy đủ với anh Tư Bình. Nếu anh Tư cho phép em gặp lại chị, em sẽ tìm chị sau. Xin tạm biệt và chúc chị bình phục !

Cô gái năm chặt tay Hai Vân một lần nữa trước khi rời khỏi quán cà phê Hồng. Ra cửa, cô vẫy một chiếc xe tắc xi. Xe chạy ngược lên phía chợ Bến Thành. Cô gái xuống xe và rẽ nhanh vào chợ.

 

*  * *

Tư Bình kể câu chuyện đã đổ bể ở Huế với Huyền Trang mà anh vừa nghe được qua lời thuật lại của Thị Huế, một con nhỏ được cử đến tiếp xúc với Hai Vân trong quán cà phê Hồng.

Trái với dự đoán của Tư Bình. Huyền Trang không những không buồn, mà lại vẫn bình thản:

- Đó, anh coi, chỉ sơ hở một chút là vô lao Thừa Phủ như chơi! Tôi chỉ thương cho cô bé Thanh Hương gặp nạn, có thể bị chết đang độ tuổi ba mươi. Còn mụ Hai Vân không cẩn thận để bị mất của là đáng đời rồi! Cái giá phải trả cho sự sơ xuất ấy là quá đắt! Năm mươi ký trầm kỳ chứ có ít đâu! Mấy chục cây vàng mất luôn mà còn hút chết nữa chứ!

Rồi như chợt nhớ ra một điều gì quan trọng, Huyền Trang hỏi lại Tư Bình:

- Anh bố trí cho con nhỏ Huệ tới gặp mụ Hai Vân hôm qua có sợ lộ đường dây không?

Tư Bình quả quyết:

- Chị khỏi lo. Tôi cẩn thận đến mức phải dùng con nhỏ này là con bé chuyên chạy mánh ở chợ An Đông. Nó chỉ quen tôi ở chợ, không hề biết địa chỉ của tôi. Sau khi nó làm xong việc tội thưởng mười làm ngàn và cắt luôn quan hệ với nó.

- Thế thì tốt. Tình hình đang căng thẳng, đối với mụ Hai Vân, ta càng cần thận càng tốt. Ngoài ra tôi còn muốn bàn thêm với anh một việc nữa.

- Việc gì? Xin chị cứ nói.

Giây phút chờ đợi không lâu, Huyền Trang đã nhìn vào đòi mắt sâu thẳm của Tư Bình:

- Tôi muốn bảo vệ tuyệt đối an toàn cho cô bé Thanh Hương và gia đình ông già Tôn Thất Đàm. Nay mai Thanh Hương được bình phục sức khỏe, công an sẽ khai thác, nếu Hương khai thêm về mối liên hệ với chúng ta thì sao? Ông già Đàm đã bị công an lục vấn, chưa rõ ông già khai báo ra sao? Còn thằng Tám Lai và tên phế binh nữa. Chúng nó đã bị bắt, chúng nó khai báo lung tung cho bé Hương và ông già thì tù cả một dây!

- Vậy theo ý chị thì nên xử trí ra sao?

- Theo tôi thì điều tốt nhất là phải bịt đầu mối, nghĩa là phải… cúp mạng sống của tên Tâm Lai và tên phế binh.

- Nhưng chúng đang nằm trong tay công an thì ta xử tội nó thể nào?

Huyền Trang giụi điếu thuốc lá cháy dở vào chiếc gạt tàn:

- Đó mới là một bài toán khó. Đối với lũ tôi tớ cặn bã này thì khi chúng phạm sai lầm, ta phải xử chúng theo “luật giang hồ”. Nếu chúng còn ở ngoài đời thì dễ ợt! Chỉ một băng đạn là xong. Nay chúng bị công an bắt giữ rồi thì giết chúng làm sao? Nếu là liên hệ được với mấy tên “đại bàng” ác ôn đang nằm chung một trại với Tám Lai và tên phế binh, thuê chúng mấy chỉ vàng để mượn tay chúng đập chết hai tên khốn kiếp kia thì thật ổn. Anh có thể làm được việc này không?

Tư Bình suy nghĩ một hồi lâu rồi trả lời:

- Nếu ở Sài Gòn thì tôi làm được, còn ở Huế th thật là nan giải!

Huyền Trang chưa chịu bó tay:

- Ta thuê mấy tên ở Sài Gòn ra Huế thực hiện thì kế hoạch này được không? Ta chỉ điều khiển từ xa thôi mà!

Tư Bình đắn đo:

- Cũng phiêu lưu, mạo hiểm lắm đấy. Chị để tôi suy nghĩ thêm cho thật kỹ, rồi sẽ nói lại với chị sau. Nếu không cẩn thận lại đổ bể thêm thì thật là hận nghìn đời!

Câu chuyện giữa hai người đi dẫn đến bế tắc. Một không khí bi quan tràn ngập cả căn phòng khách lộng lẫy.

Một nỗi buồn phiền phảng phất trên khuôn mặt đẹp của Huyền Trang. Mái tóc màu bạch kim xõa xuống đôi vai thon nhỏ vẫn giữ nguyên vẻ đẹp mơ mộng của Tôn Nữ.

 

9.     LỜI KHAI CỦA NHỮNG BỊ CAN

 

Lần thứ hai, Tám Lai được giải đến phòng hỏi cung.

Gương mặt của bắn gầy xọm có thêm nhiều nếp nhăn sau mấy đêm mất ngủ. Hắn lấm lét sợ hãi nhìn anh công an ngồi đối diện.

Trần Minh nghiêm nghị hỏi.

-  Anh đã có đủ thời gian suy nghĩ, anh trả lời cho trung thực: vì sao anh lại đánh và đẩy cô Thanh Hương ra khỏi tàu?

 - Dạ, thưa ông, khi tôi thấy các ông kiểm tra hành lý ở toa số 5, các ông lục soát đến các bịch tôm, cá khô có cất giấu trầm hương, tôi biết là đã bị lộ, tôi quyết định bỏ của chạy lấy người, nếu để cô Hương bị bắt thì cô Hương sẽ khai ra hết nên tôi đánh mạnh vào ngực có Hương và đẩy cho cô rớt xuống khi tàu đang chạy nhanh, làm cho cô có thể bị thương nặng hoặc chết. Sau đó tôi cũng nhảy tàu, định sẽ trốn thoát, không ngờ tôi lại bị các ông bắt được.

- Người ta trả công anh bao nhiêu?

- Dạ, thưa ông, nếu đưa hàng đến được ga Hòa Hưng, tôi sẽ được lãnh luôn hai chỉ vàng chưa kể tiền ăn uống trên tàu.

Trần Minh ghi chép xong, lại ngẩng lên, hỏi tiếp:

- Hôm qua anh khai: người đàn bà chủ hàng đi cùng anh tên là Hai Vân, anh quen chị ta từ bao giờ ? Chị ta có ai quen ở Huế?

- Dạ, thưa ông, tôi chỉ biết chị ấy qua lời giới thiệu của anh phế binh và vợ là Thị Giang (tức Giang Ngựa), chị ta là người Sài Gòn ra Huế mua hàng. Tôi chỉ cần chở thuê lấy hai chỉ vàng nên không cần biết địa chỉ của chị ta. Theo tôi biết, có thể chị ta chỉ có người quen duy nhất là vợ chồng anh phế binh.

- Tại sao chị ta không nhảy tàu cùng với anh ?

- Dạ, có thể chị ấy sợ té nhào mà không đảm nhảy. Khi tôi nhảy tàu thì chị ta vẫn còn đứng ở cuối toa số 4.

- Anh có quen biết gia đình cô Hương?

- Dạ, không ạ. Anh phế binh chỉ giới thiệu với tôi: cô Hương là một trong hai chủ hàng. Cô Hương là bên bán, chị Hai Vân là bên mua. Cô Hương có nhiệm vụ áp tải hàng cùng với tôi đến ga Hòa Hưng để chị Hai Vân đưa vào Sài Gòn.

-  Tội áp tải hàng lậu của anh đã rõ. Tội đánh người (cô Hương) thành thương tật cũng đã rõ. Anh nghĩ gì về tội lỗi của anh?

- Dạ thưa ông, tôi chỉ vì ham kiếm miếng ăn mà phạm tội, tôi đã khai báo hết cả. Xin ông trình với cấp trên cho tôi được hưởng lượng khoan hồng, tôi xin đội ơn ông nhiều.

Sau khi trả Tám Lai về phòng giam, Trần Minh lại ngồi đối diện với ông già Tôn Thất Đàm. Anh đặt câu hỏi:

- Ông đã vào bệnh viện thăm cô Hương, con gái ông. Các bác sĩ đang ngày đêm chăm sóc cho cô Hương. Kẻ hành hung cô Hương và đẩy cô ngã xuống đường cũng đã bị bắt. Nó khai: Cô Hương là bên bán hàng, Hai Vân là bên mua hàng. Vậy ông có biết gì về việc làm của con gái ông?

Ông già ngước mắt lên, hai giọt lệ lăn trên gò má nhăn nheo, ông nói:

- Thưa anh, con gái tôi không thể sống tốt bằng nghề dạy học. Nó bỏ nghề, theo bạn bè đi buôn bán kiếm ăn. Nó buôn trầm, tôi có biết song không ngăn cản được nó.

- Số trầm chúng tôi thu giữ là 50 ký có phải là của ông không?

- Dạ, tôi chỉ có 10 ký gửi nó, số còn lại nó mua gom của ai tôi không rõ.

- Ông nghĩ gì về việc làm của con gái ông?

- Dạ, con tôi làm con tôi chịu, tôi chỉ xin chính phủ khoan hồng vì con tôi phạm pháp lần đầu và nó đang còn bị thương rất nặng.

- Chúng tôi ghi nhận lời thỉnh cầu của ông và ông yên tâm là cô Hương đang được điều trị mặc dù vết thương ở đầu là quá nặng, song cố ấy sẽ khỏi và sẽ khai báo sau. Bây giờ ông có thể về nghỉ.

- Da, xin đa tạ.

Trần Minh gấp cuốn số tay. Anh bỏ tập hồ sơ vào tủ, khóa lại và lên lầu.

Trung tá Hồng Quang và Thúy Hằng đang ngồi chờ anh để nghe báo cáo.

Trần Minh đề xuất ý kiến:

- Thưa bác, cháu đã lấy lời khai của tên Tám Lai và ông già Đàm bổ sung vào hồ sơ vụ án. Vấn đề còn lại là phải phục hồi sức khỏe cho Thanh Hương. Khi cô ta tỉnh lại mới có thể khai báo đầy đủ được.

Trung tá Hồng Quang cười:

- Sơ hở của chúng ta là để lọt mất tội phạm Hai Vân, y đã trốn thoát. Y đang lẩn trốn ở đâu, ta chưa rõ. Ở Huế hay Đà Nẵng, Sài Gòn? Chưa bắt được thị Vân, ta chưa thể biết được đầu mối tiêu thụ trầm kỳ, cũng có nghĩa là chưa chặn đứng tận gốc!

Thúy Hằng lắng nghe ý kiến của người chỉ huy, cô nói nhỏ nhẹ:

- Thưa bác, cháu xin chịu trách nhiệm theo dõi bệnh tình của Thanh Hương và khai thác cô ta khi cô ta tỉnh lại.

Trung tá gật đầu:

- Bác đồng ý giao việc ấy cho cháu. Trước hết vì cháu là con gái, phụ nữ nói chuyện với nhau sẽ dễ hơn là nam giới với phụ nữ. Có phải không Trần Minh?

Trần Minh lễ phép thưa:

- Dạ, thưa bác, đúng thế ạ!.

 

10. ÁM ẢNH

 

Huyền Trang đi xe xích lô đến nhà Tư Bình đúng lúc vợ chồng Tư Bình đều có mặt ở nhà.

Nhìn vẻ mặt buồn rười rượi của Trang, Út Lan kinh ngạc:

 - Có chuyện chi thể chị?

Tư Bình cũng thảng thốt:

- Sao mà chị không vui?

Huyền Trang khoan thai ngồi xuống ghế và lôi từ trong ví xách tay ra một phong thư vừa mới nhận được, đưa cho Tư Bình:

- Ông già Tôn Thất Đàm sai con nhỏ Phương (em họ của Thanh Hương) biên thư cho tôi, thư gửi bí mật từ Đà Nẵng đến địa chỉ một người bà con bên ngoại nhờ chuyển cho tôi. Thư báo tin cô Thanh Hương đã chết rồi! Một cái chết thật bi thảm. Anh đọc đi, sẽ rõ tất cả.

Tư Bình đón nhận bức thư, cùng Út Lan chụm đầu vào đọc:

“Chị ơi!

 Thế là chị Hương đã chết thật rồi. Lúc em vào bệnh viện thì chị Hương vừa trút hơi thở cuối cùng. Chị Hương không trối trăng được điều gì, vì từ lúc được đưa vào cấp cứu đến khi tắt thở, chị Hương bị hôn mê. Các bác sĩ đã hết lòng cứu chữa, tiêm thuốc hồi sức, tiếp máu, song tất cả mọi cố gắng đều vô hiệu: Biên bản pháp y còn ghi rõ : Chị Hương bị chấn thương sọ não, lá lách bị dập nát, một bên ngực bị tím bầm vi bị đấm quá mạnh.

Mọi người có mặt đều nguyền rủa tên Tám Lai côn đồ, nó là tên chuyên nghề đâm thuê, chém mướn. Nó giết chị Hương vì sợ chị Hương bị bắt sẽ khai ra nó. Cuối cùng nó vẫn bị bắt, lại thêm tội cố ý giết người, nó sẽ phải đền tội.

Em chỉ thương chị em đã phải chết oan giữa lúc đầu còn xanh, tuổi còn trẻ. Bác em vật vã khóc ròng. Bác em thương chị Hương lắm, nhưng thương thì đã muộn mất rồi...”

Vợ chồng Tư Bình ngước mắt nhìn Huyền Trang. Trang cũng rưng rưng nước mắt:

- Anh Tư đốt giùm tôi bức thư này đi, để lỡ lọt vào tay ai thì chết cả lũ!

Tư Bình bật lửa đốt bức thư. Ngọn lửa leo lét cháy. Trong giây lát, bức thư báo tin buồn chỉ còn lại một nhúm tro tàn.

Huyền Trang đau đớn nói qua nước mắt:

- Tội nghiệp cho con nhỏ không cẩn thận đền phòng, để cho tên khốn kiếp hãm hại nên đã thiệt mạng.

Tư Bình mặt mũi rầu rầu:

- Tôi cũng không ngờ, thật không ngờ...

Út Lan nép vào vai chồng. Đôi mắt đỏ hoe, không nói một câu.

Huyền Trang ngậm ngùi:

- Chuyện xảy ra rồi biết làm sao bây giờ. Chỉ vì muốn làm ăn lớn nên Thanh Hương mới bị thiệt mạng. Đường dây của ta tuy chưa bị lộ, song tôi buồn lắm, tôi phải tạm nghỉ, tĩnh dưỡng một thời gian ngắn. Tôi sẽ đi Đà Lạt một vài tuần nữa mới quay lại Sài Gòn. Hôm trước tôi có nói với anh Tư một phi vụ ở Tân cảng. Tôi quyết định hoãn lại ít ngày nữa. Làm ăn có thật thảnh thơi mới làm. Đang lúc buồn phiền như thế này, chưa nên làm gì cả! Anh Tư có đồng ý không?

Tư Bình đáp:

- Chị nghỉ thì tôi cũng nghỉ. Tôi hoàn toàn đồng ý với chị.

Tư Bình quay sang vợ:

-  Út Lan! Em sửa soạn làm bữa cơm chiều nay, mời chị Trang ở lại ăn cơm cho khuây khỏa.

Sau bữa cơm chiều, từ nhà Tư Bình đi ra, Huyền Trang không muốn thuê xe về nhà. Chị đi chậm chậm trên hè phố. Cả thành phố đã lên đèn. Trang len lỏi đi trong dòng người. Nỗi đau vô hình đang cắn xé trong lòng Huyền Trang. Mới có mươi hôm trước dây, Hương còn có mặt ở đây, hớn hở tươi cười sau khi giao xong cho chị 50 kỳ trầm và lĩnh trọn một bọc tiền về Huế. Ngờ đâu, bây giờ Hương đã mồ yên, mả đẹp! Đời người sao quả ngắn ngủi ? Cho dù, khi bước vào đường dây buôn lậu. Hương cũng như bất cứ ai, đã tự xác định tự nguyện đương dầu với hiểm nguy, chấp nhận hy sinh để đổi lấy sự giàu sang. Song cái chết này lại không phải vì đấu súng, chẳng phải vì tên bay, đạn lạc mà lại chết vì kẻ côn đồ vô ơn, bạc nghĩa. Trang cũng nghĩ đến nỗi đau đớn của người cha mất con, người em mất chị. Nỗi đau ấy mới là nỗi đau xé ruột, xé gan. Lại còn dư luận xã hội, tiếng đồn dai dẳng về vụ án này khi tên Tám Lai và vợ chồng gã phế binh bị đưa ta trước vành móng ngựa.

Một giờ sau, Huyền Trang mới về đến nhà. Chị mở của. Căn phòng như rộng thêm ra. Sự vắng lặng đến mênh mông. Trang gieo mình xuống giường. Một điệu nhạc buồn từ nhà ai đỏ vẳng sang làm cho nỗi buồn ở Trang càng thêm sâu lắng. Trang đặt hai bàn tay lên ngực, đôi mắt nhắm nghiền, cố tìm một sự yên tĩnh, một phút thư thái cho tâm hồn đang dạt dào sóng gió.

 

*  * *

Huyền Trang lên Đà Lạt đã được năm ngày và đến ở với Thanh Châu trong biệt thự Hoa Đào.

Thanh Châu sống với đứa con gái 14 tuổi. Suốt mười ba năm chờ, đợi đằng đẳng, Châu cũng có tâm trạng khắc khoải lo âu như Huyền Trang. Có một điều khác biệt về hoàn cảnh: Châu là vợ lẽ của một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hòa thời Nguyễn Văn Thiệu, đại tá Võ Hòa. Cuộc tình vụng trộm của Võ Hòa với cô gái Huế Thanh Châu diễn ra trong lúc Hòa còn chỉ huy một sư đoàn bộ binh ngụy ở vùng I chiến thuật. Hòa có vợ cả và sáu đứa con, song vẫn si mê sắc đẹp của Châu. Hòa đưa Châu lên Đà Lạt, mua hẳn biệt thự Hoa Đào làm tổ uyên ương. Sau mười hai năm học tập cải tạo, Võ Hòa được trở về gia đình ở Đà Nẵng và một tháng đôi lần Hòa lại lên Đà Lạt với Thanh Châu, cô chủ quán cà phê “Đào”.

Thanh Châu tâm sự với Huyền Trang:

- Ảnh thương mình lắm nên mình cũng thương ảnh luôn! Cháu gái Thanh Mai là giọt máu của ảnh, là nguồn vui của mình suốt mười hai năm chờ đợi. Nay ảnh được trở về gia đình đoàn tụ với vợ cả và các con, ảnh cũng đoàn tụ với mình nữa, mình thấy hạnh phúc lắm rồi. Trang hãy yên lòng chờ đợi Tuấn. Mình tin là Tuấn sẽ trở về. Trang biết không ? Suốt những năm chờ đợi, nhiều lúc mình buồn muốn chết, song lại cố gắng dẹp nỗi buồn riêng để nuôi cho con khôn lớn. Khi ảnh về, gặp lại mình, ảnh đã khóc, mình cũng khóc, cháu Thanh Mai cũng khóc. Những giọt nước mắt mừng mừng, tủi tủi. Mình vẫn nghe nói Trang ở Sài Gòn vui lắm kia mà, sao bữa nay lên đây lại buồn?

Biết Thanh Châu quan tâm đến mình, song Huyền Trang không thề nói hết được bí mật của nghề buôn, không thể để lộ phi vụ vừa đổ bể ở Đồng Hới, chị gượng cười:

- Ừ, mình có chuyện buồn ở Sài Gòn, chả là thế  này - Trang phải bịa đặt - một ông Vixi cỡ bự, làm giám đốc một công ty xuất nhập khẩu tôm đông lạnh lại theo đuổi mình, “ tấn công”  mình mới dễ sợ chứ! vì ông ta thấy mình ở độc thân mà! Nhưng, chao ôi, thương làm sao được ông Vixi “quê một cục” ấy được! Mình cự tuyệt thằng tay. Tự nhiên mình thấy buồn buồn, thế là lên đây với Châu cho vui!

Thanh Châu cười rất hồn nhiên:

-  Ồ, tưởng là chuyện gì, chứ chuyện ấy thì ở đâu cũng có. Ở Đà Lạt này, mình cũng đã từng bị mấy cha nội “ quấy rầy”, nào thư từ, nào đưa đón, mới mọc, lại trưng diện hết Lada, lại Vonga để “câu” mình, nhưng mình đã ngoảnh mặt đi, mấy “cha nội” đành phải chịu, quay bước. Bây giờ thì “ông xã” về rồi, mình mới thực sự yên ổn.

Huyền Trang thấy lây ngay cái vui của bạn, chị hỏi:

- Bao giờ thì “đại tá phu nhân” về Huế ở hẳn?

Thanh Châu lắc đầu:

- Mình sẽ ở lại đây mãi mãi. Đà Lạt rất mến khách. Mình đã trở thành dân Đà Lạt thứ thiệt rồi. Ở đây trẻ và đẹp ra, tại sao lại về Huế đề chịu cảnh mưa gió kéo dài và nắng như đỏ lửa mùa hè?

Huyền Trang nhìn ra cửa sổ, đôi mắt xa xôi:

- Ừ, nếu Tuấn về thì mình sẽ thuyết phục anh ta ở lại đây, hai đứa sẽ bán căn lầu đúc ở Sài Gòn đề mua một villa ở Đà Lạt, làm bạn với Thanh Châu lại hay đấy!

Thanh Châu chưa tin:

- Trang hợp với cảnh Sài Gòn náo nhiệt lâu rồi, ở đây thì chịu sao nổi! Mình ẩn dật quen rồi mà!

Huyền Trang chậm rãi:

 - Chưa biết thế nào được! Hãy đề “hạ hồi phân giải”, có phải không?

Niềm vui của Thanh Châu đã làm cho Huyền Trang thư thái trong tâm hồn. Từng lúc, sự ám ảnh về cải chết của Thanh Hương ở Huế cũng lắng xuống, làm dịu bớt u sầu.

Huyền Trang tự hỏi :

- Sao ta lại không có cuộc sống thanh thản hiện nay của Châu?

Câu hỏi ấy, chị chưa tự giải đáp được cho mình.

 

11. BỨC ĐIỆN KHẨN

 

Những ngày nghỉ ở Đà Lạt đã mang lại cho Huyền Trang sự bình yên. Trong những lời tâm sự của Thanh Châu, chị còn nhớ mãi câu nói:

- Chị thử nghĩ coi: Ở đời ai cũng có tham vọng, điều quan trọng là mình nên tự kiềm chế. Tham vọng lớn quá thường dẫn đến hai khả năng: một là thành đạt lớn, hai là thất bại chua cay. Nhưng mấy ai đã thành đạt lớn? Em tự biết thân phận mình, làm chủ một quán cà phê nhỏ này là đủ lắm rồi. Ông thương nghiệp, ông thuế vụ khỏi nhòm ngó (!). Em cũng không tranh giành gì với bà vợ cả của ông đại tá. Ông ấy có con với em, ông ấy có bổn phận phải lo cho con!

Lúc ấy, Trang đã đồng ý, tâm đắc với nỗi niềm tâm sự của Châu. Hôm nay, trở lại Sài Gòn, Trang muốn kéo dài thêm những ngày yên ổn và tìm thú vui ở nhạc, ở sách, ở bạn bè hơn là ở những cuộc phiêu lưu, mạo hiểm trên đường dây trầm hương, bạch phiến.

Có tiếng chuông reo ngoài cửa. Huyền Trang nhìn ra : một cô bưu tá đưa vào một bì thư :

- Thưa bà, bà có điện tín khẩn từ ngoại quốc gửi về!

Sau lời “cảm ơn” Huyền Trang trả lệ phí cho người bưu tả và nhận bức điện. Những ngón tay run run, Trang hồi hộp mở phong thư. Những con chữ chạy thẳng ba hàng:

“Huyền Trang thân yêu của anh!

 Thật không ngờ, anh được gia nhập đoàn Việt kiều trở về thăm Tổ quốc. Anh không kịp biên thư báo trước nên phải điện khần cấp cho em. Đoàn có mười người, sẽ đến phi trường Tân Sơn Nhất vào hồi 15 giờ ngày 15 tháng 8.

Trang ra đón anh, nghen!

 Hôn em       

Quang Tuấn”

Trang chớp chớp hai hàng mi đẹp. Chị bậm môi để khỏi thốt lên tiếng kêu: “Anh Tuấn”! Trang mơ hay Trang tỉnh đây? Không, sự thật dây mà! Trang nắm chặt bức điện trong lòng bàn tay.

Mười ba năm xa cách...

Ngày ấy và hôm nay... Trang có nghe và đã gặp một số bà con di tản trở về thăm quê từ hai năm nay, chị đã hy vọng và ước mơ. Qua thư từ, có đôi lần Tuấn nói đến chuyện về, song thật vô vàn khó khăn, làm sao mà hình dung cho hết?

Huyền Trang đưa tay với ống nghe và tìm số diện thoại. Chị gọi cho Tư Bình. Ở đầu dây nói đằng kia có tiếng: “ Có gì đấy, chị Trang?”

Trang nói như reo lên:

- Anh Tư ơi! Quang Tuấn sắp về nước rồi. Tôi vừa nhận được điện báo đây này! Bao giờ về hả? Tuấn nói rõ là về với đoàn Việt kiều có mười người, đến Tân Sơn Nhất vào hồi 15 giờ ngày 15 tháng 8, tức là còn hai ngày nữa máy bay mới hạ cánh! Anh nghe có vui không?

 - Dạ, dạ, xin chúc mừng chị! Xin chúc mừng luôn cả anh Tuấn!

Trang đặt ống nghe và nghĩ đến ngày 15 chị sẽ sửa soạn đón anh về. Phải trang hoàng lại cả hai phòng. Phải treo lại tấm hình anh ngay giữa phòng khách. Phải sửa lại bình hoa tươi... Hồi ở Huế anh thích loài hoa nào nhỉ, lay-ơn hay huệ trắng? Anh sẽ ở lại đây bao nhiêu ngày mà anh chưa nói? Có thể là một tháng, hai tháng hoặc lâu hơn nữa? Mình sẽ lấy chiếc xe Toyota đưa anh đi chơi khắp Sài Gòn, đi Vũng Tau, đi Nha Trang, đi Đà Lạt, đi Huế…

... Rồi anh sẽ nói với mình những gì? Và mình sẽ nói với anh những gì? Hay chỉ nhìn nhau mà không nói? Những trách móc, những giận hờn. Những ngày ở Huế năm xưa. Những ngày Sài Gòn tưng bừng giải phòng. Em đã làm gì cho anh, vì anh? Và ngược lại, anh đã làm gì để có ngày anh trở lại hôm nay? Chuyện của đôi ta sẽ kề cho nhau nghe bao nhiêu đêm cho hết, bao nhiêu ngày cho vừa?

Ngày trước, ở Huế, chỉ xa nhau có một đoạn đường. chỉ không gặp nhau có một hai ngày đã thấy nhớ, thấy bồi hồi xúc động.

Ngày nay, sau mười ba năm đằng đẵng, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu? Nối nhớ thương vời vợi. Anh không còn trẻ trung như trước. Em đâu còn ngây thơ, khờ khạo như buổi cắp sách đến trường. Anh sẽ hỏi em vì sao mà em trở nên giàu có? Em sẽ trả lời anh như thế nào đây? Nên nói thật cùng anh hay không nên nói? Chuyện làm ăn phi pháp đâu có thể nói ra một cách dễ dàng? Nếu anh biết được, anh có coi thường em không ? Có nên kể anh nghe về cái chết của Thanh Hương? Em sẽ bàn tính chuyện tương lai với anh thế nào nhỉ? Em đi theo anh ra nước ngoài hay em sẽ giữ anh ở lại Sài Gòn?

Huyền Trang nhắm nghiền hai mắt, nằm vật xuống đi-văng, lòng dạ ngổn ngang trăm mối.

Chiếc đồng hồ trên tướng vẫn buông những tiếng tích tắc đều đều. Thời gian chầm chậm nhích đi từng giây, từng phút.

Hai ngày nữa, tức là 48 giờ sau, sao mà dài thế? Sao mà lâu thế? Em sẽ ra sân bay Tân Sơn Nhất thật sớm để đón anh, có thể là từ 11 giờ, 12 giờ trước lúc phi cơ hạ cánh trên đường băng. Em sẽ ôm một bó hoa tươi thắm đón anh như đón một ông hoàng. Ơi Hoàng tử của lòng em!

12.  CÓ BẤY NHIỀU LỜI TÂM HUYẾT ẤY …

 

Từ buồng tắm đi ra, Huyền Trang đã ngồi ngay vào bàn trang điểm. Chị cười với bóng mình trong gương.

Có lẽ chưa hôm nào Trang vui bằng buổi sáng hôm nay. Buổi sáng mùa hè trong xanh, mát rượi. Ánh nắng đang reo vui ngoài của sổ, trong vườn cây. Cả thành phố đang đón chào một ngày mới.

Nếu là một ngày khác thì Trang đã mở một băng nhạc Disco cho từng bừng, rộn rã, nhưng giờ này Trang muốn giữ cho cả phòng khách và phòng ngủ đều yên tĩnh, chẳng phải yên tĩnh cho riêng mình, mà còn cần yên lĩnh cho người trai trẻ còn đang thiêm thiếp ngủ trên giường đệm trắng : Quang Tuấn!

Phải rồi, Quang Tuấn còn chưa tỉnh giấc sau một đêm vui gần thức trắng, đêm đầu tiên anh trở lại thăm quê hương sau mười ba năm xa cách. Trang đã đón anh từ sân bay Tân Sơn Nhất. Chiều hôm qua, Trang mặc áo dài màu hoàng yến, sang trọng như một bà hoàng và Quang Tuấn cũng trang nghiêm như một ông hoàng. Anh đi cuối đoàn đại biểu Việt kiều về thăm quê. Trang đã trao tặng anh bó hoa lay ơn trắng muốt. Anh ôm bó hoa như một chàng rể bước lên xe du lịch và xin phép các bạn đồng hành đề được đi cùng Huyền Trang về đây. Bữa cơm thân mật đầu tiên ở đây có cả vợ chồng Tư Bình – Út Lan. Bao nhiêu là chuyện từ Sài Gòn đến Oa-sinh-tơn. Những cái nhìn âu yếm, những nụ cười rạng rỡ, những tấm lòng đôn hậu cởi mở.

Sau bữa cơm, vợ chồng Tư Bình ra về, trả lại không gian yên tĩnh ấm cúng cho đôi bạn trẻ.

Huyền Trang đã sà vào lòng Tuấn, nằm gọn trong vòng tay anh. Sau những cái hôn nồng chảy là sự yên lặng của cả hai người. Trong si mê, Quang Tuấn đã nói qua hơi thở:

- Trang ơi! Chưa bao giờ anh sung sướng như hôm nay. Anh yêu em từ khi chúng mình còn là sinh viên ở Huế, song phải nói thực rằng: lúc này anh mới thực là của em và em mới thực là của anh! Hãy cho nhau tất cả! Hãy vì nhau tất cả! Anh sẽ ở lại đây với em hoặc là em sẽ ra đi cùng anh. Hai cách đó, tùy em chọn lấy một để không bao giờ phải cách xa nhau nữa. Thời thế đã đổi thay rồi. Ở hải ngoại anh đã cảm nhận điều đó, về đây, tiếp cận với thực tế Sài Gòn 1988, anh cảng cảm nhận thêm sâu sắc ý nghĩa của cuộc đổi đời, hay nói như sách bảo là “công cuộc đổi mới của đất nước”. Tư duy đã đổi mới thì mọi sự mặc cảm cũng tiêu tan. Con người với con người càng gần gũi nhau hơn, mặc dầu còn có những cảnh trái ngang ở nơi này, nơi khác song anh tin tưởng mãnh liệt rằng: con người sẽ hội tụ trong tình thương bao la, trong cộng đồng dân tộc.

Em biết không? Có một anh bạn Việt kiều ở Canada đã làm một bài thơ đăng trên báo Đất Việt, nhan đề là: “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển”.

Bài thơ này có những câu:

“Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

“Cho xác tôi trôi giạt đến bờ xa

“Bờ biển bên kia: đất Việt, quê nhà!”

Nỗi nhớ quê hương cao vời vợi, lấm lòng của kẻ xa quê thật ai oán, nghe sao mà nẫu ruột, nẫu gan.

Đáp lại những lời âu yếm của Tuấn, Huyền Trang chỉ nói một câu:

- Giờ đây và từ nay về sau, tất cả tâm hồn, thể xác và gia tài của em là của anh. Anh đừng bao giờ xa em nữa, nghe anh! Sau ngày anh đi, ba má em mất cả rồi...

Hai người thức gần tới sáng. Khi Huyền Trang tỉnh dậy thì Quang Tuấn vẫn còn nhắm mắt, hơi thở đều đều.

Trang rón rén dậy trước và rời khỏi giường, đi vào nhà tắm.

Tám giờ sáng, Tuấn mới cựa mình, mở mắt. Một phút ngỡ ngàng rồi Tuấn định thần lại ngay: “Mình đang nằm ở Sài Gòn rồi đây... “ Một đêm huyền diệu, một đêm đắm say, một đêm ân ái...

Tuấn trở mình, quay mặt nhìn sang bên cạnh: Trang đang soi mình rực rỡ trong gương.

Tuấn gọi khe khẽ chỉ đủ đề Trang nghe:

- Nàng tiên của anh!

Trang chạy lại phía giường, gục đầu vào ngực Tuấn:

- Anh ngủ nữa đi, còn sớm mà!

 Tuấn ôm lấy đầu người yêu:

- Anh không thể ngủ một mình được! Em dậy từ lúc nào?

- Từ lúc anh còn ngủ, từ 7 giờ kia mà!

Hai người lại lặng im. Thời gian như ngừng trôi trong một không gian hoàn toàn yên tĩnh.

 

*  * *

Những ngày tiếp theo của Tuấn là những ngày vui tràn ngập. Anh đã cùng các bạn Việt kiều đi thăm lại tất cả những nơi trong Sài Gòn với lời hướng dẫn ngọt ngào của Trang.

Mười ba năm, dân số Sài Gòn phát triển có cả triệu người. Người giàu có chưa nhiều. Người nghèo khó còn lắm. Càng tiếp xúc với thực tế, Tuấn càng cảm phục Trang. Trang đã tần tảo và làm thế nào để trở nên giàu có?

Giải đáp cho thắc mắc này của Tuấn, Trang đã nói:

- Em chịu khó chạy mánh, buôn hàng xách, có khi còn cho vay lấy lãi nữa. Với lại, em có một mình, chi tiêu sao hết được!

Tuấn nghe và anh đã tin là Trang nói thật. Song, anh có ngờ đâu: Trang chỉ nói thật trong tình yêu, còn trong cách buôn bán làm ăn thì Trang buộc lòng phải nói dối, bởi vì chị thừa hiểu nghề buôn hàng quốc cấm là xấu xa, là có tội. Nói thật hết mọi chuyện làm ăn lúc này là chưa đúng lúc và có thể làm cho Tuấn khinh rẻ mình và như vậy sẽ gây nên hiều lầm và có thể dẫn đến tan vỡ hoặc ít ra cũng bị rạn nứt về tình cảm. Đau thương này, chị không sao gánh chịu nồi được! Hơn nữa, Trang lại chỉ có một mình, ba má mất rồi, còn một bà cô ở Huế. Khi phải chạy vào Sài Gòn với chục cây vàng, Trang phải tự lực kiếm sống và chị đã chọn con đường làm giàu ngắn nhất: buôn lậu hàng quốc cấm với Tư Bình - Út Lan. Bà cô của chị còn ở lại một mình ở biệt thự Hoa Quỳnh. Bà rất thương Tuấn, chỉ mong cho lứa đôi nên vợ nên chồng, nếu hạnh phúc không thành thì nỗi đau này không chỉ của riêng Trang mà còn là nỗi đau chung của bà cô nữa.

Tuấn không giàu có như Trang, song anh còn ba má ở Mỹ. Cha anh theo cuộc đời binh nghiệp, là bác sĩ quân y, sống nhờ vào tiền lương của anh, một “gia sư” và dạy Việt văn ở một trường tư thục của Việt kiều. Tuấn ở đây đã được một tuần lễ, Huyền Trang vẫn giữ kín câu chuyện làm ăn đề tận hưởng những ngày yên vui.

Một buổi sáng có chuông điện thoại, Trang nhấc ống nghe:

- Tôi nghe đây! Ai đó? Anh Tư Bình à? Sao? Tôi phải đến anh ngay bây giờ? Được, tôi đi đây!

Biết có chuyện phải đi gấp, Trang đã dặn Tuấn ở lại coi nhà đề chị đi chừng một giờ thôi.

Trang thay quần áo và tất tả xuống cầu thang.

Trang vẫy xe xích lô và đến thẳng nhà Tư Bình.

Tư Bình để lộ nỗi lo âu trên mặt. Anh đưa Trang lên lầu và khép cửa lại, hạ thấp giọng:

- Một bà láng giềng của Hai Vân vừa tin cho tôi biết: công an đã khám nhà Hai Vân, song không bắt được gì. Hai Vân cũng đã trốn biệt từ bao giờ! Chỉ có ông chồng ú ở với mấy đứa con nhỏ!

Trang sốt ruột:

 - Thế là thế nào?

 - Tôi đoán là do mấy tên đàn em bị bắt ở Huế khai ra. Bà Hai Vân lại đi ra, đi vô như con thoi trên tàu Thống Nhất, chỉ cần những tên bị bắt tả lại hình dạng của Hai Vân là công an kinh tế tìm ra tung tích của Hai Vân. Nếu Hai Vân không may bị bắt thì đường dây của ta rất khó giữ được an toàn!

- Theo anh thì ta nên làm thế nào?

- Nếu cần thì phải tìm cách thủ tiêu con mẹ này đi là rảnh chuyện!

Huyền Trang suy nghĩ hồi lâu rồi đáp:

-  Không nên như thế! Vì Hai Vân không hề biết địa chỉ của anh và tôi. Nếu lại xảy ra án mạng thì công an càng chú ý, càng tập trung truy tìm thủ phạm đã giết Hai Vân. Tôi và anh làm sao tránh khỏi hậu quả!

Tư Bình băn khoăn:

- Theo chị thì nên như thế nào?

 - Theo tôi, bằng mọi cách anh “cố vấn” cho chồng Hai Vân bảo cho vợ hắn biết: phải trốn biệt tăm khỏi Sài Gòn ít nhất là 6 tháng. Sáu tháng biệt tăm qua rồi thì sẽ tung tin là Hai Vân đã vượt biên sang Thái Lan! Thế là ổn.

Tư Bình gật gù:

- Ý kiến của chị hay đó. Nhưng cứ phải đề phòng! Tôi sẽ dùng một “điệp viên” nhắn tin cho chồng Hai Vân phải báo cho mụ vợ “lặn thật sâu”!

- Còn tôi và anh phải tuyệt đối bí mật. Hãy tạm thời nghỉ mấy tuần, phải “án binh bất động”. Tôi sẽ đưa Tuấn đi chơi đây đó, tham quan du lịch mấy nơi. Còn anh đi coi Vidéo cho sướng!

Tu Bình hể hả:

- Dạ, tôi hoàn toàn nhất trí với chị!

 Hai người chia tay.

 

13. TRĂN TRỞ

 

Trung tá Hồng Quang về đến phòng làm việc của ban chuyên án thì trời vừa sụp tối.

Chuyến đi khảo sát thực địa của ông đã mang lại cho ông nhiều điều bổ ích. Từ nghị quyết đến thực tế cuộc sống có biết bao nhiêu chuyện phải suy nghĩ, phải bàn bạc để khai thông dòng chảy cho nền kinh tế quốc dân bị ách tắc sau mấy chục năm trời tập trung quan liêu bao cấp.

Đôi mới tư duy phải trở thành hành động cụ thể, mà không thể chỉ là một khẩu hiệu suông nêu lên cho hợp thời trang.

Bằng quyết tâm cao, trung tá Hồng Quang đã đi suốt dọc miền Trung. Ông đã dừng lại từng tỉnh nghiên cứu tại chỗ một số vụ án kinh tế.

Các vụ án buôn lậu trầm hương – kỳ nam, gọi tất là trầm kỳ được ông xếp vào loại án đặc biệt. Trầm kỳ là mặt hàng quý hiếm, có giá trị xuất khẩu cao, đổi lấy ngoại tệ mạnh, làm giàu cho đất nước.

Suốt dải Trường Sơn hùng vĩ còn tiềm ẩn bao nhiều trầm kỳ tự giấu mình trong những cây gió.

Người khai thác phải len lỏi vào rừng săn hết ngày này qua ngày khác, có khi suốt tháng mới gặp cây gió có trầm kỳ. Rắn rết, thú rừng thường sát hại người khai thác, chưa kể nạn trộm cướp ở nơi hoang đã. Ấy vậy mà cơ quan ngoại thương lại đặt giá thu mua rẻ mạt, trong đó ngày công của người đi khai thác được tính bằng mấy cân gạo, đã cho là to lắm rồi. Khi đặt trầm kỳ lên bàn cân, cán bộ thu mua còn chê ỏng, chê eo, ép cấp từ loại A xuống loại B, từ loại B xuống loại C. Vì vậy họ chỉ thu mua được 10%, số trăm kỳ của dân khai thác, 90% số  còn lại trở thành “hàng trôi nổi” và lọt vào tay tư thương. Trầm được đánh giá đúng chủng loại, được mua đúng giá (cao hơn giá của ngoại thương đặt), được trả bằng tiền mặt, có khi được trả bằng vàng.

Rõ ràng việc làm của Ngoại thương ta là trái quy luật, không khuyến khích người khai thác. Từ cơ chế này đã nảy sinh hiện tượng cấm chợ ngăn sông, khám bắt tràn lan. Song số trầm kỳ tịch thu được của tư thương chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số trầm kỳ thực tế họ khai thác được.

Trầm kỳ trôi nổi qua tay tư thương vào đến Sài Gòn sẽ được bán cho thủy thủ tàu Viễn dương đi Hồng Kông, đi Nhật Bản hoặc theo đường bộ bán sang Cam pu-chia, đi Thái Lan, đi Malaixia, Singapor... Trầm kỳ xuất cảng lậu gây thêm bệnh chảy màu vàng và hàng xa xỉ tràn vào như nước vỡ bờ.

Muốn chống việc buôn lậu trầm kỳ cũng như các lâm sản quý khác, chỉ có cách thay đổi phương thức thu mua, không ép cấp, ép giá, đặt nhiều đại lý ủy thác, làm chân rết cho Ngoại thương.

Trung tá Hồng Quang ngồi vào bàn viết. Ông sẽ làm một bản báo cáo trình Trung ương và các cơ quan hữu quan, ông khẳng định: “Từ việc làm trái quy luật của ta đã đẻ ra một tầng lớp tư thương buôn lậu, tạo nên kẽ hở làm thất thoát hàng tấn trầm kỳ, để rồi chúng ta lại chạy theo bắt bớ, khám xét, lập hồ sơ vụ án. Vậy, nên có giá thu mua thỏa đáng để có thể khuyến khích người khai thác, nên đặt nhiều đại lý, ủy thác thu gom. Có chính sách đúng thì sẽ hạn chế được hoạt động lũng đoạn của tư thương. Việc chống đầu cơ, buôn lậu vẫn còn phải tiếp tục, song sẽ bớt khó khăn, vất vả hơn bây giờ...”

Hồng Quang đặt bút. Ông xoa tay và châm một điếu thuốc hút, cũng vừa lúc Trần Minh đẩy của bước vào. Ông siết chặt tay anh bạn trẻ:

 - Các cậu làm được đến đâu rồi? Nói thử nghe xem nào!

Trần Minh ngồi xuống ghế:

- Dạ, thưa bác, chúng cháu phối hợp với đội tuần tra trên tàu Thống Nhất phát hiện được Thị Vân tức Hai Vân là chủ của lô trầm kỳ cất giấu trong mười bịch tôm, cá khô. Theo hồ sơ có dán ảnh của Hai Vân, trinh sát của ta đã tìm hiểu qua bọn trùm phe phẩy trên tàu, biết được địa chỉ của Hai Vân tại Sài Gòn. Ta lại xác minh qua lời khai của tên Tám Lai, kẻ đi áp tải hàng cho Hai Vân và đã đánh chết Thanh Hương thì đúng là Hai Vân từ Sài Gòn ra “ăn hàng” ở nhà ông già Đàm (bố của Thanh Hương). Đáng tiếc là khi khám nhà Hai Vân lại không thu được thứ gì, mà Hai Vân đã lặn mất từ bao giờ. Chồng của Hai Vân là Huỳnh Văn Long lại buồn bã than phiền:

- Cô ấy bỏ nhà đi cả tháng nay rồi. Có lẽ về quê bên ngoại ở Đồng Tháp, tôi đã nhắn hai lần, gọi cô ta về Sài Gòn mà có thấy cô ta về đâu? Tôi ngán quá, chẳng hiều cô ta làm ăn phi pháp ra sao mà lại phiền cả đến mấy chú công an. Trăm sự nhờ mấy chú giúp đỡ, giáo dục cho cô ta trở về làm ăn lương thiện với gia đình.

Trung tá Hồng Quang đẩy hộp thuốc lá về phía Trần Minh

 - Hút thuốc đi! Mặc dù ta chưa thu được kết quả mong muốn, song cũng đã biết được địa chỉ của Hai Vân, một đối tượng ta cần tìm hiểu. Thế rồi các cậu làm gì nữa?

Trần Minh châm thuốc và nói chậm rãi:

- Dạ, thưa bác, anh em trinh sát tiếp tục bám sát địa bàn để tìm thêm những “vệ tinh” của Hai Vân, hy vọng sẽ tìm ra manh mối. Riêng Thúy Hằng, cháu bố trí cho Hằng đi Đồng Tháp về bên ngoại của Hai Vân đề xác minh câu nói của chồng mụ ta.

Trung tá Hồng Quang gật gù, ông nhìn người bạn trẻ, giọng điềm đạm nói:

 - Có nhiều vụ án, ta lần được đường dây của chúng đến Sài Gòn rồi mất hút, vì tổ chức của những đối tượng này khá tinh vi, khá chặt chẽ, khi thấy “động” thì các mắt xích bị cắt rời ngay. Một “điạ chỉ đen” chưa đủ để ta phá án. Những ổ chứa hàng lậu và ai là trùm sỏ thì ta chưa biết được. Đó là vấn đề làm đau đầu trinh sát. Ngày mai cháu có thể lại bay vào Sài Gòn cùng Thúy Hằng tiếp tục truy lùng theo dấu vết của mụ Hai Vân.

 

14. LỜI THÚ TỘI

 

Từ lầu hai của khách sạn Hải Yến nhìn ra biển sáng nay, Huyền Trang lại thấy lòng mình dạt dào sóng vỗ.

Gió từ ngoài biển thổi vào làm tung bay mái tóc màu bạch kim.

Trang đứng tựa lan can, quay vào cất tiếng gọi:

- Anh Tuấn! Anh ra đây với Trang!

Tuấn buông tờ báo xuống bàn, bước ra. Năm ngón tay anh đã lùa vào mái tóc của Huyền Trang. Trang ngã đầu vào vai Tuấn nũng nịu:

- Anh nhìn coi: đại dương buổi sớm đẹp quá! Đại dương kia em chưa vượt, nhưng anh đã vượt lúc ra đi từ Cảng Sài Gòn. Tuần trước anh về lại bay qua đại dương. Tại sao em không đi theo anh từ ngày ấy, anh nhỉ?

Tuấn cười âu yếm:

- Em đi để rồi lại về đây với anh sao?

- Em đi thì chắc là anh và em sẽ định cư ở Oa-sinh-tơn.

Tuấn lắc đầu:

- Càng không thể được! Em chưa sang Mỹ, em chưa hiểu hết đó thôi, gay lắm.

- Sao?

- Vì học vị của anh và vốn liếng của em ở Sài Gòn thì tàm tạm đủ, sang Mỹ thì vẫn như hạt cát trên sa mạc! Cuộc sống quay cuồng đến chóng mặt ở bên đó không phù hợp với anh và càng không phù hợp với em. Chúng ta là dân xứ Huế, là dân Việt Nam cần có cuộc sống ổn định hơn.

Huyền Trang xoay người lại, nhìn thẳng vào đội mắt của Tuấn:

- Anh nói ổn định hơn hay là ẩn dật hơn?

- Cả hai từ ấy đều đúng với ý nghĩ của anh. Nghĩa là anh muốn cuộc sống êm đềm. Anh đi dạy học ở một trường nào đó. Còn em sẽ mở một quầy hàng tạp phẩm. Rồi chúng ta sẽ có con ngoan. Lối sống “chụp giựt” chỉ làm cho anh mệt nhoài người ra. Và có thể ngất xỉu mặc dù nó có thể đưa đến cho chủng ta nhiều tiền bạc hơn. Em thử nghĩ xem, cứ chạy theo đồng tiền đơn thuần thì không còn thì giờ để làm các việc khác nữa. Em nên nhờ lại thời kỳ ở Huế, khi anh và em còn là sinh viên dũng cảm xuống đường phản đối Ngô Đình Cần, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu.. Ngày ấy, chúng là đều nghèo và rất mơ mộng.

Huyền Trang níu chặt hai bờ vai của Tuấn, nói như năn nỉ:

- Anh của em! Con chim hải âu của em! Trong 13 năm xa cách, em đã làm tất cả vì anh. Em đâu còn là sinh viên ngày ấy vì em biết rằng: nếu em không có thật nhiều tiền thì em sẽ không làm chủ được đời mình nữa, thì em sẽ mất anh.

Tuấn quàng tay qua lưng Huyền Trang, ôm chặt người tình trong vòng tay và hôn lên đôi môi nàng một cái hôn say đắm.

Tuấn lại dìu Trang vào phòng và cùng ngồi xuống di-văng, Trang ngả đầu vào ngực Tuấn:

- Chúng mình thì sung sướng thế này, còn Thanh Hương thì thiệt cả một đời.

Câu nói của Trang làm cho Tuấn chạnh buồn:

- Đối với Thanh Hương thì âu cũng là số phận!

Nhìn thấy Trang đỏ hoe cả hai mắt, Tuấn hỏi:

- Sao em khóc, em thương Thanh Hương nhiều phải không?

Trang nói qua nước mắt:

- Thương lắm chứ, anh! Thanh Hương mới có 30 tuổi đời. Có lẽ Hương chưa hề được yêu đương, chưa một ngày nào hạnh phúc. Và nhất là Hương còn phải sống phụ thuộc vào ba, Hương là con gái nhà lành. Chỉ lỡ có một chút mà bị thiệt mạng.

Tuấn an ủi:

- Chuyện đã lỡ mất rồi. Kẻ hãm hại Thanh Hương đã bị bắt. Nó sẽ phải đền tội khi tòa án đem ra xét xử. Cũng là đáng đời tên Tám Lai, một tên hung bạo.

Huyền Trang dàn dụa nước mắt, khóc nấc lên:

- Em cứ tưởng Thanh Hương đi trót lọt như những chuyến trước nên em càng khuyến khích nó. Hương rất hồn nhiên, nó tin em và lao vào cuộc. Ai ngờ! Anh ạ, suy cho đến cùng thì em phải chịu trách nhiệm về cái chết của Thanh Hương. Anh nhớ không? Khi chúng ta còn là sinh viên ở Huế, bé Hương hay đến chơi với em ở biệt thự Hoa Quỳnh, gặp anh, anh còn hay vuốt mà nó kia mà. Ôi ! Đôi má lúm đồng tiền ấy... Vậy mà bây giờ tất cả tâm hồn, thể xác ấy đã nằm sâu dưới đất ! Anh ơi! Đêm qua, em đã nói với anh rồi đó, buôn hàng quốc cấm thì lãi lớn, nhưng đầy nguy hiểm. Em giữ gìn trọn vẹn, chỉ giữ được em và vợ chồng Tư Bình khỏi lộ thôi, còn em bảo vệ sao được cho cả Thanh Hương trên suốt chặng đường dài cả ngàn cây số.

Tuấn lặng im, vuốt tóc Trang như gỡ từng sợi rối. Trang vẫn thôn thức:

- Lại còn Hai Vân nữa, chị ấy đã bị khám nhà và có lẽ họ đang truy nã, biết có thoát được không?

Tuấn trở nên lo lắng:

 - Nếu chẳng may chị ấy bị bắt thì em và Tư Bình có bị lộ không?

Trang mím chặt môi:

- Không lộ được đâu. Anh chưa gặp chị Hai Vân nên chưa biết về con người ấy. Chị ta có bản lĩnh hơn em nhiều, thà chết không bao giờ khai báo cho ai đâu! Theo nguyên tắc của đường dây buôn lậu, em và anh Tư Bình không hề để lộ địa chỉ, chỉ gặp Hai Vân ở những điểm hẹn bất thường, khi nhận ra ám hiệu thì bàn công việc, thế thôi. Cho nên, em biết mặt Hai Vân và Hai Vân không hề biết em là ai. Với lại, chúng em còn có ở “luật giang hồ”. Mỗi người là một mắt xích. Công an kinh tế làm sao mà lần ra được đầu mối mỗi khi một mắt xích bị “chặt”  đứt rời ra khỏi dây chuyền.

Tuấn rút khăn thấm nước mắt trên hai gò má của Huyền Trang và nói ôn tồn:

- Bây giờ nếu anh nói rằng em thôi cái nghề buôn nguy hiểm này thì em có giận anh không?

Huyền Trang bình thản:

- Sao anh lại hỏi em thế? Từ lâu lắm rồi, em là của anh, em không bao giờ làm trái ý anh. Song, lại còn Tư Bình và Út Lan nữa, họ tin em và trông cậy ở em, nay lại thôi không buôn nữa, sẽ nói với họ sao đây? Chúng em đã có lời nguyền.

- Nếu em thấy chưa tiện nói với Tư Bình thì anh sẽ nói giúp em có được không?

Huyền Trang đắn đo:

- Anh hãy để em suy nghĩ thêm và sẽ trả lời anh sau.

Tuấn mỉm cười:

- Không sao! Thời gian còn nhiều lắm. Thời gian là của chúng ta.

Tuấn nói vậy và cảm thấy yên lòng. Những điều tâm sự bị dồn nén đã trảo qua nước mắt, làm dịu nhẹ bớt đau thương của Trang. Anh coi đó là một tất yếu của tâm hồn phụ nữ khi Trang biết rằng Trang đã được yêu bằng một tình yêu nồng cháy và trọn vẹn. Và lần đầu tiên Trang đã phải ân hận về việc mình làm, đã hiểu nguyên nhân nào dẫn đến cái chết của Hương. Những lời Trang vừa thổ lộ với anh còn có nghĩa là những lời thú tội nữa.

 

15. BƯỚC NGOẶT

 

Huyền Trang trở về Sài Gòn vào cuối tuần trăng. Căn phòng rộng đẹp của Trang ấm áp hẳn lên vì có Tuấn.

Tuần trăng mật ở Nha Trang để lại cho cả hai người một dư vị khó quên.

Tuấn sẽ ở lại Sài Gòn thêm hai tuần nữa. Anh muốn trở về thăm cố đô Huế, song vì có chuyện đau buồn do cái chết đột ngột của Thanh Hương nên Trang quyết định chưa về và Tuấn cũng phải chiều theo ý Trang.

Anh sẽ nộp đơn, xin phép chính quyền cho phép nhập cảnh và định cư ở Sài Gòn cùng với ba má.

Khi Trang biết được quyết định này của anh, Trang đã hôn anh say đắm và nói:

- Vậy là từ nay em sẽ không bao giờ mất anh.

Tuấn nhếch mép cười:

- Song, anh có thể mất em đấy?

- Sao ạ ?

- Vì em chưa dứt hẳn được chuyện liên kết với Tư Bình.

Trang quả quyết:

- Em sẽ nói lại với Tư Bình: bây giờ có anh về, chúng ta sẽ làm lễ cưới vào mùa thu năm nay khi ba má trở về Sài Gòn. Tư Bình cũng giàu có rồi, có thể mở một cái tổ hợp sản xuất hàng xuất khẩu. Luật đầu tư nước ngoài đang cuốn hút người vào, ở Hậu Giang đó, công ty tư nhân Pháp, Tây Đức đã vào mở mang công kỹ nghệ... Anh nói rất đúng, nếu em có dấn thân vào con đường đầy nguy hiểm thì làm sao tránh khỏi tai họa như Thanh Hương đã gặp?

Tuấn vuốt tóc Trang:

- Anh và em chưa tới tuổi 40, như vậy đầu đã phải là già? Quê hương ta đang đồi mới rồi, lẽ nào ta không đón lấy thời cơ ?

Huyền Trang ngồi im lặng. Chị muốn tận hưởng những giờ phút êm đềm như thế.

Trang như một người vừa được đánh thức dậy sau một cơn mê. Sự giàu sang hôm nay đã phải đồi bằng cả mười ba năm vất vả. Tâm hồn bị chai sạn nhiều rồi. Phải có thời gian dài hơn nữa, ở bên Tuấn, Trang mới có thể tìm gặp lại mình khi mình còn là cô sinh viên của đất thần kinh. Ôi! Xứ Huế quê hương trầm mặc sao mà gần gũi? Hãy trở lại đời thường, hãy tự cứu lấy mình! “Em đã giàu có về tiền bạc, nhưng em lại nghèo khó về tâm hồn. Có phải chăng đây cũng là luật bù trừ? Tình yêu nồng cháy của anh đã làm cho em nhận ra điều mà anh hằng mơ ước: đó là cuộc sống lương thiện của bao nhiêu người đang sống quanh em. Anh đã mở ra cho em một bước ngoặt của đời em.” - Trang thầm nhủ.

Thấy Trang không nói, Tuấn lại ôm Trang vào lòng:

- Em nghĩ gì đó?

Trang cười:

- Anh thử đoán xem?

- Em đang nghĩ về anh!

-  Còn hơn thế nữa...

- Về một ngày mai của cả hai đứa chúng mình?

Huyền Trang áp môi vào má Tuấn:

- Anh giỏi lắm! Anh đừng bao giờ xa em nữa, nghe anh !

 

Mùa Xuân 1989      

 NGUYỄN THIỆN THUẬT

No comments:

Post a Comment