02 February 2023

BÃO TÁP VÙNG VÀNG

 



I


Phi Nga đi dạo một mình bên hồ Xuân Hương. Cô muốn có một vài giờ thư thái sau một ngày làm việc căng thẳng.

Buổi chiều mùa hè Đà Lạt thật đẹp. Trên mặt hồ, những chiếc xuồng đạp nước mang hình con thiên nga trắng đang bơi. Sau đôi cánh thiên nga là các bạn nam nữ thanh niên, những trai thanh, gái lịch từ bốn phương về. Họ đang cười nói hay đang rì rầm tâm sự? Những ánh mắt trao duyên, những nụ hôn nồng cháy.

Nếu không có tiếng ồn từ phía chợ Hòa Bình dội tới thì du khách có cảm giác mình đang lênh đênh trên suối Ngọc Tuyền cùng hai chàng Lưu Nguyễn nhập thiên thai...

Phi Nga đi được nửa vòng hồ rồi mới ghé vào nhà hàng Thanh Thủy, một nhà hàng nổi ven hồ. Nga tìm được một bàn còn bỏ trống kê sát phía ngoài, khách ngồi đây có thể buông tay khỏa xuống nước hồ trong xanh.

- Cho chị một kem ly!

Cô bán hàng đã mang đến cho Nga một kem ly ba mầu vừa thơm, vừa mát. Nga ngồi ăn kem và lơ đãng nhìn ra mặt hồ. Cô muốn lấy lại cho mình sự cân bằng trong tâm trí. Sự yên tĩnh sẽ giúp cho mình thêm sáng suốt để suy nghĩ đúng và hành động đúng. Nếu hành động sai thì sẽ phải sửa sai từ một thất bại nào đó. Như vậy sẽ tốn công, tốn sức và mất thì giờ. Câu nói của đại tá Hồng Quang còn văng vẳng bên tai:

 - Trận đánh này thật khó khăn, thật vất vả, song chú tin là cháu và Văn Sinh sẽ làm được, chỉ cần có quyết tâm cao. Khi cần thiết, ban chuyên án sẽ yểm trợ tối đa cho các cháu, sẽ có lực lượng chi viện vào giờ phút nóng bỏng nhất. Cháu về chuẩn bị để sớm mai có thể lên đường đi Di Linh với Văn Sinh.

 - Dạ.

Phi Nga coi lời cổ vũ của đại tá là một mệnh lệnh. Cô đã bàn bạc kỹ với Văn Sinh anh bạn điển trai, hiền lành và gan góc. Trước hết là tư trang, hành lý phải thực gọn nhẹ và hóa trang cho khéo.

Phi Nga mỉm cười. Nét mặt cô từ trầm tư lại trở nên tươi tỉnh, yêu đời “Mình phải có niềm tin chắc thắng”. Ngày mai Nga sẽ bước vào trận đánh ở Di Linh.

***

8 giờ sáng.

Cả Đà Lạt đã thức dậy sau một đêm sương mù. Ánh nắng đã bừng lên, song sương khói vẫn còn giăng giăng trên núi cao, trên rừng thông và chưa tan hết trên cả mặt hồ.

Trong phòng làm việc của ban chuyên án, đại úy Kỳ Nam “duyệt” lại một lần nữa hành trang của những người đồng đội: Phi Nga và Văn Sinh.

Phi Nga mặc quần đen, áo xanh ngắn đã bạc mầu, chân đi đôi giầy vải cũ lem luốc của cô phụ nề, đầu chít một khăn sợi màu nâu để bịt kín mái tóc uốn ngày thường. Gương mặt không phấn son. Chỉ còn vẻ dịu dàng, mộc mạc, dễ thương. Văn Sinh mặc bộ đồ thợ nguội, thợ hàn lấm lem dầu mỡ, một mũ vải che kín nửa vừng trán rộng, một kính mát gọng nhựa to bản, râu ria lâu ngày chưa cạo, mọc lởm chởm đầy cằm. Còn lại là ánh mắt và nụ cười tươi trẻ. Văn Sinh khuỳnh hai cánh tay đi đi, lại lại làm điệu bộ ngang tàng, bất cần đời của một anh chàng muốn quậy. Dáng người cao, khỏe làm cho anh có thêm cái vẻ bề thế của kẻ giang hồ.

Đại úy Kỳ Nam gật gù:

- Được đấy! Hãy cứ tàm tạm như thế. Còn hành lý, xin mời anh vác cái cuốc chim, chị mang cái xẻng xúc bùn cát và một cái khay nhôm có nhiều lỗ nhỏ li ti để đãi vàng là được rồi. Chai lọ, bi đông nước uống, cơm nắm, muối mè, bánh mì mấy ổ, ly chén, ca uống nước và hai bộ quần áo nhầu nát trong cái ba lô bẹp khoác vai là được. Cũng không quên cả tăng, võng, dây dù để mắc võng lên cây, cả mùng cá nhân và thuốc chống sốt rét, chống bệnh đường ruột. Mỗi người phải có một xoong nhỏ để nấu ăn. Diêm, bật lửa nữa. Vũ khí tùy thân mỗi người phải có một dao găm, một súng ngắn, 20 viên đạn, khăn mặt, bàn chải, kem đánh răng, thuốc lào, thuốc lá để cho, để mời các bạn đãi vàng. Còn củi đun, đốt sưởi đêm lạnh thì trong rừng không thiếu. Hai người hai xe đạp cũ kỹ, tồng tộc đi đến phố huyện thì gửi lại trước khi leo núi, xuyên rừng vào trận địa Sơn Điền... Bấy nhiêu thứ, đủ chưa nào?

Văn Sinh đáp:

- Đủ cả.

Phi Nga cười:

 - Mang vác bấy nhiêu thứ cũng đủ mệt rồi. Anh còn muốn đeo vào cho em thêm gì nữa?

- Văn Sinh khỏe mạnh, sức dài, vai rộng có thể phải tương trợ, mang vác giúp Nga khi leo đèo, vượt suối đấy nhé. À Nga là cô gái phải mang theo kim chỉ vá may, để lỡ khi xuyên rừng, áo quần bị gai góc xé rách thì sao?

Phi Nga cười tủm tỉm:

- Anh Nam kỹ tính quá. Phần của em, em lo đủ rồi ạ.

Nam cũng cười theo:

- Ấy, mình đi quét Phun-rô, đã có kinh nghiệm rồi. Giữa rừng mà thiếu một trong bấy nhiêu thứ cũng phiền lắm. Sau hết là địa điểm liên lạc của ta đã đặt tại cơ sở quần chúng tốt ở phố huyện Di Linh: quán cà phê Lan, các bạn nhớ chưa nào? Năm ngày báo cáo một lần, nếu có tình hình đột biến thì báo cáo khẩn cấp... Cần gọi điện thoại về Đà Lạt thì qua bưu điện huyện hoặc vào công an huyện gọi nhờ dây nói... Công tác phí mỗi bạn đã được tạm ứng hai trăm ngàn, nếu thiếu cứ đặt yêu cầu, ở nhà sẵn sàng chi viện! Bây giờ xin mời các bạn uống tách trà nóng cho ấm bụng rồi ta lên đường, đã sẵn sàng chưa?

Văn Sinh đáp gọn:

- Đã sẵn sàng!

Đại úy Kỳ Nam đã ngót bốn mươi tuổi, vẻ mặt khắc khổ, từ khi ở bộ đội chuyển sang ngành an ninh đến nay đã mười năm vẫn chưa lấy vợ. Anh em thường trêu chọc: “Tư lệnh phòng không của chúng em đấy!” Kỳ Nam cười khà khà:

 - Tại các cậu chẳng chịu làm mai cho tớ một bà xấu xí nào đó!

Vẫn với tác phong của người anh cả luôn giành phần khó khăn về mình nên Kỳ Nam thường được đồng đội tin yêu, mến phục. Anh lấy đó làm một lẽ sống, một vinh dự và một niềm tự hào chính đáng.

Kỳ Nam chìa tay trước hai bạn trẻ:

- Nào, xin chúc hai bạn lên đường gặp nhiều may mắn...

Ba người xiết chặt tay nhau.

Xẻng, cuốc buộc phía sau xe đạp, ba lô khoác sau lưng, Văn Sinh và Phi Nga nhằm hướng Di Linh đi tới.

Mặt trời đã lên ngang ngọn núi phía đông. Nắng ban mai sưởi ấm trên những cánh rừng xa.

Đến xế trưa, Văn Sinh và Phi Nga nghỉ lại một quán nước bên đường. Người đi đãi vàng từ các nơi đổ về đây, kẻ đi bộ, người đi xe đang ngồi đầy trong quán, có người ngồi cả bên lề đường, trên một phiến đá, trên một vạt cỏ, trò truyện râm ran.

Phía trước mặt họ là Sơn Điền một thung lũng vàng từ hai năm nay đã thu hút người tứ xứ về đây đãi cát tìm vàng, gần đây lại có người đào, đãi được cả kim cương, đá quý. Tin ấy loan đi nhanh chóng và hàng ngàn người xẻng cuốc trên vai đổ về Di Linh với giấc mơ sẽ trở thành triệu phú, tỷ phú nếu trời phật phù hộ cho kẻ nghèo hèn. Họ là dân nghèo thành phố, là công nhân, nông dân, thợ rừng từ Thuận Hải, Đồng Nai, Bến Tre, Sài Gòn, Vũng Tầu, Long Hải. Lại có cả dân bụi đời, mấy anh có tiền án, tiền sự hoặc trốn trại cải tạo về đây tìm gặp cơ may. Lại có cả mấy anh hàng phở, mấy bà bán quán cà phê mở quán, dựng lều sẵn sàng “phục vụ” bà con khai thác vàng, kim cương, đá quý... Người tiêu xài mỗi ngày một đông nên mỗi quán hàng đã trở thành một “máy chém”. Quà bánh, cơm phở, bia, nước ngọt đắt như tôm tươi. Một vài quán có thêm cả xì ke, ma túy và ... “cà phê ôm”. Cờ bạc cũng phát sinh khi dân đãi vàng kiếm ăn được, có lưng vốn, có đồng ra, đồng vào. Sơn Điền trở thành một vùng đất hứa hẹn, song chẳng phải ai cũng may mắn đãi được vàng và kim cương. Mồ hôi, nước mắt đổ ra mà vẫn hai bàn tay trắng. Hiếm hoi lắm mới có người đào được kim cương. Càng hiếm lại càng quý và lời đồn đại được chứng minh: vàng, kim cương, đá quý ở đây là có thực. Người đào được của thì giấu giếm “của trời cho” song không giấu nổi niềm vui lộ trên khuôn mặt hoặc thầm thì sang tai người thân cùng một gia đình cũng đã lọt sang tai kẻ tò mò bên cạnh. Lòng tham trỗi dậy, nhân nghĩa đảo điên, kẻ tham lam tìm cách trộm cắp, kẻ hung bạo giở trò cưỡng đoạt của người gặp may và bọn “hảo hán giang hồ” lưu lạc đến đây đã quy tụ lại với nhau, lập thành băng cướp của, giết người. Án mạng đã xẩy ra. Băng cướp “Bẩy Sầu” và băng cướp “Năm Phượng Hoàng” đã gieo kinh hoàng trong tâm trí hàng ngàn con người ở Sơn Điền từ hai tháng nay. Chúng lẩn lút trên núi cao, trong rừng sâu và trà trộn trong đám người đào đãi vàng để tránh lưới của công an.

Văn Sinh uống xong chén nước trà rồi lững thững đi về phía một ông già đang ngồi trên vạt cỏ, anh hỏi thăm ông cụ:

- Thưa cụ, anh em chúng cháu từ Đồng Nai lên, còn lạ nước lạ cái, chưa biết có kiếm ăn được gì không, xin cụ vui lòng cho chúng cháu biết: Liệu có kiếm ăn được không, thưa cụ?

Ông già ngoài sáu mươi tuổi vừa thở, vừa nói:

- Gian nan lắm đấy anh ạ. Tôi từ Mỏ Cày Bến Tre lên đây, có ba bố con, vụng về lắm và số khó làm chẳng nên ăn, phải tay trắng về không đây!

Thấy ông già bắt chuyện, Văn Sinh mừng lắm:

- Dạ, thưa cụ, cụ lên đây lâu chưa ạ?

- Mười hôm rồi. Ba bố con tôi, thằng con trai và vợ nó ngồi kia, đào đãi đã phồng rát cả tay mà có kiếm ăn được chỉ nào đâu. Ở lại thì hết lương ăn nên phải quay về. Anh đi mấy người?

- Dạ, thưa cụ, có hai anh em, cháu và em gái cháu ngồi kia.

Ông cụ nhìn theo ngón tay chỉ của Văn Sinh, nhìn về phía Phi Nga.

Phi Nga cúi đầu chào ông cụ. Văn Sinh nói thêm:

- Thưa cụ, cháu xin có ý kiến với cụ: cụ đã cất công lên đây đào đãi vàng, chả lẽ lại về không. Chúng cháu muốn được hợp tác với cụ, nếu cụ đồng ý thì cụ cùng chúng cháu quay trở lại bãi đào vàng, làm một keo nữa. Cụ thiếu lương ăn, chúng cháu lại có dư dật một phần có thể giúp cụ để cụ quay lại cùng chúng cháu làm chung. Chúng cháu có hai người, cụ có ba người, cùng làm cùng hưởng, được nhiều hay được ít cũng sẽ ăn chia theo đầu người...

Ông cụ trố mắt kinh ngạc:

- Ờ, nếu được như vậy thì hay quá, nhưng anh cho lão hỏi nhé: anh là... thế nào mà lại dám rủ lão quay lại, ngộ nhỡ ra không đãi được gì thì sao?

Văn Sinh lễ phép thưa:

- Dạ thưa cụ, cũng là chuyện bình thường thôi cụ ạ. Trước hết anh em cháu là người làm ăn lương thiện, lại nghèo mà đến đây lại lạ đường, lạ đất, cụ cũng như cha mẹ, cụ đi trước, hiểu được đường đi, lối lại và nhất định là có kinh nghiệm hơn chúng cháu. Chúng cháu chuẩn bị cả một tháng lương ăn, nay có thêm gia đình cụ ba người nữa thì lương ăn vẫn đủ, ít ra là nửa tháng cho năm người ăn. Nếu hợp lực cùng làm cả năm người thì nhất định đào đãi được vàng hoặc kim cương, đá quý. Bằng không thì có sao đâu cụ? Chúng cháu cũng coi như là thua một keo. Mà thua keo này thì ta bầy keo khác...

Ông già nhìn lại Văn Sinh từ đầu đến chân, lại thấy Sinh ăn nói có lý, có vẻ tử tế, có thiện chí, song vẫn còn ngần ngại:

- Anh ạ, tôi cám ơn anh đã có lòng tốt nghĩ đến ba cha con tôi, song tôi e chẳng may mà cả năm người lại thất bại thì phiền cho anh quá. Lúc ấy ăn nói với nhau làm sao? Tôi sẽ lại áy náy vì làm phiền cho anh...

Văn Sinh vẫn từ tốn nói:

- Thưa cụ, cụ dạy như vậy là chí phải. Nhân đây cháu xin giới thiệu: cháu tên là Sinh, em cháu ngồi kia tên là Nga, một ngày là nghĩa, chuyến đò nên quen. Cháu nghèo phải đi kiếm ăn, lên đây, quả thực cháu thấy cụ hiền lành mà vất vả nên mới dám ngỏ ý với cụ như thế. Cụ bàn với anh chị con cụ, nếu ông con ta cùng quay vào Sơn Điền thì cháu tin là sẽ làm ăn được! Người ta đào được thì mình sẽ đào được, mình có sức lao động, lo gì?

Ông lão thấy có thể tin được Văn Sinh, cụ gật gù:

- Anh nói có lý. Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Nếu anh và cô em anh có lòng giúp bố con lão thì ta sẽ quay vào. Kiếm ăn được, lão sẽ đền ơn, đáp nghĩa với anh...

Văn Sinh vẫn nhỏ nhẹ:

- Dạ, thưa cụ, cụ khỏi lo điều đó. Cụ nhất trí thì xin mời tất cả hai gia đình ta ngồi quây quần lại với nhau cùng bàn cho thật kỹ...

Thế là ông cụ gọi con và Văn Sinh gọi Nga.

Năm cái đầu chụm lại bên chén trà, điếu thuốc, chuyện lại nở như ngô rang. Văn Sinh được biết anh con trai cụ tên là Dũng và cô con dâu tên là Thảo...

Dũng và Thảo đều ít tuổi hơn Sinh và Nga nên đều tự nhận mình là em.

Văn Sinh mời ba cha con ông cụ ăn bữa cơm trưa rồi cùng quay lại Sơn Điền. Đường đến phố huyện Di Linh không còn xa nữa nên Văn Sinh và Phi Nga cùng dắt xe đi bộ với cha con ông cụ. Hành lý, xẻng cuốc của ông cụ và cậu con trai được Văn Sinh buộc cả lên chiếc xe đạp của anh. Ông cụ cảm động nói:

- Bố con tôi tưởng là vận rủi mà không ngờ lại gặp cơ may. Gặp anh Sinh, cô Nga, tôi quay trở lại, biết đâu chẳng đãi được kim cương, đá quý?

Văn Sinh và Phi Nga lại nghĩ khác: đây là một dịp may để trinh sát của ta nhập cuộc, truy tìm dấu vết của Bảy Sầu và Năm Phượng Hoàng.

Vừa đi đường vừa kể chuyện. Anh con trai có tên là Dũng khoe:

- Bọn em làm đã vất vả lại còn nơm nớp lo đề phòng cướp nữa chứ!

Văn Sinh làm bộ ngỡ ngàng:

- Cướp? Cướp ở đâu?

- Chúng nó ở trên rừng, trên núi anh ạ. Một thằng tướng cướp có tên là Bẩy Sầu vì trên ngực nó xăm bảy trái tim bị bảy mũi tên xuyên qua, vì nó nói là để kỷ niệm bảy cuộc tình ngang trái, sầu thảm nhất đời…

Văn Sinh hỏi:

- Chú đã nhìn thấy nó chưa?

- Dạ, chưa. Em nghe người ta đồn đại thế thôi. Còn một thằng tướng cướp nữa có tên là Năm Phượng Hoàng. Trên ngực nó xăm hình con phượng hoàng vỗ cánh bay. Thằng Năm này có tài bắn súng hai tay, võ Tầu cực giỏi, một mình nó có thể đánh ngã cả mười người.

- Chú đã gặp thằng này chưa?

Dũng cười:

- Chưa gặp đâu anh ạ. Mà ai đã gặp nó là vô phước rồi, nó trấn lột hết, chống cự lại nó là bị nó bắn liền.

Phi Nga hỏi:

- Nó có gây ra vụ án mạng nào không?

 - Dạ, em nghe nói nó cướp hơn mười vụ rồi. Nó bắn bị thương năm người và bắt cóc một cô gái mang lên núi.

Văn Sinh hỏi:

- Nhân dân không ai dám chống cự lại nó hay sao? Công an đâu mà lại để nó hoành hành dữ thế?

 Dũng nói:

- Dân đào vàng ai cũng sợ, đâu dám chống lại nó. Còn công an, có lẽ mấy anh còn nghiên cứu cách đánh nó hay sao mà chưa thấy anh nào ra tay trừng trị nó.

Văn Sinh hỏi thử:

- Ta quay trở lại Sơn Điền, chú có sợ không?

- Có vàng, có kim cương thì mới sợ nó trấn lột chứ, chúng em nghèo xơ xác thế này thì nó trấn em làm gì?

Phi Nga hỏi:

- Nếu mai kia, ta đào đãi được kim cương, đá quý, bọn cướp mò đến đòi ta phải nộp cho chúng thì em nghĩ sao?

- Dạ thưa chị, em sợ lắm. Nếu không may mà gặp chúng nó thì em chưa biết tính sao?

Phi Nga cười:

- Chú và cô Thảo nhút nhát quá. Phải tự vệ chứ. Phải tìm cách đánh trả hoặc mật báo cho công an truy quét.

Thảo nói nhỏ nhẹ:

- Còn phải làm mệt bã người ra. Em biết công an ở đâu mà mật báo?

 Ông cụ nói đỡ lời cô con dâu:

- Em nó nói đúng đấy cô ạ. Lại còn sợ chúng nó trả thù, nó hại mình thì sao?

Mải vui câu chuyện, cả năm người đã rút ngắn được đường đi. Khi họ ngẩng đầu nhìn về phía trước thì đã thấy từng mái nhà thấp thoáng dưới rặng thông: phố huyện Di Linh trước mặt kia rồi, Di Linh không còn xa nữa...

 

II

 

Thung lũng Sơn Điền là một vùng lòng chảo rộng hơn trăm héc-ta, phía đông có núi cao sừng sững, phía tây có rừng bạt ngàn. Nước từ hai bên rừng núi về mùa mưa đổ xuống thung lũng tạo thành những con suối nhỏ quanh năm róc rách chẩy hoài. Bên bờ mỗi con suối lại có lớp lớp cát vàng óng ả. Người dân địa phương, phần lớn là đồng bào Thượng gần đây đã đãi cát tìm vàng. Những vẩy vàng nho nhỏ lấp lánh góp lại cũng bán được nhiều tiền. Vàng chưa đủ tuổi nhiều hơn vàng mười. Mặc dù vậy, nhiều gia đình đã khá lên nhờ có người chịu khó đi đãi cát lấy vàng. Thợ kim hoàn, người buôn vàng chuyên nghiệp từ Đà Lạt, từ Sài Gòn đã về đây thăm thú, tìm mối buôn bán kiếm ăn. Rồi một buổi sáng đầu năm 1990, có người đào được kim cương, đá quý, viên đá có mầu hồng, càng mài, càng rửa, viên đá càng ánh lên những vân nét đẹp. Để vào chỗ tối, viên đá quý lại phát sáng, viên đá chỉ to bằng hạt ngô, có người trả tới bạc triệu. Anh thanh niên người Thượng bán viên hồng ngọc, đã có tiền mua xe đạp ngoại và cassette. Dân làng quanh vùng đổ xô đi đãi cát tìm vàng, tìm đá quý. Nhiều người bỏ cả sản xuất để đi tìm ngọc, tìm vàng, mong được “đổi đời”...

Người tứ xứ về đây đông vui như trẩy hội.

Sáng nay, sương mù còn dầy đặc trên thung lũng, Phi Nga và Văn Sinh đã cùng ông già Thái và anh con trai, cô con dâu mang đồ nghề đến đầu con suối có tên là Suối Ngọc. Mặc cho ai đó hì hục đào bới. Ông già Thái chỉ vỉa đá trồi trên mặt đất, nói với Văn Sinh:

- Ta thử đào chỗ này xem sao? Biết đâu trời chẳng phù hộ cho ta?

Dũng, anh con trai ông cụ, Thảo cô con dâu ông cụ xắn tay áo, bổ những nhát cuốc đầu tiên, tiếp đó là cụ Thái và Văn Sinh cùng Phi Nga làm theo. Ông cụ Thái nói:

- Ta làm phải có cách của ta, này nhé: lực lượng nam giới ta có ba người, thay nhau mà bổ, còn hai cô gái chân yếu tay mềm, xin đảm nhiệm cho việc hót, xúc đất, cát, bùn cho vào khay nhôm kia, đem xuống suối mà đãi. Thảo, con hướng dẫn cô Nga làm cho thành thạo nhé. Còn ở đây đã có bố với anh Dũng, anh Sinh...

Ông cụ lại giảng giải cho Sinh biết: phải lật cho được tảng đá này lên thì sẽ thấy một lớp bùn, cát lõng bõng, xúc bùn cát lên và chịu khó đãi cho hết, mới mong tìm được những vẩy vàng lấp lánh hoặc những viên đá quý nhỏ bằng hạt đậu, hạt ngô.

Sau một giờ thay nhau đào bới, phiến đá vẫn nằm trơ trơ. 

Ông già và hai chàng trai trẻ gạt mồ hôi trán, ngồi thở dốc ra từng hơi dài. Văn Sinh đã lâu không làm việc nặng, đã thấy buốt hai cánh tay...

Bi đông nước được rót ra những cái bát nhựa. Ông già cuốn một chiếc lá làm điếu hút thuốc lào. Văn Sinh và Dũng đốt hai điếu thuốc Bông Sen. Khói thuốc bay mù mịt. Văn Sinh gọi về phía suối:

- Mời cô Thảo, cô Nga nghỉ tay uống nước!

Nga nói vọng lên:

- Chị em chúng tôi chưa mệt đâu!

Thảo cũng nói theo:

- Mời bố và hai anh cứ uống nước đi, chúng em đãi nốt mẻ cát này, sẽ nghỉ sau mà!

Ba người đang hút thuốc thì từ phía cuối con suối, một gã râu tóc bù xù đi tới, gã nói giọng ồm ồm:

- Chào bố già! Bố quay lại đây bao giờ thế? Có kiếm ăn được gì không? Cho xin điếu thuốc nào!

Gã nhìn Văn Sinh và Dũng:

- Lại hai chú em này nữa! Chỉ có thuốc Bông Sen thôi à? Yếu thế! Cố gắng lên rồi sẽ có ba số 5, hút thuốc ngoại mới “đã” chứ! Hút cái Bông Sen này chỉ tổ viêm họng!

Nói rồi, không đợi ai mời, gã đã nhón một điếu thuốc lá đưa lên miệng.

Văn Sinh bật lửa đưa lên cho gã rít một hơi dài:

- Ông anh ở tổ nào vậy? Đồng Nai hay Phú Nhuận?

Gã râu ria phanh áo ngực:

- Chú mình xem đây thì rõ! Ta là quân của ông Năm Phượng Hoàng!

Ngực gã có xăm hình con phượng hoàng xòe cánh bay phía ngực bên trái.

Văn Sinh làm bộ ngỡ ngàng:

- Rất hân hạnh được gặp đại ca!

Dũng tỏ ra kính cẩn.

- Xin giới thiệu với anh Sinh và bố: đây là đại ca hôm trước đã cho con cái bánh mì...

Gã râu ria khoái chí:

- Đúng! Mày nhớ dai thật! Hôm trước mày đói, tao lại có cả bọc bánh mì, tao đã biếu mày một cái. Bố già đau răng không ăn được bánh, không lấy bánh. À hôm nay sao lại có thêm chú này và cả cô em kia hả?

Văn Sinh bình tĩnh đáp:

- À anh em tôi đói khát, lang thang theo ông cụ này về đây xem sao...

Gã râu ria làm bộ ra oai:

- Có nhập băng Năm Phượng Hoàng với tụi tao không? Chú em xem ra có sức khỏe đấy! Ở đâu? Xưa nay làm gì?

Mặc cho tên râu ria xấc xược, Văn Sinh vờ làm ra khúm núm:

- Dạ, tôi buôn bán chợ trời, chơi số đề, cụt hết vốn mới lang thang lên đây.

Gã râu ria cười:

- Thế thì bụi đời rồi, còn gì! Còn cô bé kia là vợ hay bồ bịch?

- Nó là em gái tôi!

- Em gái thì hay đấy! Anh em chú nhập băng ông Năm đi! Ở đời này mạnh thì được, yếu thì thua. Phải cướp của nhà giầu mà ăn chứ! Ăn thừa thì cho đứa nghèo. Thế mới là hảo hán giang hồ chứ! Phải không bố già?

Cụ Thái chậm chạp nói:

- Lão già rồi, lại dốt nát, chỉ biết bới đất, lật cỏ kiếm ăn thôi. Chú để cho cha con lão kiếm ăn. Chú có bánh mì không cho lão xin vài cái!

Gã râu ria mở cái túi khoác vai:

- Chỉ có quả lựu đạn này thôi! Hì hì, ăn làm sao được.

Cụ Thái rùng mình:

- Trời đất ơi! Ghê quá!

 Gã râu ria lại bỏ quả lựu đạn vào túi khoác vai:

- Bố ơi! Con mới là lính của ông Năm chứ chưa phải đại ca đâu. Ở vùng này chỉ có ông Năm mới xứng đáng là “Đại ca”, còn tất cả đều là đệ tử, còn lâu mới được tấn phong. Ấy thế mà có thằng tên là Bẩy Sầu dám lên mặt đại ca, qua mặt ông Năm, có láo không chứ? Hôm qua nó trấn được năm chỉ vàng rồi chạy vào rừng đại ngàn. Ông Năm sai con đi tìm nó, bắt nó phải quy phục, phải nộp ra năm chỉ vàng, nếu nó bướng thì cho nó xơi quả lựu đạn này luôn!

Cụ Thái như sực nhớ ra:

- À, chú ơi! Chú cho lão biết quý danh của chú nữa chứ!

Gã râu ria cười:

- Tên hả? Bố cứ gọi con là thằng Ba Râu là được rồi! Nếu bố và mấy chú em, cô em này kiếm ăn được chỉ nào thì đừng quên thằng Ba Râu nhé! Dấu diếm cũng không được đâu! Cứ trông thần sắc của bố già là con biết liền! Hôm nay thì bố còn đét lắm phải không? Cứ đào đi rồi cũng sẽ được vàng, kim cương đấy. Trời đất sẽ phù hộ cho! Thôi nhé, con đi đây, không tìm được Bẩy Sầu thì con cũng ốm đòn với ông Năm! À mà con dặn bố nhé: thằng Bẩy Sầu thấp mà lại to xác. Trên ngực nó xăm bảy hình quả tim với bảy mũi tên xuyên qua vì nó nói là nó đã có bảy cuộc tình sầu. Bẩy đứa con gái đã đá đít nó, nó hận mới bỏ đi hoang và cầm đầu băng cướp Bẩy Sầu. Nó đến đây thì bố báo con biết nhé!

 - Nó dữ dằn như thế, tôi báo chú bắt nó, nó giết tôi thì sao?

 - Giết được bố thì nó đã giỏi! Bố cứ mật báo cho con. Ông Năm sẽ ra tay trị nó. Con cho nó quả lựu đạn này thì nó hoảng ngay thôi mà! Công an còn phải sợ con kia mà!

Nghe nó khoác lác, cụ Thái cười:

- Chú cứ đi đi, nếu nó đến đây, tôi sẽ báo chú.

Văn Sinh và Dũng nhìn Ba Râu với vẻ cảm phục làm cho gã càng lên mặt. Gã giơ tay vẫy vẫy:

- Anh đi nhé! Các chú, các cô làm đi rồi để phần quà cho anh nhé.

Gã không quên vẫy chào hai cô gái đang đãi vàng dưới suối.

Phi Nga và Thảo cũng bắt buộc phải ngẩng lên nhìn Ba Râu và gượng gạo mỉm cười với gã.

 Ba Râu khuỳnh tay, khệnh khạng bước đi rồi khuất sau một cây cổ thụ.

Cụ Thái thở ra nhẹ nhõm, nói với Văn Sinh và Dũng:

- Chẳng biết công an ở đâu mà không tóm cổ cái thằng cướp ngày này, lại để nó hoành hành mãi ở dây?

Buổi trưa, trong khi ba cha con cụ Thái nằm nghỉ trên ba cái võng bắc trên cây, Phi Nga và Văn Sinh cũng tranh thủ trao đổi với nhau về sự xuất hiện của tên Ba Râu.

Văn Sinh hỏi Nga:

- Tôi đố Nga biết tại sao tên Ba Râu lại không chú ý nhiều đến hai bạn gái chúng ta? Nào có phải Nga và Thảo xấu xí gì đâu? Tên cướp nào chả tham tiền và háu gái?

Phi Nga đáp:

- Em đoán chừng nó còn phải đi tìm thằng Bẩy Sầu... Có phải không, anh?

Văn Sinh gật đầu:

- Đúng thế. Vậy thì ta phải chuẩn bị đề phòng hai tên này khi chúng nó quay lại Suối Ngọc, nó sẽ hành hạ ba cha con ông già và cả chúng ta nữa, nếu không cẩn thận thì sẽ đụng độ với chúng nó, sẽ hỏng hết mọi việc khi ta chưa cần đụng độ với chúng.

Phi Nga suy nghĩ một lát rồi nói:

- Em đề xuất với anh thế này nhé: ta để lại cho ba cha con ông già số lương thực đủ ăn một tuần và gửi lại đây số xẻng cuốc cồng kềnh rồi ta đi, lần theo dấu vết thằng Ba Râu, có thể sẽ phát hiện tên Bẩy Sầu để quyết định một phương án mới...

Văn Sinh thở phào một khói thuốc:

- Tôi nhất trí với Nga. Ta sẽ nói với ông cụ là chúng ta phải đi tìm xem khu vực nào có thể dễ đào đãi vàng hơn ở Suối Ngọc, rồi ta sẽ quay lại đây trong vòng một tuần...

- Em nhất trí với anh đấy. Ta nghỉ trưa xong sẽ lên đường, ngược con suối này, theo hướng đi của Ba Râu ...

***

Quán nhậu của bà Hai là một cái lán dựng lên bằng tre, nứa, lợp lá gồi... Hai hàng ghế dài cũng ghép bằng những cây bương dài 4 - 5 mét, vỏ hãy còn xanh. Khách nhậu là những tay đào đãi được vàng và đá quý. Họ ăn để bồi dưỡng sức lực, tiếp tục đào, đãi những ngày sau. Ngoài ra còn những tay anh chị, những tay cờ bạc, hút xách nữa...

Chiều nay bà Hai bận tíu tít. Ba con gà luộc, một cái thủ lợn, hai cái chân giò và mười lít rượu đế bán đã hết veo.

Chiếc giỏ đựng tiền của bà Hai đã đầy ắp để dưới gầm bàn. Khách ăn có thể thấy rõ từng mớ giấy bạc loại năm nghìn đồng còn bỏ bề bộn chưa soạn ra được mỗi khi bà Hai kéo cái giỏ ra, lấy tiền lẻ trả lại cho khách.

Ba Râu đến quán bà Hai từ lúc bốn giờ chiều. Mặt trời đã ngả bóng, đang chìm dần về phía tây Gã đã uống hết nửa chai rượu đế và nhai sạch một đĩa cổ cánh gà luộc. Gã lắc lư cái đầu gọi bà Hai:

- Má ơi! Má ghi sổ cho con nhé! Đến hôm qua là tròn năm chục ngàn. Hôm nay nữa là bao nhiêu nhỉ?

- Năm mươi bẩy ngàn, chú ạ.

- Má cho một gói Jet nữa cho tròn sáu chục ngàn, rồi mai mốt con đào được kim cương, con trả! À má cho con vay thêm mười ngàn nữa là bẩy chục ngàn đi nào!

Bà Hai nhìn bộ mặt đỏ gay của Ba Râu, cảm thấy ngài ngại nên miễn cưỡng phải ghi sổ và đưa cho gã mười ngàn. Bà biết tên này đã ăn chịu lại còn “vay khéo”, không đưa cho nó cũng không xong...

Nhận mười ngàn đồng từ tay bà Hai, tên Ba Râu cười hì hì:

- Má thương con rồi mà! Con xin nguyện suốt đời làm con trai của má đó. Đứa nào đến đây quấy nhiễu, má cứ bảo con, con cho nó mấy chưởng luôn! Chẳng hạn như thằng Bẩy Sầu, mấy bữa nay nó có đến đây không?

- Tôi bận bán hàng, có biết ai là Bẩy Sầu, Tám Sầu đâu!

- Nó là thằng cướp cạn đó! Con mà gặp nó thì con sẽ cho nó biết thế nào là lễ độ!

Khách nhậu lắng nghe câu chuyện của Ba Râu cứ im lặng liếc nhìn nhau, họ hiểu tên này cũng không phải là tên làm ăn lương thiện...

Khi Ba Râu loạng choạng đứng lên, miệng vẫn còn làu bàu:

- Bẩy Sầu ơi! Mày ở đâu?

Gã vừa dứt câu nói thì một người khách nhậu mới tới đã bước vào, gườm gườm nhìn gã. Đột nhiên, người khách hất hàm hỏi Ba Râu:

- Muốn gặp Bẩy Sầu, hả?

Ba Râu kinh ngạc nhìn lại con người vừa hỏi. Cái mũ dạ đen chụp lên mái tóc đã hoa râm, đôi mắt xếch trên khuôn mặt xương xẩu, gân guốc, hàm răng vàng khè vì khói thuốc lá...

Ba Râu chưa kịp hỏi: “mày là ai?”, thì người đối diện hắn đã cởi áo và chỉ tay vào ngực:

- Bẩy Sầu là tao đây! Mày phải tìm ở đâu xa? Mày là đứa nào?

Ba Râu nhìn vết chàm trổ trên ngực Bẩy Sầu: rõ ràng bẩy trái tim với bẩy mũi tên xuyên qua, gã nói như thét:

- Tao hả? Ba Râu đây, cánh tay phải của “Năm Phượng Hoàng”! Cả vùng Di Linh này, ai còn lạ nữa!

Bẩy Sầu nhéch mép cười:

- Chú em khôn hồn thì “bó giáo lai hàng” tao đi, kẻo rồi lại hối không kịp!

Ba Râu nhìn thẳng vào mặt đối phương :

- Mày có dao găm đặt ở bụng kia, tao có lựu đạn đây! Tao thả quả lựu đạn này ra chắc là mày sẽ hết đời!

Vừa nói, Ba Râu vừa móc túi quần ra một quả lựu đạn giơ lên.

Khách nhậu hết thẩy đều ngơ ngác sợ hãi, dạt về một phía, có người ngồi sụp xuống. Bà Hai chủ quán cũng kêu lên:

- Mấy chú thôi đi, đừng đánh nhau nữa! Vào đây tôi rót rượu cho mà uống. Muốn nhậu món gì cũng có. Anh em với nhau cả, làm gì mà dữ vậy?

Tuy nói thế, nhưng bà Hai cũng trông trước, ngó sau, sẵn sàng chui xuống gầm bàn để tránh mảnh lựu đạn...

Ba Râu bỗng cười ha hả:

- Nói vậy cho vui thôi, tao tung lựu đạn ra làm gì! Giết chú mày thì dễ ợt, tao còn phải tôn trọng bà con cô bác ở đây nữa chứ! Mảnh lựu đạn này tung tóe ra nào có chừa ai đâu! Tao còn phải để phúc cho con cháu chứ! Mày có giỏi thì “chơi tay không” với tao vài hiệp cho vui giữa thanh thiên bạch nhật này, đừng có cậy có dao găm mà tán dóc!

Bẩy Sầu rút ngay lưỡi dao sáng loáng ném phập xuống đất:

- Tao xá gì chuyện đó. Dao tao đã vứt đi rồi. Còn mày, có dám nộp lựu đạn không?

Ba Râu đặt ngay quả lựu đạn xuống bên cạnh mũi dao vừa được phóng xuống đất. Gã đứng lên xoa xoa hai bàn tay:

- Tao ngại gì! Tao vừa uống rượu rồi, còn mày nữa, uống một ly cho nó hăng máu lên rồi hãy “tỷ thí” với tao!

Gã quay vào nói với bà Hai:

- Má cho con hai ly nữa má!

Bà Hai thấy hai tên tướng buông dao, bỏ lựu đạn nên cũng mừng thoát nạn, bà vội rót hai ly rượu đầy đưa cho hai tên cướp. Đám khách nhậu lóp ngóp đứng lên, chờ xem hai tên cướp sẽ làm gì nhau đây?

Ba Râu đưa cho Bẩy Sầu một ly rượu:

- Nào, tao với mày cụng ly rồi làm một hiệp, xin mời bà con cô bác xem mấy pha ngoạn mục “lưỡng hổ tranh hùng” nhé! Coi rồi, xin mỗi vị ủng hộ cho hai kẻ hèn này một đôi ngàn, nghe! Nào trăm phần trăm nhé!

Hai ly rượu chạm bốp vào nhau và cả hai tên cướp đều nốc một hơi cạn ly rượu đế. Cả hai cùng ném ly ra bãi cỏ.

Hai Râu hỏi:

 - Sẵn sàng chưa, mày?

Bảy Sầu đáp gọn:

- Sẵn sàng!

Cả hai đứa đều lùi lại ba bước chân và chỉ trong chớp mắt đã cùng lao vào nhau như hai con cọp dữ. Ba Râu đưa một quả đấm thôi sơn vào mặt kẻ thù. Bẩy Sầu nghiêng đầu tránh được và chém ngang bàn tay vào cổ Ba Râu.

Ba Râu ngồi thụp xuống và nhanh như sóc gạt mạnh chân làm cho Bẩy Sầu té nhào. Ba Râu chớp thời cơ, lao tới tóm gáy Bẩy Sầu và lật sấp đối thủ làm cho Bẩy Sầu không kịp ngồi dậy. Ba Râu quỳ gối chặn ngang lưng kẻ địch và rút dây lưng da trói nghiến tên cướp khét tiếng gian ác. Trói xong kẻ địch, Ba Râu mới dựng nó dậy và cười khoái trá rồi hỏi:

- Con đã biết tay ba chưa, con? Con khỏi lo! Ba sẽ đưa con về nạp cho đại ca “Năm Phượng Hoàng”! Mày mới có bẩy cái sầu, ngày mai mày sẽ là “Tám Sầu”, nghe chưa?

Tên Bẩy Sầu bị trói giật hai cánh tay về phía sau, đang xều bọt mép, thở hồng hộc vì tủi nhục, vì tức tối, chưa biết đối phó ra sao, đã lại nghe tiếng Ba Râu nói với bà con:

- Thưa má Hai, thưa bà con cô bác: thằng Bẩy Sầu này đã trấn lột của nhiều người. Hôm nay, nó sẽ phải trả món nợ này. Tôi sẽ mang nó về nộp cho thủ lĩnh của tôi là “Năm Phượng Hoàng”, ông Năm là người hào hiệp “cứu khốn phò nguy”, lấy của người giầu chia cho người nghèo, bà con là người nghèo cả, xin đừng có ngại! Còn bây giờ xin bà con cô bác tùy lòng hảo tâm, gom góp cho Ba Râu ít ngàn tiêu vặt, cũng như là mua vé xem võ hiệp Hồng Kông thôi mà!

Gã lật cái mũ của Bẩy Sầu rồi chìa tay về phía bà con. Không ai bảo ai mà người nào cũng móc túi lấy tiền bỏ đầy cái mũ. Ba Râu lượm hết mớ tiền trong mũ nhét đầy hai túi áo rồi cúi đầu như kép cải lương:

- Xin đa tạ bà con, cô bác. Bây giờ trời sắp tối rồi, tôi phải giải tên “tù binh” này về nộp cho chủ trại của tôi!

Ba Râu nhặt con dao găm “chiến lợi phẩm” nhét vào cạp quần, nhét quả lựu đạn vào túi và túm tóc tên Bảy Sầu:

- Nào, mời “đại ca” đi về đại bản doanh nhé!

Tên Bẩy Sầu loạng choạng đứng lên. Ba Râu đẩy nó về phía trước:

- Đi theo tao! Cứ bước cho đều, nghe, con!

 Ba Râu chỉ vào cánh rừng đã bắt đầu nhạt nhòa trong bóng hoàng hôn:

- Cứ đi theo lối mòn, vài tiếng đồng hồ, tao cắt rừng đưa mày về bản doanh của ông Năm, nghe chưa?

Bẩy Sầu lầm lũi đi, Ba Râu đi sau luôn miệng hét:

 - Đi lè lẹ lên ông tướng ơi! Hôm qua mày đi cướp sao mà nhanh thế. Bây giờ bị bắt sống lại cứ lò dò đi từng bước một. Mày đừng để tao phải nổi nóng lên thì lại ốm đòn đấy con ạ!

Tên Bẩy Sầu biết thân phận hẩm hiu của nó nên chẳng dám cãi lại nửa lời, nó buộc lòng phải bước đi nhanh hơn và chỉ ít phút sau, cả hai đứa đều đã đi vào rừng sâu. Ở đây đã xa hẳn tiếng xe cộ, tiếng cười nói của dân đào đãi vàng. Chung quanh là gai góc, là cành lá xum xuê và chỉ còn nghe tiếng suối chảy róc rách.

***

Hang Ma là một cái hang sâu ở lưng chừng núi. Vào giờ này ngoài trời, sương lạnh đã buông trắng xóa cả núi rừng. Hang Ma có một tảng đá khổng lồ chắn ngang cửa ra vào nên càng tối như hũ nút. Người chui vào hang phải đi lách qua tảng đá ngoài cửa và khom lưng đi hơn mười mét mới đến một khoảng trống như một căn phòng rộng hơn năm chục mét vuông. Khoảng trống này là “đại bản doanh” của tên tướng cướp “Năm Phượng Hoàng”. Gã đang ngồi giữa mười tên lâu la dưới ánh sáng một ngọn đèn nhỏ thắp lên từ một bình ắc quy.

Tên Năm đặt bình rượu đế trước mặt, nói:

- Tụi bay đứa nào thích uống thì uống đi, tao tháo khoán cho tụi bay thả dàn nhậu đó! Cái thằng Ba Râu sao chưa thấy về, hay lại bị công an tóm cổ rồi? Hoặc là ma bắt mất rồi?

Tư Sứt vội nói:

- Trình đại ca: anh Ba Râu không sợ công an, lại chẳng sợ ma đâu ạ.

Năm Phượng Hoàng gật gù:

- Võ nghệ chú Ba vào loại cao cường. Còn ma thì chỉ có ma men thôi. Ma men thì chú Ba sẵn sàng đánh ngã vài lít. Ma tà ở Hang Ma lại càng không có gì đáng sợ. Đám dân Thượng này u mê mới đồn đại hang này có ma chứ chúng ta đến đóng đại bản doanh ở đây có thấy ma quỷ gì đâu? Thằng Tư đâu? Mày cố gắng bắt về đây cho tao mấy con nhỏ để chúng nó múa hát cho vui. Mày xem trong đám dân đãi vàng có con bé nào xinh xẻo thì lôi về đây mấy đứa. Ở toàn một lũ đàn ông thế này, buồn thấy mồ!

- Trình đại ca, ngày mai em xuống núi sẽ cùng với Ba Râu tóm cổ mấy con bé ở Suối Ngọc, Suối Cạn về đây hầu đại ca ạ!

Năm Phương Hoàng cười khà khà:

- Tao chỉ cần một đứa thôi, còn bao nhiêu đứa khác cho chúng mày xài hết, tùy theo ngôi thứ mà xài, nghe chưa?

- Dạ, xin tuân lệnh đại !

Chuyện đang rôm rả thì có ánh đèn pin từ phía ngoài cửa hang soi vào, lập lòe đủ ba lần. Tư Sứt kêu lên:

- Ba Râu đã về đó, thưa anh Năm!

Tên Năm reo lên:

- Có thế chứ, mày ra xem, đúng khẩu lệnh thì gọi nó vào. Xem nó có kiếm ăn được gì không nào?

Tư Sứt lui bước và chạy ra phía cửa hang. Một lát sau, gã đã hộc tốc chạy vào, theo sau là tên cướp Bẩy Sầu bị trói giật cánh khuỷu, có Ba Râu đi kèm.

Tư Sứt bước lên một bước:

- Trình đại ca: anh Ba Râu đã bắt sống tên Bẩy Sầu đem về nộp đại ca!

Năm Phượng Hoàng giật mình đứng dậy:

- Thật à? Nó đâu? Mười tên đệ tử cũng đứng cả dậy, nhìn ra. Ba Râu bước đến trước mặt tên Năm:

- Trình đại ca: tôi đã bắt sống tên Bẩy Sầu, xin đem về nộp đại ca!

Bẩy Sầu bị đẩy đến trước mặt Năm Phượng Hoàng. Nó vẫn cởi trần trùng trục, trên ngực và hai cánh tay còn loang lổ những hình thù quái dị.

Tên Năm hất hàm hỏi:

- Có mình nó hay còn tên nào nữa không?

Ba Râu thưa:

- Dạ, có một mình nó. Nó đi ăn mảnh, bị tôi phát hiện và đấu với nó được nửa hiệp là tôi hạ được nó liền!

- Có vũ khí không?

- Dạ, chỉ có một dao găm, tôi đã tước rồi.

Tên Hai Năm Phượng Hoàng nhìn Bẩy Sầu từ đầu đến chân, đã cười lớn:

 - Chú em thấy chưa? Chỉ một mình Ba Rậu cũng hạ được chú em! Bây giờ ta cho phép chú em được ngồi đây. Ba Râu hãy cởi trói ngay cho chú em này!

Ba Râu đã cởi dây thắt lưng, hai cánh tay Bẩy Sầu được cởi trói, còn lằn vết bầm tím cứ buông thõng xuống hai bên bắp đùi. Nó đứng như trời trồng, mặt cúi xuống, vừa hổ thẹn vừa đau đớn.

Năm Phượng Hoàng hạ lệnh:

- Tất cả ngồi xuống! Cho chú em Bẩy Sầu ngồi kia.

Tên Năm chỉ một góc có trải chiếu dành cho Bẩy Sầu.

Bảy Sầu ngồi sụp xuống, chưa hết hoang mang lo sợ.

Năm Phượng Hoàng nói:

- Sơn Điền là đất dụng võ của ta, sao chú em từ Sài Gòn lên đây lại dám qua mặt ta? Nói đi chứ! Dù chú em không muốn thì bây giờ cũng đã là tù binh của ta rồi. Ta xử sự rất đàng hoàng, không bao giờ giết kẻ đã quy hàng. Chú em hãy nói lời hối cải và quy thuận ta, ta sẽ cho chú em làm vệ sĩ cùng với những tên đàn em của chú, chú gọi chúng nó về đây. Ta cho nhập băng cùng làm, cùng hưởng! Tư Sứt đâu? Rót cho chú Bẩy Sầu một ly nước uống, nếu đói ta mời chú ăn cơm! Cả Ba Râu nữa, dọn cơm ra mà ăn. Kìa, Bẩy Sầu! Nói đi chứ!

Bẩy Sầu lấm lét thưa:

- Dạ, thưa anh, em đến Sơn Điền, có nghe tiếng anh Năm, mà hôm nay mới được tiếp kiến anh trong hoàn cảnh như thế này, em thật có lỗi!

Năm Phượng Hoàng khoát tay:

- Ta bỏ qua hết mọi lỗi cho chú rồi mà! Chỉ cần chú nói: chú có ưng quy thuận ta không?

- Dạ, em xin quy phục đại ca!

Năm Phượng Hoàng cười ha hả:

- Thế là đủ rồi! Ta tuyên bố: từ nay chú là môn đệ của ta và ta giới thiệu với tất cả các chiến hữu có mặt ở đây; Bẩy Sầu là chiến hữu của chúng ta. Chú còn mệt, cho chú vào trong kia tắm rửa rồi ăn cơm với Ba Râu, nghỉ ngơi cho lại sức. Sớm mai ra đây nhận lệnh của ta, nghe!

Bẩy Sầu lủi thủi đi theo Ba Râu vào phía trong của cái hang có chiều sâu thăm thẳm.

Năm Phượng Hoàng nói với mấy tên đệ tử còn ngồi chung quanh:

- Ngày mai, các em cho giết thịt hai con dê làm bữa tiệc liên hoan, kết nạp Bẩy Sầu vào hàng ngũ của ta rồi ta sẽ ra quân, “đánh” về vùng Suối Ngọc.

***

Phi Nga về đến đầu con Suối Ngọc thì đứng dừng lại. Tiếng ồn ào đang làm huyện náo một vùng, suốt chiều dài con suối, có tới ba ki-lô-mét. Hàng ngàn người trong các nhóm nhỏ năm - mười người một tổ một tốp, một đội đã giao ước làm ăn với nhau đang oán thán, kêu ca, phân nàn về sự xuất hiện đột ngột sáng nay của tên Ba Râu.

- Tao là lính của ông Năm Phượng Hoàng đây! Tao vừa hạ bệ thằng Bẩy Sầu, bắt sống nó giải về nộp cho chủ tướng của ta rồi. Cả vùng Sơn Điền này từ nay chỉ còn có một ông Năm Phượng Hoàng với đội quân thiện chiến của ông ta mà thôi. Trai trẻ chúng bay đứa nào dám chống lại ông Năm thì hãy trông gương thằng Bẩy Sầu. Còn các bố già, xin hãy biết điều hơn, ngồi im một chỗ cho con “làm việc”, lấy của nhà giầu ban phát cho kẻ nghèo đói! Nào ai đào đãi được nhiều, xin hãy cống nạp cho ông Năm, nào lẹ lẹ lên nào!

Ba Râu cứ chìa cái mũ vải xanh ra trước mặt bà con cô bác đang ngồi nghỉ bên bờ suối. Có người rụt rè bỏ năm mươi ngàn có người bỏ một vài ngàn vào mũ của nó. Ba Râu lăm lăm khẩu súng trong tay, chốc chốc lại bắn chỉ thiên một phát lên trời để thị uy. Có lúc nó lại dí súng vào mang tai một anh thanh niên:

- Chú em, chú đào khỏe lắm kia mà, sao lại chỉ có tí tẹo vàng thế này hả? Đứng lên cho tao khám xét xem vàng giấu ở đâu nào? Hay lại nuốt vào bụng rồi hả?

Anh thanh niên dang rộng hai tay để mặc cho tên cướp móc túi, sờ nắn cạp quần, gấu áo. Không tìm thấy gì, nó thất vọng buông một câu:

- Chán bỏ mẹ! Chẳng có cái đếch gì cả. Chả lẽ tạo lại cho chú mày xơi kẹo đồng! Thôi tao tha cho. Ngày mai cố đào cho khỏe và nhớ nạp cho tao nhé! Một chỉ hoặc ba trăm ngàn nghe không?

Mọi người nhìn theo hắn lo lắng và bất lực. Có nhiều người quay đi, không dám nhìn thẳng vào mặt nó vì có lúc nó bạt tai hoặc đấm vào mặt mà chửi:

- Muốn gì hả? Nhận mặt tao để đi báo công an phỏng?

Vẫn đôi tay khuỳnh khuỳnh, Ba Râu đi qua nhiều tốp người ngồi nghỉ và cái mũ vải trên tay gã đã đầy tiền! Gã làu bàu:

- Vàng, kim cương thì giấu sạch, không chịu sùy ra! Lại tiền, chỉ nạp tiền thôi sao?

Nó nắm cả mớ tiền đút vào túi quần rồi bỗng nó reo lên:

- Cụ Thái đây rồi! Thằng Dũng đây rồi! Em Thảo đây rồi! A, con chào ba ạ!

Nó nhìn suốt lượt cả ba khuôn mặt cụ Thái, cô Thảo, chú Dũng và chợt nhớ ra còn thiếu hai người hôm trước đã gặp ở đây, nó hỏi cụ Thái:

- Ba ơi! Cái thằng gì to con và con bé vợ nó đi đâu rồi?

Ông già mệt mỏi:

- Ở đây đào rã cánh chả có gì, hai anh em nó lên Suối Cạn rồi, chưa thấy về, chả biết có ăn thua gì không?

Ba Râu gườm gườm đôi mắt:

- Chúng nó tên gì hở ba?

- A, thằng anh tên là Sinh, còn em nó tên là Nga.

Tên cướp cười hề hề:

- Hai cái tên hay nhỉ.

Ba Râu nhìn xoáy vào mặt cô Thảo:

- Cô Nga đi vắng, tôi nhờ cô Thảo một việc nhé - và gã quay sang ông già: - Ba ơi! Ba cho vợ chồng cô Thảo đi với con một đoạn đường có được không?

- Đi đâu?

 - À con có một món hàng ở đằng kia, con muốn nhờ cô Thảo và chú Dũng mang vác hộ con ra quán bà Hai bán lấy tiền...

- Hàng gì vậy?

- Gạo và thịt hộp, cá hộp.

Ông già Thái ngần ngại:

- Hai đứa này làm quần quật mệt lắm rồi. Biết làm sao bây giờ?

- Chút xíu thôi mà, vừa đi, vừa về, bốn cây số chứ xa gì đâu! Nào em Thảo, chú Dũng, đi nào?

Đôi bạn trẻ chưa biết tính sao thì chợt trông thấy Phi Nga đang đi tới. Thảo reo lên:

- Chị Nga về kia rồi!

Ba Râu nhếch mép cười:

- Cả em Nga nữa! Phải có ba người khỏe mới mang vác nổi, dân “cửu vạn” có xá gì, phải không ba?

Ông già Thái chưa biết nói sao thì Nga đã chỉ còn cách tên cướp có ba bước chân. Phi Nga đã hiểu việc gì đang xẩy ra với ba cha con ông già. Cô thoáng nhìn thấy chiếc túi của tên cướp đang để dưới chân nó, trong đó có thể có súng hoặc lựu đạn. Cô lại nhìn nó từ đầu tới chân không có dấu hiệu mang vũ khí trên người, Phi Nga chớp vội thời cơ bắt sống tên cướp, cùng lúc nó nắm lấy cổ tay cô, buông lời đùa giỡn:

- Cô em! Cùng đi với anh luôn, nghe!

Phi Nga giật mạnh cánh tay trái ra khỏi bàn tay tên cướp và nhanh như chớp cô dùng tay phải giáng một quả đấm vào mặt tên cướp khiến nó ngã bật ngửa về phía sau. Nga lùi lại một bước và rút súng chĩa vào tên cướp khi nó vừa lổm ngổm bò dậy Nga thét lớn:

- Ba Râu! Mày đã bị bắt!

Tên cướp thất thế đã lăn luôn mấy vòng trên bờ suối rồi vút đứng lên cắm cổ chạy.

Phi Nga bình tình bóp cò. Một phát súng nổ. Tên cướp bị trúng đạn vào phía sau bắp chân ngã quy xuống, nằm lăn trên vũng máu. Bà con xúm lại, kẻ đấm người đạp, bồi cho tên khốn kiếp một trận đòn đích đáng.

Phi Nga bước tới nói với bà con:

- Xin bà con đừng đánh nó chết. Tôi cần phải bắt sống tên này. Cô cũng không quên xách lên chiếc túi của tên cướp, mở ra xem: một quả lựu đạn và một khẩu súng ngắn của tên cướp nằm gọn trong đó.

Sau giây phút bàng hoàng, đột ngột, cụ Thái và vợ chồng Dũng hiểu ngay điều bí mật của Phi Nga: cô là trinh sát bí mật theo dõi dấu vết của tên cướp và cô đã hành động đúng lúc. Dũng hả hê nói:

 - Chị cho phép em trói tên này lại!

 Dũng rút một sợi dây dù trong cái túi của Thảo và chạy tới trói nghiến hai tay tên cướp quặt về phía sau. Tên cướp nằm rên hừ hừ được dựng dây, ngôi duỗi hai chân. Một chân trúng đạn máu chảy ướt sũng ống quần.

Phi Nga cất tiếng hỏi to:

- Bà con có ai có bông băng xin băng giúp vết thương của tên cướp trước khi tôi dẫn giải nó về công an huyện.

Một cô gái trong đám đông bước ra:

- Em có bông băng, chị công an để em băng bó cho tên này.

Năm phút sau, vết thương ở chân tên cướp đã cầm máu. Cô gái băng bó vết thương cho nó và đặt chân nó ghếch cao lên trên một hòn đá.

Cả đám đông xúm xít vòng trong, vòng ngoài chung quanh tên cướp và cô công an. Có người nói:

- Đúng thằng Ba Râu rồi! Hai tháng nay, nó quấy nhiễu ở đây, nay mới sa lưới, thế mới đáng đời!

Có người lại nói:

- Cô công an giỏi quá, nhưng cô phải đề phòng đồng bọn chúng nó còn báo thù đấy!

Phi Nga giảng giải: 

- Tên cướp này là một tên cướp nguy hiểm trong băng cướp “Năm Phượng Hoàng”. Chúng tôi đang bủa vây, truy bắt chúng. Bà con cô bác thấy chúng xuất hiện ở đâu, hãy bí mật báo cho công an xã, công an huyện để bố trí bắt chúng hoặc khi có điều kiện truy bắt thì khẩn cấp bắt ngay để nộp cho công an và chính quyền, giữ cho vùng này yên ổn...

***

 Viên đạn của Phi Nga bắn chỉ trúng vào phần mềm bắp chân bên phải của Ba Râu nên khi nó được dẫn giải về công an huyện, được bệnh xá huyện rửa vết thương, băng bó lại và tiêm thuốc hồi sức, nó thấy giảm đau, đã bớt kêu rên.

Phi Nga trao tên cướp cho Văn Sinh khai thác. Văn Sinh hỏi:

- Hôm qua anh bắt sống tên Bảy Sầu, hẳn anh cũng không ngờ hôm nay anh lại bị công an tóm gọn! Anh khai cho rõ : tên Bảy Sầu bây giờ ở đâu? Năm Phượng Hoàng ở đâu? Tại sao anh lại đi kiếm ăn một mình? Anh thành khẩn khai báo thì khi xét xử anh sẽ được xét khoan hồng một phần. Nếu còn khai báo loanh quanh thì tội anh càng nặng...

Tên cướp đã suy sụp hoàn toàn cả về tinh thần lẫn thể xác:

- Dạ, thưa ông con xin khai báo...

Văn Sinh đưa cho tên tội phạm một điếu thuốc lá du lịch và một ly nước. Nó uống một hơi cạn ly nước nóng, còn điếu thuốc vẫn nằm trên bàn. Nó tựa vào lưng ghế, nói từng câu một:

- Dạ, thưa ông: hôm qua con được lệnh của ông Năm phải bắt cho được tên Bẩy Sầu và con đã bắt được nó, bà con đều biết con bắt nó ở quán bà Hai, con trói nó lại và mang nộp nó cho ông Năm...

- Nộp ở đâu?

- Dạ, nộp ở cây số 50 ngoài bìa rừng cho thằng Tư Sứt đưa nó đi tiếp...

-  Dạ, con không rõ vì nhiệm vụ của con chỉ có thế. Sau đó con lại phải quay về Suối Ngọc kiếm ăn

Tên Ba Râu làm bộ thành khẩn, song nó lại cổ tình giấu biến đi việc nó dẫn giải tên Bẩy Sấu về cho Năm Phượng Hoàng ở Hang Ma là sào huyệt của cả băng cướp...

- Tại sao anh lại bắt Bẩy Sầu?

- Dạ, thưa ông: vì ông Năm muốn dẹp thẳng này để được toàn quyền kiểm soát cả vùng này...

-  Sào huyệt chính của các anh ở đâu?

- Dạ, thưa ông: chúng con ở rừng già phía đông - nam, tất cả có mười đứa, chia làm ba nhóm nhỏ, ban ngày đi kiếm ăn, ban đêm lại trèo lên cây bắc võng ngủ như dân đào đãi vàng. Cũng có lúc ngủ lẫn với dân ở rải rác hai con Suối Cạn và Suối Ngọc.

- Ở lẫn với dân, anh không sợ bị dân phát hiện hay sao?

- Dạ, cũng ít thôi ạ, phần lớn là phải ngủ rừng sau khi đã nộp tiền và vàng cướp được cho thằng Tư Sứt để nó chuyển lên ông Năm...

- Tại sao anh lại đi có một mình để bị bắt sống? Còn ít nhất hai đến ba tên nữa trong tốp của anh, chúng nó đang ở đâu? Tên gì?

- Dạ, thưa ông, chuyến hôm nay con xin ông Năm đi kiếm ăn một mình vì... vì... con muốn ăn mảnh, để bớt xén vài thứ con kiếm được…

- Ngoài Tư Sứt, anh còn phải nộp tiền và vàng cho ai?

- Dạ, thưa ông: theo quy định của ô Năm “sếp” của chúng con thì con chỉ được nộp cho thằng Tư Sứt rồi thằng Tư Sứt sẽ nộp theo đường dây về cho “sếp”…

- Mật khẩu của các anh thế nào?

- Dạ, muốn kiểm tra lẫn nhau cho chắc chắn, mỗi khi gặp nhau câu hỏi là "Phượng" câu đáp là "Hoàng".

- Bao giờ thì anh gặp “sếp”?

- Dạ, mỗi tháng một lần, thời gian và địa điểm do “sếp” quy định và thông báo từng lúc. Con bị bắt như thế này thì Tư Sứt sẽ biết ngay và nó sẽ thay đổi chỗ gặp với những đứa khác...

Văn Sinh nói:

- Tôi tạm dừng hỏi cung ở đây và giao anh về trại tạm giam để anh được ăn uống, ngày mai tôi sẽ hỏi tiếp. Anh chuẩn bị trả lời cho đúng...

Khi tên Ba Râu bị giải về phòng tạm giam, Văn Sinh còn nán lại một mình, loay hoay với những câu trả lời của tên tội phạm.

Phi Nga bước vào sau khi cô nghỉ giải lao và ăn bữa ăn nhẹ cho khỏi đói.

- Anh khai thác nó đến đâu rồi?

- Mới hỏi được ít thôi. Nó chưa nói rõ hai tên tướng cướp Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng hiện đang ở đâu? Nó chỉ nói hôm qua nó giao Bẩy Sầu cho thằng Tư Sứt ở cây số 50 ngoài bìa rừng...

Phi Nga lắc đầu:

- Thằng này xem mặt nó có vẻ lỳ lợm lắm. Ngày mai, anh để em tiếp tục khai thác nó mới được.

- Nga đã tốn công theo sát nó và tóm gọn nó, Nga có thể tiếp tục uy hiếp nó, buộc nó phải khai ra đồng bọn…

 

III

“Năm Phượng Hoàng” nghe Tư Sứt báo tin tên Ba Râu bị bắt, đùng đùng nổi giận:

- Ngu quá! Thằng khốn nạn ngu quá, tại sao lại đi một mình? Khi chạm trán với công an thì lựu đạn và súng để đâu mà để bị đối phương quật ngã, bị đòn nhừ tử và bị bắt sống? Thật là nhục nhã! Lại còn bị bắn gẫy chân nữa chứ!

Tư Sứt nói nhẹ nhàng:

- Thưa anh, em thấy nó không về điểm hẹn, nên bổ đi tìm nó. Đến Suối Ngọc, nghe bà con nói chuyện râm ran về việc Ba Râu bị một nữ trinh sát công an quật ngã rồi khi bò dậy chạy trốn lại bị bắn gẫy cẳng. Lựu đạn và súng bỏ trong túi chưa kịp sử dụng đã bị tước mất.

Năm Phượng Hoàng:

-  Ta vừa khen nó bắt được Bẩy Sầu, có lẽ vì chuyện nó bắt Bẩy Sầu làm ầm ĩ quá nên bị lộ tung tích và bị công an theo dõi, bắt sống chăng? Thôi được, chuyện đã xẩy ra rồi, bây giờ mày vào gọi Bẩy Sầu ra đây, tìm phương kế mới...

Bẩy Sầu từ hôm trở về quy phục Năm Phượng Hoàng vẫn được ưu đãi ăn ngon, ngủ yên. Năm Phượng Hoàng rất nể tên anh chị này vì gã liều mạng, xông xáo, có thể giúp cho hắn được nhiều việc lớn sau này. Bẩy Sầu sẽ gọi bốn tên còn lại về đây quy thuận và cùng lập một băng cướp đông hơn, mạnh hơn, kiếm ăn lớn hơn.

Khi Bẩy Sầu đã ngồi trước mặt, Năm Phượng Hoàng mới nói:

- Tôi quý trọng ông vì ông đã vui lòng quy thuận và gia nhập băng này. Không may cho tôi, hôm qua thằng Ba Râu lại sa lưới công an thật nhục nhã. Ông hãy hiến cho tôi một kế hiểm để làm ăn, mới mong tồn tại được vì công an sẽ còn tiến công băng của chúng ta. Anh em chết thì ta cũng chết. Cho nên đây là vấn đề sống còn của tất cả các chiến hữu. Ông thử suy nghĩ, tính toán xem có kế gì hay thì hiến cho tôi một kế.

Bẩy Sầu bóp trán suy nghĩ rồi nói:

- Tôi nghe có bọn con buôn đá quý ở nước ngoài đã mò lên đây “ăn hàng”. Bọn này có đôla, chúng mua gom đủ loại đá quý, kim cương, hồng ngọc, bích ngọc và cả vàng nữa. Ta chặn đánh bọn này mới “ăn to”. Ông để cho tôi có thời gian dò la, thám thính và đánh nhanh, rút gọn. Kế hoạch dùng những tay súng nào, đánh ở đâu, lúc nào, ai chỉ huy và yểm trợ cho nhau rút gọn ra sao, đều phải bàn kỹ, tỉ mỉ, chi tiết, để lỡ bị đổ bể thì thật tai hại, hối không kịp đâu.

Năm Phượng Hoàng đăm chiêu suy nghĩ rồi nói:

- Ông phải giúp tôi việc đó!

Bẩy Sầu nói tiếp:

- Còn việc này nữa: Thằng Ba Râu bị công an bắt. Nó khai ra những gì, đã ai biết được, nhưng chắc chắn là công an sẽ tìm ra đầu mối các phi vụ ta đã làm và nhất là tìm ra “đại bản doanh” bí mật này. Vậy có nên ở lại cái Hang Ma này không? Công an tung lưới bủa vây thì sao? Rút đi đâu cho kịp? Ta có nên chuyển chỗ ở đi nơi khác không?

- Ông nói có lý lắm. Việc này để tôi lo. Nếu ta chủ quan ấy là ta tự dẫn thân đến chỗ chết!

Hai tên tướng cướp chụm đầu lại bàn bạc và đều tỏ ra rất tâm đắc với những dự tính đối phó với công an sau khi Ba Râu bị bắt.

Tư Sứt từ nãy ngồi nghe lỏm mọi chuyện, cũng lên tiếng:

- Hai anh lo toan như vậy là chí phải. Em tuy tài hèn, sức yếu, cũng sẽ xin hiến một vài kế nhỏ!

Năm Phượng Hoàng vỗ vai Tư Sứt:

- Chú em khá lắm! Cứ nghĩ xem có kế gì hay thì nói với anh, anh sẽ có thưởng cho chủ, nghe!

- Dạ!

Tuy làm bộ lạc quan, song sự lo lắng của Nam Phượng Hoàng đã làm cho bầu không khí trong Hang Ma thêm nặng nề, u uất.

***

Lần thứ tư, Ba Râu bị gọi đến phòng hỏi cung. Gã đã khai rõ từng tên trong băng cướp Năm Phượng Hoàng và mấy tên hắn mới quen biết trong bằng cướp Bẩy Sầu, song còn một điều cấm kỵ là cái “đại bản doanh” ở Hang Ma thì gã không nói. Chẳng phải vì gã thương gì mấy tên chiến hữu mà vì gã sợ bọn này bị bắt vào tù, chúng sẽ tìm cách trả thù, trùm chăn đánh chết gã theo luật giang hồ với lời nguyền “bằng bất cứ giá nào cũng không được khai ra nơi ẩn náu của đồng bọn”, Ba Râu khai đi, khai lại một câu:

- Dạ, thưa cán bộ chúng tôi sống phân tán ở rừng, ngủ trên cây, trên võng, nay đây, mai đó, không có chỗ ở nhất định...

Phi Nga, rồi Văn Sinh chưa biết tính sao trước vẻ lì lợm của tên cướp. Nó vẫn nhăn nhó kêu đau ở bắp chân mặc dù hôm nào nó cũng được chích thuốc kháng sinh cho lành vết thương.

Ba Râu nung nấu trong đầu một ý nghĩ duy nhất: Làm sao trốn được trại này để đi kiếm ăm nơi khác, song vết thương chưa lành hẳn làm cho gã thất vọng về cái chân cứ phải đi cà nhắc. Những ngày dài, những đêm thâu, gã muốn quên đi tất cả mà quên đầu có được!

***

Con đường đất gồ ghề từ huyện lỵ vào thung lũng Sơn Điền dài hun hút. Càng đến gần thung lũng, hàng quán càng mọc lên nhiều. Mấy bà tiểu thương làm nhiệm vụ “cung ứng” mọi nhu cầu vật chất cho dân đào đãi kim cương, đá quý. Từ lon gạo, con cá khô đến thịt heo tươi, hành, mắm. Cái gì cũng có và giá đắt gấp hai lần ở Di Linh, Đà Lạt.

Cái quán nhỏ của bà Hai lại có thêm một cô gái tên là Lan. Cô không đẹp lắm song cũng có vẻ dễ thương. Hôm mới đến, cô nói với má Hai:

- Thưa má, con có chồng, nó đi theo gái, bỏ con bơ vơ ở Sài Gòn. Con theo một anh tài xế lên đây, anh ta lại bỏ con nốt. Má thương con, con ở đây hầu hạ má, bưng cơm, rửa bát, bán hàng, cái gì con cũng làm được, miễn là mỗi ngày má cho con ăn hai bữa còn hơn là ở Sài Gòn phải đi làm điếm, nhục lắm má ơi!

Má Hai có lòng thương người, lại cũng cần một cô gái tiếp khách - nhất là bọn trẻ - nên chấp nhận cho cô gái ở lại giúp việc. Quả nhiên, từ hôm có mặt cô gái ở đây, khách đông hẳn lên. Mấy chú thanh niên đùa giỡn, ngồi la cà lâu hơn. Có anh xuống xã kéo tay, dụng chạm vào người cô gái, bị cô cự tuyệt:

- Mấy anh làm gì vậy? Tôi la lên thì má tôi không để yên đâu!

Má Hai cũng lừ mắt:

- Nó có chồng con rồi đó. Chồng nó làm tài xế, dữ lắm đó. Chớ có trêu chọc nó mà lại “ăn” cờ-lê, mỏ lết.

- Má ơi! Nhưng mà em Lan hay cười lắm. Làm sao mà tụi con ngồi yên cho được?

Đại úy Kỳ Nam đến quán bà Hai một buổi chiều râm mát. Anh để ý quan sát cảnh nhộn nhịp vào ra của khách hàng. Số người phởn phơ vì có tiền ăn nhậu ít hơn số người bơ phờ vì mệt, ăn để khỏi đói sau nhiều ngày đào bới mà chẳng được gì.

Bà Hai nhìn anh trong bộ đồ thương lái: quần bò, áo phông cá sấu, loại hàng “xịn” của Thái Lan, thì đon đả mời chào:

- Chú Ba uống bia hay rượu? Có nem Thủ Đức và tái dê nữa đó!

Cô Lan nhoẻn miệng cười:

- Anh Ba dùng bia lon thứ thiệt này đi!

Kỳ Nam gọi một hộp bia ngồi nhấm nháp với lạc rang, giữ nguyên vẻ mặt bình dị để chủ quán không thể đoán biết anh đi đâu, cần gì?

Bà Hai vẫn thăm dò:

- Chú Ba lại muốn tìm mua vàng, kim cương về thành phố phải không?

- Dạ thưa má, con đâu có tiền!

- Vậy thì chú đi đâu?

- Dạ, con có người bà con ở phía núi bên kia, con định qua đó chơi nhưng đèo dốc khó đi quá. Có lẽ con phải quay về Đà Lạt.

Bà Hai thấy anh không mặn mà câu chuyện, cũng thôi không hỏi gì nữa. Riêng cô Lan thấy anh là khách sang, có xe máy thì đinh ninh rằng anh là khách buôn vàng, đá quý nên cứ nhìn trộm anh và để ý dò la.

Kỳ Nam đốt một điếu thuốc lá, nhìn về phía rừng bạt ngàn. Anh được Phi Nga báo cáo việc bắt sống tên Ba Râu và việc nó lỳ lợm không chịu khai báo hang ổ của bọn cướp. Anh quyết định về đây quan sát tình hình trước khi về huyện, vào trại giam trực tiếp khai thác tên Ba Râu. Có điều anh đã phải hỏi kỹ Phi Nga:

- Tại sao mấy bữa nay ở cả hai con Suối Cạn và - Suối Ngọc đều im ắng, không thấy bóng bọn cướp hoành hành? Có phải nó sợ lộ sau khi tên Ba Râu bị ta bắt. Vẫn có một số người đãi được kim cương đã quý kia mà?

Phi Nga trả lời:

- Đó chính là điều em đang suy nghĩ. Hai bằng cướp ít nhất phải có hàng chục tên, tại sao chúng không hoạt động gì?

Kỳ Nam đành quay lại Di Linh. Anh đọc lại những tờ bút lục có lời khai của tên Ba Râu: hắn có tên thật là Ngô Văn Chi tức Ba Chi, lại có tên là Ba Râu vì hắn có râu quai nón, chỉ cần năm hôm không cạo, râu đã đâm ra tua tủa, cứng như rễ tre. Gã là đứa trẻ bụi đời, lớn lên với nghề trộm cắp vặt ở chợ Bến Thành, bị bắt đi tập trung cải tạo từ năm mười tám tuổi, sau ba năm, được tha về lại hành nghề cũ kiêm luôn cả việc vận chuyển thuốc phiện. Bị xử năm năm tù giam, ở tù được bốn năm thì trốn trại, nhập bảng cướp. Gã có một vợ, một con, vợ bán rau quả ở chợ Bàn Cờ.

Đại úy Kỳ Nam hỏi:

- Anh không thương vợ, thương con hay sao mà lỳ lợm để lại rũ tù?

- Thưa cán bộ, vợ con nghèo quá, làm không đủ ăn nên tôi phải đi ăn cướp...

Kỳ Nam biết là Ba Râu nói giọng cùn, anh hỏi:

- Có phải anh sợ khai ra, chúng nó bị bắt vào tù, anh sẽ bị chúng nó đánh chết?...

- Dạ, phải.

- Nếu chúng tôi giam anh sang trại khác thì làm sao nó đánh anh được?

 - Dạ, thưa: có gì bảo đảm được như thế?

- Bảo đảm chứ! Chỉ cần anh khai báo cho rõ thì khi xử, anh sẽ được giảm tội và được giam cách ly với chúng nó.

Ba Râu lắc đầu:

- Dạ. Tôi chưa tin sẽ được như ông nói

- Anh có thấy nhiều người có tội ra tự thú đều được khoan hồng không?

- Dạ, có ạ.

- Vậy thì sao anh lại chưa tin?

Tên Ba Râu ngồi im.

Kỳ Nam lại hỏi:

 - Anh đã tham gia bao nhiêu vụ cướp ở đây? Cướp được bao nhiêu tiền bạc, vàng, kim cương? Anh được tên Năm chia cho bao nhiêu? Để đâu? Ăn tiêu hết bao nhiêu? Anh phải ghi vào tờ giấy và phải chịu trách nhiệm về lời khai của mình. Thằng Tư Sứt đã bị bắt, nó đã khai ra cả, chúng tôi sẽ cho anh đối chất với nó. Anh cố ý giấu chúng tôi cũng không được đâu! Chúng tôi đang bủa vây, truy quét và sẽ bắt hết cả băng. Lúc ấy, anh sẽ hết đường chối cãi!

Kỳ Nam cố ý nhấn mạnh về cái tin “Tư Sứt đã bị bất" để uy hiếp tinh thần tên tôi phạm. Quả nhiên gã biến sắc mặt, lo lắng...

Kỳ Nam nhận biết thái độ của tên Ba Râu, anh nghiêm nét mặt và gập lại tập hồ sơ:

- Anh viết lời khai cho rõ. Tôi sẽ gọi anh sau mấy giờ nữa!

***

Những dòng chữ ngoằn nghèo của tên cướp làm cho Kỳ Nam chưa hết băn khoăn: y thú nhận “đánh” mười vụ cướp, thu được sáu trăm ngàn đồng, hai chỉ vàng nộp cho Tư Sứt, được chia một trăm ngàn đồng, còn vàng nộp về cho chủ tướng “Năm Phượng Hoàng” để làm vốn chung, khi nào được nhiều sẽ chia gom sau. Còn hang ổ? Y khai: phân tán ngủ rừng, tôi có hai bộ đồ mặc thay đổi và một cái võng dù, một cái mùng cá nhân. Mấy thứ này gửi ở quán bà Hai, hôm nào cần thì lấy..."

Kỳ Nam chú ý đến “quán bà Hai”, anh gạch một nét dưới ba chữ này.

Kinh nghiệm nghề nghiệp nhắc anh phải lưu ý đến những nơi có thể là “địa chỉ đen” của bọn cướp, hoặc ít ra cũng là điểm hẹn mà chúng thường lui tới. Vì chưa bắt được Tư Sứt thì chưa thể “đối chất” được với Ba Râu nên Kỳ Nam quyết định quay trở lại Sơn Điền. Vẫn ăn mặc đỏm dáng như khách mua vàng và đá quý, ngồi trên chiếc xe cúp 50, Kỳ Nam dựng xe, vào quán bà Hai:

- Cho con một bia lon và ba cái nem Thủ Đức, má ơi!

 - A! Chú Ba, cứ tưởng là ai, chứ!

 Bà Hai nhận ra khách quen từ hôm trước và cứ gọi Kỳ Nam là “chú Ba” cho có vẻ thân mật, mặc dù bà chẳng biết tên Kỳ Nam là gì và có phải là “chú Ba” hay không? Kỳ Nam cũng mặc kệ để tùy chủ quán muốn gọi thế nào cũng được và nghiễm nhiên anh có một cái tên mới “anh Ba”, “chú Ba”.

Vừa uống bia và để ý quan sát khách nhậu, ồn ào, hỗn độn, phức tạp ở quán này, Kỳ Nam chưa thể giải được bài toán khó: băng cướp “Phượng Hoàng” đang lẩn tránh nơi đâu? Chúng có còn phân tán trong rừng bạt ngàn kia không? Hay là chúng đã rút khỏi nơi này sau khi tên Ba Râu bị bắt?

- Chú đã mua được gì chưa?

- Dạ thưa má: giá hàng mắc lắm, con còn thăm giá rồi mới về thành phố đưa khách xuống ăn hàng. Còn con thì làm sao có vốn lớn được? Má biết đấy, buôn mấy thứ ở đây phải kể đến chục triệu, trăm triệu chứ đâu phải ít?

Bà Hai tỏ ra mình là người hiểu biết:

- Ừ, hãy cứ xem giá, nếu trúng mánh thì chỉ một món thôi cũng đủ ăn cả tháng, cả năm!

- Dạ, má nói rất đúng!

Rồi như chợt nhớ ra, Kỳ Nam hỏi:

- Má ơi! Em Lan hôm nay đi đâu rồi má?

 Bà Hai cười hóm hỉnh:

 - Chú lại nhớ nó rồi? Em nó về Đà Lạt để mua dùm má ít hàng đó.

Kỳ Nam “à” một tiếng rồi nói:

- Má bận suốt ngày, có em Lan đỡ đần thì má nhàn hơn. Với lại khách thanh niên thường thích trêu chọc cô gái, có thể má mới đông khách nhậu chứ, phải không ạ?

Bà Hai chớp mắt:

- Thanh niên thì phải vui chứ?

Vừa dứt câu nói, bà Hai đã kêu lên:

- Kìa! Con Lan đã về kia!

Một chiếc xe mô kích từ phía xa lao tới. Lan ngôi sau xe, ôm lưng một gã đàn ông cao, to có bộ râu Nhật, gã mặc áo Nato, quần bò, trên một ngón tay có hai nhẫn vàng.

- Chào má!

Gã đàn ông dựng xe, Lan cũng nhẩy xuống, xách một túi xách nặng chứa đầy thuốc lá Hero và hai chục hộp bia ngoại. Má Hai cười híp mắt:

- Tốt quá, con về vừa lúc má đã sắp hết cả hàng.

Lan giới thiệu:

- Đây là anh Tư, bạn con ở Đà Lạt!

- Chào chú Tư! Chú lại cho em Lan đi nhờ xe hả? Tốt quá, thôi ngồi đây nhậu lai rai cho vui. Chú Tư đã ăn gì chưa?

Lan nói đỡ lời Tư:

- Má cứ mặc chúng con. Chúng con vừa ăn rồi mà!

Tư và Lan ngồi cả xuống một ghế dài.

Kỳ Nam quan sát tất cả hai người và nghe rõ câu chuyện của bà Hai.

Lúc này, Lan mới để ý đến Kỳ Nam:

- Anh, à anh hôm trước đã qua đây, anh đã mua được gì chưa?

Kỳ Nam lắc đầu:

- Mắc quá! Đã mua được gì đâu?

Lan giới thiệu hai người đàn ông:

- Đây là chú Ba! Và đây là anh Tư! Bạn bè cả, các anh làm quen với nhau, nào!

Gã có râu Nhật cúi đầu:

- Rất hân hạnh!

Kỳ Nam cũng tỏ ra lịch thiệp:

- Hân hạnh! Anh cũng đi mua “hàng”?

- Dạ, phải. Nhưng khó mua quá!

Kỳ Nam uống cạn ly bia, hút nốt điếu thuốc lá rồi đứng lên:

- Má di! Con xin phép má, con ngồi đã lâu mà công chuyện lại rất bận. Hôm nay giá hàng vẫn còn cao, có lẽ còn lại phải về thành phố! Thôi chào cô Lan nhé, anh Tư ở đây rồi về sau nhé! Tôi xin phép, phải đi đây...

Gã có câu Nhật cũng gật đầu đáp lễ.

Kỳ Nam đưa cho bà Hai tờ bạc năm ngàn đồng rồi bước lên xe. Xe nổ máy quay về hướng Đà Lạt.

Tại phòng làm việc của ban chuyên án Kỳ Nam gặp lại Phi Nga và Văn Sinh. Cả hai bạn trẻ đều đang chụm đầu nhìn hai tấm ảnh chụp gương mặt của hai cô gái đã phóng to tới cỡ 9 x 12 cm.

Kỳ Nam hỏi:

- Có gì mà vui thế?

 Phi Nga nói trước:

- Anh thử đoán xem hai cô gái này là ai? Tên gì?

Kỳ Nam ngồi xuống ghế, đón lấy hai tấm ảnh, ngắm kỹ một hồi lâu:

- Các cậu chụp giỏi thực đó! Cái ảnh này là cô Lan ở quản bà Hai vì phía sau cô ta có cái phên liếp Còn cái này cũng là cô Lan nhưng chụp ở đâu mà không có phên liếp phía sau? Mà hình như là ảnh cũ chụp lại phải không?

Văn Sinh đáp:

- Anh Nam tỉnh thật đó. Ảnh cũ này là ảnh em lấy trong hồ sơ lưu tại thành phố: Nguyễn Thị Lan tức Hương Lan trùm băng chụp giựt “Hoàng Yến” ở chợ Bến Thành.

 Kỳ Nam gật đầu:

- À! Ra thế! Lan “Hoàng Yến” trốn trại, đang bị truy nã, đã có mặt ở đây! Vậy thì gã có ria Nhật mà tôi vừa gặp đi cùng với cô Lan ở quán bà Hai có thể là một đối tượng ta cần tìm hiểu!

Kỳ Nam kể lại cho Phi Nga và Văn Sinh nghe hết câu chuyện gặp gỡ ở quán bà Hai. Phi Nga thích thú:

- Vậy anh để chúng em làm rõ tung tích của tên này!

- Nó cao, to, mặc áo Nato mầu cỏ úa. Mặt vuông, mũi to, có bộ râu Nhật rất ăn chơi kiểu “anh Hai Vũng Tầu”. Mình không mang theo máy ảnh nên chưa chụp được hình tên này. Việc này, xin nhường cho hai bạn trẻ!

Phi Nga nói:

-  Chúng em sẽ trở lại Sơn Điển để tiếp tục công việc...

Kỳ Nam dặn:

- Phải hết sức cẩn thận. Chúng nó ngưng hoạt động chứ chưa phải là thôi cướp bóc. Phải cải trang cho khéo và nên trở lại với gia đình ông già Thái cùng vợ chồng Dũng - Thảo...

- Dạ, em xin cố gắng.

Văn Sinh rút một điều thuốc lá:

 - Ta bắt gọn tên Ba Râu chắc rằng các tên Tư Sứt, Bầy Sầu và Năm Phượng Hoàng căm lắm và sẽ trả đũa quyết liệt. Tên Ba Râu lại lì lợm, chỉ khai vớ vẩn. Truy bắt băng cướp này không đơn giản...

***

Phi Nga nhận nhiệm vụ với đại úy Kỳ Nam rồi trở lại Sơn Điền, bám sát Thị Lan – trùm cướp giật ở chợ Bến Thành - đang có mặt ở quản bà Hai. Còn tên mặt vuông, mũi to, có bộ râu Nhật, mặc áo Nato mẫu cỏ úa, có tên là Tư, cặp bồ với Thị Lan là ai đây?

Trước hết, Thị Lan không phải là cô gái lưu lạc bụi đời mà là đối tượng đang bị truy nã. Như vậy tên Tư cũng có thể là một đối tượng nguy hiểm, chứ đầu phải là gã buôn vàng, buôn kim cương?

Phi Nga gặp lại ba cha con ông già Thái đang ngồi nghỉ bên bờ Suối Ngọc, sau một ngày lao động cật lực.

Ông mừng rỡ:

- Cô Nga! Cô đi đâu mấy hôm vừa rồi?

- Dạ. Thưa bác, cháu lên Suối Cạn.

- Hôm vừa rồi, cô đánh và bắt sống thằng cướp Ba Râu giỏi quá. Sau khi cô giải nó đi rồi, bà con ở đây cứ trầm trồ khen cô giỏi võ, họ bảo “cô ấy là công an đấy”.

Dũng và Thảo cũng xúm xít ngồi quay lại với Phi Nga, Dũng nói:

- Chị quật ngã được thằng Ba Râu, ai cũng cảm phục chị...

Phi Nga quay sang cụ Thái:

- Thưa bác, cháu có đi thanh niên xung phong mấy năm trước bạn bè dậy cho mấy miếng võ để tự vệ. Hôm ấy, cháu căm thằng Ba Râu quá nên phải đánh và bắt sống nó sau khi cháu bắn vào chân nó...

- Còn cháu Sinh đi đâu mà đi lâu thế?

- Dạ thưa bác, anh Sinh lên Suối Cạn.

Biết rõ Nga và Sinh là công an, cụ Thái cười:

- Các cháu giỏi quá. Ấy thế mà hôm đầu, cháu Sinh nói với bác cho đi theo, bác đâu có biết, cứ tưởng là dân đào vàng cả thôi.

Phi Nga hạ thấp giọng:

- Cả băng cướp hàng chục tên, mới bắt được một tên, chúng cháu còn phải truy bắt tiếp nữa. Xin bác giữ bí mật cho chúng cháu...

Thảo nói chen vào:

- Chị Nga ơi! Nếu không có chị hôm đó thì nó bắt vợ chồng em đi theo nó, chưa biết sẽ còn khổ đến đâu! Có khi nó giết mình ấy chứ chẳng phải đùa đâu! Từ hôm ấy đến nay, cả khu vực Suối Ngọc này yên tĩnh lắm. Dân lại vui vẻ làm ăn rồi...

Nga hỏi:

- Nhà ta đào có được khá không?

 Ông cụ Thái thì thầm:

- Nhờ trời cũng được độ nửa chỉ, nếu bán cũng được hơn một trăm ngàn... Bác sẽ chia đều làm năm phần, để dành hai phần cho các cháu.

Nga xua tay:

- Bác khỏi phải chia cho chúng cháu. Bác giữ lấy. Biếu bác và hai em! Còn gạo nước cơm canh, chúng cháu biếu bác tất cả. Gọi là có chút quà nhỏ để tỏ tình quân dân với bác và hai em...

 - Quý hóa quá! Bác cám ơn hai cháu. Song hai cháu phải lấy tiền gạo cho bác vui lòng. Hai yến gạo kia mà!

- Chẳng đáng bao nhiêu đâu. Chúng cháu xin biếu bác mà!

***

Tạm biệt ba cha con bác Thái, Phi Nga sang khu vực Suối Cạn tìm gặp Văn Sinh trong một cái lán của bà con huyện Đức Trọng tạm trú để đãi vàng.

Văn Sinh nói:

- Tụi chúng nó biến đi đâu hết cả rồi. Bà con ở đây không thấy chúng nó xuất hiện nữa. Có lẽ sau khi ta bắt tên Ba Râu, chúng nó co cụm lại để nghe ngóng hoặc chuồn hết đi nơi khác?

Phi Nga hỏi:

- Nhưng còn Thị Lan và tên mặc áo Nato có tên là Tư xuất hiện ở quán bà Hai? Ta mới bắt có một tên Ba Râu, lẽ nào chúng đã sợ? Em hẹn với anh nhé anh ở Suối Cạn, ở đây. Còn em dựa vào gia đình ông cụ Thái ở Suối Ngọc. Hai ngày hội ý một lần. Hôm nay ở đây, lần sau anh sang bên em!

- Nhất trí với Nga rồi...

Hai người chia tay. Nga quay về Suối Ngọc. Trên đường đi, Nga băng qua lối mòn ven núi. Đây đó, bà con đào vàng ở rải rác dưới những lùm cây, một mảnh vải nhựa trải rộng, cả nhà ngồi vừa ăn vừa nói chuyện râm ran. Xa xa những làn khói bốc lên bay bên sườn núi đá: từng gia đình đang nấu cơm bữa chiều. Ít có gia đình ăn thịt cá vì họ chưa đào đãi được gì cả. Số người gặp may mắn rất hiếm hoi. Nhưng lời đồn đại cứ lan xa làm cho số người tứ xứ đổ về không ngớt, đông như trẩy hội.

Về đến chỗ ở của gia đình ông già Thái, Phi Nga rủ vợ chồng Dũng ra quán bà Hai. Thảo nói ngay:

- Em đang muốn ra đó mua thuốc lào cho ông cụ. Còn anh Dũng cứ kêu thèm thuốc lá...

Nga cười:

- Còn Thảo thì thèm ăn gì nào?

- Em ấy à? Chỉ ăn kẹo thôi!

Nga vuốt tóc Thảo:

- Em giống tính chị đấy! Con gái thích ăn của ngọt là đúng! Đi ta đi thay đổi không khí một chút.  Ở trong này suốt ngày với đất cát, đá sỏi, buồn lắm.

Phi Nga xin phép ông già, đưa Thảo và Dũng băng qua hai cái dốc, xuống quán bà Hai. 

Càng gần đến quán bà Hai, tiếng ồn ào như chợ vỡ càng nổi lên nghe rất rõ:

- Chết cha rồi! Cứ thích cà phê “ôm”, cho chết!

- Cái gì? Cái gì thế?

Nga, Dũng và Thảo đã đến trước đám đông. Một anh thanh niên mặt đỏ gay nói như giảng giải cho mọi người vây quanh:

- Một thằng cha sộp lắm, đi xe máy vào cái quán cơm có cat-set xập xình dưới gốc cây kia kìa. Ở đó có hai em từ Đà Lạt mới về bán giải khát chung với lão chủ quán. Thằng cha đi xe máy đến ăn uống ở đó, ăn xong lại cưỡi xe đi, đi được vài trăm mét thì xe đổ kềnh, người ngất xỉu văng ra một bên. Người qua đường hô hoán lên, công an xã đến lập biên bản và cấp cứu nạn nhân, thằng cha tỉnh lại kêu mất cái túi trong có ba triệu đồng!

- Nó làm gì mà lắm tiền thế?

- Thì cũng là cánh đi buôn kim cương mà!

- Thế là toi một cây vàng rồi! Mê gái là chết! Có khi nó chuốc rượu cho say rồi nó chụp giựt liền!

- Bây giờ ra sao rồi?

- Thằng cha lảo đảo đi theo mấy ông công an xã vào Ủy ban rồi. Lão chủ quán kia với hai cô “cà phê ôm” cũng được mời vào Ủy ban rồi. Rắc rối to! Lôi thôi to!

Lại có tiếng hỏi:

- Sao công an không khám luôn nhà chủ quán với hai em? Ba triệu bạc giấu đi đâu cho kịp!

 - Điều đó khỏi phải góp ý với công an! Công an thiếu gì cách khai thác ba vị này? Nhưng nghe đâu mất vẫn hoàn mất vì khám xét cái quán ấy chả thấy gì ngoài mấy thứ nhậu. Còn tiền, chỉ có mớ tiền lẻ và cái vốn còm của chủ quán mấy trăm ngàn thôi.

 Phi Nga nghe đã rõ đầu đuôi câu chuyện. Cô dắt tay Thảo và nói với Dũng:

- Thôi ta vào quán bà Hai uống nước. Chuyện của ai mặc người ấy! Dại thì chết là phải!

Trong quán bà Hai, khách ăn, khách uống cũng đang bàn luận sôi nổi về vụ “ông xe máy” bị cướp giựt mất túi tiền. Bà Hai cười tủm tỉm:

- Cà phê ôm là phiền phức lắm.

Thị Lan thì ý tứ hơn:

- Thật là... dễ sợ!

Ba người uống nước xong, chuẩn bị ra về, Dũng mua thêm hai gói thuốc lào và hai gói thuốc lá.

Phi Nga nói với Dũng:

- Em và Thảo về trước nhé. Chị tranh thủ vào Ủy ban xã chút xíu...

Dũng và Thảo quay về lối cũ để lên dốc. Phi Nga rẽ trái, rảo bước đi nhanh về phía Ủy ban nhân dân xã đóng ở ngôi nhà quét vôi vàng dưới chân núi.

Trưởng công an xã là anh thanh niên trạc ba lăm tuổi, nhanh nhẹn, tháo vát, thấy Phi Nga vào đã nói ngay:

- Chị Nga! Sao một tuần nay rồi mà chị bây giờ mới tới?

Phi Nga vui vẻ:

- Tôi phải về huyện rồi về tỉnh nữa. Sau khi ta bắt thằng Ba Râu, ở đây lại yên tĩnh quá! Rồi lại vừa xẩy ra vụ cướp giựt phải không anh?

Anh công an xã rót nước mời Phi Nga rồi chậm rãi nói:

- Chủ nhân của chiếc xe honda để ngoài sân kia là nạn nhân vừa bị cướp mất chiếc túi du lịch trong đó có ba triệu đồng. Ông ta còn đang nằm nghỉ trong kia sau khi khai báo sau một cơn mê... Ông ta khai rằng: lúc ba giờ ông ta vào uống nước ở quán cây dừa có máy cát-set ầm ĩ suốt ngày đó. Ông ta gặp một người bạn đường cùng uống nước, được ông bạn mời hút một điếu thuốc ba số 5.

Mười lăm phút sau, hai người cùng đứng dậy, ra khỏi quán, lên hai chiếc xe máy phóng đi từ từ, được vài trăm mét, ông thấy choáng váng, quay cuồng, chiếc túi du lịch đeo bên vai bị ông bạn đỡ nhẹ từ bao giờ, rồi ông ta ngã ra, chiếc xe cùng đổ lăn kềnh ra bãi cỏ bên đường. Ông ta bất tỉnh, không còn biết gì nữa cho đến khi khách qua đường hô hoán lên và xúm quanh, có người chạy đi báo công an, chúng tôi đến hiện trường, đưa ông ta đi cấp cứu, lấy lời khai và khám xét ở quán cây dừa. Kết quả chưa có gì. Người bạn đường của ông ta có lẽ là một tên lưu mạnh hoặc một tên cướp đường quen bỏ thuốc mê vào nước hoặc thuốc lá để gây mê trước khi cướp giựt của nạn nhân...

Phi Nga nhớ từng chi tiết trong câu chuyện kể lại của trưởng công an xã có tên là Nguyễn Sơn.

Nga hỏi:

- Anh Sơn ạ, ông khách, nạn nhân này khai tên là gì? Ở đâu đến đây có việc gì? Tiền mặt mất là loại tiền gì? Và tên cướp giựt kia hình dáng ra sao?

- Đây chứng minh nhân dân của ông ta đây. Ông ta ở Phú Nhuận, có tên là Hồ Văn Lợi, bốn mươi tuổi mang ba triệu đồng lên đây thăm dò tìm mối mua kim cương, đá quý. Có lẽ sơ hở, bộc lộ với tên gian kia nên nó đã tìm cách tước đoạt số tiền ba triệu đồng gồm toàn loại giấy bạc năm nghìn đồng.

 Phi Nga hỏi tiếp:

- Anh Sơn cho biết: ông ta có khai rõ hình dáng của tên lưu manh?

-  Có. Tên lưu manh cao, to, đội mũ phớt, mang kính mát, mũi to, mồm rộng, có một chùm râu đen phía dưới mũi, hắn mặc quần bò, áo lính Mỹ, đeo một túi du lịch nhỏ mầu xanh da trời...

Phi Nga kêu “a” một tiếng và nói:

- Áo lính Mỹ là loại áo Nato rồi đó. Còn bộ râu đen dưới mũi tức là kiểu râu Nhật Bản....

Nguyễn Sơn gật gù:

 - Phải rồi, đúng như vậy đó.

Phi Nga mừng thầm trong lòng vì cô nghĩ ngay đến tên bụng phệ cùng đi với Thị Lan hôm trước ở quán bà Hai và Thị Lan đã giới thiệu với đại úy Kỳ Nam (bí danh “anh Ba”) Thị Lan kêu tên gã đàn ông là “Anh Tư Đà Lạt”. Kỳ Nam đã kể lại cho Phi Nga về cuộc gặp bất ngờ ấy. Hôm nay, Nga lại nghe đến tên có bộ râu Nhật. Vậy “anh Tư Đà Lạt” và tên cướp giựt hôm nay có thể chỉ là một. Có điều phải lưu ý là gã đã gặp nạn nhân ở quán Cây Dừa chứ không phải ở quán bà Hai. Có thể là gã cố ý làm như vậy để giữ bí mật cho Thị Lan chăng? Dù sao, chi tiết này cũng phải lưu ý...

Phi Nga tạm thời kết luận: sau khi ta bắt sống tên Ba Râu, băng cướp Phượng Hoàng không dám lảng vảng ở Suối Cạn, Suối Ngọc nữa mà lại chuyển hướng dò la những khách từ xa đến để cướp đoạt tài sản. Gây mê cũng là một thủ đoạn chúng thường làm ở Sài Gòn.

Nga dự định ngày mai sẽ bàn thêm với Văn Sinh để tung một mạng lưới, bủa vây, đón lõng những tên cướp đường. Quán bà Hai rõ ràng là địa chỉ đen của mấy tên cướp và Thị Lan là một đầu mối “giao liên”, cũng có thể là một “hộp thư lưu” của bọn cướp...

***

Đại úy Kỳ Nam nhìn thẳng vào mặt Ba Râu, nghiêm giọng hỏi:

- Anh bắt Bẩy Sầu là theo lệnh của ông Năm phải không?

- Dạ, phải.

-  Băng cướp của Bẩy Sầu có mấy tên?

- Dạ, thưa ông, có bốn tên nữa ạ.

- Chúng đang ở đâu? Đã về quy phục ông Năm chưa?

- Dạ, con không biết ạ.

- Ông Năm thưởng gì cho anh?

 - Dạ thưa ông, theo anh Tư Sứt nói lại thì ông Năm sẽ thưởng cho con 500 ngàn...

- Nếu ông Năm không thưởng như thế thì sao?

- Dạ, nhất định thưởng ạ, vì có thêm Bẩy Sầu thì băng cướp sẽ mạnh hơn và khống chế được cả một vùng.

- Anh nói mỗi tháng “ông Năm” của anh gặp anh một lần. Anh có biết “ông Năm” bây giờ ra sao không? Nếu ông ấy sa lưới công an thì ai sẽ thưởng?

- Dạ, thưa ông, trước đây thì tôi tin là khó bắt ông ấy lắm vì ông ta có võ nghệ cao cường, luôn luôn có hai vệ sĩ đi kèm, Tư Sứt là một tên vệ sĩ đắc lực nhất, sẵn sàng chết vì chủ tướng.

Kỳ Nam cười nhạt:

- Ai giỏi võ bằng anh Ba Râu, vậy mà Ba Râu còn bị một cô công an bắt sống! Chúng tôi sẽ lần lượt bắt gọn tất cả băng cướp Phượng Hoàng...

- Thưa ông, các ông có thể bắt được chúng con, chứ bắt “ông Năm” thì khó lắm vì ông ấy luôn thay hình, đổi dạng, xuất quy, nhập thần, ở lẫn với mấy ngàn con người đào đãi vàng, kim cương, khi ngủ rừng, khi ngủ trên núi, lúc cùng đường ông ấy sẽ tự sát...

- Anh tin như thế?

- Dạ, con tin vì không ai hiểu ông chủ bằng con...

 - Anh Ba Râu! Anh đã gây ra hàng chục vụ cướp, anh đã bị bắt, anh sẽ lĩnh án ít nhất mười năm tù trở lên. Anh có muốn được giảm nhẹ không?

- Dạ, thưa ông, ai cũng muốn được xử nhẹ, con cũng vậy thôi ạ...

- Vậy, anh sẽ được giảm án nếu anh khai đầy đủ về “Năm Phượng Hoàng”. Anh quen hắn, nhập băng cướp trong hoàn cảnh nào, hắn xuất quỷ nhập thần ra sao, tính nết, lối sống và anh đã gặp hắn để nộp tiền, nộp vàng ở những nơi nào? Anh khai cho rõ, viết vào tập giấy này, ngày mai nộp cho tôi. Anh biết rồi đó: pháp luật sẽ nghiêm trị anh nếu anh cứ quanh co, ngoan cố, giấu đầu, hở đuôi. Ngược lại, nếu anh khai đúng, khai đủ, tôi bảo đảm rằng anh sẽ được xét để được giảm nhẹ tội lỗi...

Kỳ Nam đưa cho tên tội phạm một tập giấy trắng và một bút bi:

- Anh mang về phòng tạm giam và làm theo yêu cầu của tôi!

Ba Râu lấm lét nhìn người vừa hỏi cung, đưa tay đỡ lấy tập giấy và chiếc bút bi, nói giọng run run:

- Con xin ông...

***

Con đường Đà Lạt - Di Linh hôm nay tràn ngập nắng vàng. Những cây thông cao vút đổ bóng xuống mặt đường, loang loáng bên ngoài những chiếc xe du lịch đủ kiểu khách đi chơi thăm thắng cảnh mùa này đã vãn, chỉ còn lại khách đi buôn vàng, kim cương, đá quý. Những “anh Hai” Vũng Tầu, Tây Ninh, Kiên Giang đổ về đây nườm nượp tạo nên một quang cảnh đậm nét: một bên là người sang trọng nói năng lịch thiệp, vỗ cặp da ở đâu cũng sẵn sàng bỏ ra vàng cây, bạc tỷ. Một bên là cả mấy ngàn con người lam lũ, đầu tắt, mặt tối với giấc mơ đổi đời mà chưa được đổi đời. Một vài anh đào được đá quý len lén đem về phố huyện tìm mối bán, có anh đem về Đà Lạt

Lũ chạy mánh dỏng tai nghe ngóng tìm đến gạ mua. Họ thì thầm trả giá, cò kè bớt một, thêm hai…

- Các ông, các bà bán qua Cam-pu-chia, Thái Lan, bán cho tầu viễn dương được lời bạc tỷ, tại sao lại trả rẻ như thế?

Người có của là một anh bạn trẻ Đồng Nai lắc đầu:

- Nếu được giá, chúng tôi sẽ hẹn chỗ giao hàng. Phải có tiền lành, tiền mới, loại năm ngàn nhé!

Văn Sinh và Phi Nga trong vai phú thương, áo quần sang trọng, thơm phức mùi nước hoa Pháp, nói với anh tài xế lái chiếc xe Mercedes:

- Ta dừng lại quán này!

Cả ba người vào một quán nước bên đường.

Gã chạy mánh đang ngồi uống cà phê thấy “vợ chồng” ông khách sang trọng, đã vào đề ngay:

- Quý anh muốn mua “hàng xịn”? 

Văn Sinh hỏi:

- Loại nào? Hồng ngọc hay bích ngọc?

- Dạ, quý anh dùng loại nào cũng có!

Văn Sinh hỏi:

- Anh cho biết quý danh?

- Dạ, em là Ngạc. Anh Hai cứ gọi em là “Tám Ngạc"!

Văn Sinh rút một tấm danh thiếp:

- Anh theo địa chỉ này hỏi tôi là Tư ở phòng 201 Hotel Đà Lạt vào các buổi sáng từ 8 đến 11 giờ. Ở đó tôi có đủ đồ nghề: kính soi đá quý, cân tiểu ly, thước đo và đồ thử để biết đá tốt, đá xấu, vàng mấy tuổi...

Gã thanh niên mừng rỡ:

- Dạ, em cám ơn quý anh nhiều. Sáng mai em sẽ tới...

Gã không quên nhìn Phi Nga và khen thầm: “Trời! Sao có người xinh đẹp thế kia!” Giầu sang có khác!”.

Phi Nga biết gã thanh niên đang nhìn trộm mình. Có mỉm cười làm duyên và nói:

- Chúng tôi mong anh đến đúng hẹn. Của nào, tiền ấy, anh không bị thiệt đâu!

Được lời như cởi tấm lòng, gã trẻ tuổi liếm môi:

- Dạ, em xin đúng hẹn! Xin lỗi, chị cho em biết quý danh ạ…

- Tôi là Hồng Ngọc!

***

Chiếc xe Mercedes bon bon rẽ vào Đà Lạt.

Khách sạn du lịch đã đông khách.

Văn Sinh, Phi Nga và anh Ba, tài xế ngồi vào bàn ăn bữa cơm trưa.

Sau bữa ăn, cả ba lên nghỉ ở lầu hai. Văn Sinh ở phòng 201, anh Ba tài xế ở phòng 202 và Phi Nga ở phòng 203.

Sau những giờ căng thẳng, Phi Nga ngủ thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn. Khi tỉnh dậy, Nga ngồi vào bàn viết. Cuốn sổ tay của cô đã thêm những dòng chữ nhỏ ghi lại những ngày đã qua, những việc đã làm để chuẩn bị cho một bản báo cáo gửi về Ban chuyên án.

8 giờ sáng hôm sau.

Cánh cửa phòng 201 mở rộng. Văn Sinh và Phi Nga ngồi chờ khách bên bàn nước trà.

Mười phút sau, khách đến. Đó là gã trẻ tuổi hôm qua có tên là Tám Ngạc.

- Em xin chào anh chị!

Sau cái bắt tay xã giao, Tám Ngạc được mời ngồi. Văn Sinh khen:

- Anh Tám rất đúng giờ!

- Dạ. Em quen lối làm ăn công nghiệp mà, anh!

Một lần nữa, Tám Ngạc lại ngước mắt nhìn Phi Nga, cô gái hôm qua tự giới thiệu tên là Hồng Ngọc! Cái tên đã đẹp, con người còn đẹp hơn nhiều. Hôm nay sao cô gái lại rực rỡ nhường kia? Nét mặt sao mà hiền hậu, thanh tú, từ ánh mắt, nụ cười, có khác chỉ một ngôi sao màn bạc?

Văn Sinh mời khách một điếu thuốc:

- Anh Tám có mang theo hàng đó không?

- Dạ, thưa quý anh và chị: em có hai loại saphia và rubi. Em đã chụp hai tấm ảnh mầu. Anh chị coi đây: chụp đúng mẫu, đúng kích cỡ như thật.

Gã móc túi, xòe ra hai tấm hình mầu giới thiệu mẫu hàng.

Văn Sinh và Phi Nga cùng chụm đầu xem ảnh.

Phi Nga hỏi:

- Sao anh không mang hiện vật đá quý? Sợ mất à?

Gã trẻ tuổi xoa tay:

- Dạ, thưa chị, ông chủ dặn em nếu quý anh thỏa thuận xong giá cả thì ngày mai ông chủ của em sẽ thân hành mang vật báu tới đây ạ.

- Ông chủ của anh cũng cẩn thận đấy. Thôi được, không sao đâu. Vậy anh cho chúng tôi biết: hai viên ngọc này ông chủ đặt giá bán bao nhiêu?

Gã trẻ tuổi đáp gọn lỏn:

- Mỗi viên hai mươi triệu đồng!

Văn Sinh chậm rãi:

- Cũng hơi mắc đó. Nhưng anh cứ mang tới đây, nhớ mời cả ông chủ cùng đến. Phải nhìn bằng kính soi, phải rọi đèn pin mới thấy hết ánh sáng của từng viên ngọc, lại phải đo, phải cân trọng lượng. Anh khỏi lo, tôi sẽ thưởng riêng anh mỗi viên một triệu đồng nếu tôi mua được. Còn ông chủ thưởng cho anh bao nhiêu là quyền của ông ấy. Tôi mong rằng tôi sẽ mua được vì tôi rất cần mua các loại đá quý này. Tôi cũng muốn sau chuyến đầu, chúng ta sẽ trở thành bạn hàng, làm ăn lâu dài với nhau. Trong nghề kinh doanh tôi luôn lấy chữ TÍN làm đầu...

- Dạ, thưa quý anh, em cũng chỉ mong có thế.

Phi Nga nhấn mạnh thêm:

- Giá cả thị trường anh đã rõ, chúng tôi cũng đã biết. Tôi tin rằng chúng ta sẽ mua bán được với nhau. Cũng giờ này ngày mai, chúng tôi sẽ đợi anh ở đây.

Gã chạy mánh nhìn cô gái mà cứ muốn ngồi lại mãi ở đây, song gã nhớ đến ông chủ đang nóng lòng mong đợi ở nhà, gã đành phải đứng lên:

 - Em xin phép anh chị, em về. Và xin y hẹn: 8 giờ sáng mai ở đây...

Đợi cho tên Tư Ngạc đi khỏi lầu hai, Văn Sinh mới cười với Phi Nga:

- Thế là chị Hồng Ngọc sẽ mua một viên đá quý và ông khách Văn Sinh này cũng sẽ mua một viên nữa!

Phi Nga cũng đáp luôn:

- Em và anh bỗng trở thành triệu phú! Hai người dám bỏ ra những bốn mươi triệu đồng kia mà!

Văn Sinh thở phào một khói thuốc:

 - Ta phải giáp mặt với cả hai tên, xem bọn này là loại thương lái nào? Có phải là tay chịu chơi không hay chỉ là vài tên chạy mánh làm nhèm?

- Em và anh phải chuẩn bị đầy đủ mọi thứ để ứng phó kịp thời nếu xảy ra tình huống gì đó ngoài dự kiến...

Văn Sinh cúi đầu làm bộ cấp dưới chờ ý kiến cấp trên:

- Xin tuân lệnh đội trưởng!

8 giờ sáng hôm sau.

Cánh cửa phòng 201 lại mở rộng. Tám Ngạc đã cùng đến với “ông chủ".

Khác với lần trước, hôm nay bên cạnh Văn Sinh, Phi Nga còn có cả anh Ba lái xe cùng ngồi.

Tám Ngạc và ông chủ bắt tay cả ba người ngồi đợi. Sau lời giới thiệu của Tư Ngạc, “ông chủ” nói:

- Rất hân hạnh được gặp quý anh ở đây..., hắn nói tiếp - chúng tôi muốn được thanh toán bằng ngoại tệ mạnh để mang trong người cho gọn nhẹ, chứ vàng hoặc tiền mặt thì cồng kềnh lắm, vàng lại phải bán mới có đôla, mà chúng tôi chỉ cần đôla Mỹ mà thôi. Đôla Mỹ tính giá hối đoái rất mềm: 6.500 đồng Việt Nam ăn một đôla Mỹ!

Chưa trông thấy kim cương, đá quý mà đã nghe “ông chủ” nói đến điều kiện phải trả bằng Đôla, Văn Sinh ngỡ ngàng đôi chút, song anh lại chủ động nói:

- Ô kê! Điều quan trọng là ta thỏa thuận với nhau về giá cả trước đã rồi từ tiền Việt Nam quy ra ngoại tệ có khó khăn gì đâu!

Phi Nga lẳng lặng ngồi nghe câu chuyện của Văn Sinh và không quên quan sát ông chủ, một người đàn ông tầm thước có nét mặt lạnh lùng, nụ cười xã giao dang nở trên môi lại có thể vụt tắt ngay. Cặp kiếng mát không che nổi hai con mắt gườm gườm và đặc biệt nước da của ông chủ lại trắng bệch, có điểm những nốt đen sần sùi. Mái tóc hoa râm chải lật về đằng sau làm cho bộ mặt ông chủ càng to và nặng.

Phi Nga chỉ nghe tên ông chủ vừa được Tám Ngạc giới thiệu là “ông Chín”, ông chủ của em...

Phi Nga nói đỡ lời Văn Sinh:

- Hôm nay chúng tôi đã nói với anh Tám rằng hai viên đá quý ông chủ đặt giá là bốn mươi triệu, nếu đúng như trong ảnh chụp, mầu sắc, kích cỡ, trọng lượng như thế thì đề nghị ông bớt cho mười phần trăm vì chúng tôi từ Vũng Tầu lên đây, đi lại khá tốn kém.

Lão Chín đưa mắt nhìn cả ba người rồi cái nhìn của lão dừng lại ở khuôn mặt xinh tươi của Phi Nga. Phải gọi Chín là “lão” bởi không ai có thể đoán tuổi chính xác của Chín được. Chắc chắn là con người này đã già trước tuổi, mới ngót năm mươi mà như đã gần sáu mươi tuổi rồi. Nghe Phi Nga nói muốn rút giá mười phần trăm, lão Chín vẫn làm ra bộ cò kè:

 - Bớt năm phần trăm thôi! Chị có thấy hai viên đá ấy, chị mới hiểu rằng cái giá bốn mươi triệu là “rất hữu nghị”.

Ông chủ nuốt nước miếng vì khát khao vẻ đẹp của cô gái đang ngồi trước mặt.

Phi Nga mỉm cười:

- Cảm phiền ông chủ cho chúng tôi xem hàng có được không ạ?

Lão Chín cũng cười:

- Đến ba giờ chiều, tôi sẽ mang hàng đến vì tôi muốn thỏa thuận với anh, chị về cách thanh toán bằng đôla, nếu ô kê được với nhau thì mọi việc sẽ xong xuôi...

Văn Sinh nói:

- Toàn bộ bốn mươi triệu đồng Việt Nam lại phải đổi ra đôla thì xin ông cho chúng tôi có thêm thì giờ quay về Sài Gòn chuyển đổi ngoại tệ và chiều mai lên đây mới kịp. Chiều nay thì không kịp.

“Ông chủ” cười xòa:

- Cũng được, ba giờ chiều mai, ta lại gặp nhau ở đây với điều kiện: có đôla, có hàng. Nhất trí! Hoàn toàn nhất trí!

Ông chủ đứng dậy, kéo theo cả Tám Ngạc cùng đứng lên:

- Tôi hy vọng, xong chuyến hàng này sẽ được đón tiếp quý anh và chị tại Sài Gòn, ở nhà hàng Bông Sen!

 Anh Ba lái xe lúc này mới nói chen vào:

- Em xin chở quý anh đi khắp Sài Gòn, đến những quán nhậu lừng danh.

Tám Ngạc và ông chủ đi rồi, Phi Nga mới nói với Văn Sinh:

- Anh thấy không? Dự đoán của em đúng không

- Tức là hai ông bạn này chưa có hàng?

Phi Nga gật đầu:

- Có thể là không có chứ không phải là chưa có!

- Vì sao Nga lại nói vậy?

- Anh hãy để đến chiều mai, xem nó có đến đúng hẹn không rồi em sẽ nói!

Anh Ba lái xe thêm vào:

 - Tôi thấy bọn này làm sao ấy anh ạ!

Văn Sinh:

- Vì thế ta chuẩn bị lực lượng hôm nay đâu có thừa? Ta có ba người, bọn họ có hai người. Song lại không xẩy ra tình huống xấu. Đó là điều rất đáng mừng...

Đột nhiên Văn Sinh lại hỏi Nga:

- X.5 sẵn sàng ở dưới nhà rồi chứ Nga?

Phi Nga gật đầu:

- Rất đẩy đủ. Tám giờ tối nay ta sẽ có một đáp số đầu tiên...

***

8 giờ tối tại phòng làm việc của đại tá Hồng Quang, Văn Sinh và Phi Nga ngồi chờ đại tá đến nghe báo cáo.

Năm phút sau, đại tá Hồng Quang từ trên lầu hai đi xuống, ông vui vẻ khác hẳn ngày thường:

- X.5 vừa báo cáo từ Di Linh về đây...

Phi Nga để lộ nét mừng trên mặt:

- Dạ, thưa chú...

Đại tá ngắt lời cô gái:

 - Đúng như dự đoán của cháu: ông chủ có tên là lão Chín là... thằng tướng cướp đó! Còn thằng Tám Ngạc lại là thằng Tư Sứt! Chúng nó rời bỏ núi rừng để kiếm ăn dọc theo tỉnh lộ này đây.

Văn Sinh càng chăm chú lắng nghe:

 - Thưa chú, cháu cũng hơi ngờ ngợ khi tiếp xúc với chúng.

 Đại tá nói tiếp:

 - Tấm hình của nó ở hồ sơ cũ so với tấm hình các cháu mới chụp được đã chứng minh: hai tấm hình là của một người. Người này lại là... “Năm Phượng Hoàng”.

Phi Nga và Văn Sinh càng thích thú.

Đại tá càng say sưa kể:

- X.5 từ Di Linh điện về báo cáo: hai tên này từ Đà Lạt về đến gần Sơn Điển có ghé vào nhậu say sưa ở quán bà Hai. Khi trời tối, chúng nó đã đi cùng với Thị Lan vào Suối Ngọc và biến dạng vào rừng hoặc lên núi mà một mình X5 không đủ sức bám theo vì trời tối mịt mùng, đèo dốc khó leo nên X5 quyết định quay về Di Linh và gọi điện về đây cho chú.

Phi Nga còn băn khoăn:

- Thưa chú, tên Năm Phượng Hoàng đã cạo mất bộ râu Nhật của nó từ lúc nào!

- Nó thay hình đổi dạng nhưng vẫn còn nhận ra nó ở bộ mặt có nhiều nốt sần và cái áo Nato cũ cũ.

Văn Sinh hỏi:

-  Thưa chú: X.5 có yêu cầu gì không ạ?

- X.5 xin ở lại đón lõng ở cửa rừng và khi nào cần chi viện sẽ báo cáo sau.

Phi Nga hỏi:

- Thưa chú, ngày mai chúng cháu có phải về Sơn Điền với X.5 không ạ?

Đại tá lắc đầu:

- Chưa cần về. Các cháu vẫn phải ở Đà Lạt, ở khách sạn trong vai phú thương để tiếp đón hai tên ấy. Chú sẽ tăng cường lực lượng cảnh sát chung quanh khách sạn.

Văn Sinh hỏi:

- Còn anh Ba lái xe?

Cậu Ba lái xe là một tay súng cừ khôi, có thể bắn hạ bất cứ tên nào chạy trốn ở tầm xa hơn trăm mét. Chú để cậu Ba đi với các cháu là vì lẽ đó!

***

Năm Phượng Hoàng và Tư Sứt về đến Hang Ma lúc nửa đêm.

Bẩy Sầu đón chủ tướng với bao nhiêu hy vọng:

 - Sao ông về trễ thế? Đi quá hẹn những năm ngày?

Tư Sứt ném chiếc ba lô con cóc căng phồng xuống đất. Năm Phượng Hoàng chỉ vào chiếc ba lô nói với Bẩy Sầu:

- Chiến lợi phẩm tất cả là ở đây! Gian nan không sao kể xiết. Nhẹ mà hóa nặng. Đóng vai ông chủ không khó nhưng chỉ cần sơ hở một chút là... rồi đời!

Bẩy Sầu ngồi há hốc mồm nghe Năm Phượng Hoàng kể lại chuyến đi bão táp của hắn cùng với Tư Sứt:

- Tôi xuống núi, tìm ra quán bà Hai nhận bữa no say rồi tạt sang quán Cây Dừa của lão Sáng với hai con nhỏ “bia ôm”. Tôi ngồi không lâu thì một thằng gà mờ dẫn xác đến. Nó có xe máy và một cái túi du lịch nằng nặng. Qua câu chuyện xã giao, tôi thăm dò biết nó là tên thương lái từ Sài Gòn lên, đang tìm mua đá quý. Thấy tôi ăn mặc lịch sự, nó tin tôi cũng là thương lái như nó nên thổ lộ can tràng với tôi. Tôi quyết định phải “đánh” ngay thằng này để lấy tiền đi Đà Lạt, tôi mời nó một điếu thuốc ba số 5, loại thuốc “đặc biệt” của ta. Nó hút liền, tôi trả tiền cà phê rồi đứng lên đi với nó theo hướng Di Linh - Đà Lạt. Xe đi từ từ, đi được khoảng hơn ba trăm mét thì cậu ta có dấu hiệu say lơ mơ, bánh xe loạng choạng, tôi giựt phắt cái túi du lịch trên vai nó và tăng tốc cho xe vút lên với tốc độ tám mươi km/giờ, ngược lên Đà Lạt an toàn. Đến khách sạn Hòa Bình gặp thằng Tư Sứt đón tôi ở đó. Tôi và nó mở túi du lịch ra đếm đủ ba triệu đồng toàn tiền loại năm ngàn. Thì ra thằng này cũng chỉ có số vốn còm thôi, chứ ba triệu thì chỉ bằng giá trị một cây vàng, ăn nhằm gì mà đòi mua đá quý? Hoặc là nó mới đến đây để đón lõng mua vài viên đá nhỏ thôi. Mặc nó nằm bên lề đường. Tôi và Tư Sứt bàn chuyện làm phi vụ thứ hai. Tôi nằm lại khách sạn. Thằng Tư Sứt quay lại đón lõng khách mua đá quý. Nó mang cái tên mới là Tám Ngạc. Nó gặp hai tên thanh niên, một tên nam giới mang tên “anh Tư" còn một tên là cô gái mang tên Hồng Ngọc. Quý vị đi xe Mercedes cực kỳ sang trọng, ăn mặc toàn đồ “xịn”, thằng lái xe nhiều tuổi hơn mang tên “anh Ba”. Quý vị ở ba phòng số 201, 202 và 203 ở khách sạn du lịch Đà Lạt. Tôi cho Tư Sứt tiếp cận, gạ bán hai viên đá quý với giá 20 triệu đồng một viên, cho họ xem ảnh chụp mẫu, các vị đòi gặp tôi là “ông chủ” với cái tên “ông Chín” và đòi xem hai viên đá để soi đèn, cân, đo cụ thể bằng dụng cụ đồ nghề. Tư Sứt về khách sạn Hòa Bình nói lại cho tôi nghe. Tôi quyết định đến tiếp xúc xem hư thực ra sao? Gặp quý vị, tôi phát hiện đây là trinh sát công an trá hình. Vì cô gái mang tên Hồng Ngọc thì hình như là cô gái đã đánh quỵ Ba Râu, bắt sống Ba Râu của chúng ta chứ đâu phải là tư thương cỡ bự. Để tránh đụng độ trong pha “kỳ phùng địch thủ” này, tôi quyết định rút êm! Trên đường về, tôi phát hiện có một người bám sát xe tôi. Tôi cứ mặc kệ. Khi về đến quán bà Hai thì trời tối sẫm, tôi ẵm luôn em Lan và cắt rừng về đây với Tư Sứt. Em Lan còn ở lại ngoài rừng, xem động tĩnh thế nào, rồi sáng mai em Lan sẽ quay trở lại quán bà Hai. Tôi đã chỉ cho em năm trăm ngàn, còn hơn hai triệu, Tư Sứt mang cả về đây cùng với mấy thứ đồ hộp, gạo, bánh làm lương khô dự trữ. Còn ở đây, mấy hôm tôi đi vắng, ông sống ra sao?

Bẩy Sầu đáp:

- Tôi cho tất cả mười chiến hữu xuống núi, tùy nghi di tản kiếm ăn, hẹn ngày mai về báo cáo và nộp tô. Còn một mình tôi ở lại, buồn đến chết đi được. Gạo và thức ăn khô vẫn còn. Có lẽ thằng Ba Râu bị bắt, cũng cắn răng giữ bí mật nên công an khó mà tìm ra được “đại bản doanh” này của ta!

Năm Phượng Hoàng ném một gói thuốc lá ba số 5 ra trước mặt Bẩy Sầu:

 - Chủ tướng là tôi, phó tướng là ông, còn Tư Sứt đây là cánh tay phải của tôi, ta phải làm mấy phi vụ lớn nữa, còn tụi đàn em cứ để chúng nó ở Suối Ngọc và Suối Cạn. Đứa nào nói ngang, nói ngược, ông cử bắn bỏ. Em Lan đi về quán bà Hai làm tai mắt cho ta. Kim Cương, đá quý đang nằm trong tay mấy thằng lái buôn cỡ bự, phải “đánh” mà lấy, càng nhiều càng tốt.

Hắn quay sang Tư Sứt:

 - Chú Tư, bỏ rượu và các thứ đồ nhậu ra đây, ta làm một bữa no say, khao phó tướng Bẩy Sầu cho đã! Chỉ tiếc là thiếu em Lan thôi!

Hiểu được tính hiếu sắc của hai vị “đại ca” của mình, Tư Sứt vừa rót rượu vừa nói:

- Xin mời các đại ca, em xin hứa sẽ đưa em Lan về đây phục vụ các “thủ tướng” ngày mai thôi! Còn cô tiểu thư Hồng Ngọc, chủ tướng thấy có “ngon mắt” không chứ?

Năm Phượng Hoàng vỗ đùi:

 - Ngon! Con bé ngon đó. Chú mày tóm được nó về đây, ta thưởng ngay cho chú một cây! Ta hứa danh dự đó. Làm được không?

 - Dạ. Khó lắm ạ, khỏe như Ba Râu còn bị nó bắn hạ và bắt mất. Em thì địch sao nổi nó?

Bẩy Sầu gật gù:

 - Ông cứ để nó đấy cho tôi. Chưa biết chừng lúc nào đó, tôi sẽ hạ nó cho mà xem!

Năm Phượng Hoàng thấy hai gã tay chân huênh hoang, lại cười ha hả:

- Con bé ấy võ nghệ cao cường lắm. Ta cũng chịu nó kia mà!

Câu chuyện tào lao kéo dài cùng bữa nhậu lại rai cho đến lúc cả ba tên cướp đỏ gay mặt mũi nằm lăn trên nền đá bên cạnh chén đĩa ngổn ngang…

***

Bà Hai nhìn Thị Lan bằng đôi mắt hấp háy:

- Chứ con đi đâu mấy bữa nay, bây giờ mới về?

Thị Lan cúi mặt:

 - Con di chơi với mấy anh, buôn mấy thứ nước hoa, phấn sáp cũng lời được vài chục ngàn con mua quà cho má đây.

Thị Lan mở túi du lịch, lôi ra hai hộp sữa, một hộp đường, một gói bánh quy bầy lên bàn trước mặt má Hai

Bà Hai nói nhỏ:

- Sau vụ cướp giật hôm trước, hôm qua công an xã đi kiểm tra khách lạ, khách quen tạm trú. Má khai tạm trú cho con rồi. Bên quán cây dừa, ông Sáng cũng phải khai cho con Oanh, con Yến rồi. Nghe nói anh công an dặn: “cấm cà phê ôm” đấy. Ông bà nào chứa chấp gái cà phê ôm sẽ phải chịu trách nhiệm đấy. Má xem ra ở đây nghiêm lắm. Không cẩn thân họ lại làm phiền kia đấy!

Thị Lan cười:

- Thì ai ôm cứ ôm, ai bắt cứ bắt. Đến đâu hay đến đó. Mấy chú công an đến đây thì cứ cho chú ôm là xong chứ gì?

Bà Hai chậm rãi:

- Cũng tùy từng người. Ta cẩn thận vẫn cứ hơn.

Bà Hai càng hiểu giá trị của mấy cô gái ở các quán nhậu cũng như mấy quán cà phê, vì đàn ông nói chung, nhất là thanh niên, anh nào chả thích “tươi mát”. Nhẹ cũng nói được dăm ba câu bông đùa, đậm đà hơn thì cặp bồ để các cô “chặt đẹp”.

Bà Hai góa chồng, bỏ đất Bến Tre lên đây mới có nửa năm mà khá hẳn lên nhờ có duyên bán hàng, lại nhờ có mấy cô qua lại nói cười, đùa giỡn với mấy chàng trai...

Thị Lan cũng như những cô gái đến trước rồi lại đi, song Lan sắc sảo hơn nhiều và cặp bồ được với mấy tay thương lái lắm tiền, nhiều bạc. Bà Hai cũng sợ Lan đi mất nên luôn nói:

- Ở đây với má cho vui con ạ. Nếu có vui bạn, vui bè thì đi chơi rồi lại nhớ mà về nghe, con! Một mình má ở đây cũng buồn chết đi được!

Thị Lan cũng chưa hề nói hết hoàn cảnh của cô và càng giữ bí mật công việc cô làm ở đây, đâu phải chỉ là “bồ bịch” như hai cô bé ở quán Cây Dừa, mà còn hơn thế nữa: câu chuyện “hận đời” của cô còn phải kể dài dài chưa hết, sự gắn bó với Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng khác hẳn chuyện làm ăn ở chợ Bến Thành. Cô ước ao đến một ngày nào đó, cô sẽ có một viên kim cương để có thể “đổi đời” như bất cứ ai ở đây. Có điều khác là bà con cô bác phải đào đãi cật lực, còn cô thì… thoắt ẩn, thoắt hiện, buộc thiên hạ phải “chi” đều đều khi họ cần chơi bời trác táng, và theo lời ước hẹn của Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng thì... “mỗi đứa trong chúng ta phải trở thành tỷ phú, phải cướp mà lấy, nghe không?”.

Bà Hai cần có Lan để “chặt đẹp” mấy anh hiếu sắc, còn Lan lại cần có quán bà Hai để ẩn náu, hành nghề cho êm...

- Má ơi! Chiều mai thằng bạn của con sẽ đem về đây cho má mấy két bia lon, thịt bò khô, mực khô, thuốc lá ngoại, toàn thứ “xịn” cả thôi, giá lại rất mềm. Đứa nào bán giá cao, con đuổi thẳng tay!

Bà Hai cười khen một câu:

- Con giỏi lắm!

Bỗng có tiếng còi xe máy và một honda dừng lại trước quán, từ trên xe bước xuống là một cô gái bận đúng mốt thời trang, quần bò, áo phông, kính mát và khác người hơn nữa là chiếc mũ rộng vành và sợi dây chuyền kín đáo trong cổ áo. Nhìn kỹ cô gái vừa tới, Thị Lan thốt kêu lên:

 - Đẹp quá!

Và cô nghĩ ngay đến một con mồi có thể là đây chăng? Còn bà Hai thì chắc chắn là sẽ lại “chặt đẹp” cô bé này.

- Có bia lon không, má ơi!

- Có. Mời cô ngồi…

Cô gái mới tới nhìn quanh quẩn. Cái túi nhỏ toòng teng trên vai.

Lại có tiếng còi xe máy. Chiếc Cup 70 màu xanh rêu dừng lại trước quán. Gã đàn ông nhẹ nhàng bước xuống, vào quán :

- Cho một lon bia má ơi!

- Mời chú vào đây!

Bà Hai vui vẻ hẳn lên, tưởng là anh chàng này cặp bồ cùng cô gái vừa tới.

Riêng Thị Lan lại đưa mắt nhìn lâu hơn, và ả muốn kêu lên “Anh Tư Sứt” song ả lại tự kiềm chế được mình và nói theo bà chủ quán:

- Xin mời anh ngồi. Quán em có bia, có thịt bò, có mực nướng...

Lan nhoẻn miệng cười, nói vừa dứt câu thì Tư Sứt đã đứng lên, dang chân và đưa tay giật phắt cái túi nhỏ toòng teng trên vai cô gái vừa tới quán này được năm phút trước hắn. Bị bất ngờ, cô gái chưa kịp trở tay thì Tư Sứt đã chặt mạnh tay vào gáy cô gái. Cô gái loạng choạng ngã chúi về phía trước, cô chưa kịp đứng lên thì Tư Sứt đã lại chém tay thật mạnh vào cánh tay phải cô gái và nhẩy tới đè ấn cô xuống đất, bẻ quặt hai tay cô gái về phía sau lưng. Hắn rút một sợi dây dù trói nghiến cô lại.

Hành động thô bạo của tên Tư Sứt diễn ra nhanh đến nỗi cô gái không chống đỡ kịp và bà Hai cũng bàng hoàng, hoảng sợ xanh mặt, ngồi sụp xuống một xó. Tư Sứt quỳ gối đè lên lưng cô gái và gã moi trong túi áo ra một gói bột, xé giấy gói, đổ bột vào lòng bàn tay rồi vỗ mạnh vào mặt cô gái. Cô gái bị sặc sụa, thở hắt ra, không kêu cứu được nữa và ngất xỉu đi mau chóng.

Tư Sứt phủi tay, đứng lên nói với chủ quán:

- Bà má và cô em cho tôi gửi lại cô bé này vào trong bếp để nó nằm đấy đến tối, tôi sẽ mang nó đi. nghe không? Cấm không ai được nói lộ ra. Giờ này chung quanh đây đều vắng khách. Chỉ có bà và cô Lan biết chuyện này thôi, ai nói ra thì Bẩy Sầu sẽ giết hết! Nào, xem trong cái túi toòng teng này có cái gì nào? à đúng, ta đoán không sai, một khẩu súng và tiền nữa, sao có ít thế này? Năm chục ngàn, bõ gì mà lấy. Đây biếu má và em Lan!

Tư Sứt bỏ khẩu súng vào chiếc túi khoác lên vai ném cho bà Hai tập giấy bạc và ôm cô gái vừa bị đánh ngã, lôi cô vào trong bếp, kéo tấm phên che khuất, gã quay ra nói tiếp:

- Chẳng giấu gì bà, tôi là quân của Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng lừng lẫy ở vùng này đây. Con nhỏ này là ai, bà không biết được! Nó bị tôi bám sát từ Di Linh về đây và bắt nó. Thứ thuốc bột gây mê này mạnh lắm, tôi lại trói kỹ, cứ để đấy, đến tối, tôi sẽ đưa nó đi. Trời con bé đẹp thật! Tên nó cũng đẹp nữa, nó tên là Hồng Ngọc!

Thị Lan hiểu ngay Tư Sứt đã là “người của mình” thì phải giỏi, cô tỏ ra khâm phục “chiến hữu” có võ nghệ cao cường, song không dám nói nhiều trước mặt bà Hai.

Bà Hai thực sự hoảng hốt mà không dám kêu lên. Thị Lan nói thay tên cướp:

- Má ơi! Mấy anh đã nói vậy thì má đừng có sợ, cứ để cho cô ta nằm trong xó bếp, mặc người ta!

Bà Hai lại nghĩ khác: lộ chuyện này ra thì nó giết mình, súng lục, dao găm trong túi nó kia kìa. Không trình báo chuyện này thì mai đây công an tìm đến, bà ăn nói làm sao, có khi còn bị lục vấn lôi thôi và kết tội che giấu tội phạm! Bà ngồi bệt xuống đất, thở hổn hển, chưa hết sợ hãi, tên cướp lại nói:

- Bà khỏi lo! Còn cái xe kia của con nhỏ, tôi gửi bà ở đây. Có ai hỏi thì cứ nói là “của khách gửi” và không được nói thêm gì nữa! Em Lan, rót bia ra cho anh uống! Gã giắt xe vào quán.

Tư Sứt uống một hơi hết cả lon bia, chùi mép xong mới đứng lên:

- Tôi phải ra bìa rừng kia, ngồi nghỉ ở vạt cỏ kia để cảnh giới công an! Bà và cô Lan cứ ngậm miệng cho kín. Lộ ra thì chớ trách tôi là ác đấy!

- Chú cứ đi đi. Bà Hai nói.

Tư Sứt nhẩy lên xe, phóng từ từ về phía bìa rừng cách quán bà Hai chừng ba trăm mét, lại xuống xe, ngồi lên một phiến đá nhỏ. Hắn quay nhìn về quán bà Hai, chờ đợi trời tối.

Thị Lan nói với bà Hai:

- Ở đất này, chuyện cướp bóc, trấn lột và giết nhau như thế này là chuyện thường xẩy ra. Má cứ mặc kệ chúng nó. Hé răng, lộ ra thì nó không tha mình đâu. Con bé bị trói nằm trong xó bếp kia có khi cũng là một tên cướp chứ chẳng phải chơi đâu!

- Sợ quá! Má cũng đến phải bỏ đất này mà đi thôi! Ở đây thì có lúc mất mạng với chúng nó!

Thị Lan gạt đi:

- Khỏi lo! Con đã nói là chuyện bình thường, má ngại gì. Có ai thóc mách, cứ để con đối đáp cho. Má cứ yên tâm.

Má Hai yên tâm sao được khi nạn nhân là cô gái còn nằm kia, sống chết ra sao, ai mà lường hết được?

Chưa phải giờ nghỉ của dân đào đãi vàng, đá quý nên quán bà Hai còn vắng khách.

Thị Lan lượm mớ tiền của tên Tư Sứt ném ra lúc nãy, bỏ vào túi, thản nhiên như không có chuyện gì xẩy ra. Cô lại rót bia, đưa cho bà Hai một ly:

- Má uống đi cho mát, con cũng phải uống một ly cho khỏe!

***

Tin “Phi Nga không về đúng hẹn” từ Di Linh báo về ban chuyên án làm cho đại tá HồngQuang đứng ngồi không yên từ tối hôm qua. Theo báo cáo của Văn Sinh, hướng đi của Phi Nga là hướng Sơn Điền. Vậy, sự cố gì đã xẩy ra với cô trinh sát này? Ông lệnh cho Văn Sinh và X5 “bằng mọi biện pháp phải làm rõ và bảo vệ Phi Nga!”.

Suốt đêm, ông thao thức ngồi chờ bên máy, lúc quá nửa đêm, mệt quá ông ngả người xuống giường và thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn.

Năm giờ kém mười lăm phút sáng, có điện thoại từ Di Linh gọi về báo cáo:

- Tôi nghe đây. Ai đó? Văn Sinh hả, cháu nói đi!

Từ đầu dây nói đằng kia, tiếng Văn Sinh rành rọt :

- Thưa chú, chiều hôm qua Phi Nga trên đường truy lùng dấu vết tên Năm Phượng Hoàng đã ghé vào quán mụ Hai lúc quán vắng khách, bị tên Tư Ngạc bám sát mà Nga không biết. Nó bất ngờ cướp mất chiếc túi có khẩu súng của Nga và đánh ngã sấp Nga xuống, vỗ thuốc gây mê vào mặt làm cho Nga bất tỉnh. Nga bị trói và bỏ vào bếp nhà mụ Hai. Quá hẹn bốn giờ chiều, không thấy Nga về đúng hẹn, cháu và X.5 đã cấp tốc đến Sơn Điền trước khi trời tối, tiếp cận ngay với mụ Hai và thị Lan, cấp tốc lấy lời khai của hai tên này, phát hiện luôn chiếc xe honda 50 của Nga và tìm thấy Nga bất tỉnh nằm trong bếp nhà mụ Hai. Cháu đọc lệnh bắt khẩn cấp hai đối tượng là mụ Hai và thị Lan, đưa Phi Nga về bệnh viện huyện cấp cứu, Nga đã tỉnh lại và đang được tiêm thuốc hồi sức. X 5 và công an địa phương đang tiếp tục truy lùng tên Tám Ngạc (tức Tư Sứt) còn đang lẩn trốn quanh vùng Sơn Điền.

Đại tá Hồng Quang cố trấn tĩnh:

- Rút kinh nghiệm về sự chủ quan và sơ hở của Nga và cháu là điều phải làm ngay, và đó là bài học đắt giá đấy! Chú không hài lòng về các cháu trong vụ việc này. Cháu phải chăm sóc Nga chu đáo để Nga mau phục hồi sức khỏe, mặt khác, phải khai thác ngay thị Lan và mụ Hai. Chiều nay, chú sẽ đến Di Linh, cháu và X.5 chuẩn bị báo cáo nghe!

- Dạ.

***

Đại úy Kỳ Nam nhìn thẳng vào mặt thị Lan:

- Cô Lan, cô trốn trại từ bao giờ?

- Dạ, thưa ông, con trốn từ mồng hai Tết âm lịch.

- Trốn rồi về ở đâu và đến Sơn Điền từ bao giờ?

- Dạ, con về lẩn lút ở xóm Bàn Cờ, được lũ đàn em đi ăn cắp, móc túi ở chợ Bến Thành đem về nuôi. Con lên Sơn Điền từ tháng 5 vì nghe tin ở đây nhân dân đào đãi kim cương dễ kiếm ăn hơn.

- Cô quan hệ với bà Hai như thế nào?

- Dạ, con làm công, bà ấy cho ăn cơm, thỉnh thoảng cho ít tiền tiêu vặt.

 - Cô có cặp bồ với Ba Râu, Tư Sứt, Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng không?

- Dạ, thưa ông, con có biết các anh ấy.

- Thường gặp nhau ở đâu?

- Dạ ở trong rừng đại ngàn...

- Còn ở đây nữa? Cô khai cho đúng thì sẽ được xét giảm án khi xử trước tòa. Ngược lại, cô còn quanh co dấu giếm thì sẽ không được xét giảm án đâu. Cần suy nghĩ cho kỹ, khai cho đúng!

- Dạ, thưa ông, có hai lần con được đi với anh Năm và anh Bảy lên Đà Lạt mua đồ nhậu và đường, sữa, bia, thuốc lá.

- Ở đâu?

- Dạ, ngủ hai đêm ở khách sạn Hòa Bình

- Ở rừng đại ngàn thì ăn ngủ ra sao?

- Dạ, ban ngày thì mắc võng trên cây, ban đêm sợ rắn và thú dữ, chúng con lại lên núi, vào ở Hang Ma...

Đại úy Kỳ Nam sửng sốt:

- Hang Ma? Hang Ma ở đâu?

- Dạ, thưa ông Hang Ma ở lưng chừng núi bên kia Suối Cạn, đường đi gai góc rậm rạp, dốc đá tai mèo.

- Cô có biết Bẩy Sầu và Năm Phương Hoàng là hai tên tướng cướp không?

- Dạ, con có nghe dân chúng đồn đại về hai người này...

- Hôm qua, thằng Tư Sứt đánh trói cô gái và cướp của cô ấy một cái túi rồi lôi cô ta vào bếp nhà bà Hai, cô có biết, tại sao không đi báo công an xã?

- Dạ, thưa ông, con sợ Tư Sứt nó trả thù, giết con chết mất...

- Cô có nghĩ rằng cô và bà Hai là tòng phạm, đã bị bắt, không che giấu được công an nữa và công an sẽ truy bắt hết băng cướp này không?

- Dạ, có ạ. Con biết đã đến tình thế này thì chúng nó cũng sẽ bị bắt cả thôi.

- Cô có thể dẫn đường cho chúng tôi đến Hang Ma được không?

- Dạ thưa ông, con có thể đưa đường cho các ông được, song con sợ chúng nó giết chết con mất.

- Cô có thể vẽ đường cho chúng tôi lên núi được không?

- Dạ, được ạ.

Kỳ Nam đưa cho thị Lan một tờ giấy, một bút bi:

 - Cô vẽ đi.

Thị Lan lóng ngóng đưa những nét vẽ ngòng nghèo trên trang giấy và giải thích:

- Thưa ông: qua con suối cạn này thì nhìn thấy Núi Mẹ cao nhất rồi đến Núi Con thấp hơn. Hang Ma ở sườn núi Mẹ, nơi có vệt đá mầu trắng, rất dễ nhận biết khi nhìn từ xa.

- Vì sao ở cửa hang lại có đá mầu trắng, cô có biết không?

- Dạ, con không biết ạ!

- Cô không biết, nhưng chúng tôi biết vì trên sườn núi, nơi nào có hang thì khí núi từ trong hang bốc ra từ lâu đời đã làm cho rêu xanh không mọc được ở đó. Con người đi tìm hang hốc thường phát hiện hang hốc bằng cách tìm những nơi có vệt đá trắng…

Qua lời khai của thị Lan, đại úy Kỳ Nam biết y không dám nói dối. Anh nhận tờ giấy có vẽ sơ đồ từ tay thị Lan:

- Được, cô cứ để đây, khi cần chúng tôi sẽ dẫn giải cô đi cùng với chúng tôi, cô sẽ được cải trang như người đi đào đãi kim cương, cô đừng có sợ bọn cướp phát hiện được cô...

Thị Lan nghe nói, xám mặt đi:

- Dạ, thưa ông, con sợ lắm. Cả các ông nữa, vào đấy rừng rú rậm rạp, nguy hiểm lắm!

Đại úy Kỳ Nam đứng dậy:

- Cô khỏi lo. Hung dữ như thằng Ba Râu, chúng tôi còn bắt được. Liều lĩnh như cô và bà Hai cũng không qua mặt được công an thì những tên cướp kia có dao, có súng và hung dữ thật đấy, nhưng ai để cho chúng tự do hoành hành? Cô về phòng tạm giam, nghĩ kỹ đi, còn điều nào dấu diếm chúng tôi thì cô sẽ nói sau, nghe không? Ở Sài Gòn, cô có án tù năm năm, trốn trại về đây lại phạm tội, nếu không lo chuộc tội thì cô sẽ bị trừng phạt! Cô có rõ không?

- Dạ, con đã rõ!

***

Từ rừng Đại Ngàn đi về Suối Ngọc có một con đường mòn thường được coi là đường độc đạo.

Người đi rừng chặt củi, đốn gỗ thường qua đây từ 9 giờ sáng, đi sớm hơn thì khó nhận biết được đường đi vì sương che mù mịt, dầy đặc từ cửa rừng.

Vậy mà, sớm nay, khi mặt trời chưa mọc, đã có ba bóng người từ trong rừng đi ra. Đi đầu là Tư Sứt, thứ hai là Bẩy Sầu và sau cùng là Năm Phượng Hoàng. Chúng đi thành hàng một, im lặng, lầm lũi, âm thầm. Mỗi tên đều đeo trên vai một túi dết có lương khô, nước uống và vũ khí phòng thân.

Ra đến cửa rừng, đột nhiên, Năm Phượng Hoàng nói dõng dạc:

- Đứng lại!

Gã huých tay vào lưng Bẩy Sầu, ra lệnh:

- Trói nó lại!

Bẩy Sẩu túm cổ áo Tư Sứt:

- Đưa tay đây cho tao trói mày lại!

Tư Sứt trút bỏ chiếc túi trên vai cho Bẩy Sầu rồi ngoan ngoãn đưa tay quặt ra sau lưng, chịu trói. Gã còn van xin:

- Em lậy hai anh, trói em lỏng thôi, các anh trói chặt, buốt cánh tay, em chết mất!

Năm Phượng Hoàng quát: 

- Câm họng! Mày còn nói nữa, tao giết, nghe con! Tội của mày là tội làm ẩu. Ai khiến mày đánh và trói con Hồng Ngọc để công an phát hiện và bắt luôn mụ Hai và con Lan? Công an đã biết mặt mày khi mày đi với tao lên Đà Lạt đóng vai phú thương rồi. Công an lại bắt con Lan, con Lan sẽ khai ra hết, nơi ăn, chốn ở của tao. Để mày sống cũng vô tích sự. Bắn mày chết thì quá dễ, mày sẽ được chết ngay. Song tội của mày phải để cho công an trừng trị, ít nhất mày cũng lãnh án từ mười năm! Vì thế mày phải chịu trói. Chúng tao quẳng mày ra bìa rừng, sớm nay, mày sẽ bị phát hiện, đi tù với con Lan một thể, tha hồ cho mày khai với công an, chúng tao sẽ bán xới đất này, đi nơi khác làm ăn! Đến Tết, công an cũng không bắt được chúng tao!

Tư Sứt định van xin thêm mấy câu nữa, nhưng Bẩy Sầu đã nhét vào miệng nó một búi giẻ làm nó muốn tắc thở. Nó ngọ ngoạy cái đầu, nhăn mặt khi hai tay bị xiết chặt bằng sợi dây dù và cột vào một thân cây.

Bẩy Sầu phủi tay:

- Chúng tao phải xử mày theo luật rừng như thế này! Mày chịu khó đứng đây nghe con!

Nói rồi, hai tên tướng cướp lại quay trở lại con đường mòn, đi vào rừng sâu.

Năm Phượng Hoàng hỏi Bẩy Sầu:

- Ở Hang Ma thế nào?

- Ông khỏi lo. Tôi đã cài một quả lựu đạn Mỹ ở cửa hang. Chỉ cần kéo cành cây ngoài cửa hang là lựu đạn nổ ngay "quý vị” lớ ngớ đụng vào thì ... rồi đời!

Năm Phượng Hoàng khen:

- Khá lắm! Có ông bên cạnh tôi, tôi rất yên tâm.

Bẩy Sầu càng cao hứng:

- Nếu mai kia, ông nghe thấy tiếng nổ ở cửa Hang Ma, ấy là ở đó đã có thương vong rồi.

***

- A lô! A lô! Xin mời bà con, cô bác nghỉ tay, mua tờ báo coi chơi nào! Báo Lâm Đồng, báo Sài Gòn giải phóng, báo Tuổi trẻ chủ nhật đây... Hay, vui, hấp dẫn, tin tức sốt dẻo đây... Chủ hãng nước hoa Thanh Hương sắp phải ra hầu tòa đây. Tỷ phú Xacogiva trốn đi đâu? Tỷ phú Lâm Cẩu Đại Thành biện bạch ra sao? Khách sạn Hoàng Hậu, nhà hàng Ngọc Lan Đình đã bị niêm phong, chờ đấu thầu phát mãi, lấy tiền trả cho bà con cô bác bị giựt hụi, bị lừa đảo gần chục tỷ đồng. Báo mới! Báo mới đây!...

Bà con đang đào đãi kim cương ở Suối Ngọc lại nghe anh Ba Đà Lạt rao bán báo rong. Tất cả đều nghỉ tay, quay nhìn về phía gốc cây thông già, nơi anh Ba Đà Lạt vừa ngồi xuống. Chiếc xe đạp tàng tàng của anh dựng bên gốc cây. Chiếc túi dết thồ phía sau xe chật căng báo, tạp chí, tranh ảnh đủ mầu sắc trông thật vui mắt. Mọi người vây quanh anh bán báo. Anh Ba Đà Lạt vẫn oang oang:

- Mua đi! Bà con cô bác mua đi, tôi bán đúng giá nhà nước quy định đây, phục vụ tại chỗ để bà con khỏi phải đi xa... Bà con nào muốn mua cao Sao Vàng, dầu cù là tôi cũng có, thuốc viên trị đau bụng, sổ mũi nhức đầu tôi cũng có. Ai mua cứ gọi, tôi phục vụ liền...

Anh bán báo, bán thuốc bán ào ào. Trong chốc lát đã bán hết gần hai chục tờ báo. Dầu cù là, thuốc đau bụng cũng bán rất chạy. Anh Ba trải tấm vải nhựa bầy báo, tạp chí và các loại thuốc rồi lại thu tiền, đưa báo, tíu tít luôn tay...

Nụ cười luôn nở trên môi. Khuôn mặt dễ thương, tiếng nói yêu đời của anh Ba phút chốc chinh phục được cả đám đông đang lao động cực nhọc, mệt mỏi đến bã người.

Một cụ già quắc thước mời chú Ba một ly nước:

- Chú uống đi rồi kể cho tôi nghe chuyện thằng Nguyễn Văn Mười Hai lừa đảo ra sao mà chiếm đoạt một trăm năm mươi ba tỷ đồng? Ông giám đốc Sở Tư Pháp nhận hối lộ rồi ra văn bản pháp quy tiếp tay cho Thanh Hương ra làm sao nào?

Anh Ba Đà Lạt đưa cho cụ già một tờ báo Tuổi Trẻ:

 - Đây, con mời bố xem! Bố mua một tờ cho chú em kia đọc to, phát thanh cho bố nghe là bố hiểu hết thôi mà!

Ông già đưa cho chú Ba bốn trăm đồng mua một tờ Tuổi Trẻ:

- Ừ, để cho thằng nhỏ đọc lên nghe chơi nào! Tín dụng, tín dụng cái quái gì mà lại lừa đảo, đến nay mới phát hiện thì đã quá muộn rồi. Nó vào tù thì vặn răng ra mà trả nợ à? Cứ treo cổ nó lên là xong chuyện, cho nó biết thế nào là pháp luật nghiêm minh! Xử tù nó mấy năm rồi nó lại “cải tạo tốt”, lại được tha trước thời hạn, nó về và bí mật đào vàng chôn dấu lên ăn hết đời như một thằng triệu phú cho mà xem!

Tiếng nói của ông già làm cho mọi người càng xúm đông, vây quanh anh chàng bán báo. Có tiếng một anh con trai:

- Chú bán báo ơi! Bao giờ thì báo mới đăng cái vụ trấn lột ở cửa rừng hôm qua? Một anh bị cướp trói vào gốc cây và đút nút giẻ đầy mồm. May sao lại có người phát hiện báo cho công an xã đến cởi trói cho nếu không thì chết ngạt!

Có tiếng để thêm vào:

 - À lại thằng Năm Phượng Hoàng đấy mà. Công an chưa bắt được nó thì nó còn hoành hành.

 Anh Ba Đà Lạt nói chêm vào:

- Tôi nghe bà con trong xã nói thế này kia...

- Sao? Nói sao?

- Thằng bị trói cũng là thằng cướp đó. Nó tên là thằng Tư Sứt vì tranh ăn, tranh uống gì đó nên nó bị thằng tướng cướp hành hạ đó thôi!

- Sao nó không bắn bỏ?

- Chắc là nó mới trói mà chưa kịp giết.

- Công an bắt được nó là hay rồi! Bắt thêm được thằng nào là bớt được cho dân một cái họa!

Anh Ba được dịp nói to hơn:

- Ấy, bà con còn nói thêm: cả cái quán mụ Hai với con điếm tên là Lan cũng bị dẹp rồi! Ổ gái điếm trá hình đó.

- Cho chúng nó chết!

Câu chuyện sôi nổi chung quanh anh bán báo đã khuấy động không khí trầm tĩnh vì lao động cực nhọc ở Suối Ngọc.

Trời đã xế trưa. Phi Nga và Văn Sinh tìm gặp được ông già Thái khi ông cụ đang mua một ve dầu cù là và một tờ báo của anh Ba Đà Lạt. Văn Sinh niềm nở:

- Bác! Hôm nay cháu không dám dấu bác nữa: cháu và cô Nga lại được về đây làm nhiệm vụ!

Nga cũng cúi đầu chào ông già.

Cụ Thái kéo Nga và Sinh ra một chỗ xa hẳn đám đông, cụ lắc đầu:

 - Bố con tôi đành phải về thôi. Suốt bấy nhiêu ngày làm quần quật mà chả ăn thua gì! Một ngàn người đào đãi thì họa may mới có một người đào được kim cương. Họ lại dấu dấu, diếm diếm vì sợ lộ ra thì cướp nó giết. Bây giờ chúng nó không dám cướp trắng trợn nữa nên mọi người thấy êm êm, chứ tôi nghe nó vẫn còn lẩn quẩn đâu đây. Chúng nó có nhiều đứa chứ có phải vài ba đứa đâu! Anh với cô Nga còn vất vả lắm đó!

Văn Sinh nhìn ông già rất kính nể:

- Thưa bác, bác và vợ chồng em Dũng về là phải. Con nghe chính quyền địa phương sẽ quản lý vùng này chứ để tình trạng đào đãi bừa bãi như thế này thì trật tự trị an không giữ được mà sản xuất cũng bị đình trệ. Bà con cứ nghe đồn đại rồi kéo về đây như nước chẩy...

Bác Thái vuốt râu cười khà khà:

 - Chết nỗi, thỉnh thoảng vẫn có người đào được nên kiếm chục triệu là chuyện có thật, người ta mới mơ ước được đổi đời rồi kéo nhau về đây...

Văn Sinh biếu ông cụ một gói thuốc lào rồi cùng với Nga đến ngồi cạnh anh bán báo.

Văn Sinh chào:

 - Anh Ba! Đắt hàng làm phải không?

Anh Ba Đà Lạt cười hóm hỉnh:

- Bán được năm chục tờ rồi!

Anh Ba hạ thấp giọng:

 - Tôi được tin Phi Nga mắc nạn, rồi lại được tin Văn Sinh đến cứu Nga và bắt khẩn cấp mụ Hai và thị Lan, tôi mừng quá!

 Phi Nga ngập ngừng nói:

- Cũng vì em quá chủ quan, không tham khảo ý kiến X.5 đó...

- Tôi chưa giúp được gì cho các bạn, tôi cũng áy náy lắm chứ!

Anh Ba Đà Lạt với mật danh X.5 đã lặn lội đi khắp vùng thung lũng Sơn Điền, lại vui vẻ:

- Cụ Hồng Quang đã nhắc mãi tụi mình rồi mà không nhớ. Nhưng không sao đâu, có thất bại mới có thành công. Mỗi lần vấp ngã là một lần ta lại đứng lên, tiếp tục làm nhiệm vụ. Cụ thể là như thế này: muốn khôi phục trật tự ở đây là điều rất khó, bởi vì có một số người đào được đá quý trở nên giàu có. Nhiều người kéo nhau về đây làm quần quật mà chẳng ăn thua gì. Chính quyền địa phương đang nghiên cứu giải tỏa năm ngàn con người tứ xứ ở đây. Bọn cướp bị ta bắt mấy tên, đang hoang mang rút vào bí mật, chúng không dám hoành hành trắng trợn như trước, song anh em mình cũng để lộ hoạt động. Do đó tên Tư Sứt mới bám theo Phi Nga và ám hại Nga, suýt nữa gây nên án mạng. Anh em mình đã lộ trong cái rừng người này còn có nhiều tên tay sai của bọn cướp. Ta mới tóm được mụ Hai và thị Lan, chúng nó đã trị tội tên Tư Sứt theo luật rừng. Theo tôi, ta chưa truy bắt được hai tên cầm đầu băng cướp là Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng thì ta chưa xóa sổ được cả băng. Nó còn tung lũ đàn em đi cướp bóc, gây mất trật tự, trị an. Tôi để tâm theo dõi mà chưa phát hiện được tung tích hai tên ấy. Hãy chờ anh Kỳ Nam khai thác tên Tư Sứt rồi ta mới có thể có thêm những biện pháp truy quét hai tên đầu sỏ.

Trước khi chia tay với hai bạn đồng nghiệp, anh Ba Đà Lạt không quên nhắc Phi Nga:

- Phi Nga mang bí danh Hồng Ngọc, cái tên tuyệt đẹp, nhưng xem ra lộ rồi đó. Phải cẩn thận khi giao tiếp, đừng để bọn Phượng Hoàng bám theo người đẹp thì rất phiền! Cải trang cho khéo và có thể dùng một tên khác, cô Năm, cô Sáu chẳng hạn, lại không được sao?

Phi Nga mỉm cười:

- Em xin tiếp thu ý kiến của X.5. Anh Ba yên tâm, mà!

Văn Sinh cầm một tờ báo Tuổi Trẻ, kéo tay Phi Nga đi lẫn vào đám đông.

***

Ở phòng hỏi cung, Đại úy Kỳ Nam nhìn tên Tư sát từ đầu đến chân và hỏi:

- Tên anh khai là Nguyễn Văn Kha, tại sao lại lấy tên là Tư Sứt? Tên cướp khoanh hai tay trước ngực, để lộ cả hai cánh tay còn tím bầm vết trói. Nó đáp rụt rè:

- Dạ, thưa ông, con đánh nhau với chúng nó, chúng nó ghè gẫy của con hai cái răng, từ đó con có tên là Tư Sứt a.

- Mười tên trong băng của anh bây giờ ở đâu?

- Dạ, thưa ông: thằng Ba Râu bị bắt, con Lan bị bắt, con lại bị bắt là người thứ ba. Còn lại bẩy người thì năm người được Năm Phượng Hoàng cho tùy nghi di tản về Đồng Nai kiếm ăn, khi nào cần sẽ gọi. Năm chỉ giữ lại Bẩy Sầu cùng với con. Con không ngờ con lại bị chúng nó trói lại để nộp cho các ông sau khi chúng nó xỉ nhục con như con chó...

Kỳ Nam nghiêm nghị:

- Bây giờ anh mới hiểu chúng nó à? Anh có biết tội của anh là cướp của, giết người thì sẽ bị trừng phạt như thế nào không?

- Dạ, thưa ông bị tù ạ.

- Cũng phúc đức cho anh là cô Hồng Ngọc bị anh đánh trói, gây mê mà không chết. Cô Hồng Ngọc là người đang thi hành công vụ, anh ám hại cô ấy, tội anh càng nặng. Mụ Hai và thị Lan đã bị bắt, chúng khai cho anh như thế nào, anh có biết không?

- Dạ, con không biết ạ.

- Chúng nó khai: anh là kẻ hung bạo, từng vào tù, ra khám ít nhất đã ba lần. Khẩu súng của cô Hồng Ngọc bị anh cướp mất, anh để đâu?

- Dạ, con nộp cho Năm Phượng Hoàng rồi ạ!

- Anh nộp hay bị nó tước đoạt?

- Dạ, con phải nộp, nếu không nộp nó đánh chết ngay.

- Anh có thể lập công chuộc tội, giúp chúng tôi bắt hai tên Năm và Bẩy Sầu được không?

Tư Sứt lo sợ:

- Dạ, thưa ông, con bắt sao được ạ, ông thả con ra thì chúng nó giết con ngay.

- Sao anh sợ đến thế?

- Thưa ông, “luật rừng" như thế, các ông tha con về, nó sẽ xử con, lần này thì nó giết chứ không trói lại và ném ở bìa rừng nữa đâu ạ.

- Thế thì chỉ có cách là anh phải chịu hình phạt mà không được giảm tội.

Từng giọt mồ hôi chảy trên mặt tên cướp. Nó giơ bàn tay vuốt mặt, ngôi im lặng, khổ đau, thảm hại.

Đại úy Kỳ Nam ra lệnh:

- Anh suy nghĩ kỹ đi! Anh phải tự cứu lấy thân anh chứ. Ngày mai anh sẽ trả lời chúng tôi!

***

Nhà hàng du lịch Bảo Lộc sôi động hẳn lên khí ban nhạc cho phát qua loạ truyền thanh những bản nhạc vui thu từ một cuốn băng vidéo của nước ngoài. Một người khách từ lầu I bước xuống quầy hàng, chị ta hỏi cô thu giấy tờ của khách:

- Em đã thấy có ông khách nào hỏi thăm số phòng của chị chưa?

- Dạ, chưa ạ.

Người đàn bà tỏ ra sốt ruột, ngồi xuống ghế, mở hộp thuốc lá, rút một điếu đặt lên môi, châm lửa hút một mình.

Khói thuốc bay lơ lửng trong phòng. Qua làn khói, khuôn mặt người đàn bà trở nên mơ mộng, dễ thương. Chị ta đang nghĩ về hai người đàn ông mới gặp chiều hôm qua ở Sài Gòn qua lời giới thiệu của chủ quán Hoàng Hoa:

- Đây là anh Năm và đây là anh Bẩy và xin giới thiệu với hai anh: đây là Út Mai, em gái rất đáng tin cậy của tôi! Ta làm quen với nhau đi! Xin chúc mọi công chuyện làm ăn xuôi sẻ...

Bốn người cụng ly, bia ngoại và tái dê làm cho cuộc hội ngộ ban đầu trở nên rôm rả.

Khi bà Mai Hương, chủ quán Hoàng Hoa rút đi còn lại ba người, câu chuyện làm ăn mới bắt đầu. Năm Phượng Hoàng vào đề trước:

- Tôi và chú Bẩy rất hân hạnh được gặp cô Út Mai hôm nay. Có lẽ khỏi phải tự giới thiệu dài dòng, qua lời kể của chị Mai Hương, cô Út đã hiểu chúng tôi rồi. Chuyện làm ăn chỉ có ba người chúng ta đây. Có thể nói là cuộc gặp hôm nay là “Chuyện kết nghĩa vườn đào thời Tam Quốc”. Theo lứa tuổi, tôi là anh cả, chú Bẩy là thứ hai và Út Mai là thứ ba. Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao! Chúng tôi đang cần một người sắm vai Nữ tướng. Út Mai làm được việc đó. Ta sẽ đi ngay ngày mai...

Út Mai nhập cuộc rất nhanh:

- Em với chị Mai Hương là chị em chí cốt. Lại gặp các anh, em tin là ba anh em ta sẽ làm nên công chuyện. Các anh giao việc gì em cũng làm, làm hết mình!

Bẩy Sầu hỏi:

- Út Mai thuộc đường Bảo Lộc - Đà Lạt chứ?

Út Mai cười:

- Lâm Đồng là “giang sơn” của em thời trước đó! Đường đi, lối lại, em thuộc như lòng bàn tay.

- Thế thì tuyệt quá!

Năm Phượng Hoàng gật gù:

- Vậy thì em Mai có thể đi trước làm tiền trạm và đón bọn anh lên ở đâu nhỉ?

 Út Mai nói ngay:

- Ở nhà hàng du lịch Bảo Lộc, lầu 2, phòng số 202!

-  Sao lại hẹn trước cả số phòng?

- Căn phòng 202 là phòng em thường ở, nếu có khách thì nhà hàng vẫn phải nhường cho em, vì em “boa” cho mấy con nhỏ rất đẹp! Có tiền mua tiên cũng được, huống chi là một phòng trọ ở hotel!

Năm Phượng Hoàng càng phấn chấn:

- Khá lắm! Em thật xứng danh “nữ kiệt”! Vậy thì em cầm chiếc túi này, trong đó có đủ các thứ em cần.

Út Mai đón chiếc túi du lịch nhỏ mầu xanh từ tay Nam, mở ra xem: một lưỡi dao găm sáng loáng và một gói giấy bạc mới cứng.

Năm Phượng Hoàng hỏi?

 - Được chưa? Năm trăm ngàn và một vũ khí tự vệ?

Út Mai càng tươi tỉnh, nhìn hai gã đàn ông nói một tiếng:

- “ Ô kê!”

- Đó! Em thuê xe du lịch đi ngay chiều nay, lên đó, em thuê trước cho bọn anh một phòng 203 hoặc 204 gì đó. Chiều mai, chậm nhất là 5 giờ, anh sẽ gặp em ở Bảo Lộc!

Ba người chia tay.

Đợi cho hai gã đàn ông đi khuất, Út Mai mới gọi Mai Hương:

- Hai tên này chịu chơi lắm. Chúng nó đưa trước cho em năm trăm ngàn, em xin biếu chị một trăm ngàn. Khi em quay về đây, sẽ có quà lớn hơn nhiều. Mai Hương nhận tập giấy bạc một trăm ngàn:

- Hai tên này là hảo hán giang hồ, bao giờ chơi cũng đẹp! Còn em, chị biết em có chịu thua kém ai bao giờ!

Mai Hương càng hiểu thấm thía thân phận đắng cay của mình: lấy chồng Pháp, rồi chồng Mỹ, toàn là cánh nhà binh. Họ đi cả rồi, để lại Mai Hương với tiệm rượu Hoàng Hoa khi tuổi đã năm mươi, tuổi xể chiều rồi. Còn Út Mai, cô gái nhẩy lừng danh một thời trước ngày 30-4-1975, cũng đã ở tuổi bốn mươi. Phải dựa vào nhau mà sống “cái lẽ đời nó là như thế, có phải không chị?” Chỉ có những người cùng cảnh ngộ mới biết thương nhau. Trong giới giang hồ, Mai Hương, Út Mai được bọn đàn em kính nể và mặc nhiên trở thành Nữ Hoàng từ mười lăm năm nay...

Khác với bọn đàn em, Mai Hương và Út Mai chỉ tham gia từng phi vụ. Xong một phi vụ, lãnh trọn gói đôi ba triệu đồng rồi “cắt đuôi” ngay, sòng phẳng và dứt điểm mới không gây hậu quả xấu. Phi vụ nào không bí mật, không an toàn tuyệt đối thì đắt giá mấy cũng không ham. Đôi khi vì đại nghĩa”, hai chị em sẵn sàng ném cho chiến hữu bạc triệu cũng không tiếc.

Phi vụ này được ngã giá là mười triệu đồng và sẽ thực thi trong vòng một tuần lễ. Mai Hương nói với Út Mai như vậy và Út Mai hăng hái nhập cuộc.

***

Út Mai ngồi chờ không lâu. Mười lăm giờ mười lăm phút, chiếc xe Toyota mầu trắng đã đưa hai “du khách” đến. Năm Phượng Hoàng và Bẩy Sầu âu phục chỉnh tề xách hai cặp da đen bước vào nhà hàng du lịch Bảo Lộc.

 - Xin lỗi, mình đến trễ mất mười lăm phút.

 Tay bắt, mặt mừng, Út Mai nói với hai chiến hữu:

- Em tin là hai anh sẽ đến, sớm muộn mười lăm phút là chuyên bình thường. Xin mời hai anh đăng ký ở phòng 203, em đã dặn em bé thường trực kia.

 Mấy phút sau, tại phòng 203, Út Mai hỏi:

- Có cái đuôi nào bám theo xe của hai anh không?

- Không thể có được! Bảy Sầu nói.

- Vì sao anh dám bảo đảm chắc chắn như vậy?

- Vì bọn anh từ hai điểm cải trang đi đến điểm hẹn và lại cải trang lần thứ hai, ra đường vẫy một chiếc xe Toyota lên đây. Anh trả nó hai trăm ngàn. Nó khoái quá, đi rồi.

- Còn em, sẽ sắm vai gì ở đây?

- Vai mệnh phụ, vai phu nhân, hoặc vợ một nhà doanh nghiệp cỡ bự cũng được. Em tạm thời cặp bồ với Bẩy Sầu khi giao tiếp với khách buôn đá quý, còn anh sắm vai một ông anh cả, một ông chủ tiêu tiền như rác, chi không cần đếm cho chúng nó hoảng. Ta sẽ đóng vai là “khách ở Sài Gòn lên lùng mua kim cương với giá cao” để thu hút mấy thằng lái buôn cũng từ Sài Gòn lên Đà Lạt mua gom. Anh đã hẹn với chúng nó ở đây. Khi đã gặp nhau rồi thì tha hồ nói chuyện. Tùy cơ ứng biến, hai em cứ đóng vai vệ tinh đi tháp tùng với anh là được. Ta tự giới thiệu với chúng những cái tên “Anh Năm”, chủ Bẩy và cô Út là đủ.

Út Mai hỏi Năm Phượng Hoàng:

- Khách của anh hẹn bao giờ sẽ tới?

- 10 giờ sáng mai. Vì thế ta còn có cả buổi tối nay vui chơi giải trí ở đây, và nửa buổi sáng mai nữa. Cứ ung dung, thời gian sẽ ủng hộ chúng ta. Bây giờ xin mời hai em đi ăn bữa cơm chiều rồi ta sẽ đi xem Video ở rạp BLao, hôm nay có phim chưởng Hồng Kông, phim “Cướp Nhà Băng”, xem được chứ!

Bẩy Sầu nhìn Út Mai:

- Cô Mai ưng đi coi phim chứ?

Út Mai thản nhiên:

- Ở đây, em đã ở dưới quyền chỉ huy của anh Năm, anh Bẩy rồi. Lẽ nào em lại không ưng?

Đôi mắt sắc của người đàn bà sáng long lanh trên khuôn mặt đoan trang, quý phái.

***

10 giờ sáng hôm sau.

Thị trấn Bảo Lộc sáng bừng lên trong nắng ấm. Từ đây lên Đà Lạt, du khách có thể phải mặc áo ấm được rồi. Trong phòng khách nhà hàng Du Lịch, Năm Phượng Hoàng, Bẩy Sầu và Út Mai ngồi uống trà, hút thuốc, đợi chờ khách đến từ Đà Lạt.

Năm Phượng Hoàng phổ biến:

- Khách hàng của ta hôm nay là ông bạn người Hoa có tên là Lâm Hoàng Lý, trạc năm mươi tuổi, mập, bụng phệ, mang kính gọng vàng xách va ly nhỏ, có một vệ sĩ đi kèm, tên vệ sĩ cao to, có râu quai nón dữ dằn, hắn vừa là bảo vệ, vừa là lái xe. Chiếc xe chở lão Lâm Hoàng Lý là chiếc Lađa mầu vàng có bốn chỗ ngồi.

Ba người đợi đến 10 giờ 30 phút thì chiếc xe Lađa mầu vàng xuất hiện. Năm Phượng Hoàng thân ra đón khách từ ngoài cổng. Gã dẫn hai người khách vào nhà hàng. Sau lời giới thiệu, Bẩy Sầu vui vẻ:

- Hôm nay, ba anh em tôi là chủ và hai anh là khách đó!

Sau một tuần trà thuốc, cả năm người kéo nhau lên lầu hai, Lâm Hoàng Lý và người lái xe ở phòng 206. Hai người “khách” được Năm Phượng Hoàng mời sang phòng trọ của mình.

Lâm Hoàng Lý mở túi du lịch, lấy ra một chiếc hộp đựng nữ trang bằng gỗ sơn mài. Lão mở hộp: hai viên đá quý sáng long lanh, một viên ánh lên mầu hồng ngọc, một viên ánh lên mầu xanh biếc. Lão nói:

- Y hẹn với các ông, tôi mang hai viên đá quý đã được sơ chế, nếu mài dũa thêm thì mầu sắc còn đẹp hơn nữa. Lão cũng không quên bầy lên bàn dụng cụ đồ nghề để thử đá: đèn pin soi đá, kính soi đá, cân tiểu ly và thước đo... Cuối cùng là một khẩu súng ngắn. Lão nói tiếp:

- Buôn loại hàng quốc cấm này, tôi phải có vũ khí để tự vệ và bảo vệ tiền, hàng, các ông thông cảm...

Năm Phượng Hoàng, Bẩy Sầu và Út Mai đều sáng mắt lên khi nhìn món hàng mà cả ba người cùng mơ ước, thèm khát. Năm Phượng Hoàng hỏi:

- Hôm qua ông nói giá hai viên đá quý này là sáu chục triệu phải không nhỉ?

Lâm Hoàng Lý gật đầu:

- Đúng thế. Quý ông có bớt thì chỉ chút ít thôi vì giá hàng đang lên, khách từ Cam-pu-chia sang Sài Gòn đón chờ mua nhiều lắm. Lại cả mấy anh tầu Viễn dương cũng đang đi mò.

Năm Phượng Hoàng nói với Út Mai:

- Cô Út kiểm tra chất lượng dùm anh đi nào!

- Dạ, để em xem...

Út Mai cầm các đồ nghề thử đá quý trong lúc Năm và Bẩy Sầu thản nhiên ngồi hút thuốc.

Lâm Hoàng Lý vẫn vui câu chuyện:

- Anh tài xế này là Tư Lâm đã đi với tôi năm chuyến rồi, đi đến nơi, về đến chốn, rất đáng tin cậy.

Tư Lâm nói để tự giới thiệu về mình:

- Con đường này đã yên tĩnh lắm, song chúng tôi cũng cứ phải cẩn thận đề phòng. Các ông mang nhiều tiền bạc mà đi xe đò thì coi chừng, nguy hiểm lắm.

Câu chuyện lai rai chung quanh việc mua bán càng trở nên thân thiết cho đến khi Út Mai đặt hai viên đá quý vào chiếc hộp sơn mài:

- Thưa các anh: hai viên đá quý này quả là hàng thứ thiệt, song em xin có ý kiến với bác Lâm: sáu mươi triệu thì hơi mắc đó. Theo em thì chỉ đến giá năm chục triệu thôi.

Lâm Hoàng Lý lắc đầu:

 - Bớt mười triệu thì hơi nhiều đấy.

Bẩy Sầu nói:

- Cô Út rành giá cả lắm đó. Xin nhường quyền định đoạt cho cô Út.

Lâm Hoàng Lý thu gom lại các thứ đồ nghề và cả hộp đá quỷ bỏ vào chiếc túi du lịch và nói:

- Xu hưởng giá cả ở Sơn Điền, ở Di Linh và cả Đà Lạt nữa là xu hướng gia tăng. Hai viên này nếu tháng trước thì chỉ năm mươi triệu thôi, nhưng hai tuần nay, khách Sài Gòn lên nhiều nên đẩy giá lên theo. Vàng cũng lên giá ba mươi hai, đôla Mỹ cùng lên giá tới bảy hai rồi kia mà, như vậy thì kim cương đứng giá sao được. Các bác và cô Út mua ở đây thì giá ấy chứ tôi mang về Sài Gòn thì phải sáu lăm triệu là ăn chắc.

 Năm Phượng Hoàng nói với Lâm Hoàng Lý:

- Quý anh cho tôi suy nghĩ thêm chút nữa rồi sẽ xin phát biểu sau, được chứ?

- Được được, thoải mái, cứ thoải mái. Hai giờ chiều tôi mới về Sài Gòn kia mà.

Thế thì tốt quá. Bây giờ xin mời quý anh và anh Tư đi dùng bữa nhậu lai rai với tụi tôi đã.. .

- Sẵn sàng!

Bảy Sầu đưa gói thuốc mời hai bạn hàng mỗi người một điếu thuốc Samit.

Lâm Hoàng Lý và tài xế Tư Lâm nghĩ rằng các vị khách quý này đã trả tới giá năm mươi triệu thì họ sẽ trả hơn và chỉ cần trả tới giá năm lăm triệu là đã có mười lăm triệu đồng tiền lời, tương đương với năm cây vàng, lúc ấy có thể “ô kê” được rồi!

Cả năm người kéo nhau vào phòng ăn ở lầu I. Út Mai gọi cô gái chạy bàn:

- Đặc sản mười món, cả uống và hút, trọn gói hai trăm ngàn đồng, lẹ lên em!

Mười lăm phút sau, tiệc nhậu được bầy ra. Út Mai ngồi cạnh Lâm Hoàng Lý, nói thật nhẹ nhàng:

- Em xin làm chủ xị, xin mời anh Hai, anh Tư... trăm phần trăm để kỷ niệm cuộc trùng phùng hôm nay, mở đầu cho quan hệ làm ăn lâu dài...

Lâm Hoàng Lý tỏ ra lịch thiệp:

- Mai mốt về Sài Gòn, tôi mời cô Út và hai anh quá bộ đến tiệm vàng của tôi ở Chợ Lớn, ta sẽ lại lai rai.

- Ô kê! Ô kê!

Năm người cụng ly, vui vẻ như những người thân thiết từ lâu gặp lại sau nhiều ngày xa cách.

Hơn một giờ sau mới tan bữa tiệc linh đình, năm người kéo nhau lên lầu 2, trở về phòng riêng nghỉ trưa và hẹn nhau đúng ba giờ chiều sẽ tiếp tục “hội đàm” về giá cả.

Lâm Hoàng Lý nói với tài xế Tư Lâm:

- Bán xong chuyến hàng này, ta về Sài Gòn ít ra cũng là 8 giờ tối. Chạy cho ngon, nghe! Tư Lâm hoan hỷ:

- Ông chủ cứ yên tâm!

Ba giờ chiều, mọi người đều trở dậy và tụ hội ở phòng số 204.

Út Mai gọi năm hộp bia ngoại từ lầu I mang lên. Năm Phượng Hoàng ném ra bàn gói thuốc lá Samit:

- Xin mời quý anh.

- Xin mời!

Bẩy Sầu lên tiếng trước về giá cả:

- Bác Lý và anh Tư Lâm thông cảm cho tụi tôi nhé: tôi thay mặt cho anh Năm và cô Út xin trả bác đủ năm lăm triệu là hết giá rồi đó. Nếu có thiệt thòi chút đỉnh thì bác cũng vui lòng cho để ghi lại một mối duyên kỳ ngộ, được chưa nào?

Lâm Hoàng Lý chỉ đợi có thế, lão chìa tay ra nắm chặt tay Bẩy Sầu rồi lần lượt bắt tay Năm và Út Mai:

- Ô kê! Ô kê!

“Chủ” và “khách” cùng uống bia, hút thuốc. Năm Phượng Hoàng vẫn làm bộ hồ hởi:

- Quý anh ưng lấy tiền Việt Nam hay Đôla Mỹ nào?

Lâm Hoàng Lý tỏ ra dễ dãi hơn:

- Tiền nào cũng được. Về đến Sài Gòn là tôi lại chuyển hóa thành vàng lá Kim Thành hết cả thôi mà. Vàng đang lên giá. Chậm giờ nào, thiệt giờ ấy cho nên phải thu gom ngay buổi sáng mai...

Mỗi người uống mới hết nửa ly bia và hút chưa hết điếu thuốc Samit thì... ô hay, hai vị khách quý là Lâm Hoàng Lý và Tư Lâm lại thấy buồn ngủ rũ ra.

Nhìn vào đôi mắt của hai vị khách đang là chủ nhân của hai viên đá quý, Út Mai đưa mắt cho Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng như thầm nói: “họ trúng kế Khổng Minh rồi!”.

Hai tên tướng cướp cùng cười:

- Cô em thiệt giỏi! Năm phút nữa thôi, ta sẽ mời hai vị khách quý cùng... yên giấc! Nói vừa dứt câu, Năm Phượng Hoàng đã thấy hai con mồi cùng gục xuống bàn, hơi thở khò khè: họ đã trúng độc từ hai điếu thuốc lá Samit “đặc hiệu” mà không hay biết gì cả.

Hai tên tướng cướp đứng lên xốc nách hai “ông bạn vàng” đặt lên giường. Hai tấm thân nặng nề đã mềm nhũn ra, được đặt nằm song song. Bốn con mắt đã nhắm nghiền cả lại, hơi thở vẫn đều đều

Năm Phượng Hoàng khoát tay ra lệnh cho hai tên đàn em:

- Lẹ lên! Lấy hết giấy tờ, tiền bạc và cả hai chiếc túi du lịch kia. Ta đóng cửa phòng này lại, giả vờ đi dạo phố rồi vẫy xe về Đà Lạt. Hai vị này ít nhất sẽ “ngủ” đến tối mới tỉnh dậy khi nhà hàng đi trình báo công an thì đã tối mịt rồi. Lúc ấy ta đã ở khách sạn Duy Tân rồi! Nào ta đi!

Hai tên tướng cướp và mụ đàn bà khóa trái cửa phòng, ung dung xuống lầu I, rồi lại xuống tầng trệt, gửi chìa khóa phòng trọ cho cô thường trực, đường hoàng ra cửa, thả bộ đi dạo, nói cười vui vẻ.

***

Phi Nga về đến phòng làm việc của đại tá Hồng Quang thì trời đã khuya. Cô biết đại tá đang nóng lòng chờ đợi.

- Nga! Cháu về thật đúng lúc, kịp thời. Mới có 10 giờ tối thôi mà! Nhưng cháu đã ăn uống gì chưa?

Phi Nga đặt cái túi dết nhỏ xuống bàn:

 - Dạ, thưa chú cháu đã ăn quà dọc đường rồi ạ.

- Được, phải ăn cái gì cho ấm bụng rồi mới có sức mà làm việc được chứ. Ăn phở hay ăn cơm?

- Dạ, cháu ăn phở.

Đại tá đưa tận tay cô gái một ly cà phê sửa nóng mà ông vừa mới pha.

- Chú biết thế nào cháu cũng về kịp trước 10 giờ đêm nên chú đã pha sẵn cho cháu ly cà phê sữa này. Uống đi rồi nói cho chú nghe cháu đã làm thế nào mà lại để hai thằng tướng cướp ấy chuồn đi đâu?

Nụ cười trên môi đại tá làm cho có đội trưởng trinh sát càng lo lắng về trách nhiệm của mình.

- Dạ, thưa chú, cháu để anh X.5 ở lại nắm tình hình ở Suối Cạn, Suối Ngọc, Hang Ma. Ở đó tương đối yên tĩnh. Nhân dân tiếp tục đào đãi kim cương, không có bóng dáng một tên cướp nào nữa sau khi ta tóm gọn Ba Râu, Tư Sứt, Thị Lan và mụ Hai chủ quán... Cháu và Văn Sinh trở về Đà Lạt để truy nã hai tên Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng thì đột nhiên lại xẩy ra vụ cướp ở Bảo Lộc sau khi chúng dùng thuốc gây mê để tước đoạt tiền bạc, hành lý và hai viên đá quý của Lâm Hoàng Lý và tài xế Tư Lâm.

- Cháu đã về Bảo Lộc giải quyết vụ này ra sao?

- Dạ, thưa chú, sau khi nhà hàng phát hiện vụ này đã trình báo công an và chính quyền địa phương. Khi cháu và Văn Sinh đến hiện trường thì hai đối tượng này đã tỉnh hẳn. Theo lời khai của Lâm Hoàng Lý thì ông ta từ Sài Gòn lên Di Linh mua được hai viên đá quý, viên ngọc mầu hồng nặng 50 gam, viên mầu xanh biếc nặng 45 gam. Giá mua hai viên ngọc này đã là bốn mươi triệu. Ông gặp khách mua trả giá tới năm mươi triệu, chưa kịp bán thì gặp tên Năm, đến nay ông mới biết nó là Năm Phượng Hoàng, tên tướng cướp đang có lệnh truy nã và tên Bẩy tức Bẩy Sầu. Hẹn gặp nhau 10 giờ sáng hôm qua ở Bảo Lộc, đi theo hai tên cướp còn có một mụ đàn bà có tên là “cô Út” cũng là đồng bọn, ông Lâm Hoàng Lý mất cảnh giác, được chúng nó mời ăn uống no say và bị đầu độc bằng hai điếu thuốc lá Samit có tẩm một thứ thuốc bột gây mê rất công hiệu. Công an địa phương đã kiểm nghiệm, phân tích và xác minh cụ thể, sau đó lập hồ sơ báo cáo về tính để xử lý. Cháu đã sao chụp lại toàn bộ hồ sơ gồm biên bản kiểm tra hiện trường, lời khai của hai người bị hại, của các nhân chứng ở nhà hàng và biên bản kiểm tra sức khỏe hai nạn nhân của bác sĩ pháp y…

- Hai tên cướp đã chạy trốn về hướng nào?

- Dạ, nhà hàng cho biết cả hai tên ấy và mụ đàn bà đã đi khỏi khách sạn lúc 15 giờ 30 phút và không ai biết chúng đi đầu bằng phương tiện gì vì ai cũng vô tình và tưởng rằng chúng là người lương thiện...

- Giấy tờ chúng gửi lại nhà hàng ?

- Dạ, có ba chứng minh nhân dân đều mang những cái tên khác và cả ảnh cũng khác với diện mạo thật của chúng.

- Tại sao nhà hàng vẫn cho thuê phòng trọ?

- Dạ, thưa chú, vì chúng diện rất sang, chi tiền rất sộp nên cô thường trực không hề để ý so sánh giữa ảnh với người thật. Mấy cô này chỉ cốt thu đủ tiền là coi như đã làm tốt công việc của mình.

Đại tá Hồng Quang trầm ngâm suy nghĩ, một lúc sau mới lại hỏi:

 - Cháu có dự đoán hướng đi của chúng nó không?

- Có thể chúng về Sài Gòn.

- Vì sao?

- Dạ, vì hôm trước chỉ có hai tên cướp, nay lại có thêm một mụ đàn bà, có thể là người Sài Gòn.

-  Chúng cũng có thể quay lại Đà Lạt, Di Linh làm luôn một vụ cướp đường nữa thì sao?

- Dạ, tất cả các khách sạn đều đã được kiểm tra không có dấu vết gì của chúng.

- Chúng lại chui vào rừng ngủ hoặc một nhà dân nào đó thì sao?

- Dạ, xin chú cho cháu ba ngày để lần theo dấu vết bọn này...

- Chú đồng ý, nhưng cháu không thể đi một mình. Chú sẽ cử Văn Sinh đi với cháu. Cải trang hoàn toàn khác trước. Mang theo súng tốt và đủ đạn để có thể chiến đấu quyết liệt. Nếu cần có thể bắn hạ tại chỗ, song nếu bắt sống được vẫn tốt hơn vì ta cần khai thác để bắt hết lũ tay chân của nó và thu hồi tài sản trả cho người bị hại, cháu nhớ chưa?

- Dạ, cháu nhớ rồi.

Đại Hồng Quang đứng lên, đi đi lại chung quanh bán làm việc, bất chợt ông đứng lại và nói với Nga:

- Công việc của chú, của các cháu luôn luôn khẩn trương, bí mật, bất ngờ, nguy hiểm, gian nan. Xóa số băng cướp này quả thật khó khăn. Có hai hiện tượng mà các cháu cần quan sát: một là bọn cướp có thể lại xuất hiện ở Sơn Điền, hai là chúng bỏ rừng, núi và lại bám sát bọn buôn lậu và cướp dọc đường như chúng vừa thách thức chúng ta đấy. Kim cương, đá quý là tài sản của Di Linh đồng thời lại là tài sản chung của quốc gia. Việc khai thác ở đó còn tự phát, còn lộn xộn nên còn để xẩy ra thất thoát. Sắp tới Nhà nước ta sẽ phải tổ chức khai thác quy mô hơn. Trong bước quá độ như hiện nay, lẽ nào ta lại để tài sản quý hiếm này cứ tự do chảy ra nước ngoài? Bằng mọi giá, phải xóa sổ bằng được băng cướp “Phượng Hoàng”. Cháu và Văn Sinh hãy mau chóng triển khai kế hoạch... Điều quan trọng bậc nhất là phải biết tự bảo vệ mình để khỏi xẩy ra thương vong vì chủ quan khinh địch, vì lơ là mất cảnh giác.

Mỗi lời căn dặn của đại tá là một mệnh lệnh đồng thời lại là một lời nhắc nhủ thân tình làm cho Phi Nga vừa đau xót khi nghĩ đến lần thất bại ở quán mụ Hai, vừa phấn chấn khi bước vào cuộc truy kích hai tên tướng cướp.

Sau khi chuẩn bị hành lý gọn nhẹ, Phi Nga gọi dây nói cho Văn Sinh:

 - Anh Sinh! Em sẽ về Sài Gòn sớm mai. Anh đợi em ở công an phường 7 nhé!

Có tiếng Văn Sinh ở đầu dây nói đằng kia:

- Sẵn sàng! Có gì mới cho biết luôn nhé, nhất là ý kiến của chú Hồng Quang.

- Có chứ! Hẹn anh đúng 10 giờ nhé!

***

Con hẻm ở xóm Bàn Cờ dài hun hút. Ngôi nhà lợp mái tôn mang biển số 20 có hai cánh cửa khép hờ. Chủ nhân của căn hộ này là thím Sáu. Thím Sáu vừa đi bán hàng “la ghim” ngoài chợ nhẩm tính số lãi hôm nay được năm ngàn năm trăm đồng. Chưa kịp xếp tiền vào tủ thì đã có tiếng gõ cửa “cạch, cạch”...

- Ai đó?

- Dạ, em đây!

Một gã thanh niên đầu tóc bù xù, áo quần dơ bẩn, mặt mày lem luốc ló đầu vào.

- Thưa chị, có phải chị là chị Sáu?

Thím Sáu ngỡ ngàng:

 - Chú là ai? Ở đâu về đây, hỏi tôi có việc gì?

Gã thanh niên bước hẳn vào trong nhà:

- Dạ, thưa chị em là Tám ở Lâm Đồng về, em có mang về cho chị bức thư của anh Tư Sứt gửi cho chị...

- Anh Tư? Chú cũng quen anh Tư?

- Dạ, anh Tư mới bị bắt, bị giam cùng với em. Em mãn hạn tù được về nơi ở cũ ở Đồng Nai, em ghé qua đây theo yêu cầu của anh Tư, chuyển thư này cho chị...

Thím Sáu nhận phong thư và rót nước mời gã thanh niên:

- Mời chú ngồi uống nước rồi kể tôi nghe chuyện của anh Tư..

- Dạ, chị cứ đọc bức thư này rồi em sẽ nói thêm mà…

 Thím Sáu đọc mấy dòng chữ viết vội của chồng:

Em Sáu!

Tôi mắc cạn rồi, chắc chắn là sẽ phải ở tù năm mười năm. Chú Tám sẽ nói chuyện của tôi cho em nghe. Nếu có hoàn cảnh và có tiền dư thì em lên thăm nuôi tôi theo địa chỉ chú Tám kể cho em nghe. Nếu nghèo quá thì khỏi phải thăm nuôi. Gửi thư cho tôi cũng được.

Nhớ em nhiều!

Tư Sứt

Thím Sáu gập lá thư:

- Chú Tám kể đi, tôi nghe đây!

- Anh Tư Sứt theo Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng lên Di Linh tính chuyện làm ăn. Sau mấy vụ cướp ở Sơn Điền, có hai người trong băng cướp bị công an bắt, đó là Ba Râu và anh Tư Sứt. Còn hai anh Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng thì trốn về Sài Gòn. Anh Tư Sứt nhờ em nói với chị là chị nên giúp đỡ các anh ấy nếu các anh ấy về đây...

Thím Sáu cắn mỗi suy nghĩ. Khuôn mặt sầu não của người đàn bà như co dúm lại. Thím Sáu nói bằng giọng thiểu não:

- Tôi làm ăn cũng chặt vật lắm. Buôn bán bấy giờ khó khăn quá, biết lấy gì mà đi thăm nuôi anh Tư được? Còn anh Bảy, anh Năm nếu về qua đây thì có rau ăn rau, có mắm ăn mắm...

Gã thanh niên nói ngay:

- Cái ăn, cái uống thì chị khỏi lo. Các anh ấy còn có tiền bạc chứ. Ý anh Tư muốn nói rằng nếu hai anh ấy về đây cần ở lại tạm trú thì gắng lo dùm để che mắt công an ít ngày thôi mà.

Thím Sáu như vỡ lẽ ra:

- À thế thì được! Trong lúc khó khăn, cái gì có thể giúp được thì tôi đâu có ngại. Chú ăn cơm chưa? Ở đây ăn bữa cơm rau với chị nhé. À mà chú sẽ về đâu hôm nay?

- Dạ em về Biên Hòa. Đi tù về chưa biết sẽ sống ra làm sao đây? Lại làm nghề bốc vác hay chạy mánh mung?

Thím Sáu tỏ vẻ ái ngại:

 - A, xin lỗi, tôi chưa hỏi chú, chú đi học tập cải tạo về tội gì đó?

- Dạ, tội chụp giựt chị ạ. Em bị phạt tù ba năm, ở được hai năm thì được giảm án một năm, thế là em về.

- Vợ con chú ra sao?

- Em chưa có vợ, chỉ có ba, má và một chị gái với bẩy anh em trai, ba má em nghèo quá, mà...

- Ở đây ăn với chị bữa cơm rau rồi chị cho em vài ngàn, đi cắt tóc đi, ai lại để tóc tai bù xù như thế kia, bao giờ...

 - Dạ.

Gã trẻ tuổi có tên là Tám ngồi xuống chiếc ghế sắt cũ kỹ, lúc này gã mới nhìn kỹ khuôn mặt khắc khổ của vợ Tư Sứt rồi lại nhìn chung quanh: tiện nghi sinh hoạt chẳng có thứ gì đáng tiền. Gã than thở:

- Sao chị em mình nghèo quá, cực quá chị ơi!

- Chịu vậy chứ biết làm sao bây giờ? Chị cũng khuyên em từ nay đừng có dại dột, phạm pháp thì lại khổ. Chị cũng thương anh Tư lắm nhưng chẳng làm gì được mà cưu mang anh ấy...

Ăn bữa cơm với thím Sáu, Tám xin phép xong thím để ra về. Gã lững thững đi trên hè phố, đăm chiêu, tư lự.

Hai ngày sau, Tám lại đến thăm thím Sáu, gã lắc đầu:

- Em đến thăm mấy thằng bạn cũ, đứa nào cũng nghèo xơ xác vì không có việc làm, chạy mánh mung kiếm ăn qua ngày...

Thím Sáu chép miệng:

 - Thời buổi này đâu có dễ kiếm việc làm! À tôi hỏi chú việc này nhé: có phải anh Tư nhà tôi bị hai thằng Năm Phượng Hoàng và Bẩy Sầu trói rồi bỏ ngoài bìa rừng cho công an bắt đi phải không chú?

- Sao chị biết chuyện đó?

 - Vợ Ba Râu hôm qua đến đây chơi. Mụ ấy nói Ba Râu bị công an bắt, bị tù cùng với Tư Sứt, đã viết thư nói thế mà!

- Dạ, em cũng nghe anh Tư nói qua loa về việc ấy. Nhưng em cho rằng Bẩy Sầu tham lam, ghen ăn tức ở đó thôi chị ạ. Năm Phượng Hoàng thì vẫn tốt.

Thím Sáu vẫn còn giận dữ:

- Chúng nó đã ác như vậy thì chúng nó chả dám vác mặt đến đây đâu! Mà nó vác mặt đến đây thì tôi sẽ đập vào mặt nó cho coi!

Tám lắc đầu:

 - Thế thì có khi hai ông ấy chỉ dám đến nhà vợ Ba Râu thôi chị ạ. Đến đây thì ngượng mặt lắm.

 Thím Sáu khoe ngay.

- Có! Có đấy chú ạ. Vợ Ba Râu nói rằng hai thằng này lại đi cặp bồ với một con điếm nữa kia, cùng đến nhà vợ Ba Râu mà...

Tám bật cười:

- Con điếm nào thế chị?

- Nghe nói con này ăn diện ngất trời, cũng xấp xỉ bốn mươi tuổi rồi. Nó là con bán bia ôm ở quán cà phê của mụ Lan Hương ở đường 3 tháng 2, tên nó là con Út Mai, quán có tên là quán Hoàng Hoa,

- Út Mai?

- ừ, Út Mai. Chú có quen nó à?

- Ngày xưa mụ này ở Biên Hòa em có biết. Mụ ấy có nhan sắc, nay lại về quán của mụ Mai Hương, quán ấy tha hồ hốt bạc...

Thím Sáu vẫn chưa nguôi giận hờn:

- Chúng nó ác quá, hại người thì sẽ bị người hại cho mà coi! Chú có khi nào gặp ba đứa ấy, chú cứ nói dùm tôi: Tư Sứt nó sẽ trả mối thù này. Khôn hồn thì đừng vác mặt đến con hẻm này nữa!

Tám đành phải ừ ào cho thím Sáu bớt giận:

- Dạ, em sẽ nói theo ý kiến của chị nếu em còn gặp các “tướng” này.

***

Rời nhà thím Sáu, Tám gọi xích lô lên đường 3 tháng 2. Gã tìm đến quán Hoàng Hoa của chủ quán Mai Hương.

Quán Hoàng Hoa đang đông khách. Tám tìm được một bàn và hai chiếc ghế còn bỏ trống. Tám cũng biết: với bộ quần áo lấm lem và bộ mặt chán đời, đầu tóc bù xù của mình thì có lẽ chủ quán cho rằng mình chỉ là dân thất nghiệp nên anh rút ra một tập giấy một trăm ngàn đồng gồm toàn loại bạc năm ngàn đồng. Quả nhiên chủ quán kính nể ngay và một cô gái sà ngay vào bàn của Tám, đôi mắt đong đưa:

- Anh dùng bia hay rượu?

- Bia lon và tái dê?

Mười phút sau đĩa tái dê và hai lon bia đã được đặt lên bàn. Cô gái chờ đợi ý kiến của khách. Tám hiểu ý cô gái nên nói ngay:

- Em lấy cho anh một chiếc ly nữa và anh mời em uống luôn với anh cho vui, thêm hai lon bia nữa, nghe!

Cô gái “dạ” một tiếng ngọt ngào và gọi thêm bia. Cô cùng ngồi với khách.

Tám đợi cô gái mở hộp bia, rót đầy hai ly, gã cụng ly với cô gái:

- Anh nghèo nhưng vừa trúng mánh, có thể mời em uống vài lon bia. Anh đang buồn và chán đời đây... .

- Vì sao anh lại buồn?

- Vì người yêu phụ bạc!

- Thế thì về đây với em cho vui! Em sẽ làm cho anh hết buồn ngay mà!

Tám cười và nhìn thật sâu vào đôi mắt cô gái. Phấn son có làm tôn sắc đẹp của cô và làm cho cô trẻ thêm được mấy tuổi. Tám chú ý đến nhan sắc của cô, quả là đẹp nhưng sắc sảo quá, đáng sợ nhất là đôi mắt sắc và đôi môi lúc nào cũng có vẻ “hận đời”. Gã hỏi một câu lơ lửng:

- Anh xấu xí như thế này, làm sao mà lọt vào mắt xanh của em được?

Cô gái khoác ngay cánh tay trần lên vai Tám:

- Anh đẹp trai chứ! Anh lại mang nhiều dấu vết của gió bụi, phong sương. Con trai là phải như vậy! Em rất ghét mấy cha công tử bột, ngu ơi là ngu! Anh về đây, em sẽ đưa anh đi sắm một bộ bò Thái Lan, thứ “xịn”, anh sẽ trở thành người hùng ngay mà!

Tám ngập ngừng:

- Để anh suy nghĩ thêm. À mà em chưa giới thiệu tên em?

- Em tên là Mai, Út Mai! Còn anh?

- Tên em rất đẹp, đẹp như người em vậy. Tên anh mới thật xấu xí, tên anh là... Danh, Tám Danh!

- Danh là hay rồi, danh vọng này, lừng danh này... Ô kìa, anh uống đi chứ, cứ nhìn em hoài thôi! Nào trăm phần trăm nào!

Bốn lon bia và đĩa tái dê đã hết veo.

Tám Danh hỏi thêm:

- Em làm ở đây, bà chủ trả bao nhiêu?

- Ăn hai bữa và mỗi ngày mười ngàn, chưa kể tiền “boa” của khách.

- Anh sẽ trở lại đây nếu em thấy anh nên trở lại...

- Rất cần trở lại đây anh ạ. Ngày mai, em sẽ đưa anh đi mua một bộ đồ “xịn”, được không?

- Được!

Khi đứng dậy ra về, Tám Danh đã ném ra cả năm mươi ngàn và nói:

 - Em thanh toán dùm anh, còn dư bao nhiêu là tiền boa của em!

Út Mai cầm tập giấy bạc, nhìn Tám Danh bằng một cái nhìn cảm phục, cô nói nhỏ vào tai gã con trai:

- Cưng của em đừng quên em nhé, nghe cưng!

***

Sau một tuần đi lại, Tám Danh đã trở thành khách chịu chơi ở quán Hoàng Hoa. Bộ bò Thái Lan làm cho Tám Danh có dáng khỏe và đẹp, hàng ria con kiến và nụ cười nửa miệng của gã càng làm cho gã thêm vẻ ngang tàng, bất cần đời.

Út Mai giới thiệu với bà chủ Mai Hương:

 - Anh Tám của em thường chơi hết mình, chơi đẹp lắm đó, chị ơi!

Mai Hương nghĩ thầm em cũng đã “chặt đẹp" rồi còn gì! Có điều gã có dám bao em lâu dài hay không? Đàn ông thường cả thèm, chóng chán!

 Út Mai khẳng định:

- Chị cứ tin ở tay nghề của em. Em sẽ làm cho Tám Danh không thể xa em được nữa.

Trong một phút say sưa, Tám Danh hỏi Út Mai:

 - Anh bao em, nhưng bồ của em đánh ghen thì sao?

Út Mai cười rộ lên:

 - Anh nói chi mà kỳ vậy? Bồ là bồ chứ đâu phải là chồng! Ông nào chỉ có dấu hiệu ghen tuông thì em đuổi liền! Em đâu có thiểu tiền? Thích ai thì cặp bồ cho vui thôi, không có ai ràng buộc được em, chơi đẹp thì bền, chơi xấu thì a lê hấp, em... chặt ngay! Em không lấy chồng cũng vì thế.  Ối! Câu chuyện chỉ non, thề biển đối với em đã thuộc về quá khứ xa lắc, xa lơ rồi! Đàn ông các anh đã làm cho em mất hết niềm tin, bây giờ chỉ còn lại nơi em một sự trống vắng, cho nên em cần có bạn hiểu em để đi chơi nói chuyện lai rai đỡ buồn mà thôi!

Tám Danh phải nói một câu đưa đẩy:

- Đó là một quan niệm sống của em. Với em, anh có thể đi cùng em một chặng đường dài…

- Em tin anh sẽ là người biết chơi đẹp! Ta hãy là bạn của nhau. Em không thiếu tiền, nhưng lại rất cần tiền. Chẳng biết anh có dám làm những phi vụ “động trời” để có thật nhiều tiền không?

Tám Danh thăm dò:

- Chẳng hạn như là...

Út Mai vẫn cười:

- Chụp giựt!

Tám Danh:

- Anh chưa từng làm, nhưng anh có thể ký những hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu có lời hàng trăm triệu…

-... mà vẫn an toàn?

- An toàn tuyệt đối! Các vị giám đốc có chữ ký và con dấu, anh có tài móc nối, làm những nhịp cầu. Quý vị nào muốn đi trên chiếc cầu nối ấy thì phải trả giá cho anh... Thế thôi, thật là đúng “luật giang hồ”!

Út Mai nhìn lại gương mặt của Tám Danh và hỏi:

- Anh có tài năng như vậy, tại sao anh lại chán đời như anh đã thổ lộ với em hôm anh mới đến đây?

- À cũng lại chuyện tình cảm bạn bè...

- Một cô bồ nào đó đã phụ bạc với anh?

- Cũng gần đúng như thế.

Út Mai lại cười rộ lên:

- Vì anh không theo cái “đạo" của em đó thôi. Cứ đi theo một cái bóng, cuối cùng là tan giấc mơ hoa phải không? Lại tuyệt vọng, lại chán đời, có thể lao vào rượu chè, ma túy!

Tám Danh gật gù:

-  Út Mai thông mình lắm và từng trải nữa! Thì  ra tôi vẫn còn khờ dại quá!

 Út Mai lơ lửng buông một câu:

-  Tùy anh nghĩ, nếu anh thấy đến quán Hoàng Hoa này mà anh có thể giải sầu được thì em xin mời. Ngược lại thì anh lại đi nơi khác, trên con đường vô định của thế gian này.

Tám Danh lắc đầu:

- Tôi sẽ không đi đâu hết, Chán rồi, mệt mỏi lắm rồi. Tôi chỉ đến đây thôi mà!

Út Mai cười khúc khích:

- Đừng có xạo đây nhé!

- Anh nói thật mà:

- Hãy tạm tin là anh nói thật. Phải có thời gian thể nghiệm, em chờ…

- Em sẽ không bị lầm lẫn đâu!

Trước lúc chia tay, Út Mai nói:

 - Anh Tám ghi địa chỉ cho em đi nào! Chẳng lẽ anh còn tiếc em nữa sao?

Tám Danh cầm bút ghi ngay vào một vỏ bao thuốc lá địa chỉ của mình và đưa cho Út Mai:

- Em cứ đến đây từ năm đến bảy giờ chiều, chiều nào anh cũng có ở nhà. Anh ở một mình ở lầu I, phòng số 5, hoàn toàn yên tĩnh và tự do.

-  Cám ơn anh, em sẽ đến...

***

Ông Lâm Hoàng Lý từ hôm bị cướp tài sản ở Bảo Lộc vẫn còn tiếc ngẩn, tiếc ngơ đến phát ốm suốt mấy tuần. Hôm nay ông nhận được giấy mời của cơ quan điều tra mời ông lên trụ sở công an phường 7 để tiếp tục làm rõ vụ án.

 Phi Nga vui vẻ tiếp ông và đưa ra một tấm ảnh chụp một người đàn bà và hỏi:

- Xin ông vui lòng cho chúng tôi biết: Ông có nhận ra người đàn bà này là ai không?

 Ông già nhìn kỹ tấm ảnh một lúc rồi nói như reo lên:

- Dạ, dạ, đúng nó đây rồi, thưa cô.

- Nó là ai?

- Thưa cô, con mụ này có tên là Út đi với hai tên cướp... Phải rồi, đúng nó đây rồi. Thưa cô, nó đã bị bắt rồi sao?

Phi Nga bình tĩnh:

- Nó sẽ bị bắt. Chúng tôi đã tìm được địa chỉ của nó ở Sài Gòn.

- Thưa cô, nó cùng dự bữa nhậu, rồi khi tôi và anh tài xế được mời hút thuốc thì sau ít phút là bị xỉu ngay, tôi không còn biết gì nữa. Khi tỉnh dậy, thì trời đã tối. Chúng nó đã xa chạy, cao bay...

Phi Nga nhận lại tấm ảnh để vào tập hồ sơ vụ án:

- Xin cám ơn ông và mời ông về nghỉ. Chúng tôi sẽ khẩn trương làm rõ mọi chuyện xung quanh người đàn bà này và hy vọng sẽ thu hồi lại tài sản cho ông. Có một yêu cầu của chúng tôi là: Ông phải giữ kín mọi chuyện, không nên nói với bất cứ ai thì mới có thể phá án mau được.

- Dạ, dạ, tôi cám ơn cô nhiều...

- Không có gì đâu, ông. Đây là nhiệm vụ của chúng tôi...

Không được phép hỏi lan man, song ông Lâm Hoàng Lý cũng thầm cảm phục những chiến sĩ công an, ông hy vọng...

***

Đợi cho ông Lâm Hoàng Lý đi khỏi, Văn Sinh mới bước vào phòng làm việc của Phi Nga:

 - Có đạt yêu cầu không, bạn?

Phi Nga mỉm cười:

- Mời anh ngồi đây, em nói cho anh nghe. Anh sắm vai Tám Danh giỏi quá! Bức ảnh anh chụp con mụ Út Mai làm cho ông già bị hại mừng đến ứa nước mắt. Ông ta xác nhận đây đúng là con mụ đã đi với hai tên tướng cướp. Em yêu cầu ông ta giữ kín mọi chuyện, ông ta về rồi. Bây giờ còn lại là việc của em và anh.

Văn Sinh xoa xoa cái cằm:

- Con mụ này đã tìm đến địa chỉ của tôi tại một gia đình cơ sở. Tôi cố gắng giữ vững khoảng cách giữa mụ ấy với tôi, không để nó “lấn sân” mình, có điều rất gay cho tôi là cặp bồ với mụ này tốn kém gay quá! Tôi phải cáo ốm để khỏi phải đi nhậu với mụ ấy. Cũng chưa có cách gì để khai thác mụ này, tìm ra dấu vết của hai tên kia. Phải hết sức khéo léo mới khỏi bị lộ. Ngược lại, mụ này cũng rất kín đáo, dễ gì nó để lộ đồng bọn?

Phi Nga tỉnh táo hơn:

- Anh giữ vững cự ly giữa ta và đối tượng như vậy là rất tốt. Em đề nghị anh nên lui tới hàng ngày hoặc bất chợt lại xuất hiện ở quán Hoàng Hoa, hãy kiên trì thêm một số ngày nữa để tìm cho ra đối tượng.

- Khó quá! Nếu nó không xuất hiện ở đây thì sao?

Phi Nga an ủi bạn:

- Thì ta phải gắng thêm. Anh Văn Sinh - à quên anh Tám Danh - anh có chịu thua ai bao giờ!

- Nga lại quá khen tôi rồi. Với mụ Út Mai, tôi xem ra cũng là một tay kỳ phùng địch thủ đó. Mặc dù vậy, tôi phải hết sức cố gắng…

- Khó quá đấy! Em đang suy nghĩ xem mối liên hệ giữa mụ Út Mai với hai tên kia ở thành phố này ra sao mà hai tên kia không xuất hiện?

- Nga cho tôi hai ngày để tôi trở lại Di Linh gặp “anh chàng bán báo” ở Sơn Điền và gặp đại úy Kỳ Nam xem sao? Sau đó ta mới có thể nhận định được về tung tích của hai tên đang bị ta truy kích...

- Anh ở lại đây thì hơn, quán Hoàng Hoa còn đó, không thể bỏ trống trận địa. Em sẽ về Di Linh và chiều chủ nhật sẽ quay lại đây. Anh nhớ trực điện thoại 12 giờ trưa hàng ngày ở đây nhé, em sẽ gọi về đây cho anh...

- Cũng được. Nga cứ yên tâm về Di Linh. Tôi ở lại đây bám trụ Hoàng Hoa...

***

Phi Nga về đến Di Linh thì trời vừa tối. Ăn một bát phở xong, cô đã tìm đến phòng làm việc của đại úy Kỳ Nam.

Kỳ Nam hỏi ngay:

- Lại bế tắc rồi phải không Nga?

Phi Nga cười:

- Cũng gần như thế. Như hôm qua, em đã điện cho anh: Văn Sinh mới phát hiện được mụ Út Mai, còn hai tên kia thì vẫn biến dạng!

- Có thể chúng nó không ở Sài Gòn mà lại chạy ra ngả Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết rồi...

- Vì sao vậy, anh?

- Hôm qua, ngoài Phan Rang - Tháp Chàm lại xẩy ra vụ cướp ở cây số 1401. Mục tiêu bị cướp là một xe ô tô chở khách từ Phan Thiết đi Nha Trang. Có hai tên cướp mặc áo quần bộ đội đi chiếc xe Suzuki mầu đen chặn chiếc xe đò khi xe đang chạy chậm. Một tên cao gầy dùng súng khống chế tài xế, phụ lái và bốn chục hành khách để cho tên thứ hai có dáng người mập hơn, thấp hơn tên kia lên xe lục soát lấy của bà con hơn hai triệu đồng tiền mặt. Chúng không lấy hàng hóa. Lấy xong, chúng bắn thủng một lốp xe bánh sau để nằm bẹp dí bên đường rồi chúng phóng xe quay ngược lại phía Phan Thiết và biệt tăm.

- Anh có đến hiện trường?

- Tôi được tin từ ngoài đó báo vào, đã tức tốc phóng ra Phan Rang, nghe đơn vị bạn thuật lại hình dáng hai tên cướp, song chưa khẳng định được rõ lắm, vì trong cơn hoảng loạn, tài xế chỉ nhớ được một tên cao, gầy, một tên mập, thấp, có thể là Năm Phượng Hoàng và Bẩy Sầu đó chăng? Chỉ biết rằng ở đây thì hết sức yên ắng, ở dọc quốc lộ 1A lại xẩy vụ cướp đường, có thể là hai tên ấy đã bỏ Di Linh, ra kiếm ăn ngoài đó. Tôi đã cử một mũi trinh sát ra ngoài đó, đón lõng, song vẫn chưa có tin tức gì. Nếu hai tên cướp ấy là hai đối tượng ta truy lùng thì chúng có thể về Phan Thiết hoặc lại về Sài Gòn rồi chăng?

Phi Nga ghi nhận từng câu nói của Kỳ Nam, một lúc sau cô mới nhận xét:

- Em không loại trừ khả năng hai tên cướp ấy lại là hai đối tượng ta đang truy lùng. Khổ một nỗi là địa bàn của chúng lại mở ra quá rộng, ta bám theo thì lại quá vất vả. Song biết làm sao khác được, phải không anh? Em sẽ quay lại Sài Gòn sáng mai bàn với Văn Sinh...

***

Chiếc xe Suzuki mầu đen dừng lại bên đường. Năm Phượng Hoàng và Bẩy Sầu xuống xe, xách theo một túi đồ ăn, ngồi xuống bãi cỏ.

Bẩy Sầu mở một tờ báo trải rộng ra làm một mâm ăn. Thịt gà, bánh mì, bia lon từ trong chiếc túi ni lông được lôi ra bầy trên tờ giấy báo.

Mỗi người một lon bia, khui ra và ngửa cổ uống ừng ực. Thịt gà luộc xé ra chấm muối trộn tiêu ớt nhai nhồm nhoàm.

Năm Phượng Hoàng vừa nhai, vừa nói:

- Ăn đi, uống đi rồi mỗi đứa mỗi nơi, mày có thể ra Đà Nẵng, tạo có thể lên Buôn Ma Thuột. Ăn tiêu vừa vừa thôi để sống được đến lúc yên ổn. Sau vụ vừa qua, chắc chắn hôm nay công an đang phát lệnh truy nã tao với mày rồi. Ở lại quanh đây sẽ bị sa lưới. Mày nhớ không? Hôm tao gặp một con nhỏ ở Đà Lạt, nó có tên là Hồng Ngọc đi với bồ của nó, giả vờ mua đá quý rồi lại không mua, tao nghi lắm, có thể là “cá chìm” đó. Rồi thằng Tư Sứt, mụ Hai và con Lan lần lượt bị tóm, chúng nó khai ra tao với mày rồi...

- Ta đi thì mấy thằng đệ tử sẽ sống ra sao?

- Chúng nó tùy nghi di tản rồi. Có thể chúng bỏ Di Linh về Đồng Nai, về quận 4 rồi.

 Sau bữa ăn vội vàng, Năm Phượng Hoàng giục Bẩy Sầu:

- Thôi, mày lên xe, tao đưa mày ra quốc lộ I để mày đón xe quá giang đi Đà Nẵng, còn tao, tao cưỡi chiếc xe Suzuki này đi Buôn Ma Thuật, nghe. Khi thật cần thiết hãy nhắn qua “em Mai” ở quán Hoàng Hoa. Hai viên đá quý cướp được của lão Lâm Hoàng Lý gửi “em Mai”, nó sẽ bán cho tụi tầu Viễn Dương, ta chia ba, cho nó một phần. Út Mai ngoan lắm, có thể tin cậy được!

- Tùy anh!

Mười lăm phút sau, Bẩy Sầu đã xách một túi du lịch đứng đón xe đò quá giang về Đà Nẵng, còn Năm Phượng Hoàng nhẩy lên xe Suzuki sau khi nói một tiếng “gút bai”!

Ngồi trên xe, Năm Phượng Hoàng nghĩ miên man đến những ngày vừa qua. Hắn cười đắc ý vì hai “phi vụ” đều trót lọt, ngon lành, chẳng để lại một dấu vết gì, hăm dọa và gây mê, chẳng hề phải hạ sát ai vì theo “kinh nghiệm nghề nghiệp” nếu gây ra án mạng chết người thì công an sẽ tập trung lực lượng truy bắt ngay nên khó thoát. Gã nhủ đồng bọn: “- Ta làm “lẹ lẹ” rồi rút êm, trong khi công an còn “nghiên cứu hiện trường” thì ta đã có đủ thời gian để cao chạy, xa bay rồi...”. Tiền, vàng, đồng hồ cướp được trong hai vụ cướp vừa qua, gã đưa cho Bẩy Sầu một phần ba làm vốn đi đường, còn hai phần ba, gã đút gọn vào túi. Vũ khí cũng chia đôi, mỗi tên giữ một súng ngắn và một băng đạn.

***

Khi Phi Nga trở lại Sài Gòn tìm đến Văn Sinh ở một gia đình cơ sở quận 5 thì vẻn vẹn có mấy dòng chữ Văn Sinh gửi lại:

Nga thân mến!

Tôi đến Hoàng Hoa có công chuyện rất cần. Hôm qua có một anh đến công an phường 7 tìm Nga, anh ấy tự giới thiệu với tôi: anh tên là Dũng bạn học cũ của Nga, hẹn chiều mai quay lại tìm Nga có việc gì đó!

“Văn Sinh”

Nga lẩm nhẩm một mình:

 - Dũng bạn học cũ là ai nhỉ? À, mình nhớ ra rồi, anh chàng “Dũng thi nhân” mơ mộng ngày y xưa... Chẳng hiểu anh chàng tìm ta có chuyện chỉ vậy, giữa lúc ta đang ngập đầu, ngập cổ vì công việc như thế này?

Phi Nga đành nghỉ lại ở cơ sở và đến tối, Văn Sinh đã trở về:

- Mình đến Hoàng Hoa, nói chuyện lai rai với Út Mai mà chưa đạt yêu cầu gì cả. Mất nhiều thì giờ quá!

Phi Nga hỏi:

 - Ông Dũng nào đến tìm em?

Văn Sinh làm bộ bí mật:

- Cứ khao anh em một gói Vinataba, anh em sẽ kể cho mà nghe: Anh chàng này khá điển trai, sinh viên kính trắng, mặt trái xoan, cao dong dỏng, ít nói và cười rất có duyên, nghĩa là...có đầy đủ sức hấp dẫn khiến cho Văn Sinh này cũng phải mê!

Phi Nga hơi lúng túng:

-  À, trước cùng học phổ thông với nhau, anh chàng này hay làm thơ nên được tụi em đặt cho cái tên “Dũng Thi Nhân”. Phải nói rằng tuổi học trò là cái tuổi đáng yêu nhất! Tuổi mơ mộng mà!

- Còn bây giờ?

- Bây giờ là cái tuổi người lớn, lo công chuyện rồi! Cái nghề của mình chỉ thấy nguy hiểm và gian nan. Ồ, mà lạ nhỉ, tại sao anh chàng lại biết em ở công an phường 7 mà tìm chứ?

Văn Sinh được dịp tò mò:

- Có trời mà biết được ai đã dẫn lối, đưa đường! Hãy cứ chờ xem!

Nga xua tay:

- Em dẹp hết! Dẹp hết! Ngoài công việc không thể có chuyện vui chơi lúc này!

Phi Nga nói thế song co lại thấy một niềm vui len lén trong lòng. Đã lâu, không còn nhận được thư của nhau, Nga chỉ nghe nói Dũng đã tốt nghiệp đại học mỏ-địa chất, ngược lại có lẽ Dũng cũng đã biết Nga tốt nghiệp đại học An ninh...

Và chiều hôm sau, y hẹn, Dũng đã quay lại công an phường 7:

- Xin chào Nga!

 - Ô kìa, Dũng !

- Phải rồi, “Dũng Thi Nhân” đây mà!.

- Hôm qua mình đi công tác về nghe anh bạn trực ban nói rằng có Dũng đến tìm. Chắc là có chuyện vui, mời ăn cỗ phải không? Vào đây, xin mới ngồi đây.

Phi Nga kéo ghế mời bạn. Dũng nói tiếp:

- Mình có một chuyện nhỏ thôi, phải nhờ đến Nga giúp đỡ...

- Được rồi, việc gì có thể giúp được thì Nga đầu có từ chối. Nhưng mà Dũng phải nói cho nghe: tại sao bấy lâu im hơi lặng tiếng thế?

- Thì dễ hiểu thôi: năm học cuối cùng phải “học gạo” lắm mới tốt nghiệp chứ. Ra trường, may sao lại được giao công tác ngay. Mình hỏi thăm bạn bè biết được Nga cũng đã tốt nghiệp đại học An ninh, mình rất mừng. Thế rồi…

- Rồi sao?

- Rồi quả đất tròn, mình về công tác ở Di Linh, lạ nước, lạ cái đến cái vùng đang náo loạn vì nạn đào đãi kim cương, lại có cả chuyện cướp bóc nữa mới dễ sợ...

Nga che miệng cười:

- Nam nhi mà sợ cướp ư?

Dũng nhún vai:

-  Thú thật là cũng sợ! Nhưng lại nghe bà con ca ngợi cô công an bắt cướp, hỏi huyện công an thì lại biết tên cô công an bắt sống tên cướp Ba Râu lại là…
Phi Nga. Mình phục lăn ra và quyết tâm đi tìm Người Đẹp. Hôm nay về thành phố họp, mình hỏi thăm mãi mới biết Nga đang làm việc ở đây...

- Phải rồi, nhưng mà mình có thể giúp bạn ở được việc gì chứ?

- Được rồi, sẽ nói, sẽ cảm phiền...

 - Uống nước đi đã nào! Rồi đọc cho nghe mấy bài thơ mới rồi nói gì thì nói.

Dũng uống nước và đặt ly xuống bàn:

- Thơ của mình là thơ thẩn ấy mà. Còn việc thì thế này: Cái nghề mỏ - địa chất của mình là phải tạm tính trữ lượng, tiềm năng đá quý ở Di Linh để báo cáo lên cấp trên đặt vấn đề khai thác.

- Hay rồi! Có cán bộ địa chất mó tay vào thì khai thác mới được, chứ để bà con đào, đãi bừa bãi thế này thì tài sản quốc gia sẽ chảy đi hết. Lại còn đâm chém nhau, cướp bóc, trấn lột cứ loạn cả lên. Công an đến vất vả vì chuyện săn bắt cướp, giữ gìn an ninh trật tự mấy tháng rồi mà chưa được...

 - Ngày mai mình sẽ lên Đà Lạt trình với Ủy ban tỉnh, đề nghị tỉnh giúp đỡ việc thăm dò địa chất ban đầu. Về mặt an ninh, không thể không có sự giúp đỡ của ngành công an từ tỉnh đến huyện và xã. Việc giải tỏa lều quán, dãn dân ở đâu về đấy, tổ chức tuần tra canh gác bảo vệ vàng kim cương, một vùng tài nguyên có giá trị lớn của đất nước...

- Được rồi! Cứ về Di Linh đi thôi, bắt tay vào thăm dò sẽ thấy kim cương, đá quý. À, xin hỏi bạn: đội khai thác của bạn có bao nhiêu người?

-À, đi tiền trạm đợt này mới có ba người. Tùy tình hình, sau này sẽ có thêm người...

Phi Nga cười hóm hỉnh:

- Chịu khó lên đi. Mình sẽ làm mai cho một cô gái Di Linh, đẹp người, đẹp nết...

- Thôi đi. Xin cảm ơn bạn, mình mới ra trường, hai bàn tay trắng, đâu dám mơ tưởng đến chuyện vô cùng rắc rối ấy!

- Trời ơi! Cứ làm như mình là một triết gia về tình yêu ấy...

Cả hai cùng cười. Nụ cười hồn nhiên như còn ở tuổi học trò mấy năm về trước.....

- Ngày mai mình có xe cơ quan về Sơn Điền đó... Dũng nói.

Phi Nga:

- Dũng cứ lên trước đi. Mình còn công chuyện ở đây ít ngày nữa. Dũng cứ hỏi ở công an huyện là gặp mình đó. Phải hỏi tên mình là Hồng Ngọc nhé!

- Hồng Ngọc!

Nga gật đầu:

- Phải rồi, Hồng Ngọc là bí danh mà!

Dũng nhắc lại như một điệp khúc:

- Phi Nga - Hồng Ngọc, cái tên thật đẹp, người đẹp Di Linh có khác.

- Thôi đi, đừng có bốc... Bệnh nghề nghiệp đó. Phá một vụ án, có khi phải đôi ba lần thay họ, đổi tên, kể cả thay hình, đổi dạng, có đâu đàng hoàng như kỹ sư địa chất hay là... nhà thơ lãng mạn!

Dũng cũng không chịu:

 - Điều quan trọng nhất là sau một ngày lao động hoặc sau một chiến dịch, ta lại trở về với cái ta cố hữu. Tôi có cảm giác như Nga vẫn là Nga nữ sinh ngày xưa.

- Thời gian sẽ làm cho mình già đi chứ ?

- Già dặn chứ không phải già nua đâu!

- Nhà thơ mới khéo nói làm sao! Dũng còn nợ một bài thơ đấy nhé!

- Về Sơn Điền, tôi sẽ đọc cho Nga nghe một bài thơ mới tặng… người đẹp Di Linh.

Niềm vui làm cho đôi mắt Phi Nga thêm sáng long lanh.

***

Quán Hoàng Hoa, buổi chiều thứ bẩy...

Suốt hai dãy bàn, khách đã ngồi gần kín hết. Chỉ còn lại hai bàn sát quầy phía trong còn bỏ trống, Chủ quán Mai Hương ngồi một mình hút thuốc lá trông coi cho bọn đàn em đang tíu tít mời chào khách.

Một chiếc honda P.C dừng lại trước cửa quán Hoàng Hoa. Từ trên xe bước xuống một cô gái mặc váy ngắn mầu đen. Cô hất mái tóc và tươi tỉnh vào quán. Chủ quán kêu lên khe khẽ:

- Kìa! Linh Chi! Em đi đâu mà biệt tăm thế?

Linh Chi, cô gái mới vào, bước đến bàn chủ quán:

- Chị! Em bận nhiều công chuyện nên phải xa Sài Gòn, hôm nay mới trở lại đây được...

- Uống gì nào?

- Chị cho em ly nước cam thôi, đang khát khô cả cổ đây...

Chủ quán vẫy Út Mai:

- Em cho chị hai ly nước cam!

Út Mai bưng hai ly nước cam đặt trước mặt Mai Hương và Linh Chi.

Mai Hương tươi cười:

- Uống đi em rồi kể cho chị làm ăn ra sao mà mất mặt bấy nay?

Linh Chi uống một nửa ly nước cam rồi nói chậm rãi, nói để đủ nghe:

- Em chạy thuốc lá! Sau vụ các cha bể mánh ở Củ Chi, ba trăm vị bị công an truy quét, em thoát được, thế là lại đổi cách đánh, đánh lẻ ăn chắc, phân tán nên vất vả hơn. Vất vả mà êm re!

Mai Hương hạ thấp giọng:

 - Hôm nay có mang cho chị không?

Linh Chi long lanh đôi mắt:

 - Có chứ! Em đang có hai mươi cây Hero bỏ trong thùng mì ăn liền VIFON buộc sau xe P.C kia kìa, chị nhìn thấy chưa?

Hai chị em nhìn ra cửa, Mai Hương sung sướng:

- Em để cho chị cả nhé!

- Ngoài chị thì còn ai nữa! Nhưng hôm nay mắc lắm! Những tám ngàn một gói kia!

Mai Hương tỏ ra hào phóng:

- Chị sẽ bán mười ngàn, bán lẻ thì sáu trăm đồng một điếu. Khách đã xài sang thì họ xá gì!

 - Vậy thì chị chuẩn bị tiền đẹp và gọn cho em. Em sẽ ra xe xách ngay vào đây cho chị!

Linh Chi thoăn thoắt bước ra cửa, gỡ sợi dây chẳng và xách vào cả thùng “mì ăn liền” vào đặt dưới chân bàn của la Mai Hương. Út Mai chợt trông thấy, đã sà ngay vào thùng hàng:

- Hai mươi cây, hở chị?

Linh Chi gật đầu. Mai Hương đưa mắt cho Út Mai:

- Em bỏ vào trong nhà cho chị!

Út Mai vừa bê thùng hàng lên tay thì từ ngoài cửa hai cán bộ quản lý thị trường đã nhanh nhẹn bước vào, tiến đến trước bàn Mai Hương:

- Xin lỗi. Chúng tôi là cán bộ đặc nhiệm của quận, yêu cầu chị cho kiểm tra thùng hàng...

Vừa nói, hai cán bộ vừa rút thẻ kiểm tra đưa cho Mai Hương. Chủ quán bàng hoàng thốt lên:

- Trời!

Rồi sau đó là lời trình bầy:

- Dạ, thưa các anh, xin thú thật là có vài cây thuốc tồn kho cũ thôi mà. Xin mời quý anh ngồi, tôi sẽ xin thưa chuyện...

Anh cán bộ lớn tuổi nghiêm giọng:

- Hàng này là của bà chủ hay của chị này đây?

Linh Chi nói nhỏ:

- Dạ của em, em vừa mang tới đây...

- Yêu cầu chị mở thùng ra!

Linh Chi mở thùng hàng: những cây thuốc lá ngoại Hero lần lượt được đặt lên bàn. Khách uống cà phê suốt hai dẫy bàn đổ dồn mắt nhìn về phía bàn chủ nhân.

Mai Hương đứng dậy nói:

- Thưa quý khách: đây là các bác quản lý thị trường đến kiểm tra. Xin lỗi quý khách cho phép quán chúng tôi tạm nghỉ để làm việc với ban quản lý thị trường...

Khách hàng lục tục đứng dậy, ra về.

Anh cán bộ quản lý nói:

- Tất cả có hai mươi cây Hero. Chúng tôi sẽ lập biên bản xử lý. Xin mời bà chủ và hai cô cùng về quận giải quyết sau khi chúng tôi lập biên bản tại đây...

Anh cán bộ trẻ tuổi mở cặp, rút ra ba tờ giấy đánh máy sẵn. Mai Hương thoáng nhìn vào một tờ giấy, đã đọc được hàng chữ trên đầu trang:

 "Biên bản xử lý hàng nước ngoài nhập trái phép”. Mai Hương rụng rời chân tay trong lúc Út Mai và Linh Chi đứng như trời trồng.

- Đề nghị chị và hai cô cho biết quý danh...

Mai Hương nói lí nhí:

- Xin quý anh chiếu cố cho chúng em lần đầu có sai phạm...

Anh cán bộ trẻ tuổi nói:

- Theo chúng tôi biết thì đây chưa phải là lần đầu. Các chị chuẩn bị ký biên bản rồi sẽ về quận trình bầy tiếp. Ở đây, chúng tôi không đủ thẩm quyền chiếu cố cho bất cứ ai. Yêu cầu chị chấp hành mệnh lệnh nghiêm chỉnh...

Hy vọng xin chiếu cố thật mong manh.

Chủ quán và hai cô gái cùng gạt những giọt mồ hội trên trán và hiểu thêm những gì đã xẩy ra. Sự đổ bể là không sao tránh khỏi từ đây...

***

Út Mai được đưa đến phòng hỏi cung sau nửa ngày bị tạm giữ tại công an quận.

Đại úy Kỳ Nam hỏi:

- Tên chị là Huỳnh Thị Mai?

- Đúng.

- Chị có quen hai người này không?  Đại ú i úy Kỳ Nam đưa ra hai tấm ảnh của Bẩy Sầu và Năm Phượng Hoàng đặt trước mặt Út Mai.

Út Mai lạnh người, giọng run run:

- Dạ, thưa ông, không ạ.

Kỳ Nam cười:

- Chị cố nhớ lại xem? Chẳng lẽ chị lại mau quên đến thế? Chị quên bữa nhậu ở Bảo Lộc rồi sao?

 Út Mai ngồi im lặng.

Kỳ Nam tấn công tiếp:

- Đây là hai tên tướng cướp. Chị ở trong băng cướp Phượng Hoàng có phải không?

- Dạ, dạ, thưa ông không phải thế ạ...

- Chị có cần đối chất không? Cùng một lúc, chị can hai tội: một là buôn thuốc lá ngoại với số lượng lớn cùng với bà Mai Hương chủ quán Hoàng Hoa, hai là cùng tham gia vụ cướp đoạt tài sản công dân ở khách sạn Bảo Lộc. Giấy bút đây, chị ngồi sang bàn bên kia viết lời khai cho thật đầy đủ: họ và tên, địa chỉ thường trú, quan hệ với bà Mai Hương như thế nào? Nhập băng cướp với Phượng Hoàng và Bẩy Sầu ra sao? Thực hiện vụ cướp ở Bảo Lộc ra sao? Được chia bao nhiêu của cải và cất giấu ở đâu? Chị khai rõ ràng thì sẽ được xét giảm tội, ngược lại còn quanh co thì sẽ phải chịu hình phạt nặng không kém hai tên tướng cướp kia, chị nghe rõ chứ?

- Dạ, tôi đã nghe rõ.

Út Mai cầm tập giấy và cây bút bi lủi thủi sang ngồi trước bàn kê ở góc trái căn phòng. Thị Mai nhìn trận trận vào tờ giấy trắng, lòng ngổn ngang, hồi hộp vì những câu hỏi của người hỏi cung, thị hiểu từ giờ phút này, mỗi chữ viết ra, mỗi câu trả lời là một cái tội, làm sao che giấu bớt đi được những việc tầy trời? Công an đã biết đến đâu? Còn có thể giấu được những gì?

Cây bút nhỏ bé sao mà nặng nề đến thế? Thị cầm bút, vân vê trên tờ giấy, một hồi lâu mới viết được dòng chữ đầu tiên: "Tên tôi là Huỳnh Thị Mai, 39 tuổi, xin khai báo như sau..".

Kỳ Nam liếc nhìn tên tội phạm và nhắc lại:

- Chị phải nộp tờ khai trước mười giờ sáng! Nghĩ cho kỹ, khai cho đủ, cho đúng.

Kỳ Nam gấp cặp hồ sơ, đứng dậy, đi từng bị từng bước một trong căn phòng rộng. Anh đang nghĩ đến Phi Nga và Văn Sinh, đôi bạn trinh sát đang trên đường truy lùng hai tên tướng cướp nguy hiểm không để lại dấu vết nào trên một địa bàn quá rộng.

10 giờ sáng.

Thị Mai lại ngồi trước bàn hỏi cung.

 Đại úy Kỳ Nam nhìn những dòng chữ nguệch ngoạc như gà bới của thị Mai vừa viết. Anh hỏi:

- Việc thứ nhất: chị khai chỉ làm thuê ăn công nhật của bà Mai Hương nên thuốc lá ngoại mua bao nhiêu lần chị không biết. Chỉ nhớ từ hôm có lệnh cấm đến hôm nay mới có hai lần mua, mỗi lần hai mươi cây.

- Việc thứ hai: chị khai chị quen hai tên Năm Phượng Hoàng và Bẩy Sầu từ một năm nay khi y đến uống cà phê ở quán Hoàng Hoa. Lần đi Bảo Lộc là lần đầu tiên, chúng nó giao cho chị việc mời mọc hai “con mồi” để họ hút hai điếu thuốc lá có lẫn bột gây mê, sau đó cùng hai tên kia cướp tài sản và chuồn khỏi Bảo Lộc. Chị vẫy xe quá giang về Sài Gòn sau khi được chia 5 triệu đồng, còn lại các thứ, hai tên ấy đi đâu, chị cũng không rõ... Có đúng như tôi tóm tắt không?

 - Dạ, đúng thế ạ.

- Số tiền năm triệu đồng chị để đâu?

 - Dạ, thưa ông, tôi gửi bà Mai Hương giữ giúp. Tôi mới lấy năm trăm ngàn để tiêu vặt.

 - Thôi được. Tôi biết chị chưa khai hết đâu. Tám giờ sáng mai, chị sẽ khai tiếp. Chị đã bị bắt tức là chị sẽ không giấu được chúng tôi đâu. Chị khai báo rõ ràng mới có hy vọng được xét giảm một phần hình phạt đối với tội ác to lớn mà chị và hai tên tướng cướp đã gây nên...

Thị Mai cúi mặt, lủi thủi theo người cảnh vệ trở về phòng tạm giam.

Chín giờ sáng nay, như thường lệ, anh Ba Đà Lạt lại nâng chiếc loa pin giới thiệu báo mới. Bà con xúm xít mua báo. Đến gần 10 giờ, người mua báo mới vãn.

Cụ Thái khề khà nói với anh Ba:

- Lão sắp về Đồng Nai rồi, chú có tờ báo nào hay nhất thì bán cho lão một tờ...

Anh Ba rút ngay một tờ báo Nhân Dân đưa cho cụ Thái:

- Đây, xin mời cụ mua tờ báo này, có nhiều bài hay lắm, nói về ngày kỷ niệm quân đội nhân dân Việt Nam (22 tháng 12) giá bán chỉ có năm trăm đồng thôi, cụ ạ.

Ông cụ Thái đón tờ báo, gấp lại và móc túi lấy tiền trả anh Ba, bọc tiền của cụ căng phồng làm cho một gã thanh niên đứng phía sau cụ để ý nhòm ngó. Gã có bộ mặt hốc hác vì đói ngủ. Mái tóc trùm xuống gáy, che kín cả mang tai làm cho bộ mặt của hắn gầy choắt hẳn lại. Hai tay áo gã xắn cao để lộ mấy nét xăm hình con rồng xanh ngoằn ngoèo ở cả hai cánh tay. Gã hất cái mũ lưỡi trai để lộ một cái trán còn hằn một cái sẹo dài, dấu vết của một trận đâm thuê chém mướn ở Sài Gòn từ năm trước. Gã đập vào vai ông cụ:

 - Này bố! Bố trúng mánh, có lắm tiền mà con thì hẩm hiu quá, đào chả được cái quái gì. Con đói quá, bố có thương con thì bố cho con xin một bữa ăn nào!

Cụ Thái nhìn vào mặt kẻ ăn xin:

- Lão thấy anh sức dài vai rộng, sao lại phải đi ăn mày?

- Ồ, bố chậm hiểu quá! Con sức dài, vai rộng nhưng đào đâu ra đá quý nên mới đói và đói thì phải đi xin...

- Nhóm đào đãi của anh có mấy người, ở đâu về đây?

- Có một mình con thôi, con ở Sài Gòn theo bà con về đây, nhưng xui quá, bố cứ hỏi căn vặn mãi... .

- Phải lao động mới có ăn chứ! Ta xem ra anh không phải là người cần cù lao động, ta không thể cho anh được!

Gã ăn xin đổi giọng:

- À, à ra thế đấy! Tôi nói cho ông biết: đưa bọc tiền đây, đưa ít nhất là một nửa, nếu không thì không yên đâu!

Ông già nổi cáu:

- Tao không đưa thì mày làm gì?

- Phải đưa! Nếu không thì xem đây! Gã rút từ sau lưng ra một lưỡi dao nhỏ sáng loáng.

Ông già lùi lại một bước:

- Dễ thường mày giết tao chăng?

Tên ăn xin cười nhăn nhở:

- Cũng... gần như thế! Đưa đây, biết điều thì đưa đây cho tôi xin một nửa! Tôi nhắc lại: tôi tử tế mới xin ông, nếu không tử tế thì tôi đã cướp rôi!

Ông già vẫn giữ chặt bọc tiền:

- Cướp à? Mày định ăn cướp cạn giữa ban ngày hả? Mày là ai, ở đâu mà dám đòi tao phải nộp cho mày?

- Tôi ấy à? Quân của Năm Phượng Hoàng đây. Ông đã nghe tiếng Năm Phượng Hoàng chưa?

Anh Ba Đà Lạt từ này đến giò lắng nghe từng câu nói, lại chứng kiến tận mắt hành vi của tên gian. Anh giả vở sợ hãi, thu xếp mấy tờ báo và lom khom đứng dậy. Tên gian không hề để ý đến anh Ba Đà Lạt, nó gườm gườm nhìn cụ Thái:

 - Đưa hay không đưa? Tôi đếm một, hai, ba nếu ông không đưa bọc tiền đây thì dừng trách tôi cứng rắn nghe không?

Nó huơ huơ lưỡi dao trước mặt ông già và vẫn cười nham nhở.

Bỗng... “pắc”! Anh Ba Đà Lạt đã chặt mạnh bàn tay vào cánh tay tên cướp. Lưỡi dao rơi ngay xuống đất. Nó chưa kịp phản ứng thì bằng một động tác vũ thuật thành thạo của anh trinh sát, anh Ba Đà Lạt gạt chân và chặt tiếp vào gáy tên gian. Nó chỉ kịp kêu một tiếng “ối” đã lộn nhào về phía trước, nằm xõng xoài trên mặt đất. Anh Ba Đà Lạt nhanh như sóc, chặn một chân lên lưng tên địch, bẻ quặt hai tay nó về phía sau. Anh rút sợi dây cao su phía sau xe đạp và trói nghiến tên cướp. Hành động quả cảm chớp nhoáng của anh Ba làm cho cụ Thái và mấy cô gái ngồi gần đó phải sửng sốt, bàng hoàng, cảm phục.

Cụ Thái:

- Chà, chà, anh đã cứu tôi, trừ khử được thằng này, đúng nó là tên cướp đó, bà con ơi!

Anh Ba kính cẩn nói với ông già:

- Thưa cụ, khi nó đứng sau cụ, cháu đã để ý ngay, khi biết nó dở trò trấn lột, cháu phải xử trí ngay, không để cho nó kịp trở tay.

- Anh! Anh là...

- Dạ, cháu là anh bán báo thôi cụ ạ, nhưng cháu phải lập mẹo mới bắt sống được thằng này.

Bà con kéo đến mỗi lúc một đông, vây quanh cụ Thái, anh Ba và tên cướp. Có tiếng một cô gái:

- Bà con cứ đứng đây, để cháu đi báo công an xã ra lập biên bản và giải nó lên công an huyện...

Anh Ba Đà Lạt nói to lên cho mọi người cùng nghe:

- Đúng tên này là một tên cướp của băng cướp Phượng Hoàng. Công an mới bắt được tên Ba Râu, tên Tư Sứt, mụ Hai, thị Lan, nay lại thêm thằng này nữa. Cứ xem hai con rồng xanh trên hai cánh tay nó kia thì cũng biết nó là kẻ như thế nào rồi!

 - Rõ đáng đời tên khốn kiếp!

 - Không dẹp được nó thì có thể chúng nó giết mình ấy chứ.

Cụ Thái nhặt con dao của tên cướp bị văng ra xa, đưa cho anh Ba.

Anh Ba nói với cụ Thái:

-Thưa cụ, đây là tang vật vụ án, để rồi sẽ nộp cho ban công an xã.

Lại có tiếng trầm trồ khen ngợi:

- Tay không mà bắt được tên cướp có vũ khí, anh bán báo giỏi quá!

***

Tại trụ sở công an phường 7, Linh Chi được phép trở về gia đình sau khi cô tự nguyện viết bản kiểm điểm nhận hết sai phạm của mình:

“.. Từ hôm xí nghiệp cơ khí của tôi tuyên bố tự giải thể sau một năm làm ăn thua lỗ. Giám đốc về nghỉ hưu, cán bộ công nhân một nửa sang làm việc ở xí nghiệp khác, còn một nửa được nghỉ theo chế độ chung, nhận một số tiền phụ cấp về đi buôn bán vặt vãnh. Tôi quen bà chủ quán Hoàng Hoa đã lâu, tôi thường bỏ thuốc lá ngon cho bà để kiếm chút tiền lời nuôi sáu đứa con và một anh chồng tật nguyền (đau loét bao tử nặng). Tôi có biết lệnh cấm buôn thuốc lá ngoại, song vì nghèo quá nên phải liều bỏ mối cho quán Hoàng Hoa hai mươi cây, được lời một trăm ngàn đồng. Không may tôi đã bị bắt, được nghe các anh, các chị giải thích chính sách quản lý của Nhà nước, tôi đã thấy rõ sai lầm của mình, tôi xin các anh khoan hồng tha cho về kiếm sống nuôi chồng. nuôi con. Tôi xin hứa và cam đoan từ nay không dám đi buôn thuốc lá ngoại nữa...”.

Về đến nhà, Linh Chi kể lại cho anh Hai Văn - chồng chị - nghe hết mọi chuyện vừa xảy ra. Anh Hai chớp chớp đôi mắt, nói như mếu:

- Gạo lên giá một ngàn sáu trăm một ký rồi đó em a. Thịt heo cũng lên mười ngàn một ký. Hôm qua, nhà còn có hai lon gạo, anh phải sang vay tạm năm lon bên bà Tư. Em mà đi tù thì anh chết đói và bầy trẻ nhỏ ra dứng đường, đi ăn mày mất thôi. Trời! Ở hiền gặp lành nên em mới được thả về. Thôi từ này em chịu khó buôn thuốc nội thôi. Ăn ít vậy. No đói có nhau, ở nhà mà nuôi con. Em thương anh thì trước hết hãy thương các con, em ạ...

Linh Chi xoa đầu thằng út, ôm nó vào lòng và nói nựng:

 - Con có đói không? Má có tội với con quá. Trời đi! Nếu mà má không được về thì ba con nuôi sao nổi các con

Thấy nước mắt dàn dụa trên khuôn mặt mẹ, thằng út gục đầu vào lòng mẹ nó, mếu máo.

- Má! Má đừng khóc nữa má ơi!

Từ hôm sau, Linh Chi lại dọn cái tủ thuốc lá nhỏ nhoi ra trước cửa nhà ngồi bán lẻ, có điều, tủ thuốc của cô chỉ có toàn thuốc lá nội, bán chậm lời quá ít vì giá thuốc đã tăng lên vòn vọt. Anh Tư hàng xóm là dân ghiền thuốc lá cũng phải kêu:

- Mấy ông kinh doanh kiểu gì mà cứ tăng giá hoài?

Sang ngày thứ ba, Linh Chi vẫn bán được rất ít hàng. Cô chẳng muốn đi chợ nữa vì tiền đâu mà mua thức ăn. Cô gom được vài ngàn gửi bà hàng xóm mua rau. Sự ngán ngẩm cứ như vết dầu loang mãi trong gia đình cô. Anh Hai Văn ôm cái bụng đau nhâm nhẩm, im lặng. Lũ trẻ con càng thêm ngơ ngác trước cảnh nhà cha mẹ túng thiếu.

Buổi tối, Linh Chi nghe tiếng gõ cửa rụt rè. Cô ra mở cửa:

- Ai đó?

Một gã đàn ông cao lênh khênh bước vào.

 - Xin lỗi, cho tôi hỏi đây có phải nhà cô Linh Chi?

 - Dạ, phải, tôi là Linh Chi đây. Ông hỏi tôi có chuyện chi vậy?

Gã đàn ông bước vào và ngồi xuống ghế:

 - Tôi xin tự giới thiệu với cô Chi: Tôi là anh Năm, bạn thân của cô Út Mai và bà Mai Hương ở quán Hoàng Hoa...

 Linh Chi giật mình, chưa hiểu có chuyện gì sắp xẩy ra. Cô ngập ngừng hỏi:

- Thưa ông, có chuyện gì liên quan đến tôi?

Gã đàn ông gật đầu:

- Có! Có liên quan chứ. Bà Mai Hương và cô Út Mai bị bắt cùng với cô. Quán Hoàng Hoa bị đóng cửa.Vậy mà cô lại được tha về. Tại sao vậy? Tại sao bà chủ và cô Út còn bị giam giữ? Ba cây thuốc Hero có thấm vào đâu mà cũng bắt giữ?

- Thưa ông, tôi đâu có biết, vì sau khi bị bắt, mỗi người đều bị giam riêng. Công an hỏi gì tôi khai cái ấy. Rồi mấy ông buộc tôi viết kiểm điểm rồi tha tôi về...

- Còn hai người kia tội nặng hơn chăng?

- Dạ, tôi đâu có biết, chỉ nghe mấy cô phạm nhân bị giam bên cạnh nói rằng bà Hoàng Hoa còn can tội buôn vàng, đôla và chứa gái mãi dâm nữa nên còn phải cứu xét...

Gã đàn ông bậm môi, nghiến răng ken két, vẻ sắp nổi khùng:

 - Hừ! Tội lớn quá vậy? Còn cô Út Mai?

 Linh Chi im lặng. Một lúc sau, gã đàn ông nhìn thẳng vào mặt Linh Chi:

- Tôi nói cho cô biết: Vì cô mà hai người bạn tôi bị bắt, cô là chân rết của công an có phải không?

- Đâu có! Ông nói chỉ mà kỳ quá vậy?

- Tôi không nói ngoa đâu? Nếu hai người kia mà bị tù thì cô phải chịu trách nhiệm.

Gã nhìn quanh cả gian phòng:

 - Chả có cái quái gì mà bồi thường cho tôi. Thôi tôi nói cho cô rõ: công an có hỏi gì thêm về hai người bạn tôi thì cô chỉ được nói là “không biết gì hết” nghe chưa? Việc ai người ấy biết, tội ai người ấy chịu. Cô mà còn vu cáo cho người ta chuyện này, chuyện khác để người ta phải tội nặng thì cô chớ có trách tôi tàn ác, cô hiểu chứ?

 - Ô hay, ông nói sao? Tôi là người buôn thuốc lá ngoại, công an tịch thu hết rồi, tôi van nài vì cảnh gia đình nghèo đói, tôi được tha về nuôi con. Tôi có biết chuyện chi khác đâu?

- Tôi cứ dặn cô như thế. Giữ mồm, giữ miệng thì cô được an toàn. Nếu bép xép thì tôi sẽ xử cô theo luật rừng của tôi! Thôi chào cô! Tôi phải đi dây!

Gã đàn ông đứng lên, bước nhanh ra cửa và biến vào bóng tối của con hẻm dài hun hút.

Linh Chi thực sự hoang mang. Cô đứng bần thần cả người. Lũ trẻ con đã buông mùng đi ngủ cả. Chỉ còn anh Hai Văn vẫn thức, ngồi trong nhà. Anh đã nghe hết cả câu chuyện vừa xẩy ra. Đợi cho gã đàn ông đi khuất, anh mới bước ra:

 - Nó là thẳng nào mà dám dọa nạt em?

Linh Chi ngồi phịch xuống giường:

-  Nó nói là bạn của bà Mai Hương và cô Út. Em xem thằng này dữ dằn quá, em sợ quá...

Hai Văn ôm cái bụng đau, nhăn nhó:

 - Anh xem tướng nó có dáng là một tên tướng cướp chứ đâu phải là dân lương thiện? Nghe khẩu khí của nó lại càng rõ thêm là giọng lưỡi lưu manh, dân dao búa chứ chẳng phải tay vừa! Có lẽ phải đi báo chính quyền thôi!

Linh Chi hốt hoảng:

- Ấy chớ! Chớ có làm thế. Nó mà biết thì nó giết cả nhà mình!

- Sợ gì nó! Anh ức không chịu được. Mình muốn sống yên ổn, nó lại không để cho mình yên ổn...

Linh Chi khản giọng:

 - Em van anh đừng đụng độ với lũ côn đồ này...

Hai Văn biết tính vợ nhút nhát, anh lại lặng lẽ ôm bụng vào nhà trong. Tiếng muỗi vo ve chung quanh giường của lũ trẻ làm cho anh buồn đến não ruột.

Ở nhà ngoài, Linh Chi ngồi đăm đăm trước ngọn đèn đỏ quạch. Có nghĩ đến ngày mai còn khốn khó, làm thế nào để nuôi nổi cả tám miệng ăn?

***

Phi Nga rất mừng khi có tiếng chuông điện thoại đổ hồi. Cô cầm ống nghe:

- Tôi nghe đây...

Từ đầu dây nói đằng kia, tiếng anh Ba Đà Lạt đã vang lên:

- X.5 đây! Mình báo cho Nga biết một tin: mình vừa tóm gọn một tên cướp nữa trong băng cướp “Năm Phượng Hoàng" khi nó xuất hiện ở gần con Suối Ngọc, ta thu vũ khí (một dao găm). Nó khai tên là Nguyễn Văn Hùng (tức Hùng Mốc) vì mặt nó sần xùi như mốc. Tôi đã giao nó về công an huyện. Nó khai thằng Năm bỏ rơi nó. Nó đói quá, đi kiếm ăn và bị tóm...

- Hùng Mốc có khai gì về dấu vết của tên Năm và tên Bẩy Sầu?

- Không có gì cả. Ngày mai mình sẽ điện tiếp, chúc may mắn!

Phi Nga đặt ống nghe vừa lúc Văn Sinh nhẹ nhàng bước vào, nói:

- Mình có nghe anh Kỳ Nam nói chuyện X.5 bắt được tên Hùng Mốc hôm qua.

- Em vẫn sốt ruột quá. Sơn Điền đâu đã được yên tĩnh? Bọn chúng lại nhen nhóm lên rồi.

Văn Sinh châm một điếu thuốc, chậm rãi nói:

- Phải chờ ý kiến anh Kỳ Nam. Lát nữa anh ấy về đây, ta bàn tiếp công việc ngày mai. Lực lượng của ta đang bị xé lẻ: một nửa ở Di Linh và một nửa ở đây, bí rì rì...

Nửa giờ sau, cánh cửa bật mở, Kỳ Nam ào vào như một cơn gió lốc:

- Các bạn! Tôi báo cho các bạn biết một tin cực vui: thằng Năm Phượng Hoàng lại mò về Sài Gòn!

Phi Nga sửng sốt:

- Nó về đây?

Văn Sinh cũng bật dậy:

- Nó xuất hiện ngay trước mắt chúng ta?

Kỳ Nam rút từ trong túi đeo trên vai một tờ giấy đưa cho Nga và Sinh:

- Các cậu đọc đi! Đây là thư tố giác của quần chúng: anh Hai Văn chồng của cô Linh Chi gửi thư đến công an phường 7 tố cáo tên Năm đột nhiên đến gặp Linh Chi và đe dọa cô này không được khai báo về những bí mật của Út Mai và bà chủ quán Hoàng Hoa...

Văn Sinh chụm đầu cùng Phi Nga đọc hết hai trang thư viết tay rất rõ ràng. Nga chớp chớp mắt:

- Thế thì tên cướp này đang chăm chú theo dõi việc ta bắt giữ Mai Hương và Út Mai. Nó còn quanh quẩn để nghe ngóng tin tức về mụ chủ quán Hoàng Hoa.

Văn Sinh:

- Như vậy thì tôi đoán chắc là tên Bẩy Sầu cũng đang lẩn quất đâu đây...

Kỳ Nam nói thêm:

- Tôi đã bố trí lực lượng chung quanh ngôi nhà của Linh Chi để đón lõng tên Năm nếu nó còn quay trở lại. Tôi dự đoán có ba điểm mà hai tên tướng cướp có thể còn lui tới: một là chung quanh quán Hoàng Hoa, hai là địa chỉ của thị Mai ở Phú Nhuận, ba là địa chỉ của Linh Chi, hai địa chỉ phụ nữa là nhà của vợ Ba Râu và vợ Tư Sứt. Tôi phân công nhé: Văn Sinh đi Phú Nhuận, Phi Nga ở con hẻm quận 4, còn tôi ở chung quanh Hoàng Hoa, kiêm luôn hai điểm phụ, được chưa?

- Dạ, được, Nga đáp.

Văn Sinh nói:

- Kết hợp chặt với công an đường phố và dân phòng nữa, nên lưu ý mọi người về hai tên tướng cướp nguy hiểm này là hai tên ấy rất liều lĩnh và đều có súng

Kỳ Nam nói:

- Đồng ý với các bạn. Tôi đã đặt trực ban ở công an phường 7. Còn địa điểm hội ý vẫn là ở đây. Không tiện về trực tiếp như hôm nay thì cuối ngày gọi dây nói về trực ban trước 17 giờ, nghe!

Khi thành phố lên đèn, cả ba nơi người cùng lên xe máy đi ba ngả, đến mục tiêu đã định.

***

Linh Chi đón Năm Phượng Hoàng như đón một người thân:

- Anh Năm! Vào đây đã nào! Hôm trước anh dặn em, em chẳng nói với ai mà cũng chẳng thấy ai hỏi em.

Linh Chi cố ý đổi cách xưng hô với gã đàn ông - từ “ông” chuyển sang “anh” - làm cho tên Năm bớt giận dữ, hằn học gã hỏi dò la:

- Tôi hỏi điều này, cô đừng giấu tôi nhé: cái hôm các cô bị bắt thuốc lá rồi bị bắt cả người, bà Mai Hương có bị mất gì không?

Linh Chi nói:

- Ngay lúc bấy giờ thì cả ba người đều bị gọi về công an quận, lập biên bản rồi họ giam riêng mỗi người một nơi, em có biết gì nữa đâu!

Năm Phượng Hoàng cười cay đắng:

- Cũng là cái số các cô đen đủi quá đó thôi.

 Linh Chi phân trần:

- Em mới chết đói đây này! Các chị ấy còn có của chìm, của nổi, em làm gì có vốn?

Gã đàn ông làm bộ hào phóng:

- Chính vì tôi thấy cô nghèo tôi mới đến đây. Nếu cô không ngại phiền hà thì tôi sẵn sàng giúp cô một số vốn. Khi nào Út Mai về, cô trả tôi sau.

Linh Chi trố mắt kinh ngạc:

 - Em không dám nhận gì của anh đâu. Cảm ơn anh đã có lòng tốt đối với em. Song thực tình em không dám nhận. Vay anh thì dễ, buôn bán thua lỗ thì lấy gì mà trả anh? Lúc ấy sẽ khó nói lắm!

Gã đàn ông xua tay:

- Không sao! Cô cứ coi tôi như Út Mai là đủ. Cô không muốn thì thôi vậy. Đây tôi cho các cháu một số tiền ăn quà!

Gã ném ra một gói tiền:

- Có một trăm ngàn thôi mà! Cô Chi cứ cầm lấy cho các cháu. Tôi đi đây! À mà tôi dặn cô nhé: hôm nào cô Út được tha về, qua đây rồi, cô Chi nói cho tôi biết nhé!

- Nhưng anh ở đâu chứ:

- Tôi ở nay đây, mai đó, cứ nằm khách sạn, làm gì có nhà? Nhà ở mãi tận Cần Thơ kia. Thỉnh thoảng tôi sẽ rẽ qua đây, mà!

Linh Chi cầm mớ tiền đặt trả tận tay gã đàn ông:

 - Em không dám nhận của anh đâu. Ông xã em khó tính lắm, lại ghen tuông thì lôi thôi lắm. Em nghèo khó quen rồi!

Tên Năm lắc đầu:

- Chán quá nhỉ! Cô chê ít thì thôi vậy!

Gã bỏ tiền vào túi rồi đứng lên:

- Tôi phải đi đây! Trời sắp tối rồi.

Linh Chi cười xã giao:

- Thỉnh thoảng mời anh cứ đến chơi, em sẽ giới thiệu anh với ông xã nhà em. Hôm nay ông ấy đưa thằng út đi khám bệnh, xin thuốc ho gà cho nó!

Năm Phượng Hoàng đi khỏi nhà Linh Chi. Gã vẫy một xe xích lô qua cầu, trở về quận I.

Linh Chi nhớ lại từng lời nói, từng cử chỉ của gã đàn ông để báo cáo lại với anh công an đường phố. Cô không sợ tên Năm như lần đầu nó xuất hiện. Hôm nay, cô tiếp nó theo đúng kế hoạch của công an:

- “Bình tĩnh”, mềm dẻo, bình thường, thận trọng để cho nó tin, nó lui tới đây:…

Sau khi anh Hai Văn trình báo với công an về việc tên Năm xuất hiện, hăm dọa Linh Chi, anh đã được các đồng chỉ công an giao nhiệm vụ và động viên:

 - Ý thức cảnh giác của anh, chị là rất quý. Trách nhiệm công dân của anh chị rất đáng hoan nghênh. Chúng tôi sẽ xem xét xử lý. Nếu nó còn xuất hiện trở lại, anh chị phải khéo léo đối xử để cho nó tin mình.

Vợ chồng Linh Chi - Hai Văn bàn soạn và đi đến thống nhất hành động, mong chóng dứt bỏ được một tai vạ để được yên ổn làm ăn, sinh sống…

***

- Kìa anh Chín! Sao hôm nay anh mới tới em?

Người đàn ông ăn mặc chững chạc bước đến trước tủ thuốc lá của Linh Chi làm cho cô ngỡ ngàng. Chín là chồng của Út Mai từ Phú Nhuận sang đây hẳn là có việc cần...

Chín nói:

- Từ hôm bà xã nhà tôi bị công an tạm giữ, tôi có đi được đến đâu! Thằng nhỏ cứ nhõng nhẽo suốt ngày... Từ cơm nước, học hành đến ra cho nó ngủ, tôi bận muốn... chết được!

Linh Chi cười:

- Nam giới các anh có nuôi con mới biết cái khổ của phụ nữ chúng em. À, đấy là chuyện chăm nom thằng nhỏ. Còn chuyện làm ăn thế nào?

Chín phân trần:

- Hình như bè bạn sợ liên lụy với cô Mai nên cứ lảng dần, thành ra quầy nước giải khát của tôi cũng ế luôn.

 Linh Chi chìa tay:

- Thì anh xem đây, em có hơn gì anh? Thuốc lá nội giá cao, bán chậm lắm. Xin mời anh vào đây đã nào.

Chín theo chân Linh Chi vào nhà, anh ngồi xuống ghế:

- Gay quá cô Chi ơi! Làm sao sống nổi qua ngày?

Chi rót nước mời Chín uống rồi nói tiếp:

 - Ấy vậy mà hôm qua có người cho vay cả trăm ngàn, em không dám vay vốn.

 - Ai thể? Có phải lão Năm không?

Linh Chi trố mắt:

- Sao anh biết?

- Thì sáng nay lão ấy qua nhà tôi, khoe với tôi như thế.

- Lão Năm lại qua nhà anh?

- Lão có nhờ tôi một việc...

- Việc gì quan trọng lắm không .

- Giữa lúc trời mưa, lão ghé vào quán của tôi nói rằng lão phải đi Đà Lạt có việc gấp, nếu có tin tức gì của vợ tôi từ trại giam nhắn ra thì cô nhắn lại cho tôi để tôi báo cho lão biết. Hai người làm ăn với nhau, còn vướng chuyện tiền bạc gì đó. Tôi không rõ lắm. Thôi thì lão ấy nói thế, mình biết thế. Tôi cũng mong tin của vợ tôi quá mà chẳng có tin tức gì cả. Đi thăm nuôi thì công an chỉ nhận quà bánh tôi gửi vào chứ không cho tôi gặp trực tiếp. Họ nói rằng còn cần phải cách ly để điều tra.

Linh Chi phải lựa lời an ủi Chín mấy câu để anh ta tạm yên tâm ra về.

Linh Chi kể ngay với Hai Văn chuyện lão Năm đi Đà Lạt. Anh Hai Văn tìm gặp Phi Nga ở một gia đình cơ sở trong con hẻm này, báo cho Nga biết tin tức về tên Năm Phượng Hoàng.

Một giờ sau, chiếc xe Lađa mầu xanh đã đưa Phi Nga, Văn Sinh và Kỳ Nam ngược lên Đà Lạt.

Khi qua nhà hàng Bảo Lộc, Văn Sinh ghé vào hỏi cô thường trực “Tên Năm có ghé vào đây không? Cô thường trực trả lời “Không!”. Anh lại lên xe, cho xe tăng tốc lên cao nguyên. Xe đến Di Linh thì trời đã quá khuya. Phi Nga gõ cửa phòng của X.5. Anh Ba Đà Lạt mời ba bạn đồng nghiệp vào nhà. Khi biết yêu cầu của Phi Nga, anh Ba lộ rõ niềm vui:

- Nếu nó lại mò về đây thì ta giăng một mẻ lưới.

Nga nói:

- Cũng còn mờ mịt lắm. Địa bàn rộng như thế này, biết nó ở đâu mà bắt?

Kỳ Nam chậm rãi:

- Các bạn mệt hãy nghỉ cho lại sức. Hãy cho tôi một đêm suy nghĩ và nghỉ ngơi, sớm mai tôi sẽ hiến kế truy bắt tên này!

***

Buổi chiều hôm sau, đại úy Kỳ Nam tập hợp tình hình thực hiện phương án I của ban chuyên án theo gợi ý của anh và Phi Nga: một là kiểm tra hộ khẩu toàn bộ các khách sạn quốc doanh và các nhà trọ mini của nhân dân song song với việc rà soát lại danh sách kê khai tạm trú của hơn một nghìn tổ, nhóm đến đào đãi kim cương do ban công an xã hướng dẫn kê khai từ hơn một tháng nay, tổng cộng đã có năm nghìn năm trăm người từ năm tỉnh, thành kéo nhau về trú ngụ ở thung lũng Sơn Điền. Qua sàng lọc, chưa phát hiện được đối tượng cần truy quét. Chính quyền xã đang tích cực tuyên truyền vận động bà con ở đâu nên về đấy. Loa phóng thanh, thông báo dán khắp nơi, song kết quả chưa được bao nhiêu.

Từ sáng đến chiều nay, các ngả ra vào của Di Linh và Đà Lạt đều có lực lượng trinh sát phối hợp với cảnh sát giao thông chốt chặn, kiểm tra các loại xe hơi, xe máy, chú ý loại xe có phân khối lớn kèm theo hình ảnh của hai tên cướp đã được gửi đến các trạm kiểm soát. Hơn mười tiếng đồng hồ đã trôi qua mà chưa có một tin tức gì quan trọng báo về. Tất cả mọi câu trả lời qua điện thoại và máy bộ đàm đều nói “yên tĩnh” và “chưa có gì”!

Sau bữa cơm chiều, có lệnh của đại tá Hồng Quang triệu tập họp gấp tại văn phòng ban chuyên án.

Kỳ Nam nói với Văn Sinh và Phi Nga:

- Chắc lại có “tin mới” nên mới khẩn cấp thế này dây.

Cả ba khẩn trương về họp. Mỗi người cưỡi một xe máy, phóng như bay.

Về đến phòng làm việc của đại tá, cả ba người được đại tá đón ngay vào phòng, khép chặt cửa:

- Ngồi đây! Các cậu ngồi đây. Tôi vừa thu lượm được kết quả khai thác tên Ba Râu. Ta bắt tên Ba Râu sớm hơn cả, song tên này khá lì lợm. Tôi ra lệnh cho anh em quản giáo cho nó ăn uống đầy đủ, đối xử tử tế nên tên này tỏ ra ăn năn hối lỗi. Chiều nay tôi trực tiếp hỏi cung nó, sau khi giáo dục, động viên nó, tôi hỏi:

- Anh là vệ sĩ của Năm Phượng Hoàng, anh thường được tên Năm đưa đến những đâu để ăn chơi trác táng thời gian gần đây?

Nó đáp:

- Thưa ông, con ăn chơi ở quán mụ Hai!

Tôi bảo nó:

- Anh khai không đúng như Tư Sứt và Hùng Mốc đã khai.

Nó tỏ ra lúng túng. Tôi giáng thêm một câu :

- Anh nói rằng anh không dám dấu diếm, tại sao lại chỉ khai có một cái quán mụ Hai? Tôi nói cho anh biết ít nhất cũng còn năm nơi nữa! Tại sao tôi cần biết những nơi này? Tôi cần quét hết tệ nạn xã hội, gái mãi dâm và các ổ chích xì ke ma túy. Anh cố nhớ ra và ghi vào tờ giấy này. Nếu anh khai khớp với lời khai của Tư Sứt, Hùng Mốc thì tôi mới công nhận anh là người thành khẩn. Ngược lại thì anh cứ nằm đây mà chờ ngày lĩnh án, (mức án không được giảm nhẹ đâu).

Mười lăm phút sau, tên Ba Râu đã nộp cho tôi địa chỉ của năm tụ điểm ăn chơi ở quanh đây mà ta chưa biết. Vậy, ngày mai các cậu phải tìm cách tiếp cận và xâm nhập vào cả năm tụ điểm này. Có thể, ta sẽ lần ra tung tích của hai tên cướp chăng?

Phi Nga nói ngay:

- Dạ, thưa chú, chúng cháu sẽ xuống địa bàn ngay từ sớm mai.

Đại tá Hồng Quang mỉm cười:

- Cháu hăng hái là rất tốt. Chú bổ xung lực lượng cho cháu mười trinh sát nữa, ở điểm nào cũng cần phải có ít nhất hai người để còn yểm trợ cho nhau khi cần thiết. Không được chủ quan và phải khẩn trương, bí mật, bất ngờ mới có thể thắng lợi được.

- Dạ.

Cuộc hội ý chớp nhoáng làm cho các chiến sĩ trinh sát cảm thấy như mình được tiếp thêm sức mạnh trước khi bước vào trận chiến đấu mới.

***

Về đến sở chỉ huy, Phi Nga nhận được một phong thư có ghi tên người gửi: Trần Anh Dũng (Đội địa chất số 20). Nét chữ thật bay bướm. Nga mỉm cười: mình đang bận tối mắt, tối mũi thế này, lại còn bắt mình xem thư nữa chứ! Hay là anh chàng thi nhân này lại...

Nga bóc thư và chăm chú đọc thật nhanh:

“Phi Nga thân mến!

Sau buổi chia tay tạm biệt với Nga ở Sài Gòn tôi đã mang ba lô đến Sơn Điền, một vùng đất hứa hẹn tuyệt vời của cao nguyên.

Tôi đã đến bên bờ Suối Ngọc, cùng đào đãi kim cương, đá quý với bà con. Tôi chưa gặp cơ may nên chưa trở thành triệu phú mặc dù đã lao động thực sự, mệt mỏi và hy vọng. Bàn tay thư sinh chỉ quen cầm bút đã phồng rộp vì cuốc xẻng. Hàng ngàn người đi tìm đá quý, nhiều người chưa tìm được, song có số ít người đã tìm được những viên bích ngọc, hồng ngọc giá trị cả chục triệu đồng. Sơn Điền trở thành một vùng đất hứa, song trữ lượng kim cương, đá quý ở đây nhiều đến mức nào và phải tổ chức khai thác ra sao vẫn còn nằm trong dự kiến,

Tôi đang ấp ủ một đề tài nghiên cứu, một luận chứng kinh tế rất thú vị cho cả thập kỷ 90. Song thú vị hơn hết lại là một chuyện khác. Phi Nga cho phép tôi được ghi vào nhật ký địa chất của tôi câu chuyện của Nga. Nga là người trong cuộc làm sao thấy hết được nét đẹp lung linh của câu chuyện này. Nếu tôi là một nhà văn, có lẽ tôi sẽ viết được một cuốn truyện dài về chiến công của những người trinh sát và may mắn làm sao, trong những người ấy lại có cả Phi Nga - một cô gái có tên là Hồng Ngọc - Cô gái ấy đang lao vào hiểm nguy, truy tìm băng cướp Phượng Hoàng.

Bà con kể rằng: cô Hồng Ngọc đã bằng những động tác vũ thuật bắt sống tên cướp Ba Râu, thu vũ khí, trừ một tai họa lớn cho nhân dân trong vùng.

Hồng Ngọc, cô gái trẻ tài năng, dũng cảm, thoắt ẩn, thoắt hiện, giờ này đang ở đâu, bà con không ai biết được, song có điều chắc chắn là cô ấy đang trên đường đi săn, bắt cướp để giữ gìn an ninh chính trị, an ninh kinh tế cho cả vùng này.

Từ kinh ngạc đến mến mộ, mình có ngờ đâu có sinh viên Văn khoa năm trước nay lại chuyển ngành và trở thành chiến sĩ trinh sát tài năng. Với cái tên Hồng Ngọc?

Công việc của tôi mới là khảo sát ban đầu, còn nhỏ nhoi như một đốm lửa giữa rừng. May mắn làm sao, tôi lại gặp lại Nam và đồng đội của Nga, những người đang góp phần làm sạch địa bàn. Địa bàn hoạt động của Nga hôm nay cũng là địa bàn khai thác của một xí nghiệp trong tương lai.

Ngày ấy, nếu tôi còn ở lại đây, tôi sẽ kể cho mọi người nghe câu chuyện ly kỳ của Hồng Ngọc hôm nay.

Phi Nga đừng cười tôi nhé! Sở dĩ tôi phải viết thư này cho Nga bởi vì tôi thấy đây là vấn đề bức xúc không thể không viết được. Bà con Sơn Điền đang cần có những bàn tay chiến sĩ an ninh. Mai đây, khai thác trên quy mô lớn, Sơn Điền vẫn cần những cô Hồng Ngọc, có phải không Nga? Tôi đã là người đi thăm dò, khảo sát, thiết kế ở đây, lẽ nào tôi lại không nhớ đến Nga, nhất là Phi Nga còn là bạn cũ từ cái thuở học trò?

Câu chuyện lan man của tôi có làm cho Nga phải phiền lòng khi Nga đang còn bề bộn công việc!

Vừa bức xúc trước mắt, vừa lâu dài, câu chuyện giữ gìn an ninh ở đây đang day dứt lòng tôi.

Giữ đúng lời hứa với Nga, tôi viết thư này và hẹn gặp lại Nga một ngày gần đây trên vùng đất có nhiều kim cương, đá quý chưa khai thác được”.

Thân mến

 Trần Anh Dũng

Phi Nga muốn viết thư ngay cho Dũng để nói lên tiếng nói đồng tình song cô lại gập bức thư bỏ vào túi với lời tâm niệm: “Anh chàng này thật là rắc rối, ta sẽ trả lời sau, viết như thế nào nhỉ, khó nói làm sao, khi lại nói về mình?”

Có tiếng còi xe máy ngoài cổng. Phi Nga ngửng lên nhìn: Văn Sinh đã đến đón cô, Nga xách vội chiếc túi khoác lên vai và bước nhanh ra cổng, cùng Văn Sinh trở lại địa bàn.

***

Năm Phượng Hoàng để chiếc xe Suzuki khuất hẳn sau búi cây gai rồi lững thững bước ra đường. Giờ này - 10 giờ sáng - xe hơi qua lại con đường này đã có nhiều, gã bỏ qua những chiếc xe du lịch và cả những xe đò chở khách lên Đà Lạt. Gã đang nhằm những chiếc xe vận tải hàng hóa, loại xe mà gã có thể thuê chở cả chiếc Suzuki để khỏi phải đi xe máy dễ bị công an đón lõng.

Hút hết hai điếu thuốc lá, Năm Phượng Hoàng mới thấy một xe vận tải có bạt che kín bịt bùng đang leo dốc lên, gã bước ra giữa đường dơ tay vẫy. Quả nhiên chiếc xe đỗ lại, máy vẫn nổ rầm rầm.

Anh lái xe thò đầu ra:

- Đi Đà Lạt hả?

Tên Năm đến bên buồng lái:

- Tôi có chiếc xe máy bị hỏng không đi được nữa. Cảm phiền anh cho tôi quá giang về Đà Lạt, chở cả người và xe, anh lấy bao nhiêu?

- Giá hữu nghị thôi: ba chục ngàn!

- Bớt cho năm ngàn nhé!

- Thôi lẹ lên, cha nội, cò kè làm gì!

Tên Năm gật đầu rồi quay trở về búi cây, dắt chiếc xe Suzuki ra. Lái xe nhẩy xuống đường, quay lại sau xe mở bạt và nâng chiếc xe lên. Tên Năm cố lôi được chiếc xe lên bỏ nằm chềnh ềnh trên xe tải. Chiếc xe tải còn khá rộng vì lái xe chỉ  mua được ba bì gạo bỏ lăn lóc trên xe. Xe chạy hàng một chiều, trả hàng ở Sài Gòn rồi rồi lại chạy không về Đà Lạt.

Năm ngồi bíu lấy thùng xe, mặc cho xe lắc lư qua đèo, qua dốc. Gã có dầy dạn kinh nghiệm chạy trốn: người và xe máy cứ bốc cả lên xe tải bịt bùng là an toàn nhất trong lúc công an chỉ chú ý đến xe máy... Ít ra gã cũng giữ được bí mật và “lặn” rất an toàn. Khi xe qua đèo Pren thì trời vừa đổ tối Năm Phượng Hoàng xin xuống xe ôtô và nhẩy lên xe máy đi từ từ vào thành phố. Trên đường đến thác Cam Ly, gã ghé vào một quán phở, ăn vội một tô cho ấm bụng trước khi phóng về Di Linh.

Đi được hơn mười cây số, gã dừng lại trước một ngôi nhà mái tôn lụp xụp bên đường. Một ngọn đèn dầu leo lét cháy trên nóc một tủ thuốc lá bán lẻ.

 - Chị Bẩy!

Người chủ quán có tên “chị Bẩy” ngửng lên:

- Kìa chú Năm, đi đâu về mà muộn quá vậy? Mà dễ có đến một tháng nay mới lại thấy chú về? Có làm ăn được gì không?

Năm Phượng Hoàng tỏ vẻ mệt mỏi:

- Làm vài phi vụ, tiền lời chẳng được bao nhiêu, song cũng đủ xài tạm tạm. Hôm nay chị có “con nhỏ” nào không?

- Có cả bốn con nhỏ, nhưng mới chỉ có một ông khách.

- Khách nào vậy?

- Một thằng đào đãi kim cương, chẳng ăn thua gì lại thua xóc đĩa nên chán đời tìm đến đây để giải sầu, nó chỉ có hai chục ngàn, tôi cho nó ở lại một đêm.

- Em biếu chị một trăm ngàn, chị cho em ở lại đây ít ngày với một “con nhỏ”. Hôm nào thằng Bẩy Sầu về đây đón em, em sẽ đi, được không?

- Được!

Gã đàn ông dắt xe vào quán. Thị Bẩy mở một cánh cửa: bên trong là một căn phòng dài, sâu thăm thẳm, được ngăn làm bốn ô nhỏ, mỗi ô có một cái mùng buông sẵn. Trừ một ô đã “có khách”, còn ba ô đã có ba cô gái bán hoa nằm chờ.

Thị Bẩy ghé vào tai tên Năm nói nhỏ:

- Vào ô trong cùng, tức là ô số 4, ở đó có con Huệ, trẻ, đẹp như “con nhà lành” thứ thiệt đó.

Năm gật đầu và rảo bước đi vào phòng số 4. Cánh cửa bằng phên cót khép hờ đã bật mở. Ngọn đèn dầu lờ mờ soi một khuôn mặt ngái ngủ của cô gái có tên là Huệ.

Huệ ôm ngang lưng tên cướp:

- Anh Năm đi đâu mà bỏ em hoài?...

- Em cũng biết anh sao?

- Chị Bẩy nhắc đến anh luôn và nói rằng vẫn dành em để tiếp anh kia mà!

Cô gái quàng tay lên cổ gã đàn ông và nói tiếp:

- Anh trúng mánh mà cứ quên em, hôm nay anh cho em một trăm ngàn nhé. Em cần mua hai bộ đồ và một áo len nữa.

Cô gái vừa nói vừa đưa tay móc túi khách, lại sờ nắn cả thắt lưng tên cướp và nói:

- Anh có những gì mà lỉnh kỉnh thế này, cứ như là lính đi trận ấy! Trời ơi! Súng này, lựu đạn này, lại cả dao găm nữa! Anh cởi ra đi, để nằm cho khỏi cộm lên, mà em đụng phải mấy thứ này cứ ghê ghê cả người.

Năm Phượng Hoàng cởi dây thắt lưng và gỡ mấy thứ vũ khí để lên đầu giường:

- Vật bất ly thân đó, em! Cuộc đời anh luôn gần kề với máu và nước mắt, không có mấy thứ này thì thà ra đầu thú cho xong!

Huệ vuốt tóc tình nhân, loại tình nhân mà cô gọi là “người tình một đêm” rồi nói:

- Nằm ở đây thì rất yên tĩnh. Bên ngoài có chị Bẩy canh gác. Nếu có động tĩnh gì đó thì chị ấy họ lên mấy tiếng là em biến liền, vượt qua cửa hậu này là vượt ngay vào rừng được rồi. Nào cho em tiền đi nào!

Năm móc túi ra đủ trăm ngàn đồng dúi vào tay Hụê:

- Đây, cho em, tiền “boa” đấy. Còn phần chị Bẩy thì anh trả, em khỏi phải băn khoăn...

- Anh cho em xin!

Cô gái cười rúc rích, đỡ cho gã đàn ông nằm ngả xuống giường. Gã than thở:

- Suốt cả một ngày ngồi lom khom trên xe tải, bây giờ mới được giãn gân cốt.

Cô gái hỏi:

 - Ngày mai anh đi đâu?

- Chưa đi đâu em ạ. Có thể anh nằm lại đây vài ba ngày với em.

- Ồ, thế thì em thích lắm.

 - Nhưng em phải kín mồm, kín miệng, đừng nói lộ cho ai biết là có anh ở đây. Nhiều người biết anh ở đây thì phiền toái lắm.

Câu chuyện “tâm sự” giữa tên tướng cướp với cô gái giang hồ càng về khuya càng chìm đi trong bóng đêm khi ngọn đèn dầu phụt tắt.

Cùng lúc ấy ở ô số một, đôi trai gái vẫn còn rì rầm nói chuyện. Có điều khác lạ hơn là ở đây đèn vẫn sáng và cánh cửa vẫn khép hờ.

Người đàn ông là một khách hàng còn khá trẻ, khoảng trên dưới ba mươi tuổi. Anh ta từ lúc đến đây, sau khi đưa đủ tiền cho chủ quán, đã vào ô số 1, cô gái ở ô này có độ tuổi hai hai, có tên là Lý. Lý hỏi người khách mới đến:

 - Anh tên gì? Anh có thương em không?

Người khách trả lời:

- Anh tên là Giang. Anh thương em lắm chứ, em còn phải hỏi? Anh muốn biết vì sao em lại lạc bước vào đây?

Sau khi người khách cho cô gái năm ngàn đồng, cô đã kể lể tâm sự:

-  Em ở Sài Gòn lên, em đã đi cải tạo lao động một năm ở huyện Duyên Hải. Hết hạn, em được trả về quận 4 là nơi em thường trú, em chẳng kiếm được việc làm, buôn bán thì không có vốn liếng, em lại quay về “nghề” cũ, em bị bắt ở vườn hoa Tao Đàn, công an đưa về quận, e trốn thoát và theo chị em lên đây...

Người khách nghe cô gái nói vậy, chỉ thở dài, anh nói:

- Anh nghèo quá, chẳng giúp em được gì, nhưng anh khuyên em nên bỏ nghề bán hoa này đi. Em mồ côi cha mẹ thì nên tìm một bà má nào hiếm con, xin làm con nuôi hoặc làm công cho bà ấy là hay nhất. Hôm nay anh có chuyện buồn nên đi chơi cho vui, anh không muốn “làm nhục” em như những người khác đâu. Em lạ lắm sao? Bây giờ anh chưa thể nói cho em hiểu hết được, sau này em sẽ hiểu…

Cô gái vô cùng kinh ngạc trước thái độ và cử chỉ của người đàn ông hiếm có này.

Cô chỉ thấy anh hút thuốc lá liên tục, hết điếu này đến điếu khác, từ nãy đến giờ anh hút gần hết gói thuốc Du Lịch và có mời cô hút chơi một điếu.

Và khi ở bên ô số 4 có tiếng ngáy khò khò vang lên thì người khách trẻ tuổi ở ô số 1 cũng đứng dậy, nói với cô gái:

- Anh cần đi... tiểu tiện!

Anh len lén đi suốt theo chiều sâu của căn phòng rộng. Anh liếc nhìn ở phòng ngủ của chủ quán vẫn sáng ánh đèn. Anh nhẹ nhàng mở cánh cửa ra phía sân sau. Anh không quên mang theo chiếc đèn pin của mình. Đứng ở giữa sân, anh hướng chiếc đèn pin về phía bìa rừng, nơi có một hàng cây thông cao vút, anh bấm đèn pin nhấp nháy ba lần làm ám hiệu.

Lập tức từ sau rặng thông bên kia con dốc, hai bóng đen lao vút về phía quán hàng. Khi hai bóng đen vào đến sân, sát bên anh thanh niên, anh nhận rõ trong bóng đêm lờ mờ một khuôn mặt nam, một khuôn mặt nữ.

Anh ghé sát vào hai bóng đen, nói vừa đủ nghe:

 - Nó đang ngủ say với một cô gái. Tôi nghe rõ tiếng ngáy đểu đều của nó. Phòng của nó là phòng số 4. Tôi sẽ dùng võ thuật tước vũ khí của nó. Anh Nam, cô Nga sẵn sàng yểm trợ cho tôi, ta phải bắt sống tên này khi nó chưa kịp vùng dậy chống cự và chạy trốn. Cô gái cũng đang ngủ say rồi.

Nga và Nam cùng nói:

 - Nhất trí với kế hoạch của Văn Sinh.

Văn Sinh. - Anh thanh niên đó chính là Văn Sinh sắm vai khách làng chơi - khoát tay ra lệnh:

- Theo tôi!

Văn Sinh đưa Nga và Nam quay trở vào phòng, không gây một tiếng động nào. Khi cả ba người đã đứng trước ô số 4, Văn Sinh đưa tay giật mạnh cánh cửa. Cánh cửa bật tung, Văn Sinh bật đèn pin soi thẳng vào mặt tên cướp. Nó vừa giật mình thức dậy khi cánh cửa bị giật quá mạnh. Do quán tính của một tên gian, nó chộp lấy khẩu súng K.54 để trên đầu giường, nhưng nó chưa kịp nhỏm dậy, đã bị Văn Sinh nhảy tới đấm một quả cực mạnh vào giữa mặt và chặt mạnh vào cánh tay phải làm bật khẩu súng rơi xuống đất. Cô gái điếm giật mình, lăn xuống đất và hốt kêu được một tiếng “ối” rồi núp vào một xó gậm giường.

Văn Sinh thét:

- Năm Phượng Hoàng! Anh đã bị bắt!

Phi Nga cũng lượm thật nhanh quả lựu đạn và lưỡi dao găm trên đầu giường.

Kỳ Nam nhẩy tới bẻ quặt hai cánh tay tên cướp ra phía sau lưng và bập luôn một chiếc còng số 8, rồi dựng nó ngồi dậy.

Cô gái điểm được mặc quần áo và được phép ngồi dậy.

Mụ Bẩy chủ quán và ba cô gái điếm ở các ô khác cũng được đánh thức dậy để nghe đọc lệnh bắt khẩn cấp tên tướng cướp nguy hiểm “Năm Phượng Hoàng”.

Văn Sinh nói:

- Bà Bẩy! Bà đã chứa chấp tên cướp này lại còn chưa chấp cả gái mãi dâm, kinh doanh trên thân xác của các cô gái xấu số này. Mời bà về công an xã để ký biên bản với cơ quan điều tra.

Đại úy Kỳ Nam nói với Phi Nga:

- Nga gọi về huyện xin một xe đặc chủng về đây.

Nga bật cần ăng ten trên máy bộ đàm và gọi:

 - X.5 đâu? Chim én đây, chim én đây! Yêu cầu cho một xe đặc chủng đến cột cây số 25.

Từ sở chỉ huy đã vang lên tiếng nói của X.5:

- Chào Phi Nga! Hoan hô chiến thắng!

***

10 giờ sáng hôm sau.

Ở thung lũng Sơn Điền, tiếng loa phóng thanh đã vang lên, loan báo tin vui mới:

“Đội điều tra hình sự đã truy bắt được tên tướng cướp Năm Phượng Hoàng tại một điểm ở cột cây số 25 và sáng nay tên Bảy Sầu cũng bị tóm gọn ở Bảo Lộc trên đường lén lút quay về Đà Lạt. Thế là cả băng cướp đã bị xóa sổ, ta bắt gọn các tên Ba Râu, Tư Sứt, Hùng Mốc, Thị Lan, mụ Hai, mụ Bẩy cùng bốn cô gái bán hoa khác”.

Buổi chiều, đại tá Hồng Quang lại giao nhiệm vụ cho Phi Nga:

- Ngày mai, cháu trở lại Sài Gòn với Văn Sinh để tiếp tục khai thác các đối tượng đang bị tạm giữ là Mai Hương, chủ quán Hoàng Hoa và Út Mai, tên nữ quái đã cùng với Năm Phượng Hoàng và Bẩy Sầu cướp hai viên ngọc quý của Lâm Hoàng Lý ở nhà hàng Bảo Lộc. Các cháu phải khẩn trương, nghe!

- Dạ.

Phi Nga thấy phấn chấn trong lòng. Cô tự nhủ thầm: mình sẽ còn phải gặp lại anh chàng kỹ sư địa chất, anh chàng “Dũng Thi Nhân” đang điều tra trữ lượng đá quý ở Sơn Điền, xây dựng phương án khai thác trên quy mô lớn. Lẽ nào lại cứ để cho vàng, kim cương, đá quý lọt qua biên giới?



 

 

NGUYỄN THIỆN THUẬT

BÃO TÁP VÙNG VÀNG

Tiểu thuyết

NHÀ XUẤT BẢN HÀ NỘI - 1999


No comments:

Post a Comment