01 June 2024

NHỮNG MÙA VÀNG CỬU LONG




(in chung cùng nhiều tác giả trong tập ký “Thóc từ sông Hậu”, Nhà xuất bản Thanh niên 1982


I

Ở BỜ NAM SÔNG TIỀN


Qua phà Mỹ Thuận, đặt chân lên bờ nam sông Tiền, tôi đã tới được địa đầu tỉnh Cửu Long.

Lộ 4 cắt ngang tỉnh Cửu Long cho tới bờ bắc sông Hậu.

Nằm giữa hai con sông lớn - Tiền Giang và Hậu Giang -, tỉnh Cửu Long là một vùng đất trù phú, quanh năm được nước phù sa tưới mát.

Không phải chỉ có cây trái xum xuê và lúa tốt bời bời, Cửu Long còn có cá và muối, nguồn lợi thường gặp ở đồng bằng ven biển.

Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng đã bắt tay ngay vào việc thâm canh cây lúa. Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Cải tạo đồng ruộng để thâm canh, tăng vụ là hướng tiến công của những chiên dịch sản xuất được liên tiếp mở ra.

Tôi đã tới thăm cả ba vùng đất được quy hoạch: vùng nước ngọt, vùng nước lợ và vùng nước mặn ven biển.

Mạng lưới thủy lợi nhỏ và vừa gồm hệ thông kênh, mương đưa nước sông Tiền, sông Hậu vào tưới mát cho 150.000 héc-ta ruộng đồng.

Con kênh 3-2 ở huyện Trà Cú là một công trình chào mừng Đại hội tỉnh Đảng bộ năm 1978. Anh Tư Cúc đã cùng bà con cô bác góp nhiều ngày công đào kênh, đắp đập. Hôm nay anh Tư ngồi hút thuộc rê cùng tôi trên bờ kênh 3-2. Chúng tôi cùng soi bóng bên dòng kênh. Anh Tư cười thật sảng khoái:

- Mười công ruộng của tôi không còn lo thiếu nước nữa! Tôi có lúa, lại có cả đàn vịt nữa kia...

Anh chỉ cho tôi thây đàn vịt hơn nghìn con đang bơi lội trên dòng kênh.

Anh Tư nói tiếp:

- Tôi đã ba đời sinh sống ở đất này. Thằng Diệm, thằng Thiệu không làm nổi con kinh này. Cách mạng đã làm được. Bà con cô bác mang ơn cách mạng nhiều, nhiều lắm.

Trà Cú là huyện nằm trong vùng bị nhiễm nước mặn. Dưới thời Mỹ-ngụy, làm ruộng ở đây quả là chật vật. Nghèo như anh Tư thì làm sao mà ngửng đầu lên được? Vặt mũi đút miệng, lần hồi từ đời này qua đời khác, nghèo vẫn hoàn nghèo.

Những năm trước ngày giải phóng, anh Tư có nghe cán bộ Mặt Trận nói về cải tạo đồng ruộng, xây dựng tập đoàn và làm ăn tập thể. Chỉ có làm được như vậy thì đời sống mới được ấm no hạnh phúc. Anh đã che dấu cán bộ nằm vùng, bí mật ủng hộ cách mạng và anh tin tưởng sắt đá rằng sẽ có một cuộc đổi đời. Ấy là cái ngày “Mỹ cút, ngụy nhào”, cả vùng Trà Cú này sẽ rực rỡ cờ sao, nhân dân ầm ầm nổi dậy như nước vỡ bờ. Nhiều đêm anh lội đồng theo bà con cô bác đi diệt ác, phá kìm, Cho đến buổi chiều 30 tháng 4 năm 1975, tin từ Sài Gòn bay tới: Quân ta đã cắm cờ trên “Dinh Độc lập”. Dương Văn Minh và toàn bộ “nội các” ngụy đã đầu hàng không điều kiện! Hệ thống kìm kẹp của ngụy ở Trà Cú cũng sụp đổ luôn. Tháp Canh bừng bừng bốc cháy. Ác ôn, lính ngụy trút hết quần áo rằn ri, vứt súng, tháo chạy và xin chính quyền cách mạng tha cho tội chết... Anh Tư trương lá cờ Mặt Trận ra trước cửa nhà và lên xã tập trung chào mừng Ủy ban nhân dân cách mạng.

Ít ngày sau, anh Tư tham gia tổ đoàn kết sản xuất, tiền thân của tập đoàn sản xuất ngày nay. Anh Tư rít mạnh một hơi thuộc rê, rồi vỗ mạnh vào đùi tôi:

- Chiều nay, nhớ ghé tôi, nghe! Tôi sẽ bắt con vịt bự nhất đàn vịt này làm bữa nhậu ăn mừng cho mười công ruộng của tôi đã thừa nước tưới!

Anh Tư chỉ mới nói đến công ơn của Cách Mạng. Tôi muốn nói thêm với anh Tư: phải kể đến công sức của bà con, cô bác nữa! Cách mạng đã lãnh đạo và tổ chức bà con lại. Phần thực hiện lại là công việc rất cụ thể. Tay mai, tay cuộc, mồ hôi của hàng vạn con người đã làm nên con kênh này cho ngày nay và cho cả mai sau nữa. Con kênh mang tên ngày sinh của Đảng (3 tháng 2) là mang cả cái ý nghĩa sâu xa đó nữa!

*

* *

Rời Trà Cú, tôi ghé thăm huyện Càng Long. Tôi đến ấp 7 xã An Tường. Tôi vào thăm nhà anh Ba. Anh Ba đang mở băng nhạc nghe vở cải lương “Cây sầu riêng trổ bông”.

Vừa thấy tôi, anh đã reo lên:

- Đi đâu mà biến mất vậy? Tôi cứ mong anh hoài....

Tôi nắm chặt tay anh Ba:

- Dạ, dạ, tôi mắc một công chuyện ở Trà Cú, hôm nay mới qua thăm anh được. Hai anh Kim và Dũng có ghé qua đây rồi chứ, anh Ba ?

Anh Ba để lộ niềm vui như chưa bao giờ anh vui đến thế:

- Rồi! Rồi! Mấy anh kỹ sư ấy đã đến đây rồi. Tôi đã mời hai anh mấy ly rượu đế rồi! Thú vị lắm, thú vị lắm, chú Hai ơi!

Rồi anh kể lại câu chuyện thú vị của mình: cuối năm ngoái, cả cánh đồng xã An Tường bị hạn nặng. Nước ruộng đã nhiễm mặn lại cạn rất mau, khác chi một ô nề trên cánh đồng muồi ven biển. Độ mặn càng cao thì lúa càng dễ chết. Nhìn thấy nguy cơ đang đe dọa trên mấy cánh đồng, bà con xã An Tường đứng ngồi không yên. Nhiều người đã nghĩ đến chuyện phải nhổ hết lúa trên ruộng của mình. Nhổ lúa thì có khác chỉ dứt đứt cả da thịt mình?

Cùng lúc ấy, có hai anh bạn trẻ đến xã An Tường. Đó là Hồng Minh Kim và Nguyễn Văn Dũng, kỹ sư phòng trồng trọt ty nông nghiệp tỉnh Cửu Long. Thông cảm sâu sắc với nỗi lo âu của bà con cô bác, hai anh đã nẩy ra một sáng kiến táo bạo: tháo nước lợ vào ruộng đang bị hạn để làm giảm độ mặn, như vậy có thể cứu được lúa khỏi chết?

Hai anh đặt vẫn đề này ra trước huyện ủy và nhiều đảng ủy, chi ủy ở xã, ấp.

Nhiều đồng chí nghe nói đến mà còn ngỡ ngàng:

- Làm như thể có được không nhỉ? Từ xưa đến nay mỗi khi bị hạn là đành phải để cho lúa chết vì không tìm đầu ra nước ngọt để “rửa mặn”. Nay các anh lại chủ trương “rửa mặn” bằng nước lợ thì thật là... kỳ!

Kim và Dũng lại kiên trì thuyết phục và xin làm thử. Ruộng của nhà anh Ba có 20 công được chọn làm một điểm làm thử. Đích thân anh Ba đã tháo nước lợ vào ruộng đang bị hạn của mình. Những cây lúa thiều nước lại bị độ mặn ngày một cao đang sắp khô lá, được tưới nước dù là nước lợ – đã dần dần xanh tươi trở lại. Nước vào đến đâu, lúa như reo mừng đến đây. Một làn gió nhẹ thổi qua, lá lúa bay bay như vẫy, như chào hai anh kỹ sư trẻ đã dám nghĩ, dám làm.

Bà con ấp 7, xã An Tường thấy ruộng nhà anh Ba xanh tươi trở lại, đã lần lượt làm theo. Nước lợ được tháo vào ở tất cả các cánh đồng xã An Tường và hàng ngàn mẫu lúa đã được cứu thoát khỏi nạn hạn hán. Câu chuyện cứu lúa bằng nước lợ được lan truyền nhanh chóng trong huyện Càng Long và cả tỉnh Cửu Long. Đài phát thanh và báo địa phương cũng đã đưa tin về sáng kiến táo bạo của hai bạn Kim và Dũng. Và kết luận: từ nay những vùng bị nhiễm mặn nếu bị hạn thì đều có thể cứu lúa bằng cách tháo cho nước lợ chảy vào...

Anh Ba kể hết câu chuyện nhà mình mà theo anh thì “cổ kim chưa từng làm chưa từng có”. Mới nghe thì có vẻ rất kỳ, mà lại là có thiệt! Rồi anh lắc đầu thán phục:

- “Hậu sinh khả úy” là như thế đó, anh Hai!

Tôi bị lây cái vui đền mức khoái trá của anh Ba, cũng chỉ dám nhắc lại:

- Cải tạo đồng ruộng, đưa khoa học kỹ thuật vào canh tác là điều không thể thiếu được đâu, anh Ba!

Anh Ba nhìn tôi bằng một cái nhìn rất tâm đắc. Đôi mắt anh cơ hồ như không muôn chớp.

Riêng tôi, tôi thấm thía thêm một điều mới lạ: Càng đi sâu vào mảnh đất kỳ lạ này của đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta còn có thể học hỏi được nhiều điều chưa hề có trong sách vở...

Cũng trong chuyến đi này, tôi tự hứa với mình sẽ tìm gặp anh bạn Võ Tòng Xuân ở An Giang là người đã nghiên cứu và lai tạo một giống lúa mới có khả năng kháng rây nâu như giống lúa IR.36 đang được trồng rộng rãi ở tỉnh Cửu Long này.

Cải tạo đồng ruộng, thâm canh, tăng vụ và đưa khoa học kỹ thuật vào canh tác song song với việc xây dựng tập đoàn sản xuất là mục tiêu hàng đầu của Đảng bộ tỉnh Cửu Long. Những câu chuyện đổi đời của anh Tư, anh Ba cũng là những chuyện đổi đời của bà con, cô bác tỉnh Cửu Long, một vùng đất trù phú ở bờ Nam sông Tiền...



II

NHỮNG NGÀY HỘI CỦA LÒNG DÂN



Xã Hòa Hiệp (huyện Tam Bình) tưng bừng mở hội giao lương. Bà con, cô bác đã hoàn tất việc chọn lựa lúa khô, lúa sạch, đóng bao sẵn sàng để tham gia ngày hội giao lương. Song, sáng nay mọi người vẫn còn tất bật đi tới, đi lui, lo chuyển lúa xuống ghe.

Má Ba lại tất bật hơn. Ngoài phần lúa thuê, lúa trả nợ hợp đồng “2 chiều”, má còn bán thêm 5 giạ lúa nữa. Má nghĩ: “Mình là mẹ của 4 đứa con liệt sĩ, là hội viên Hội mẹ chiến sĩ, mình phải xung phong gương mẫu làm nghĩa vụ lương thực với Nhà nước”. Má còn nghĩ thêm: “một mình gia đình mình làm nghĩa vụ cũng chưa đủ, phải vận động cả ấp, cả xã cũng làm tốt như mình mới được...”.

Tôi đến thăm má Ba vào đúng buổi sáng bận rộn ấy. Má Ba vừa ra khỏi nhà. Ở nhà chỉ còn có út Hạnh, con gái của má, công tác trên tỉnh. Hôm nay Hạnh về chơi thăm má, Hạnh đang giúp má xếp lại năm bao lúa chờ bốc xuống ghe đi dự hội giao lương.

Hạnh đã kể lại cho tôi nghe một kỷ niệm của gia đình trước ngày giải phóng:

Đó là một ngày đầu năm 1968, sau cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân, quân giải phóng hành quân qua Hòa Hiệp, theo yêu cầu của huyện đội, bà con cô bác đã quyên góp tiền, gạo, vải thuốc men ủng hộ bộ đội tiếp tục cuộc chiến đấu. Má Ba đã xung phong góp 30 giạ gạo ngon nhất của gia đình. Hôm ấy, chỉ huy trưởng đơn vị đã cảm động nói:

- Chúng con xin cám ơn má nhiều và xin hứa với má: chúng con sẽ đánh giặc mạnh hơn để mau giải phóng cho quê hương Hòa Hiệp, để trả thù cho các anh con đã hy sinh anh dũng...

Má cũng rưng rưng nước mắt:

- Các con đều là con của má. Có dịp qua đây, các con cứ về nghỉ lại nhà má. Em Hạnh sẽ nấu cơm cho các con ăn như nó... đã từng nấu cơm cho các anh nó...

Lời hứa của các anh bộ đội ngày nay đã trở thành sự thật. Cả miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Bốn người con yêu của má đã hy sinh oanh liệt như bao nhiêu người đã hy sinh cho Độc lập, Tự do của Tổ quốc, đã hy sinh cho quê hương Hòa Hiệp.

Ngày nay Đất nước đã được giải phóng, song kẻ thù bên ngoài vẫn còn nhòm ngó, vẫn còn âm mưu nham hiểm, mong trở lại đất nước này. Thanh niên Hòa Hiệp vẫn còn nối bước cha anh lên đường bảo vệ Tổ quốc. Bà con Hòa Hiệp vẫn còn nô nức đóng thuế và bán lúa dư cho nhà nước chính là vì lẽ đó.

Má Ba đã tính toán kỹ, má chỉ để lại đủ số lúa ăn đến vụ sau, lúa giống và lúa dành cho các ngày lễ, tết. Còn lại hơn 20 giạ, má bán đợt đầu 20 giạ.

Hạnh khoe với tôi:

- Má Năm Cần, má Tư Vịnh còn bán mỗi người 40 giạ kia anh ạ, nhiều hơn cả nhà em. Bao nhiêu cũng được, miễn sao tỏ được hết cái dạ mình là được, có phải không anh?

Tôi gật đầu:

- Hạnh nói rất đúng!

Buổi trưa, tôi đến thăm trạm thu mua thì Hòa Hiệp đã bán được 15 tấn lúa rồi. Trạm thu mua đỏ rực cờ, băng, biểu ngữ và âm vang tiếng trống ếch của các em thiếu nhi, má Ba níu tay tôi:

- Vui quá chừng, anh Hai!

Anh bạn ký giả của tôi đã giơ cao máy ảnh và bấm luôn mấy cảnh nhập kho. Cô phóng viên Đài truyền hình Cần Thơ đang lia nhanh ống kính, tiếng máy quay phim xè xè. Hết một “pha” hay, cô quay sang hỏi tôi:

- Anh thấy không? Phải nói hôm nay là ngày hội của lòng dân mới đúng!

Trên sổ tay của anh bạn ký giả đã ghi biết bao nhiêu gương người tốt ở Hòa Hiệp. Tôi đọc thấy tên má Ba, má Năm, má Tư ở trang đầu cuốn sổ. Hôm nay là một ngày nắng đẹp. Không phải chỉ có Hòa Hiệp mà cả huyện Tam Bình, cả tỉnh Cửu Long nữa, đâu đâu cũng có ngày hội giao lương, một ngày tổng công kích của chiến dịch huy động lương thực.

Buổi tối, tôi trở về văn phòng Sở lương thực tỉnh Cửu Long. Anh em ở đây cho tôi biết: hôm nay toàn tỉnh đã nhập kho 2.010 tấn lúa.

Tôi mời anh trực ở tổng đài một điều thuốc lá Du Lịch để chia vui cùng anh.

Vừa cạn một ly nước mát, tôi đã nghe tiếng còi ô tô từ ngoài cổng. Anh bạn thường trực bảo tôi:

- Xe ông Giám đốc đã về đây!

Tôi nhìn ra, anh Nguyễn Ngọc Khanh, giám đốc Sở lương thực đã về. Tôi theo anh lên phòng giám đốc. Anh Ba Khanh vui vẻ tiếp tôi mặc dù còn hơi mệt sau chuyến đi hôm nay. Anh vừa ở Trà Cú về. Anh nói giọng chắc nịch:

- Cứ cái đà 2.000 tấn/ngày như hôm nay thì chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ đạt kế hoạch.

Tôi hiểu anh Ba Khanh còn khiêm tốn nên mới chịu dùng chữ “đạt” mà chưa dùng chữ “vượt”.

Tôi đọc thầy trên nét mặt cương nghị của anh tất cả những dự tính trong chiến dịch huy động năm nay. Tuy có khó khăn không ít, nhưng anh vẫn tin ở thắng lợi sau cùng, cũng như khi anh dẫn đầu một mũi tiên công đánh chiếm một đồn sát thị xã Trà Vinh, mau chóng bức hàng quân giặc, rồi cùng các đơn vị bạn tiến vào giải phóng thị xã Trà Vinh ngày 30-4-1975.

Bây giờ, trong chiến dịch này, trên mặt trận không có tiếng súng, anh cũng lại cùng nhiều mũi tiến công khác, giành những thắng lợi quyết định khác.

Anh đặt điều thuốc trên cái gạt tàn và nở một nụ cười, một nụ cười rất lạc quan:

- Tôi nghĩ rằng: Vào trận đánh là phải tin chắc thắng. Dưới sự lãnh đạo của Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, chúng tôi đã phát động toàn dân làm công tác lương thực. Không có nhân dân thì không có việc gì thành. Anh nghe tôi nói có vẻ “kinh điển”, có vẻ “sách vở” lắm phải không? Song sự việc xảy ra lại cứ như là kinh điển vậy. Nếu không hợp với lòng dân thì dân không hưởng ứng. Anh xem sau khi học tập, hiểu rõ tinh thần chiến dịch thì từng người, rồi từng nhà vui vẻ nhận giấy báo mức nghĩa vụ đóng góp lương thực. Rồi đóng bao, rồi chuẩn bị xuồng ghe, rồi gọi nhau đi trẩy hội giao lương. Có thể nói là người người giao lương, nhà nhà giao lương. Chúng tôi cứ vắt chân lên cổ cũng không sao mua sắm đủ vật liệu làm kho, lán. Nhiều điểm phải cân ngày, cân đêm và có lúc thóc phải tạm đổ xá ngoài trời rồi lại mau chóng bốc dỡ lên xe chuyển đi theo kế hoạch điều động của Trung ương.

Nghe anh Ba Khanh nói, bất giác tôi nhớ lại những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp những năm cuối thập kỷ 40 và năm đầu của thập kỷ 50. Những đoàn dân công gánh gạo khao quân của Bác Hồ từ vùng địch hậu đồng bằng khu 3 và ra vùng căn cứ. Những kho thóc, kho gạo giữa rừng sâu. Những anh Vệ quốc vai đeo bao gạo đi chiến dịch. Bài hát “lúa tháng năm” (thơ Huyền Tâm - nhạc Lê Lôi) đã vang khắp ngả đường chiến dịch:

...Lúa tháng năm, kén tằm vàng óng

Gặt, phơi dòn, đem đóng thuế nông

Kĩu cà kĩu kịt,

qua sông, qua đò

Đóng nhanh, thắng lợi càng to

Đồn Tây sụp đổ, câu hò lại vang...

Rồi chiên dịch Điện Biên, những đoàn xe thồ đi tưởng như không bao giờ hết, qua đèo, qua suối, qua ngày, qua đêm...

Và những đoàn xe cơ giới chở gạo đi suốt Trường Sơn. Hạt gạo dành cho bộ đội, hạt gạo dành cho kháng chiến, hạt gạo làm nên chiến thắng! Hạt gạo dầm mua giãi nắng, hạt gạo còn thấm cả máu nữa...

Tôi nhớ một ngày cuối năm 1972, giữa đêm bão táp của 12 ngày đêm đánh trả quyết liệt cuộc tập kích bằng không quân chiến lược B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, tôi chia tay cùng một anh bạn ký giả, anh đi theo bộ đội vào miền Tây Thừa Thiên lúc bây giờ còn rền vang tiếng súng của Mỹ-ngụy. Đức Hy - tên anh bạn ký giả – nắm chặt tay tôi:

- Tôi đi để viết về bộ đội, viết về dân công, viết về hạt gạo trên đường mòn chiến dịch. Và bạn tôi cũng một bao gạo ngang lưng, hành quân theo bộ đội cho đến ngày toàn thắng. Hôm nay, mười năm đã qua, kể từ cái ngày lửa đạn ấy, chúng tôi lại chung lưng viết về bằng sông Cửu Long.

Anh Ba Khanh hiểu được suy nghĩ của tôi, anh tiếp:

- Trong kháng chiến chống Mỹ, miền Nam có phong trào đồng khởi diệt ác, phá kìm. Nay trong hòa bình, ta lại có phong trào đồng khởi làm nghĩa vụ lương thực. Có Đảng lãnh đạo, chúng ta cần chỉ đạo thực hiện cho tốt là có thể nắm chắc phần thắng lợi trong tay.

Tôi nhìn ra ngoài trời, trăng sao vằng vặc. Gió đêm từ sông Tiền thổi về mặt rượi. Nền trời đầy sao cũng báo trước một ngày mai đẹp nắng. Hội giao lương còn diễn ra trên khắp xóm ấp.

Chiến dịch huy động đang chuyển sang những ngày sôi động làm nức lòng người...



III

NHỮNG MÙA VÀNG CỬU LONG



Kết thúc năm lương thực 1981 (tính từ tháng 12-1980 đến hết tháng 11-1981) tinh Cửu Long đã đạt 108,33% kế hoạch huy động lương thực với số lượng tuyệt đối: 131.270 tấn lúa tăng hơn năm 1980: 36.000 tấn.

Lần thứ hai, Cửu Long lại vinh dự nhận lá cờ thưởng luân lưu của Chính phủ tặng.

Trên bảng vàng thi đua của Cửu Long hôm nay, tôi còn đọc được những con số đậm nét: cấy 241.612 héc-ta lúa 3 vụ (vụ mùa = 172.016 ha, vụ đông-xuân và xuân-hè 24.628 ha và vụ hè thu 44.966 ha). Năng suất lúa bình quân đạt 2,4 tấn/ha. Tổng sản lượng thu hoạch 579.864 tấn (cao hơn sản lượng năm 1980 - 31.000 tấn).

Anh Phan, bạn tôi, một bạn nhà văn mặc dù đã được thông báo trước về kết quả sản xuất và huy động trên đây, vẫn không khỏi kinh ngạc về một thành tựu rực rỡ của một tỉnh đồng bằng Cửu Long, chỉ mới có 6 năm sau ngày giải phóng (1975 - 1981).

Thắng lợi này thuộc về Đảng bộ và nhân dân tỉnh Cửu Long – đồng chí giám đốc Sở lương thực đã nói như vậy – Chúng tôi cũng nghĩ như vậy và thật là hạnh phúc biết bao khi được viết về công lao to lớn của bà con cô bác ở 3.000 tập đoàn sản xuất (trong đó có 1.507 tập đoàn thực hiện ăn chia theo công điểm và 50 tập đoàn tiên tiến).

Ngồi bên tách trà thơm hôm nay, chúng tôi đã ôn việc cũ để biết việc mới. Anh Ba Khanh nhắc lại quá trình phần đấu của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Cửu Long. Kinh nghiệm cổ truyền của ông cha ta “Nước, phân, cần, giống”, được bổ sung bằng nhiều biện pháp kỹ thuật thâm canh tiên tiến ngày nay. Thủy lợi là biện pháp hàng đầu rồi đến phân bón, xăng dầu và thuốc trừ sâu.

Anh Thể Phúc, trưởng phòng tổng hợp Sở lương thực Cửu Long đã kể lại rằng: Năm 1981, Sở lương thực đã đầu tư cho sản xuất, 4,45 triệu lít xăng dầu, 6.550 tấn phân bón (bình quân mỗi héc-ta được cấp 40 lít xăng dầu và 30 kg phân hóa học) và 120 tấn thuốc trừ sâu. Tính chung trị giá tới 4 triệu đồng quy ra thóc là hơn 20.000 tấn.

Ngành vật tư nông nghiệp, ngành nội thương, ngoại thương cũng đã đầu tư cho đồng ruộng Cửu Long không ít của cải – Điều đó đã nói lên sự quan tâm rất lớn của Nhà nước đối với nông dân. Cây lúa đã trả ơn người trồng bằng một sản lượng cao. Người trồng lúa lại trả ơn Cách mạng bằng tấm lòng chung thủy, bằng sự đóng góp sức người, sức của cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bồ lúa trong mỗi gia đình đã đầy và kho lúa của Nhà nước cũng ăm ắp lúa vàng. Ích nước, lợi nhà, hai yêu cầu đó đã được thực hiện tốt đẹp.

Chúng tôi đã về thăm các chợ thị xã và nông thôn, ở đâu cũng đang cần hàng hóa. Hàng tiêu dùng cho gia đình, cho sản xuất... Ngành nội thương lo chạy hàng khá vất vả: nào vải, nào thuốc men, giấy bút, xoong nồi. Ở đầu chợ họp cũng đông. Kẻ mua, người bán, quang cảnh đông vui như chợ Tết.

Năm 1981, bà con góp 41.360 tấn lúa thuế, bán cho hợp đồng 2 chiều 24.551 tấn lúa, nhưng lại bán theo giá thỏa thuận và đổi hàng được 63.359 tấn lúa.

Ngành lương thực có thêm thực tế để chuẩn bị tiền và hàng cho những năm sau.

Tôi đã đến thăm những kho lán làm thêm năm 1981 (10.000 tấn), những sân phơi lúa (thêm 6.000 mét vuông và những cầu bến bốc xếp lúa (20 cầu bến).

Năm trước, ở đây còn có lúc, có nơi phải để lúa xá ngoài trời vì thiếu bao bì. Năm nay Cửu Long đã có thêm 500,000 bao bì và 80 chiếc cân bàn. Nửa triệu bao bì là đủ bảo đảm cho lúa không phải đổ xá và phẩm chất lúa gạo được khô sạch, thơm ngon khi đưa vào xay xát và sử dụng. Được tham dự những ngày hội giao lương, lại được đến thăm từng trạm thu mua, từng mẫu sân phơi và từng vùng kho, mới thấy hết cố gắng của ngành lương thực, một ngành được giao nhiệm vụ huy động lương thực, đồng thời còn kiêm cả chức năng phục vụ sản xuất nữa. Bởi lẽ: phải làm sao cho có nhiều lúa gạo rồi mới có thể có hội giao lương.

Gần đây báo Cửu Long, cơ quan của tỉnh đảng bộ có mở một mục trưng cầu ý kiên bạn đọc “Làm thể nào để tăng nhanh sản lượng lương thực”; được đông đảo bạn đọc hoan nghênh, và tham gia cuộc trao đổi rộng rãi này.

Cửu Long có1.500.000 nhân khẩu trong đó có 1.300.000 héc-ta, bình quân mỗi đầu người có 1.300 m² đất trồng.

Nhớ lại hôm vừa qua tôi về thăm Trà Cú, một huyện có nhiều ruộng chưa nhiễm nước mặn, tôi không khỏi bồi hồi. Trà Cú xưa là một huyện nghèo, có nhiều bà con gốc Khơ-me. Vậy mà ba năm nay, năm nào Trà Cú cũng hoàn thành nghĩa vụ lương thực với khối lượng trên 10 ngàn tấn. Năm 1981, Trà Cú đạt 13.000 tấn lúa nhập kho. Vì sao vậy? Vì Trà Cú có con kênh 3-2 và hàng loạt con kênh nhỏ nữa nên đã khử được phèn, rửa được mặn và cấy được ba vụ lúa.

Trà Cú, Càng Long, Long Hồ rồi Bình Minh, một giải đất mầu mỡ từ bờ nam sông Tiền đền bờ bắc sông Hậu. Ở đây gieo cấy quanh năm, thu hoạch bốn mùa... Đi trên lộ 4 bằng xe gắn máy hoặc xe hơi, chúng tôi đều có cảm giác mình đang băng qua một biển lúa vàng. Những xóm ấp, những vườn cây trái xanh xanh chỉ là những cù lao nhỏ trên biển lúa mà thôi. Cấy được ba vụ, song năng suất lúa chưa cao, mới đạt 2,4 tấn/ha bình quân trong toàn tỉnh. “Không thể dừng lại ở đây được”. Đó là ý nghĩ chung của cán bộ và nhân dân tỉnh Cửu Long. Hãy đầu tư thêm giống, vốn cho đồng ruộng, hãy củng cố cho tập đoàn sản xuất thêm mạnh, thêm đông, hãy đưa khoa học, kỹ thuật về đồng ruộng... Khó khăn còn nhiều, song đảng bộ và nhân dân Cửu Long có thể vượt qua.

Tôi nhớ mãi buổi chiều đi trên con đê ngăn nước mặn ở Trà Cú. Một con đê dài và cao lừng lững. Chân để choãi ra như hình móng bè trông có dáng vững như bàn thạch. Tôi nghĩ: đây thật là một dáng đứng hiên ngang, gan góc, dạn dầy, bất chấp cả nắng mưa, bão tố.

Cửu Long đang hứa hẹn những mùa vàng ấm no...


Cửu Long mùa hè năm 1982

No comments:

Post a Comment